hệ thống trồng trọt và chăn nuôi bền vững và mang lại lợi nhuận cho vùng Duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệpQuốc tế của Australia ACIAR tài trợ được thực
Trang 1VÕ THÚY MÃI
ẢNH HƯỞNG CỦA KALI VÀ LƯU HUỲNH ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LẠC TRỒNG TRÊN ĐẤT CÁT TẠI HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Bình Định - Năm 2017
Trang 2VÕ THÚY MÃI
ẢNH HƯỞNG CỦA KALI VÀ LƯU HUỲNH ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LẠC TRỒNG TRÊN ĐẤT CÁT TẠI HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số
Người hướng dẫn: TS HOÀNG MINH TÂM
Trang 3Minh Tâm đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuậnlợi nhất để tôi hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Quy Nhơn, phòngĐào tạo sau đại học, thầy, cô đang giảng dạy tại khoa sinh - KTNN đã tạo mọiđiều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và giúp đỡ tôi hoàn thànhluận văn này
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban lãnh đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nôngnghiệp Duyên hải Nam Trung bộ, anh chị trong bộ môn Khoa học đất đã dànhcho tôi thời gian tốt nhất và hỗ trợ mọi mặt trong nghiên cứu và hoàn thànhluận văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới bạn bè, anh, chị của lớp Cao học sinh họcthực nghiệm K18 đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học và luậnvăn này
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả sự giúp
đỡ quý báu này
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là đất nước có hình chữ S với đường bờ biển dài 3.620 kmkhông kể các đảo, do đó kéo theo diện tích đất cát ven biển cũng rất lớnkhoảng 562.936 ha chiếm tỷ lệ 1,8 % tổng diện tích đất đai toàn quốc(Nguyễn Khang, Viện QHTKNN – 2000) theo thống kê đến năm 2000
Bình Định là một tỉnh thuần nông thuộc vùng sinh thái Duyên hải NamTrung bộ với tổng diện tích đất tự nhiên 602.506 ha, nằm sát biển Đông.Trong đó, đất cát biển có diện tích khoảng 2.789 ha chiếm 0,46% diện tích đất
tự nhiên
Đất cát vùng Duyên hải Nam Trung bộ nói chung và tỉnh Bình Định nóiriêng cơ bản là cát, có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng cát mịn cao, hàmlượng sét vật lý thấp, sức chứa ẩm đồng ruộng chỉ khoảng từ 2,5 đến 12,5%,hàm lượng các chất tổng số thấp, các chất dễ tiêu nghèo Do đó, khả năng giữdinh dưỡng của đất cát ven biển là rất kém Do vậy, để phát triển nông nghiệpbền vững trên đất cát nói chung và đất cát ở tỉnh Bình Định nói riêng thì việclựa chọn cây họ đậu, đặc biệt cây lạc trong cơ cấu cây trồng hàng năm là rấtcần thiết Theo thống kê của ngành nông nghiệp năm 2014, Bình Định có diệntích trồng lạc vào khoảng 8,4 nghìn ha (chiếm 29,8% so với diện tích trồnglạc toàn vùng), là tỉnh có diện tích trồng lạc đứng thứ hai vùng Duyên hảiNam Trung bộ sau Quảng Nam (10,2 nghìn ha) Năng suất lạc ở Bình Địnhđạt cao nhất vùng Duyên hải Nam Trung bộ (29,9 tạ/ha) Hiện nay, lạc đượcxem là đối tượng cây trồng chủ lực và góp phần đáng kể trong việc nâng caochất lượng cuộc sống của người dân địa phương
Lạc (Arachis hypogaea.L) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu có
giá trị kinh tế cao, hạt lạc từ lâu đã được sử dụng làm thực phẩm cho con
Trang 5người và là nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp chế biến Hạt lạc cóhàm lượng dầu cao (dầu thô từ 40 - 60%), trong thành phần sinh hóa của hạtlạc còn có Protein thô (26 - 34%), Gluxit (6 - 22%), Xellulose (2 - 4,5%) Bêncạnh việc đem lại hiệu quả kinh tế cao, lạc còn là cây trồng có vai trò cải tạođất lý tưởng nhờ các vi khuẩn nốt sần sống cộng sinh ở rễ Đồng thời, thân và
lá lạc cũng là loại phân xanh rất tốt vì thành phần dinh dưỡng trong thân lá lạccao hơn nhiều một số loại phân hữu cơ khác, đặc biệt là đạm (trong thànhphần của thân lá lạc có chứa 4,45% N, thân lá cây phân xanh có 3,30% N,phân chuồng có 1,80% N) Ngoài ra, lạc cũng là cây có khả năng tạo tính đadạng hóa cho sản xuất nông nghiệp bằng các hình thức trồng thuần, trồng xencanh, trồng gối vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và che phủbảo vệ đất chống xói mòn rửa trôi Đồng thời, các sản phẩm phụ (thân lá, vỏquả,…) của cây lạc đều có thể làm thức ăn cho chăn nuôi rất tốt
