TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠNPHAN THỊ HOÀI CHÂU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HẠT NẢY MẦM TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CHIM BỒ CÂU PHÁP DÒNG TITAN THEO PHƯƠNG THỨC NUÔI NHỐT TẠI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
PHAN THỊ HOÀI CHÂU
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HẠT NẢY MẦM TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CHIM BỒ CÂU PHÁP DÒNG TITAN THEO PHƯƠNG THỨC NUÔI NHỐT TẠI HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THỰC NGHIỆM
Bình Định - Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
PHAN THỊ HOÀI CHÂU
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HẠT NẢY MẦM TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CHIM BỒ CÂU PHÁP DÒNG TITAN THEO PHƯƠNG THỨC NUÔI NHỐT TẠI HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN BAN
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong cáccông trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịutrách nhiệm về đề tài của mình.
Người cam đoan
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS Nguyễn VănBan đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đềtài và đưa ra những đóng góp hết sức quý báu cho luận văn.
Xin được cảm ơn Quý Thầy, Cô trong khoa Sinh – Kỹ thuật nôngnghiệp trường đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi được học vàhoàn thành khóa học
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình cùng toànthể bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi, tạo điều kiện về cơ sở vật chất để tôitiến hành thí nghiệm và hoàn thành luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Người viết luận văn
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chăn nuôi gia cầm và vấn đề thương mại hóa các sản phẩm từ gia cầmngày càng phát triển mạnh mẽ trong những thập niên gần đây Bên cạnh cácgiống gia cầm được nuôi lâu đời trở thành nghề truyền thống của người dânViệt Nam như vịt, gà, ngỗng thì bồ câu là một trong những đối tượng đượcngười chăn nuôi hướng tới lựa chọn để nuôi làm kinh tế
Hiện nay, mô hình nuôi chim bồ câu làm kinh tế đang được nhân rộng
ra nhiều tỉnh thành trong cả nước, phổ biến ở các tỉnh: Bắc Giang, TháiNguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Quảng Trị, Đắk Lắk, Bình Định,
…Quy trình nuôi đơn giản, không đòi hỏi đầu tư nhiều, nhu cầu thị trườnglớn, hiệu quả kinh tế từ nuôi chim bồ câu đã được khẳng định, góp phần tăngthu nhập đáng kể cho người nuôi Trong các mô hình nuôi chim bồ câu lấythịt gần đây giống bồ câu Pháp được lựa chọn nhiều bởi đây là giống chuyênthịt nổi tiếng Giống chim bồ câu này được Trung tâm nghiên cứu gia cầmThụy Phương - Viện chăn nuôi Quốc gia nhập về nuôi từ năm 1996, mangnhiều đặc điểm sinh học và kinh tế nổi trội Chúng có khả năng thích ứng caovới điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94 - 99% Năng suất củachúng hơn hẳn chim bồ câu Việt Nam Mỗi năm, một cặp chim bố mẹ cho rađời 9 cặp con Chim trưởng thành có khối lượng 0,8 - 1 kg
Trong chăn nuôi, mục tiêu hướng đến là đạt năng suất cao, hạn chế dịchbệnh đồng thời giảm chi phí đến mức thấp nhất Với mục tiêu như vậy thì việctìm hiểu phối trộn công thức thức ăn để nuôi chim bồ câu là hết sức quan trọng
Từ lâu, các chuyên gia dinh dưỡng đánh giá cao vai trò của hạt ngũ cốc nảymầm và hạt đậu nảy mầm vì giá trị dinh dưỡng của chúng mang lại
Vì vậy để tìm hiểu sâu hơn về sự ảnh hưởng hạt nảy mầm đến sự sinh trưởng và phát triển của bồ câu Pháp từ đó có thể đưa ra các biện pháp tốt để
Trang 6nâng cao năng suất của giống nuôi, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hạt nảy mầm trong khẩu phần đến sinh trưởng, phát triển của chim bồ câu Pháp dòng Titan theo phương thức nuôi nhốt tại huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hạt lúa và đậu xanh nảy mầm đến sự pháttriển của chim bồ câu Pháp dòng Titan theo phương thức nuôi nhốt hộ gia
- Xác định một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của chim bồ câu trongđiều kiện nuôi nhốt tại hộ gia đình ở huyện Vĩnh Thạnh, bổ sung kiến thức cơ bản
về giống chim này
4 Cấu trúc của luận văn
Gồm các phần: Mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục
và 3 chương:
Trang 7Chương 1: Tổng quan tài liệu.
Chương 2: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu.Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Trang 8CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình chăn nuôi bồ câu trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình chăn nuôi bồ câu trên thế giới
Từ xưa, phong trào nuôi bồ câu đã được người cổ đại chú trọng.Những phát hiện mới nhất cho thấy cách đây sáu ngàn năm, người Ai cập cổ
đã khắc vẽ bên vách Kim Tự Tháp nhiều hình tượng cho thấy vào thời đóngười dân đã biết nuôi bồ câu Cũng nhiều tài liệu cho thấy hàng ngàn nămtrước Công nguyên, người Ai Cập, Hy Lạp, La Mã đã biết nuôi lấy thịt vàhuấn luyện bồ câu đưa thư
Trên thế giới, bên cạnh việc chăn nuôi các động vật nông nghiệp truyềnthống, chăn nuôi bồ câu đã được biết đến từ rất lâu Bồ câu là loài chim kháphổ biến, sống ở hầu hết các thành phố trên thế giới Tại Châu Âu, chúngđược xem là dân cư quen thuộc của thành phố, du khách và người yêu chimcho ăn hằng ngày nơi công cộng Nhiều bầy chim lưu trú và làm tổ ở các cao
ốc, rồi bay đi kiếm ăn ở các vùng quê lân cận Bồ câu là loài ăn hạt, chúng tìm
ăn ngũ cốc rơi vãi trên cánh đồng, sân phơi, đường đi…Tại các thành phố,chúng chấp nhận cả bánh mì và những thức ăn khác do các du khách và cưdân thành phố cung cấp Tại Đông Nam Á, những đàn bồ câu thường có chủ,chúng được nuôi thả vì mục đích lấy thịt kết hợp làm cảnh
Hiện nay trên thế giới các nhà điểu học đã lai tạo ra nhiều nòi bồ câuvừa lạ vừa đẹp, có những đặc tính ưu việt về trọng lượng, vóc dáng, màulông, khả năng sinh sản tốt và có sức chịu đựng cao mọi loại thời tiết, khí hậu.Hiện nay, bồ câu được nuôi vào nhiều mục đích khác nhau như đua chim, lấythịt, làm cảnh
Ở Châu Âu, Châu Mỹ trong mấy thế kỷ qua, các nhà khoa học đã khôngngớt nghiên cứu và thử nghiệm lai tạo ra nhiều nòi bồ câu mới, và nhiều nước
Trang 9đã phát triển nghề chăn nuôi bồ câu theo quy mô công nghiệp, chứ khôngnuôi nhỏ lẻ như trước đây Tại Châu Úc, Canada, Đức, Pháp đã thực hiệnnhiều trang trại bồ câu lớn đến hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn cặp chim.Trong đó,Trại Euro Pigeon của Pháp nổi tiếng bề thế.
Tại Châu Á, các nước lân cận như Mã Lai, Singapore, Thái lan đã pháttriển nghề chăn nuôi này theo quy mô công nghiệp Ở Bangkok-Thái Lan cócác trang trại nuôi nhiều giống quý hiếm để tung ra thị trường trên thế giớinhư Chor Nokenoi, Bird Land Col Ltd, Leam Thon Poultry Co Ltd
Chim bồ câu được ăn thịt phổ biến nhất là khi chúng vừa “ra ràng” (têntiếng Anh là squab) Trong thuật ngữ ẩm thực, chim “ra ràng” là bồ câu nonkhoảng một tháng tuổi, nó đã đạt tới kích cỡ gần trưởng thành Trong quákhứ, chim “ra ràng” hoặc chim bồ câu các loại nói chung đã được tiêu thụ tạinhiều quốc gia văn minh cổ đại, bao gồm Ai Cập, Ý và Mediver… Thời đó,người ta đã săn bắn chim bồ câu làm thức ăn cung cấp prôtêin có giá rẻ.Chim “ra ràng” rất dễ bắt để làm thịt khi chúng còn non, chưa đủ lông để baykhỏi tổ, cũng vào thời gian đó đã có một số nông dân nuôi chim sinh sản đểsản xuất ra chim non ăn thịt
Gần đây, chim “ra ràng” được sản xuất hoàn toàn từ các trang trại lớn ởnhiều quốc gia thuộc khu vực Bắc Phi, Trung đông, một số nước Châu Âu,nhiều nước Bắc Mỹ…trong đó, người ta chăn nuôi các giống chim thịt ỞHoa Kỳ, có trại nuôi đến 35 000 đôi chim Ở Ai Cập, nuôi từ 3000 - 5000 đôichim bồ câu là quy mô tương đối phổ biến trong cả nước
1.1.2 Tình hình chăn nuôi chim bồ câu ở Việt Nam
Trước kia quy mô chăn nuôi chim bồ câu phổ biến ở nước ta là nuôi từvài cặp tới vài trăm con, kết hợp vừa giải trí, vừa có chim bồ câu “ra ràng” ănthịt Bất cứ nơi nào, từ thành thị tới thôn quê, đâu đâu ta cũng thấy nhữngcánh chim bồ câu bay lượn
Trang 10Ngày 16 tháng 01 năm 2008, Chính phủ đã có Quyết định số10/2008/QĐ - TTg về chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 Theoquyết định đó, từ năm 2010 và 2015, mức tăng trưởng bình quân: giai đoạn
2008 - 2010 đạt khoảng 8 - 9% năm; giai đoạn 2010 - 2015 đạt khoảng 6 - 7%năm và giai đoạn 2015 - 2020 đạt khoảng 5 - 6% năm; Sản lượng thịt xẻ cácloại: năm 2010 đạt khoảng 3.200 ngàn tấn, trong đó: thịt lợn chiếm 68%, thịtgia cầm chiếm 27%, thịt bò chiếm 3%; Năm 2015 đạt khoảng 4.300 ngàn tấn,trong đó: thịt lợn 65%, thịt gia cầm 31%, thịt bò 3%; đến năm 2020 đạtkhoảng 5.500 ngàn tấn, trong đó: thịt lợn 63%, thịt gia cầm 32%, thịt bò 4%;Sản lượng trứng, sữa: năm 2010 đạt khoảng 7 tỷ quả và 380 ngàn tấn; năm2015: khoảng 11 tỷ quả và 700 ngàn tấn; đến năm 2020: khoảng 14 tỷ quả vàtrên 1.000 ngàn tấn Bình quân sản phẩm chăn nuôi/người: năm 2010 đạt: 36
kg thịt xẻ, 82 quả trứng, 4,3 kg sữa; năm 2015 đạt: 46 kg thịt xẻ, 116 quảtrứng, 7,5 kg sữa và đến năm 2020 đạt trên 56 kg thịt xẻ, trên 140 quả trứng
và trên 10 kg sữa Tỷ trọng thịt được giết mổ, chế biến công nghiệp so vớitổng sản lượng thịt năm 2010 đạt khoảng 15%; năm 2015 đạt 25% và đếnnăm 2020 đạt trên 40% Với quyết định đó đã thúc đẩy ngành chăn nuôi giacầm với nhiều mô hình và đối tượng nuôi khác nhau, trong đó có mô hìnhnuôi chim bồ câu thịt
Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ thịt chim bồ câu rất lớn, không đủ số lượngcung cấp cho thị trường, do đó gần đây đã xuất hiện và phát triển hình thứcchăn nuôi tập trung từ vài trăm tới cả ngàn con, mang lại lợi nhuận lớn Cácgiống chim bồ câu nhập nội, cùng những tiến bộ mới trong dinh dưỡng,phòng dịch và quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, đang mang lại phongtrào chăn nuôi bồ câu phát triển mạnh mẽ ở khắp các vùng miền trong cảnước
Tháng 9/1996, Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương đã nhập
Trang 11nội dòng chim bồ câu Pháp, gọi tắt VN1 Đến tháng 5/1998 lại tiếp tục nhậptiếp hai dòng nữa là Titan và Mimas để khảo sát và nhân giống Sau một thờigian, nhiều tỉnh thành trong cả nước, phổ biến ở các tỉnh: Bắc Giang, TháiNguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Quảng Trị, Đắk Lắk, Bình Định,
…đã nhân rộng và thành công trong việc nuôi thử nghiệm mô hình nuôi chim
bồ câu làm kinh tế Điển hình một số nơi nuôi với số lượng lớn như trạigiống Chim Bồ câu Pháp Tây Nguyên, Trại bồ câu Sáng Tạo (Bắc Giang)
Tại Bình Định, đầu năm 2000 chim bồ câu Pháp được đưa về Trungtâm Khoa học kỹ thuật vật nuôi Bình Định để nuôi thử nghiệm nhân giống.Đến nay, thì mô hình nuôi chim bồ câu Pháp làm kinh tế đã được nhân rộngtrên hầu hết các huyện lỵ và thành phố của tỉnh như Quy Nhơn, Phù Mỹ, PhùCát, Hoài Ân, Tuy Phước, Vĩnh Thạnh
Hiện nay tại địa bàn Vĩnh Thạnh có 2 trang trại và nhiều nông hộ nuôinuôi chim bồ câu làm kinh tế với quy mô từ 50 cặp đến 800 – 900 cặp, đãmang lại hiệu quả kinh tế cao
1.2 Nguồn gốc và vị trí phân loại
1.2.1 Nguồn gốc chim bồ câu
Bồ câu thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ bồcâu Columbiformes gồm những loài chim đi chậm nhưng bay rất khỏe như
bồ câu, cu gáy Gốc mỏ mềm, chúng ăn quả và hạt là chính
Loài chim bồ câu (Columba livia) thuộc bộ bồ câu (Columbiformes) có
tổ tiên từ một loài bồ câu núi sống ở Châu Âu, Bắc Phi, một phần Châu Á, đãđược thuần dưỡng từ 30 thế kỉ trước Công nguyên [12] Loài này sống thànhđàn, ưa làm tổ trong hốc đá, gồm khoảng 450 giống Dựa vào công dụng củachúng có thể phân bồ câu nhà thành 4 nhóm : Bồ câu đưa thư (bay nhanh); bồcâu thể thao (có thể thực hiện nhiều kiểu bay lượn đặc biệt); bồ câu cảnh(hình thái cơ thể, bộ lông đặc biệt kì lạ hấp dẫn); bồ câu thịt (có khối
Trang 12lượng cơ thể lớn, cho lượng thịt gấp hai lần các nhóm kể trên ).
Bồ câu nhà thuộc nhóm bồ câu thịt Tùy tập quán từng nước, từng vùngkhí hậu sinh thái người ta nuôi nhiều nòi bồ câu có khối lượng và màu sắckhác nhau.Về khối lượng, thông thường nặng khoảng 800 - 1000g (contrống), 600 - 900g (con mái) Chúng cũng có nhiều màu sắc : đen, xám,khoang, trắng, nâu nhạt
1.3 Đặc điểm sinh học
1.3.1 Đặc điểm hình thái, tập tính sinh học của chim bồ câu
Thân chim hình thoi, cổ linh hoạt giúp chim dễ quan sát từ mọi phía,giúp mổ thức ăn, tự vệ, rỉa lông, tấn công
Cơ thể chim được bao phủ bởi lông vũ Lông phân bố đều trên bề mặt
cơ thể chim non cũng như chim trưởng thành, chiếm tỷ lệ 4 - 9% khối lượngsống Lông ống có số lượng nhiều nhất, phân bố ở cánh và đuôi, chúng nằmxếp lớp lên nhau và tạo thành bộ lông ngoài Lông tơ là lông bao phủ thân,tạothành lớp nằm dưới lông ống giữ ấm cho cơ thể Lông chỉ hay lông hình sợigiống lông mao của gia súc nhưng mềm và mảnh, những lông này mọc thànhnhóm nhỏ xung quanh mỏ và mí mắt Lông chổi hay còn gọi là lông hình bútsơn mọc xung quanh lỗ huyệt, lỗ thoát chất tiết của tuyến phao câu có chùm
Trang 13lông tương đối dài và mỏng, ở đầu có một chùm tơ trong giống như cái bútsơn.