Ở Việt Nam và thế giới từ năm 1995 đến nay, diện tích gieo trồng lạctăng chậm Diện tích gieo trồng lạc của Việt Nam ổn định xung quanh250.000 ha/năm và sản lượng tăng dần từ 334.500 tấn vào năm 1995 lên
485.800 tấn vào năm 2010 Tương tự như nhiều quốc gia trên thế giới, năngsuất lạc ở nước ta tăng trong những năm gần đây là nhờ đầu tư nghiên cứuchọn tạo giống mới nên đã đưa vào sản xuất nhiều giống lạc mới năng suấtcao, chất lượng tốt và chống chịu với điều kiện bất lợi của ngoại cảnh như:MD7, MD9, L08, L12, L14, L18, LVT, L23, L26,… đồng thời nghiên cứu ápdụng nhiều biện pháp kỹ thuật (mật độ, phân bón, che phủ đất,…) hợp lý chomỗi giống và mùa vụ trên từng vùng sinh thái cụ thể
Để sản xuất lạc trên đất cát ở Bình Định đem lại hiệu quả kinh tế cao thìcòn rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu giải quyết như: phân bón, nước
tưới, giống, mật độ,… Kết quả nghiên cứu của dự án SMCN/2007/109 “Các
Trang 6hệ thống trồng trọt và chăn nuôi bền vững và mang lại lợi nhuận cho vùng Duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp
Quốc tế của Australia (ACIAR) tài trợ được thực hiện từ năm 2009 đến năm
2013 tại tỉnh Bình Định bởi Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung
bộ đã đi đến một số nhận xét sau: i) Thiếu hụt một trong hai nguyên tố kali vàlưu huỳnh đã làm giảm năng suất lạc trên đất cát từ 12,71 - 35,23%, ii) Bón
bổ sung 60 kg K2O/ha đã làm năng suất lạc trên đất cát tăng 6,33 tạ/ha, và iii)Bón bổ sung 20 kg S/ha làm năng suất lạc tăng từ 1,17 - 2,86 tạ/ha so vớikhông bón
Xuất phát từ những nhận xét trên, nhằm hướng đến sản xuất lạc bềnvững và hiệu quả trên đất cát ở vùng duyên hải miền Trung nói chung và ở
tỉnh Bình Định nói riêng thì việc triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu “Ảnh
hưởng của kali và lưu huỳnh đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc trên đất cát tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định”
là rất cần thiết
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được liều lượng kali và lưu huỳnh thích hợp có tác động tíchcực đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng và phát triển của cây lạc, từ đóảnh hưởng đến năng suất lạc trên đất cát tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả thu được của đề tài sẽ góp phần cung cấp thêm những dẫn liệukhoa học mới về các chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển và năng suất lạctrên đất cát khi xử lý các liều lượng kali và lưu huỳnh khác nhau; là cơ sở
Trang 7khoa học giúp các nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật, người nông dân và chủ trangtrại mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất lạc trên đất cát.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác lạctrên đất cát Khuyến cáo sử dụng kali và lưu huỳnh cho cây lạc trên đất cátnhằm mục tiêu tăng năng suất và tăng thu nhập cho người sản xuất
4 Cấu trúc luận văn Mở đầu
Chương 1 Tổng quan tài liệu
Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Kết luận và đề nghị
Phụ lục
Trang 8Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc, phân bố của cây lạc
Lạc có tên khoa học là Arachis hypogaea.L, có nguồn gốc từ Trung và
Nam Mỹ [11], [13] Cây lạc thuộc chi Arachis, họ đậu Fabaceae, bộ Poales.Những cây trồng thuộc nhóm này có đặc trưng quan trọng là có hoa trên mặtđất nhưng quả thì nằm dưới mặt đất
Vào thế kỷ 16 người Bồ Đào Nha đã mang lạc từ Brazil đến Tây châuPhi và sau đó là Tây Nam Ấn Độ
Cây lạc đã được giới thiệu đến Trung Quốc và các nước ở Tây Thái BìnhDương như Indonesia, Madagascar do thương nhân người Bồ Đào Nha vàothế kỷ 17 và một loạt các nhà truyền giáo người Mỹ trong thế kỷ 19 và sau đólan rộng ra khắp châu Á