Màu sắc lông chim gắn chặt với sự có mặt của những sắc tố melanin vàlipocrom Ở tiền sắc tố melanin là melanogen Sự oxy hóa melanogen ở cácmức độ khác nhau sẽ cho ra các màu lông khác nhau: vàng đất, vàng gỉ sắt,hung gỉ sắt, nâu hung, đen, nâu Màu lông rực rỡ của chim được tạo bởi sắc tốlipocrom Nó thuộc nhóm sắc tố carotenoit Chúng làm cho lông có màu vàng,
đỏ, xanh da trời Nếu không có sắc tố thì lông màu trắng, đó là chim bạchtạng, thường thấy ở chim bồ câu trắng
Da chim mỏng, không có tuyến nhờn chỉ có tuyến ở gần đuôi gọi làtuyến phao câu tiết ra chất nhờn dùng rỉa lông cho bóng đẹp
Bồ câu có bản năng ấp trứng tốt, nuôi con giỏi, kiếm mồi và khả năngnhận biết đường đi Bồ câu thường đẻ hai trứng nở hai con một trống, mộtmái nhưng cũng có ít trường hợp nở ra toàn mái hoặc toàn trống Bồ câu khámắn đẻ, thường 40 - 50 ngày cho một lứa nuôi tốt Ở điều kiện khí hậu sinhthái nước ta giống chim nội có thể có 5 - 6 lứa ở miền Bắc và 6 - 7 lứa ở miềnNam, giống chim bồ câu Pháp có thể đẻ 9 lứa/năm
Trang 14- Ưa chuồng đẹp, rộng có màu sắc lạ đặt ở chỗ cao, thích tha vật lạ vào
chuồng Chuồng bẩn, chật hẹp bồ câu bỏ chuồng mà đi
- Ưa sống nơi yên tĩnh: Khu nuôi không được ồn ào, nhiều kiến, tránh chó mèo, chuột bọ quấy phá chim dễ bị sốc
- Ưa ăn thức ăn hạt: Chúng ưa thức ăn hạt như bắp, lúa, các loại đậu Đặc biệt làcác loại hạt đậu đỗ chứa nhiều prôtêin giúp chim khỏe, tăng khả năng sinh
sản và phát triển cơ bắp
- Ưa tắm: Bồ câu thích tắm nước và tắm nắng Bồ câu có tập tính đứng soimình, rỉa lông cạnh bể nước và đó cũng là nơi trống mái “tự tình” Trong khi
tắm con trống thường đùa giỡn hai cánh khẽ đập nước và gù con mái
- Dễ tính trong việc dồn trứng và dồn con
- Tính thông minh: Bồ câu vừa có trí nhớ dai vừa biết định hướng để bay vềđúng chỗ cũ Ở các cặp vợ chồng nhận ra nhau không chỉ bằng mắt mà chúng nhận
ra nhau chủ yếu bằng âm thanh Mỗi loài chim đều phát ra một loại âm thanh vàquãng cách giữa các âm Bồ câu cũng có âm thanh đặc biệt, con trống phát ra tiếng
gù khi to khi nhỏ
1.3.2 Đặc điểm về sức sống
Sức sống là đặc điểm di truyền của động vật, xác định khả năng vượtqua và phát triển được dưới ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường Đặcđiểm này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm sống sót qua các giai đoạn pháttriển cá thể
Trang 15- Ảnh hưởng của môi trường bên trong: Chính là tất cả các yếu tố liên quanđến chất lượng trứng ấp, bao gồm tất cả các chỉ tiêu đánh giá chất lượngtrứng như khối lượng trứng, chỉ số hình thái trứng, chất lượng vỏ trứng, tỷ lệlòng trắng, lòng đỏ, chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh.
Trứng có khối lượng trung bình của giống có tỷ lệ nở cao hơn trứnglớn hơn hoặc nhỏ hơn trong cùng giống Trứng có chỉ số hình dạng 0,74 -0,76(d/D) là nở tốt
Hệ số di truyền về tỷ lệ ấp nở là 0,13 - 0,16, có sự biến động lớn quacác năm Tỷ lệ nở liên quan đến thời gian của chu kỳ đẻ trứng, trứng đẻ giữachu kỳ có tỷ lệ nở cao hơn đầu và cuối chu kỳ [4]
- Ảnh hưởng của môi trường bên ngoài: Chế độ nuôi đàn bố mẹ,thời gian bảoquản, điều kiện bảo quản trứng trước khi ấp, chế độ ấp trứng
1.3.2.2 Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu đánh giá sức sống vật nuôi ở giai đọan hậuphôi Sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn Tỷ lệsống xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống so với số cá thể đượcnuôi dưỡng qua từng thời kỳ, giai đoạn
- 0,33) nên chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện môi trường
- Yếu tố ngoại cảnh: Nhiệt độ thấp hay cao so với yêu cầu của con vậtđều ảnh hưởng tới sức khỏe của chúng Chăm sóc đàn chim không đúng quy
Trang 16trình kỹ thuật như mật độ quá cao, thời gian và cường độ chiếu sáng khôngthích hợp, chăm sóc ăn và uống không đầy đủ, không đảm bảo vệ sinh đềulàm giảm tỷ lệ nuôi sống của đàn nuôi.
Tỷ lệ nuôi sống của một số giống chim : ở chim non đến 28 ngày tuổidòng Mimas là 91,5%, chim dò (1 - 6 tháng) là 93,18% Dòng Titan chim non
28 ngày tuổi là 92,1%, chim dò 95,02% Ở chim cút từ 0 - 12 tuần tuổi là93,56% [5]
Để đánh giá sức sống của vật nuôi ở giai đoạn hậu phôi cần xác định tỷ
lệ sống Mặt khác, để đánh giá sức sống các nhà chăn nuôi còn xác định trạngthái sức khỏe bằng cách xác định tỷ lệ mắc bệnh trên 1 đơn vị thời gian
Sự giảm sức sống thể hiện ở tỷ lệ chết Hiện tượng chết do bệnh tật vànhân tố khác Có thể chọn lọc theo sức sống trong đàn để giảm tỷ lệ chết củagia cầm ở các giai đoạn [1]
1.3.3 Đặc điểm sinh trưởng
1.3.3.1 Khối lượng cơ thể
Khối lượng cơ thể là chỉ tiêu đánh giá khả năng cho thịt của chim khicòn sống Theo Goldfrey tính trạng này được quy định bởi 15 cặp gen và phải
có ít nhất một gen liên kết giới tính [15, 21] Khối lượng sơ sinh không ảnhhưởng đến khối lượng cơ thể và tốc độ lớn sau một tháng tuổi Khối lượng
cơ thể có liên quan chặt chẽ với kích thước chiều đo, khối lượng trứng Khốilượng cơ thể phụ thuộc vào đặc điểm của loài, giống, giới tính, lứa tuổi hayhướng sản xuất Các giống gia cầm hướng thịt có khối lượng lớn hơn giốnghướng trứng
Khối lượng cơ thể có hệ số di truyền 36 - 61% Sự biến dị của tính trạngnày phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trường, đặc biệt là chế độ dinh dưỡng
Đã xác định khối lượng cơ thể chim bồ câu ta ở giai đoạn 28 ngày tuổi đạt 342,6
g [25] Theo tài liệu hãng Grimaud Freres chim bồ câu pháp dòng
Trang 17Mimas khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi đạt 590g và dòng Titan đạt700g Khi vào đẻ, dòng Mimas con trống nặng 688g, con mái 667g DòngTitan con trống 718g, con mái 679g Ở Hoa kỳ, giống bồ câu Hungarian cókhối lượng cơ thể đạt 780g con trống và 700g con mái Bồ câu “Siêu thịt”Romais có khối lượng cơ thể ở giai đoạn trưởng thành đạt 1300g Ở ViệtNam hiện nay có giống bồ câu King (nguồn gốc Mỹ) được nuôi làm cảnh vớikhối lượng khá lớn 800g [2].
1.3.3.2 Tốc độ sinh trưởng
Sinh trưởng là sự biến đổi về lượng, biểu hiện về sự tăng lên về khốilượng hoặc kích thước của bộ phận hay toàn cơ thể Tốc độ sinh trưởng làbiểu hiện sự thay đổi (tăng lên) về kích thước và khối lượng vật nuôi thờiđiểm khác nhau trong quá trình sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng là tính trạng về số lượng [1], phụ thuộc vào các yếu
tố di truyền, giới tính, cá thể, chế độ chăm sóc Ở các giai đoạn khác nhautrong quá trình sinh trưởng của cùng một cá thể thì tốc độ sinh trưởng là khácnhau và là một trong những căn cứ để xác định thời điểm giết thịt kinh tếnhất Tốc độ sinh trưởng càng cao thì hiệu quả sử dụng thức ăn càng lớn
- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng cơ thể là giá trị tăng lên vềkhối lượng cơ thể trên một đơn vị thời gian; Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối khốilượng thường được xác định bằng đơn vị gam/con/ngày
Giá trị sinh trưởng tuyệt đối khối lượng biểu thị giá trị sản xuất của tính trạng trên một đơn vị thời gian, cho từng giai đoạn phát triển, cho từng giống có thể dùng để dự đoán năng suất và làm chỉ tiêu trong so sánh chọn lọc Giá
trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn Ở gia cầm nóichung sinh trưởng tuyệt đối khối lượng biến thiên theo quy luật tăng dần từ sơsinh đến trước trưởng thành, sau giai đoạn trưởng thành thì giá trị sinh trưởngtuyệt đối giảm dần và đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng hình parabol Kết
Trang 18quả nghiên cứu của [9] trên bồ câu Pháp dòng VN1 cho biết: giai đoạn 1 - 7ngày tuổi tốc độ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng đạt 21,36 g/ngày Giai đoạn
7 - 14 ngày tuổi, 14 - 21 và 21 - 28 ngày tuổi đạt các giá trị 6,74 g/ngày; 32,53g/ngày và 11,76 g/ngày tương ứng
- Tốc độ sinh trưởng tương đối khối lượng là tỷ lệ phần trăm mức độtăng thêm về khối lượng cơ thể ở thời điểm khảo sát so với thời điểm trước đó.Giá trị tốc độ sinh trưởng tương đối biểu thị tốc độ sinh trưởng nhanh hay chậm,đặc trưng cho giống, cho từng giai đoạn phát triển
Đồ thị tốc độ sinh trưởng tương đối có dạng hyperbol, tốc độ sinhtrưởng tương đối sẽ giảm dần qua các giai đoạn tuổi, đơn vị tính là % Kếtquả nghiên cứu của [9] cho biết giai đoạn 1 - 7; 7 - 14; 14 - 21 và 21 - 28 ngàytuổi tốc độ sinh trưởng tương đối của bồ câu Pháp dòng VN1 đạt các giá trị:165,75%; 25,02%; 69,85%và 17,12% tương ứng
Cơ sở tế bào học của tốc độ sinh trưởng chính là quá trình phân chia vàtích lũy chất hữu cơ của tế bào cơ thể Quá trình này tạo nên sự tăng lên vềkhối lượng, kích thước các chiều đo của cơ thể thông qua quá trình trao đổichất Cường độ sinh trưởng là một chỉ tiêu đánh giá phẩm chất giống, đánhgiá khả năng thích nghi của một giống gia cầm trong điều kiện sống mới
1.3.3.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn
Hiệu quả sử dụng thức ăn là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (kg) để đạt đượcmột kg tăng khối lượng Vì sự tăng khối lượng là kết quả của quá trìnhchuyển hóa thức ăn
Nếu cơ thể có quá trình tăng khối lượng chậm thì năng lượng từ thức
ăn tiêu tốn cho duy trì sẽ cao hơn so với cơ thể tăng khối lượng nhanh và nhưvậy sẽ dẫn đến tiêu tốn thức ăn cao
Tiêu tốn thức ăn trên một kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quảkinh tế càng cao và ngược lại nếu tỷ lệ này cao thì hiệu quả kinh tế sẽ thấp đi
Trang 19Theo Chamber và cộng sự (1995) thì hệ số tương quan di truyền giữa khốilượng cơ thể và tăng khối lượng với tiêu tốn thức ăn là rất cao, từ + 0,5 đến +0,9.
Hiệu quả sử dụng thức ăn tùy thuộc vào giống, giới tính, tình hình sứckhỏe, chất lượng thức ăn sử dụng Hiệu quả sử dụng thức ăn quyết định hiệuquả kinh tế trong chăn nuôi vì chi phí thức ăn chiếm khoảng 70 - 75% giáthành sản phẩm Thức ăn theo dõi hàng ngày của bồ câu được tính bằng cáchcân khối lượng thức ăn đã cho ăn và khối lượng thức ăn thừa hàng ngày đểtính khối lượng thức ăn đã tiêu thụ thực tế của chim qua các giai đoạn tuổi
1.3.4 Đặc đểm sinh sản và một số chỉ tiêu sinh lý máu
1.3.4.1 Tuổi đẻ quả trứng đầu
* Tuổi đẻ quả trứng đầu là một chỉ tiêu đánh giá về sự thành thục sinh dục, là tính trạng di truyền
Nếu xét về mặt cá thể, tuổi đẻ quả trứng đầu là thời gian từ khi nở rađến khi bồ câu đẻ quả trứng đầu tiên Còn đối với quần thể thì chỉ tiêu nàyđược xác định từ khi nở ra đến khi 5% tổng đàn đẻ
Tuổi đẻ của loài, giống khác nhau thì không giống nhau Với cùng mộtgiống trong chế độ ăn, điều kiện nuôi dưỡng và mùa vụ khác nhau thì cũngảnh hưởng đến tuổi đẻ Tuổi đẻ đến sớm thường ảnh hưởng đến khối lượngtrứng, trứng sẽ nhỏ hơn Sự thành thục của chim bồ câu xảy ra từ lúc 3 tháng
15 ngày cho đến 7 8 tháng tuổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố (bồ câu Pháp 5
-6 tháng tuổi, bồ câu nội 7 - 8 tháng tuổi)
- Về giống: Nhìn chung những giống chim bồ câu có tầm vóc nhỏ đẻ sớm hơn những giống to
- Mùa sinh nở: Những con chim bồ câu non nở vào mùa xuân thành thục sinh dục sớm hơn
- Có sự khác nhau khá nhiều giữa cá thể trong cùng một giống
Trang 20* Sự đẻ trứng: Sau khi ghép đôi từ 8 - 12 ngày, chim mái đẻ quả trứng đầu tiên Hiếm khi chim mẹ đẻ 1 trứng hoặc 3 trứng Chim bồ câu mái đẻ quanh năm Theo số liệu của viện chăn nuôi quốc gia, mỗi năm một cặp bồ
câu sinh sản được 17,73 trứng với tỉ lệ nở là 88% thì sẽ có 15,6 chim bồ câu
sơ sinh Khoảng cách đẻ giữa trứng thứ nhất và trứng thứ hai là 36 giờ vàkhoảng cách của lứa thứ nhất và lứa thứ hai là 40 ngày (từ 32 - 49 ngày)
* Chu kỳ sinh sản: Theo trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương Thời gian đẻ trứng: 2 ngày
Tuy nhiên, các chu kỳ chồng chéo nhau vì chim mẹ thường đẻ sớm khicon nó mới được 10 - 18 ngày tuổi, do vậy khoảng cách trung bình của hailứa đẻ là 38 - 40 ngày [5]
1.3.4.2 Đặc điểm sinh học của trứng
Trứng chim có hình kassini, đó là hình bầu dục không cân đối một đầu
tù và một đầu nhọn.Trong thực tiễn, hình dạng trứng được biểu hiện bằng chỉ
số hình thái: Đó là tỉ số giữa đường kính lớn so với đường kính nhỏ (hoặcngược lại) Chỉ số này biến thiên từ 1,10 - 1,45
Khối lượng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giống,hướngsản xuất, chế độ dinh dưỡng, tuổi chim mái, khối lượng chim mái Khốilượng của trứng được xác định bằng giá trị trung bình quả trứng/ năm(g/quả), hoặc khối lượng trứng sản xuất ra từ một mái / năm (kg trứng) Khốilượng trứng trung bình chim cút 10 - 16 g/quả, ngỗng 140 – 200 g/quả, gà 55– 65 g/quả, bồ câu 20 – 25 g/quả
Trứng gồm 3 phần: Vỏ, lòng trắng, lòng đỏ Ở các loài khác nhau thì tỷ
lệ này cũng khác nhau Cụ thể:
Trang 21Chất lượng vỏ trứng hay độ bền vỏ trứng được đánh giá thông qua các
chỉ tiêu như độ chịu lực, độ dày vỏ và mật độ lỗ khí
Độ dày vỏ trứng có ý nghĩa quan trọng về kỹ thuật và kinh tế Nó liên
quan chặt chẽ với tỷ lệ dập vỡ trong quá trình đóng gói, ấp trứng, vận chuyển
và ảnh hưởng tới tỷ lệ nở
Theo Jull (1967) độ dày vỏ trứng chịu ảnh hưởng yếu tố di truyền ,
điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Độ dày vỏ trứng biến động trong khoảng
0,10 - 0,20 mm ở trứng bồ câu, chim cút; 2,0 - 2,2 mm ở trứng đà điểu
* Lòng trắng trứng: Chiếm 50,2 - 57,0% khối lượng trứng Tỷ khối từ
1,039 - 1,042; pH từ 7,9 - 8,6 Lòng trắng bao gồm lòng trắng đặc và lòng
trắng loãng Cấu trúc chia làm 3 lớp: Lớp lòng trắng loãng bên ngoài chiếm
23%, lòng trắng đặc ở giữa chiếm 57%, lòng trắng loãng trong cùng là 20%
Chỉ số lòng trắng đặc càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Chỉ số này ở
trứng tươi bằng 0,08 - 0,09; chỉ số này khác nhau tùy loài, giống, cá thể
* Lòng đỏ trứng: Là thành phần có giá trị cao nhất Tỷ trọng của lòng
đỏ từ 1,028 - 1,035 Thành phần hóa học gồm 16 - 17 % protein, 32 - 36% lipit;
0,2 - 0,3% gluxit; 1,02 - 1,20% các chất khoáng, các loại vitamin A, B,
Trang 22E, D, K Để đánh giá chất lượng trứng cần xác định chỉ số lòng đỏ Chỉ số lòng đỏ được xác định dựa vào chiều cao và đường kính trung bình của lòng đỏ.