Ở Việt Nam, lịch sử trồng cây lạc chưa được xác minh rõ ràng, sách
“Văn đài loại ngữ” của Lê Quí Đôn cũng chưa đề cập đến cây lạc
Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét đoán thì danh từ “Lạc” có thể do từ Hán
“Lạc hoa sinh” (có người cho rằng người Hán đã phiên âm từ "Arachis") là từ
mà người Trung Quốc gọi cây lạc Do vậy, cây lạc có thể từ Trung Quốc nhậpvào nước ta khoảng thế kỷ 17-18
Trước thế kỷ 19, cây lạc ở Nam và Bắc Mỹ được người Châu Âu khaithác chủ yếu được dùng làm thức ăn gia súc
Nhà khoa học Mỹ gốc Phi George Washington Carver (1864-1943), làngười đầu tiên khuyến cáo nông dân nghèo ở châu Mỹ trồng rộng rãi cây lạc
để làm lương thực cải thiện đời sống Ông đã đưa ra trên 100 công thức chếbiến lạc làm thực phẩm, mỹ phẩm, sản phẩm công nghiệp, nhờ đó ông đãnhận được Huân chương Spingarn của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của
Trang 9người da màu (NAACP) Từ đó cây lạc phát triển mạnh mẽ ở Nam, Trung vàBắc Mỹ.
Hiện nay, cây lạc có khoảng 1000 giống khác nhau được trồng khắp cácnước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Do ít mẫn cảm với thời gian chiếu sáng và
có tính chịu hạn tốt cho nên lạc được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới từ
40 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam (Nigam et al, 1991)
1.2 Vai trò, vị trí của cây lạc
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây lạc
Lạc là nguồn thực phẩm giàu protein, lipid và các loại vitamin nhóm B.Hạt lạc có nhiều chất hữu cơ bay hơi đã tạo nên vị ngọt điển hình và mùithơm đặc trưng của hạt lạc
Hạt lạc có thành phần các chất dinh dưỡng như sau: lipit 44 – 56 %,protein khoảng 25 – 34 %, gluxit khoảng 6 – 25 %, xellulose 2 – 4,5 %, nước9,2 %, 68 mg % P, ngoài ra trong hạt lạc còn chứa một số loại vitamin như A,các nhóm vitamin B (B1,2,3,6), PP … [12], [21], [44]
Dầu lạc là thành phần quan trọng của hạt lạc mang tính chất quyết địnhchất lượng của hạt lạc Dầu lạc gồm các glycerid của nhiều acid béo bão hòa
và chưa bão hòa, với tỉ lệ thay đổi tùy theo vùng canh tác và chất lượng chămbón Dầu lạc chứa các vitamin hòa tan trong dầu, trong đó nhiều nhất làvitamin E - một yếu tố quan trọng trong tổng hợp hormone sinh dục, chốnglão hóa Hai acid bão hòa có trong dầu lạc là acid arachidic (C20) và acidlignoxeric (C24) thấy trong bơ ca cao và trong bơ sữa bò Đây là hai acid béobão hòa dạng cis nên không gây nguy hiểm cho tim mạch Ngoài nhữngthành phần trên, frampton và boudreaux còn thấy là một chất tan trong nướccủa hạt lạc có tác dụng cầm máu Các vitamin như thiamine (vitamin B1)trong lạc đã rang chiếm 0,23 mg % Nó là một phần của coenzyme thiamin
Trang 10pyrophosphate rất quan trọng trong phản ứng giải phóng năng lượng từ
carbohydrate, chất béo và alcool (rượu, bia) [11], [12]
Ở nhiệt độ thường, dầu lạc tồn tại ở trạng thái lỏng màu vàng nhạt, có độnhớt thấp, có hương và mùi vị như hạt dẻ
Protein là thành phần quan trọng của hạt lạc Protein chiếm khoảng 21 –36% thành phần hạt lạc, trong lạc có đến 90 – 95% là 2 loại globulin: Arachin(chiếm ¾) và Conarachin (chiếm ¼) hợp thành Ngoài ra protein hạt lạc cònchứa các loại axit amin không thay thế như: phenylalanine, valin, loxin,methyonine, lyzine, treonine [6]
Năng lượng: 100g hạt lạc 590 Calo > đậu tương (411 Calo) > Gạo (356Calo) > Trứng vịt (189 Calo)
1.2.2 Giá trị kinh tế của cây lạc trên thị trường
Lạc có giá trị kinh tế cao trong nhiều lĩnh vực và mang lại một nguồn lợikinh tế đáng kể cho người nông dân Là cây công hiệp ngắn ngày có giá trịdinh dưỡng cao nên cây lạc hiện nay được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi,công nghiệp và thực phẩm
Trong chăn nuôi thường dùng khô dầu lạc, thân, lá lạc và tận dụng cácphụ phẩm của dầu lạc làm thức ăn xanh cho gia súc Khô dầu lạc có thànhphần dinh dưỡng tương đối tốt so với các loại khô dầu khác Khô dầu lạc lànguồn thức ăn giàu prôtêin và vỏ quả (sản phẩm phụ) dùng để nghiền thànhcám dùng cho chăn nuôi Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tươngđương với cám gạo dùng để nuôi lợn, gà, vịt công nghiệp rất tốt