Chỉ số lòng đỏ biểu hiện trạng thái và chất lượng của lòng đỏ, chỉ sốnày càng cao càng tốt, trứng tươi chỉ số này là 0,4 - 0,5 Chỉ số này phụ thuộcvào đặc điểm loài, giống, cá thể, thời gian bảo quản trứng
1.3.4.3 Một số chỉ tiêu sinh lý máu
Máu cùng hệ bạch huyết góp phần tạo nên sự ổn định của dịch mô làmôi trường bên trong cơ thể Máu có thành phần và tính chất lý - hóa tươngđối ổn định, nhờ đó các điều kiện cần thiết cho hoạt động sống của tế bào và
mô được đảm bảo
Thành phần máu thuộc vào trạng thái sinh lý của cơ thể, tuổi, giới tính,điều kiện nuôi dưỡng và các yếu tố khác Trong máu chim non có 14,4 %chất khô, chim trưởng thành có 15,6 - 19,7% Tỷ trọng của máu chim là 1,050
- 1,060 Độ nhớt của máu chim trung bình bằng 5 (4,7- 5,5) phụ thuộc vào sốlượng hồng cầu, nồng độ prôtêin, muối Độ pH chim là của máu chim là 7,42-7,56
- Hồng cầu hình bầu dục, lồi hai mặt, có nhân nhỏ, rất ít bào quan, cónguồn gốc từ tủy xương, tồn tại trong máu 120 ngày, bị phá hủy ở gan thông
qua đại thực bào, số mới được tạo ra bù đắp số bị phá hủy, nhờ đó mà sốlượng hồng cầu được ổn định và đặc trưng cho loài, giống [23]
Số lượng hồng cầu trong 1 mm3 máu của gà vịt trung bình là 3,5 triệu;ngỗng 3,3 triệu [18] Hồng cầu ở cá thể đực nhiều hơn ở cá thể cái phụ thuộcvào mùa, sức sản xuất, chế độ nuôi
Hàm lượng huyết sắc tố: Ở gà trưởng thành 12,5 – 16,6g% Còn ở vịt:13,4 - 16,7 g%, Ở ngỗng 15,0 - 16,6 g% [18]
Trang 23Huyết sắc tố (Hb) là một protein máu, là thành phần quyết định chứcnăng hồng cầu, khối lượng phân tử 70000 Mỗi hồng cầu có khoảng 280 triệu
Hb, chiếm 30% khối lượng tươi hay 90% lượng khô hồng cầu Hb cấu tạogồm 4 nhóm hemoglobin và 4 chuỗi polypeptit gồm 2 chuỗi α mỗi chuỗi gồm
141 axitamin, 2 chuỗi β mỗi chuỗi 146 axitamin Hàm lượng Hb tùy thuộcvào loài, giống, tuổi, giới tính, sự dinh dưỡng và trạng thái cơ thể
Bạch cầu: Gồm nhiều loại, hình dạng tròn không ổn định, màu sáng vàthấy rõ nhân Thời gian tồn tại từ 12 giờ đến 300 ngày tùy loại, tất cả đều liênquan đến chức năng bảo vệ chống lại bệnh tật của cơ thể Số lượng bạch cầuđặc trưng cho từng loài giống, có tính ổn định tương đối, tăng lên khi vậnđộng, bị viêm nhiễm và giảm khi bị suy tủy, già Số lượng bạch cầu ở gia cầmdao động từ 20000 - 50000/mm3
tỷ lệ thịt xẻ 74%, tỷ lệ thịt đùi so với thịt xẻ khoảng 18%, thịt ngực 38 - 40%
Tỷ lệ protein là 18%
1.3.5.2 Chim bồ câu Pháp dòng Titan
Theo tài liệu của hãng Grimand Freres, dòng Titan là dòng cân nặng ,lông màu lốm đốm, mỗi cặp cho trung bình 13 - 14 chim non/năm Khối
Trang 24lượng chim non nuôi đến 28 ngày tuổi nặng 700g Khi vào đẻ con trống nặng718g, con mái nặng 679g Khoảng cách 2 lứa đẻ là 40 ngày Khối lượng trứngđầu 25,05g.
1.3.5.3 Chim bồ câu Pháp dòng Mimas
Được nhập vào Việt Nam vào tháng 5/1998, có màu lông trắng tuyền ,mỗi đôi có thể cho 16 - 17 chim non/năm, khối lượng chim non 28 ngày tuổinặng 590g khi vào đẻ con trống nặng 688g, con mái nặng 667g Khối lượngtrứng đầu 25,00g Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 35 ngày Sau 1 tháng tỷ lệ
đẻ của đàn đạt tới 80% Tỷ lệ nuôi sống đạt 98% [5]
1.3.5.4 Phân biệt giới tính chim bồ câu
Bồ câu non rất khó phân biệt trống mái Sự phân biệt chỉ thuận lợi khichim đã lớn, sinh dục đã chín muồi
* Nhận dạng hình thức bên ngoài :
Con trống thường có thân mình to hơn bồ câu mái Đầu, mỏ to và ngắn hơn, lông cổ bồ câu trống tươi tắn và có ánh sắc hơn Hai múi thịt trên mũi vừa ngắn, vừa to, dày Khi chim trưởng thành vào sinh sản thì chim trống có biểu hiện như xòe đuôi, gật đầu, gù, xoay vòng vòng
Chim mái có thân mình nhỏ hơn và bầu bĩnh hơn con trống Bồ câu mái
ức nhỏ, vai hẹp, đầu nhỏ, chân nhỏ Bộ lông hơi tối màu hơn con trống Haimúi thịt trên mũi nhỏ, hẹp và xẹp
* Nhận dạng bằng Tay :
Dựa vào khoảng cách giữa hai xương chậu:
Dùng tay trái cầm cánh (như túm cánh gà để chuẩn bị cắt tiết thịt ) sau
đó tay phải úp lòng bàn tay vào bụng chim đưa ngón tay trỏ hoặc ngón giữavào hai ghim ở cạnh hậu môn Nếu là con trống thì khoảng cách này hẹp và cócảm giác cứng, con mái khoảng cách này rộng đưa lọt ngón tay trỏ thậm trílọt cả ngón tay cái và có cảm giác mềm, ấm
Trang 251.4 Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của bồ câu
1.4.1 Giá trị dinh dưỡng và y học
* Trong y học cổ truyền, chim bồ câu được dùng với tên thuốc là cáp điểu hay gia cáp gồm các bộ phận hay dùng như thịt chim (cáp điểu nhục), tiết chim (cáp điểu huyết), trứng chim (cáp điểu noãn) và phân chim (cáp điểu
phân)
- Thịt bồ câu tính bình, vị mặn, dinh dưỡng phong phú, thơm, vị ngọt
có tác dụng bổ thận kiện tì vị, ích khí huyết, khu phong giải độc Đây là loại thựcphẩm tốt cho người già, trẻ em, người bệnh hay sản phụ, dùng trong các trườnghợp gầy yếu, hư nhược, tiêu khát, hay quên mất ngủ, thần kinh suy nhược, dinhdưỡng không tốt, phụ nữ huyết hư tắc kinh
- Trứng chim bồ câu vị ngọt, chua, mặn, tính bình, có công dụng bổthận, dưỡng tâm, điều trị liệt dương, suy dinh dưỡng, thường được dùng làmthức ăn cho những người mất ngủ hay quên, đầu choáng mắt hoa, tai ù tai điếc, lưng đau gối mỏi do tâm thận hư yếu Với trẻ nhỏ, trứng chim bồ câu ngăn ngừa bệnh sởi, nâng cao miễn dịch Ngoài ra, còn giúp chữa lành vết thương, nâng cao sự đàn hồi da
- Tiết chim: Vị ngọt mặn, tính âm có tác dụng giải độc, bổ huyết điềukinh
- Phân chim: Vị đắng tính ôn, có tác dụng giảm đau tiêu ích
* Theo y học hiện đại:
- Thịt chim bồ câu chứa 22,14% protein, 1% lipit và muối khoáng.Trong thành phần thịt chứa 16 loại axitamin, đặc biệt là chứa đầy đủ cácaxitamin thiết yếu đối với con người Thịt chim còn chứa các loại vitamin A, B1,B2 và nhiều nguyên tố vi lượng là thành phần tạo máu, do vậy giá trị dinhdưỡng thịt chim bồ câu cao hơn thịt gà, cá, thịt bò Cụ thể theo Nutriadvice thìtrong 100g thịt bồ câu có 56g nước, 44g chất khô, 18g protein, cho 1230Kj
Trang 26năng lượng [5].
- Trứng chim bồ câu chứa hàm lượng protein cao 9,5%, chất béo 6,4%,chứa lượng lớn phospholipit và nguyên tố vi lượng như Fe, Ca, vitamin A, B1 B2,B6, B12 và D
Trứng chim bồ câu chứa gấp 2,5 lần hàm lượng riboflavin (B2) so vớicác loại trứng khác Vitamin B2 có vai trò quan trọng là thành phần của cácenzim oxydase, trực tiếp tham gia vào các phản ứng oxy hóa hoàn nguyên,khống chế các phản ứng hô hấp chuyển hóa của tế bào, chuyển hóa các chấtđường, đạm, béo ra năng lượng cung cấp cho các tế bào hoạt động, tác độngviệc hấp thu, tồn trữ và sử dụng sắt trong cơ thể Trứng chim bồ câu chứa hàmlượng lecithin nhiều hơn 3 - 4 lần so với trứng cút Lecithin là chất có vai tròlớn trong việc tham gia cấu tạo màng tế bào
- Máu chim: Có chứa nhiều đạm, chất sắt và huyết sắc tố
Tóm lại: Thường xuyên ăn thịt chim bồ câu và trứng chim bồ câu cóthể kích thích ăn uống, tăng khả năng tuần hoàn máu, giúp con người có tinhthần và thể lực sung mãn, da mịn, phòng chống lão hóa, bạc tóc sớm
1.4.2 Giá trị kinh tế
Nguồn lợi kinh tế do bồ câu mang lại cho người nuôi không còn nghingờ gì nữa, vì chim bồ câu là giống dễ nuôi, không chiếm dụng nhiều mặtbằng, thực phẩm dành cho chúng vừa rẻ vừa có sẵn quanh năm Chúng lại đẻsai, ít bệnh Thịt ngon và bổ lúc nào cũng có giá trên thị trường và thườngbán với giá cao hơn những gia cầm khác Ở Việt Nam, một cặp bồ câu giốngbán ra có giá khoảng 600.000 ngàn một cặp, còn chim ra ràng có giá 120.000đồng/ cặp Theo tính toán của trung tâm thông tin và ứng dụng tiến bộ khoahọc kĩ thuật, nếu nuôi 25 cặp bồ câu bố mẹ thì mỗi tháng lợi nhuận từ bánchim ra ràng sau khi đã trừ chi phí còn lãi trên 1 triệu 200 ngàn đồng Nếunuôi 100 cặp bồ câu giống lợi nhuận hàng tháng gần 5 triệu đồng
Trang 271.5 Vai trò dinh dưỡng của hạt nảy mầm đối với vật nuôi
1.5.1 Lợi ích của việc ngâm nảy mầm hạt ngũ cốc và hạt đậu
Thiên nhiên đã thiết lập cơ chế bảo vệ tự nhiên cho hạt ngũ cốc và các loại hạt giống khác, giúp chúng sống trong thời kỳ tiềm sinh có khả năng chống lại sự xâm hại của các yếu tố bên ngoài
Cơ chế bảo vệ tự nhiên này hình thành là do các chất ức chế enzym, cácchất độc như phytates (acid phytic), polyphenol (tannin), và goitrogens có sẵntrong hạt Chỉ khi gặp điều kiện thuận lợi về độ ẩm, nhiệt độ thích hợp các hạtgiống sẽ hút nước, giải phóng enzym loại bỏ các chất ức chế dinh dưỡng vàcác chất độc này, khởi động cho hạt tăng cường trao đổi chất, nảy mầm vàphát triển
Các chất ức chế enzym này khi vào trong ống tiêu hóa của các loàiđộng vật ăn hạt sẽ làm giảm hoặc mất tác dụng của enzym tiêu hóa, từ đó gâyảnh hưởng không tốt đến sự tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng Mặtkhác, acid phytic có ở lớp áo hạt (vỏ cám) sẽ kết hợp Ca, Mg, Fe, Cu, đặc biệt
là Zn trong đường ruột ngăn chặn sự hấp thụ dẫn đến thiếu hụt khoáng, gâyloãng xương động vật
Chính vì vậy, nhiều dân tộc đã có thói quen ngâm hạt trong nước ấmhoặc cho lên mầm một phần trước khi ăn nhằm trung hòa chất ức chế enzym,đồng thời nhờ các enzym và các sinh vật hữu ích khác phá vỡ, vô hiệu hóamột phần lớn acid phytic có trong hạt, tạo điều kiện sản xuất ra nhiều enzym
có lợi, làm tăng số lượng các chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin nhóm B.Ngoài ra, quá trình ngâm và lên mầm hạt còn giúp cắt ngắn gluten và cácprotein khó tiêu khác thành các thành phần đơn giản làm cho việc tiêu hóa vàhấp thụ dễ dàng hơn
Tóm lại khi ngâm hạt ngũ cốc và các loại đậu sẽ mang lại lợi ích:
- Loại bỏ, làm giảm các chất độc (acid phytic, tannin và goitrogens) và trung
Trang 28hòa các chất ức chế enzyme.
- Khuyến khích sản xuất các enzym có lợi, làm tăng lượng vitamin , đặc biệt
là vitamin nhóm B
- Phá vỡ gluten và làm cho tiêu hóa dễ dàng hơn
- Ngăn chặn sự thiếu hụt khoáng chất và loãng xương
- Giúp trung hòa các chất độc trong ruột kết và giữ sạch đại tràng
- Ngăn ngừa bệnh và cải thiện điều kiện sức khỏe
1.5.2 Dinh dưỡng trong hạt nảy mầm
Mầm đỗ xanh chứa hàm lượng dinh dưỡng cao hơn hẳn rau thường,phổ biến là các vitamin A, B, C, E…., các loại khoáng chất ( Fe++, Zn++),các axit amin, chất chống oxi hóa…đặc biệt là Kẽm và Selen Kẽm, selen từsản phẩm thiên nhiên hữu cơ giúp cơ thể non hấp thụ tốt hơn, hạn chế còixương, chống suy dinh dưỡng, kích thích ăn ngon miệng, tăng khả năng miễndịch
Đối với người, hàng ngày nếu ăn nhiều giá đỗ sẽ rất tốt cho sức khỏe,ngăn ngừa nguy cơ sảy thai ở phụ nữ, bên cạnh đó là hàm lượng vitamin Ecao rất hữu ích cho người yếu sinh lý và thai phụ khó đẻ Ngoài ra, giá đỗ cótác dụng giảm cholesterol và triglyceride phòng chống được bệnh tim mạch,
nó có chứa riboflavin nên rất tốt với người nhiệt miệng và chống táo bón,ngăn ngừa ung thư thực quản, ung thư ruột, trực tràng và dạ dày…
Trong chăn nuôi, hiện nay người ta đã sử dụng phổ biến lúa nảy mầmvào trong khẩu phần ăn của gà, cá Do các chất dinh dưỡng trong mầm lúa sẽthay đổi theo sự phát triển của mầm, vì thế khi cho ăn phải dựa vào mức độnảy mầm của hạt để sử dụng Ở giai đoạn mầm dài 0,5 - 1 cm cho hàm lượngvitamin E cao nhất Dùng mầm lúa lúc này để nuôi vỗ gia cầm bố mẹ trướckhi cho đẻ sẽ làm cho gia cầm đực hưng phấn mạnh và chất lượng tinh dịchtốt Còn đối với gia cầm cái sẽ làm cho trứng phát triển nhanh và tốt, tăng tỷ
Trang 29lệ thụ tinh Mầm dài 2 - 3 cm thì hàm lượng vitamin B cao có tác dụng giúpvật nuôi ăn nhiều, thèm ăn và tiêu hóa tốt, thích hợp với nuôi lấy thịt Khimầm dài 8 - 10 cm hàm lượng vitamin A chiếm tỷ lệ cao (nằm ở dạngcaroten) có tác dụng giúp vật nuôi kích thích sinh trưởng phát dục và đềkháng bệnh tật, thích hợp với nuôi lấy thịt, nuôi vỗ béo vật nuôi bố mẹ và vậtnuôi hậu bị Mầm lúa vừa là thức ăn trực tiếp, vừa là nguồn bổ sung vitaminloại thức ăn khác phù hợp, giúp phát triển tốt, nâng cao tỷ lệ sử dụng thức ăn.