Do có giá trị dinh dưỡng cao lạc từ lâu con người đã sử dụng hạt lạc nhưmột nguồn thực phẩm quan trọng Sử dụng trực tiếp như quả non dùng đểluộc, quả già dùng để rang, nấu hay dùng gián tiếp như ép dầu để làm dầu
ăn và khô dầu để chế biến nước chấm và thực phẩm khác Gần đây nhờ cócông nghiệp thực phẩm phát triển, người ta chế biến thành rất nhiều mặt hàng
Trang 11thực phẩm có giá trị từ lạc như rút dầu, bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc, kẹo lạc Đồng thời, Việt Nam là 1 trong 4 quốc gia (Việt Nam, Trung Quốc, Mỹ,Achentina) có giá trị xuất khẩu lạc cao nhất thế giới mang lại nguồn thu nhậpngoại tệ quan trọng cho đất nước.
1.2.3 Vai trò của cây lạc trong việc cải tạo đất
Cũng như các loại cây họ đậu khác, lạc có ý nghĩa to lớn trong việc cảitạo đất do khả năng cố định đạm (N) của vi khuẩn cố định đạm cộng sinh trên
rễ cây tạo thành nốt sần, đó là vi khuẩn Rhizobium vigna Rhizobium vigna có
thể tạo nốt sần ở rễ một số cây họ đậu nhưng với lạc thì tạo được nốt sần lớn
và khả năng cố định đạm cao hơn cả Nhờ khả năng cố định đạm, sau khi thuhoạch lạc thành phần hóa tính của đất trồng được cải thiện rõ rệt, lượng đạmtrong đất tăng và khu hệ vi sinh vật háo khí trong đất được tăng cường có lợiđối với cây trồng sau
Trong các hệ thống cố định nitơ sinh học, cố định nitơ cộng sinh giữa vi
khuẩn nốt sần (Rhizobium) và cây bộ đậu là quan trọng nhất, ước tính đạt trên
80 triệu tấn mỗi năm, tương đương với lượng phân đạm vô cơ được sản xuất trên toàn thế giới năm 1990
Theo Nguyễn Minh Hiếu (2003), lạc có khả năng cung cấp cho đất
khoảng 72 – 124 kg N/ha/năm [17]
Đồng thời, thân và lá lạc là nguồn phân hữu cơ để cải tạo thành phần cơgiới của đất (5 -10 tấn lá/ha)
1.3 Yêu cầu sinh thái của cây lạc
1.3.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Tùy từng giai đoạn khác nhau mà cây lạc cần nhiệt độ tương ứng Nhưngnhìn chung cây lạc thích hợp với khí hậu nhiệt đới giống khí hậu của ViệtNam Nhiệt độ trung bình thích hợp cho cây lạc phát triển là từ 25 – 350C
Trang 12Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm từ 32 – 340C, với nhiệt độ nàykhoảng 4 – 5 ngày hạt sẽ nảy mầm Nhiệt độ tối thiểu để hạt nảy mầm là 120C
và tối đa là 41 – 420C, ở nhiệt độ này sự nảy mầm diễn ra chậm chạp và câynon phát triển yếu ớt [6], [11], [19]
Quá trình sinh trưởng của cây lạc cần nhiệt độ thích hợp là 23 – 300C,quá trình này sẽ kéo dài từ 30 - 40 ngày
Nhiệt độ thích hợp cho cây ra hoa là 24 – 330C, tối ưu nhất là 290C vàoban ngày và 230C vào ban đêm ở nhiệt độ này hệ số ra hoa là 21% Nếu nhiệt
độ <200C cây không ra hoa [6], [11]
Nhiệt độ thích hợp để quả lạc chín là 25 – 280C [11]
1.3.2 Yêu cầu về ánh sáng
Lạc là cây ngắn ngày song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu
và đối với nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ Số giờnắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc
Ở thời kỳ nảy mầm, ánh sáng kìm hãm tốc độ hút nước của hạt, sự sinhtrưởng của rễ và tốc độ vươn dài của trục phôi Ở thời kỳ kết quả, tia ở ngoàiánh sáng phát triển chậm và quả chỉ có thể phát triển trong bóng tối Quá trình
nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng
1.3.3 Yêu cầu về nước
Nước là yếu tố quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển cũngnhư năng suất cây lạc Lạc có khả năng chịu hạn tương đối nhưng nếu thiếunước sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển vàđặc biệt là năng suất cây lạc
Trong toàn bộ quá trình sinh trưởng của cây lạc cần lượng nước tối thiểu
là 400 – 800 mm, và độ ẩm cần thiết trong đất là 60 – 70% [6], [11]
Trang 13Hạt lạc nảy mầm tốt nhất khi đất có độ ẩm là 70 – 80%, nếu độ ẩm quálớn (>90%) hay quá thấp (<60%) hạt lạc khó nảy mầm hoặc ẩm độ dưới 40 –45% hạt không nảy mầm được.