Trang 30CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chim bồ câu (Columba livia) giống Pháp dòng Titan được nhập
vào Việt Nam tháng 5 năm 1998 Đầu năm 2000 chim được đưa về Trungtâm Khoa học kỹ thuật vật nuôi Bình Định
2.2 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 15/6/2016 đến 15/5/2017
- Địa điểm: Nuôi tại hộ gia đình ở huyện Vĩnh Thạnh – tỉnh Bình Định
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát khả năng sinh trưởng, phát triển của chim bồ câu Pháp khicho ăn 2 khẩu phần ăn khác nhau
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp chia lô so sánh, gồm 2 lô.Mỗi lô gồm 15 cặp chim giống độ tuổi 120 - 121 ngày Đảm bảo sự đồng đềugiữa các lô về mặt giống Ban đầu nuôi theo dõi khả năng sinh sản của 30 cặpchim bố mẹ sau đó theo dõi khả năng sinh trưởng các đời con của chúng từlúc sơ sinh tuổi đến 24 tuần tuổi
Tất cả đều được nuôi dưỡng trong cùng thời gian, cùng điều kiện chămsóc, vệ sinh thú y, phòng trừ dịch bệnh và người theo dõi thí nghiệm
Khẩu phần được tính toán phù hợp cho từng giai đoạn Cả hai lô đềuđược bổ sung thức ăn khoáng bao gồm : premix khoáng 85% + muối ăn 5 %+ sỏi nhỏ 10%
Các lô thí nghiệm được bố trí theo hình thức nuôi nhốt trong chuồng
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Trang 31TT Chỉ tiêu Lô A (Thí nghiệm) Lô B (Đối chứng)
1 Giống bồ câu Bồ câu Pháp dòng Titan
2 Thời gian nuôi 11 tháng
Thức ăn + 30% thóc nảy mầm thóc + 40% cám hỗn
+ 40% cám hỗn hợp hợp dạng viên hiệudạng viên hiệu Proconco C24
Proconco C24
4 Thức ăn Premix khoáng 85% + muối ăn 5% + sỏi nhỏkhoáng bổ sung 10%
2.4.2 Phương pháp thu thập và xác định chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, tập tính sinh học của chim bồ
câu Bằng phương pháp quan sát định kỳ, ghi chép và mô tả.
2.4.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản
- Xác định tuổi đẻ quả trứng đầu: khi số chim mái trong đàn đẻ, đạt 5%
- Số trứng trung bình/lứa
- Sản lượng trứng: Số trứng đẻ/mái/đơn vị thời gian (tính theo tháng hoặc năm)
- Tỷ lệ đẻ trứng: Tỷ lệ đẻ trứng được tính theo công thức hướng dẫn trong giáo trình chọn lọc và nhân giống gia súc của Trần Đình
Trang 32- Chu kỳ đẻ trứng là khoảng thời gian giữa 2 kỳ đẻ Chu kỳ đẻ trứng cóthể dài hoặc ngắn Thời gian kéo dài của chu kỳ phụ thuộc vào thời gian hìnhthành quả trứng, thời gian ấp nở và nuôi con.
Tổng số gia cầm nở
Tổng số trứng đem ấp
2.4.2.3 Xác định một số đặc điểm sinh học của trứng
- Chỉ số lòng đỏ được xác định theo công thức sau:
hD
ID =
dDTrong đó: hD: là chiều cao của lòng đỏ (mm)
dEmax: là đường kính lớn của lòng trắng đặc (mm)
dEmin: là đường kính nhỏ của lòng trắng đặc (mm)
- Chỉ số hình dạng được xác định theo công thức:
Đường kính lớn (mm)CSHD =
Đường kính nhỏ (mm)
Khối lượng lòng trắng (g)
- Tỷ lệ giữa lòng trắng / lòng đỏ =
Khối lượng lòng đỏ (g)Phương pháp chi tiết được trình bày ở phụ lục 2
Trang 332.4.2.4 Tỷ lệ nuụi sống
Tớnh theo cụng thức:
Tỷ lệ nuôi sống (%) = Số con còn sống đến cuối
kỳ x 100 Số con đầu kỳ
2.4.2.5 Một số chỉ tiờu sinh trưởng
- Sinh trưởng tớch lũy khối lượng của bồ cõu qua cỏc tuần tuổi (g/con).Tiến hành cõn khối lượng cơ thể của chim bồ cõu theo từng giai đoạn
tuổi từ sơ sinh đến 24 tuần tuổi, vào buổi sỏng trước khi cho chim ăn bằng cõn điện tử cú độ chớnh xỏc 0,5g
- Tốc độ sinh trưởng tương đối khối lượng (R, đơn vị: %), xỏc định theo cụng thức:
Vt2 – Vt1
Vt2 + Vt1
2Trong đú, Vt1: Khối lượng trung bỡnh khảo sỏt lần đầu (g)
Vt2: Khối lượng trung bỡnh khảo sỏt lần sau (g)
- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng (A, đơn vị: g/ngày), xỏc địnhtheo cụng thức:
A Wt 2 W
t1
t 2 t1
Trong đú, Wt1 : Khối lượng trung bỡnh tại thời điểm t1
Wt2 : Khối lượng trung bỡnh tại thời điểm t2
- Đặc điểm kớch thước cỏc chiều đo
Định kỳ đo cỏc kớch thước: Chiều dài thõn, chiều dài lườn, chu vi vũngngực, chiều dài ống chõn, chiều dài bàn chõn (bằng thước dõy cú độ chớnhxỏc 1mm) [ Phụ lục 3]
Trang 342.4.2.6 Xác định chỉ số tiêu tốn thức ăn
Hàng ngày cân khối lượng thức ăn cung cấp và khối lượng thức ăn thừa
để tính khối lượng thức ăn đã tiêu thụ Chỉ số tiêu tốn thức ăn được tính theocông thức như sau:
2.4.2.7 Xác định các chỉ tiêu đánh giá khả năng sản xuất thịt
Tiến hành mổ chim bồ câu 28 ngày tuổi Mỗi lô mổ 6 con (3 trống, 3mái) có khối lượng tương đương khối lượng trung bình [phụ lục 4]
* Xác định khối lượng, tỷ lệ các loại thịt
Cân khối lượng thịt móc hàm, thịt xẻ, thịt đùi, thịt ngực và xác định tỷ
lệ % Công thức tính tỷ lệ các loại thịt như sau:
* Xác định thành phần hóa học của thịt chim ở hai lô thí nghiệm và đối chứng với các chỉ tiêu:
Trang 35Từ giá trị tTN tra bảng Student Fisơ ta tìm đƣợc giá trị tα và α
Nếu α < 0,05 hoặc α = 0,05 thì hai giá trị trung bình sai khác nhau có ýnghĩa và ta nói sự sai khác giữa hai giá trị trung bình có ý nghĩa với xác suấtsai số p < 0,05
Nếu α > 0,05 thì hai giá trị trung bình sai khác nhau không có ý nghĩathống kê với xác suất sai số p > 0,05
* Các tính toán trên đƣợc xử lý trên máy tính, sử dụng phần mềm MS Excel 2010
Trang 36CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái, tập tính của chim bồ câu Pháp
3.1.1 Đặc điểm hình thái
Chim bồ câu thuộc loại muộn thành chim, chim non sau khi ra khỏitrứng vẫn chưa phát triển đầy đủ, mắt không mở, lông tơ ít, cơ thể có màuvàng nhạt, chưa biết đi và đứng, chưa tự ăn được
Chim trưởng thành toàn thân có lông vũ bao phủ Thân chim hình thoi
Có cổ dài rất linh hoạt giúp chim dễ quan sát từ mọi phía, mổ thức ăn, tấncông hay tự vệ, rỉa lông cánh
Chim có ngoại hình thấp, béo, ức nở, vai rộng, đầu bằng, chân bóng màu
đỏ, không có lông chân, lông vũ dày, hình dáng đẹp mắt Nhìn chung có đặcđiểm ngoại hình đặc trưng của gia cầm hướng thịt Màu sắc lông chim rấtphong phú đa dạng như trắng, đốm, xám, nâu, pha tạp
Kết quả nghiên cứu màu sắc lông chim ở giai đoạn 120 ngày tuổi trongquá trình nuôi được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Tỷ lệ màu sắc lông của chim bồ câu Pháp dòng Titan.
Trang 37Kết quả quan sát cho thấy: Màu sắc lông được di truyền từ bố mẹ cho các thế hệ con cái, trong đó màu lông nâu chiếm tỷ lệ cao nhất (37,06%), tiếpđến là màu lông pha tạp (22,38%), màu lông đen pha xám chiếm tỷ lệ thấp nhất (9,79%).
Quan sát qua các thế hệ con còn cho thấy trong một cặp chim non cùng
bố mẹ sinh ra thông thường một con mang màu lông giống bố và một con mang màu lông giống mẹ
3.1.2 Tập tính sinh học của chim bồ câu Pháp
- Tập tính kiếm ăn: Chim bồ câu thích ăn các loại hạt thực vật như hạt đỗ, ngũcốc, nó không có thói quen ăn đồ chín Khi ăn các loại hạt thì thích ăn các loạihạt có màu Quan sát khi cho chim ăn thức ăn hỗn hợp trộn sẵn có cám viên,thóc, đỗ xanh thì thấy chim thường chọn ăn hạt đỗ xanh trước sau đó đếnthóc và sau cùng đến cám viên
- Tập tính sinh sản: Bồ câu có đặc điểm đơn phối Chúng sống thành cặp cốđịnh, một trống một mái, không tạp giao với con thứ ba Khi đến tuổi trưởngthành, chúng tự ghép đôi cận thân với nhau Chim trống thường thu hút chim máibằng cách dang rộng đôi cánh, lúc lắc đầu, cùng với phát ra tiếng gù, uốn
lượn thân mình quanh con mái
Trước khi giao phối, cặp chim thường mở đầu là một nụ “hôn” bằng
mỏ, chim bồ câu mái dùng mỏ của mình luồn vào mỏ chim bồ câu trống, sau
đó, hai cái đầu gật gù, đưa đẩy gần giống hành động mớm mồi cho chimnon Khi con trống nhảy lên lưng con mái, con mái dang đôi cánh giữ thăngbằng, quá trình giao phối xảy ra Sau ghép đôi thành công, trước khi chimmái đẻ thì chim trống thường tìm các nguyên liệu có sẵn trong chuồng nhưrơm, giấy, lông chim rụng cùng con mái làm tổ
Sau khi cặp đôi thì cỡ từ 7 - 10 ngày chim mái bắt đầu đẻ trứng Chim
có thói quen đẻ trứng đầu tiên vào lúc chiều hay chập tối ( khoảng từ 16 - 17
Trang 38giờ) Trứng thứ hai đẻ cách trứng thứ nhất 42 - 48 giờ Chim mái đẻ trứng đầuxong nằm ấp canh chừng, đẻ xong hai trứng mới ấp chính thức Khi ấp trứng thì cả chim mái và chim trống thay nhau ấp, thường con trống ấp buổi chiều, chim mái ấp buổi sáng và ban đêm.
Sau thời gian 17 - 18 ngày chim non nở Chim non sau khi nở còn rất yếu, chưa tự ăn được Lúc này, chim bố và mẹ thay nhau mớm thức ăn Trong 4 – 5 ngày đầu tiên chỉ thấy chim mẹ mớm cho con bằng “sữa diều” Sau đó chim bố mẹ thay nhau mớm cho con bằng thức ăn đã được tẩm dịch tiêu hóa từ diều lên Sau 16 - 21 ngày kể từ khi chim non nở, chim mẹ đã bắt đầu đẻ lứa tiếp theo, lúc này nhiệm vụ mớm mồi cho con do chim bố đảm nhiệm và thời gian này chim non bắt đầu đi lại và tập tự mổ thức ăn và uống nước - Một số tập tính khác:
+ Chim ưa tắm sạch sẽ, hàng ngày chim thường tắm 1 lần, khi tắm chúng hayvùi đầu vào máng nước để tắm
+ Chim dễ tính trong việc nhờ ấp hộ trứng và nuôi con, do đó khi có cặp chim
bố mẹ đẻ một trứng hay vì lý do nào đó trứng vỡ chỉ còn một quả hay chỉ còn mộtcon sơ sinh còn sống, chúng tôi dễ dàng ghép trứng này vào ổ khác có 2 trứnghoặc ghép con sơ sinh vào ổ có nuôi 2 con cùng ngày nở chim bố mẹ dễ
dàng chấp nhận ấp “hộ” hoặc chăm sóc nuôi dưỡng con “nuôi”
+ Chim ưa yên tĩnh, rất nhát khi gặp các con vật hay người lạ đến gần
3.2 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh sản của chim bồ câu Pháp dòng Titan
3.2.1 Tuổi đẻ trứng đầu tiên
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên được xác định là tuổi thành thục về mặt sinhdục của gia cầm Đối với gia cầm cùng lứa, tuổi thành thục của cả đàn đượcxác định khi tỷ lệ đẻ đạt 5% tổng số con trong đàn Tuổi đẻ đặc trưng chophẩm giống và có liên quan mật thiết với sản lượng trứng của gia cầm
Trang 39Mối liên quan giữa tuổi đẻ lứa đầu và các tính trạng năng suất theo J Kumar
và R.M Acharya, 1980 cho thấy: Tuổi đẻ lần đầu tương quan âm với tỷ lệ đẻtrứng và tương quan dương với khối lượng trứng Kết quả theo dõi tuổi đẻquả trứng đầu tiên của chim bồ câu pháp trong thí nghiệm của chúng tôi đượctrình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của chim bồ câu Pháp dòng Titan
Như vậy theo kết quả khảo sát ở bảng 3.2 ta thấy:
Ở thế hệ bố mẹ, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của lô thí nghiệm là 164
ngày sớm hơn 9 ngày so với lô đối chứng có tuổi đẻ là 173 ngày
Ở thế hệ con, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên ở lô thí nghiệm là 159 và 158ngày; trung bình chung là 158,5 ngày sớm hơn 14 ngày so với lô đối chứng có tuổi
đẻ là 172 và 173 ngày, trung bình chung 172,5 ngày
Khi so sánh trong cùng lô thí nghiệm ta thấy thế hệ con được nuôi bằngthức ăn có hạt nảy mầm ngay từ lúc sơ sinh có tuổi đẻ sớm hơn bố mẹ chúngcho ăn hạt nảy mầm muộn mãi đến 120 ngày tuổi mới cho ăn Chứng tỏ trongkhẩu phần ăn có hạt nảy mầm đã thúc đẩy nhanh khả năng thành thục sinhdục của chim
Theo kết quả nghiên cứu của Trương Thúy Hường (2006)[13] tuổi đẻquả trứng đầu tiên của chim bồ câu Pháp dòng Titan là 175,21 ngày thì thấy
Trang 40đầu tiên ở cả hai lô chúng tôi nghiên cứu đều sớm hơn.
Nhìn chung tuổi đẻ của chim bồ câu Pháp cũng tương đương một sốgia cầm, trung bình 5 - 6 tháng tuổi Kết quả này phù hợp với công bố củahãng Grimar Fres: tuổi đẻ của bồ câu từ 5 - 7 tháng tuổi So sánh với kết quảnghiên cứu của Trần Công Xuân, Nguyễn Thiện (1997) [25] trên bồ câu nội,tuổi đẻ lứa đầu của bồ câu Pháp sớm hơn
3.2.2 Số trứng trung bình/lứa
Theo dõi số lượng trứng ở 3 lứa đẻ của chim bồ câu Pháp dòng bố mẹ
và 2 lứa đẻ của dòng con thế hệ 1 Kết quả được trình bày ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Số trứng trung bình/lứa (quả)
Theo kết quả bảng 3.3 cho thấy:
Ở thế hệ bố mẹ, số trứng trung bình/lứa của lô thí nghiệm là 1,98
trứng/lứa và lô đối chứng là 1,93 trứng/ lứa