Thời kì trước ra hoa của cây lạc không yêu cầu nhiều nước Nếu thiếunước ở giai đoạn này chỉ làm chậm sự sinh trưởng của cây, để cây phục hồicần tưới đủ nước Độ ẩm thích hợp cho giai đoạn này là 60 – 65% [11], [32].Lạc mẫn cảm nhất với hạn trong thời kì ra hoa rộ, nếu trong giai đoạnnày lạc bị thiếu nước sẽ ảnh hưởng lớn đến hệ thống rễ của cây cũng như khảnăng thụ tinh của hoa lạc Kết quả nghiên cứu của Viện KHNN Trung Quốccho thấy rằng: thời gian ra hoa kết quả chỉ chiếm 35 – 43,5% thời gian sinhtrưởng của lạc, nhưng cần lượng nước bằng 48 – 61,5% nhu cầu nước của cảchu kì sinh trưởng Thời kì chín của quả chiếm 23 – 34% thời gian sinhtrưởng nhưng nhu cầu nước chiếm 14,5 – 32,5% tổng nhu cầu nước [7], [11],[12]
Độ ẩm đất đạt 80 – 85% lạc ra hoa thuận lợi Nếu thiếu nước ở giai đoạnnày sẽ làm giảm lượng hoa rõ rệt, thời gian ra hoa kéo dài và số hoa hữu hiệu
để hình thành quả bị giảm Do số lượng hoa giảm nên kéo theo khả năng đâmtia cũng bị giảm xuống, giảm số lượng cũng như chất lượng và kích thướcquả
1.3.4 Yêu cầu về đất
Cây lạc không đòi hỏi khắt khe về độ phì của đất mà chỉ yêu cầu về tínhchất vật lí của đất Đất trồng lạc phải bảo đảm tơi xốp để thuận lợi cho sự pháttriển của rễ, đảm bảo đủ oxy cho vi khuẩn nốt sần phát triển và hoạt động, tiaquả đâm xuống đất dễ dàng để tạo quả và dễ dàng cho việc thu hoạch tránhtình trạng sót quả dưới đất dẫn đến giảm năng suất lạc chủ quan
Trang 14Theo York và Codwell (1951), đất trồng lạc lý tưởng là đất phải thoátnước nhanh, có màu sáng, tơi xốp, phù sa pha cát, có đầy đủ canxi và mộtlượng chất hữu cơ vừa phải.
Cây lạc có thể chịu được pH của đất từ 4,5 – 9 nhưng pH trong đất thíchhợp cho cây lạc phát triển là gần trung tính và hơi chua (pH = 5,5 – 7)
1.4 Yêu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây lạc
1.4.1 Vai trò của đạm (N) đối với cây lạc
Nitơ là thành phần quan trọng cấu tạo nên các axit amin để tổng hợp nênprotein và N còn tham gia vào cấu tạo của axit nucleic, chlorophyl,phytohormon, phytocrom, vitamin và enzime để tham gia cấu tạo nên các bộphận của cơ quan sinh trưởng và cơ quan phát triển của cây Do vậy nếu thiếu
N sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp các chất, thành phần, bộ phận củacây làm cây sinh trưởng kém có hiện tượng lá vàng, thân có màu đỏ, chất khôtích lũy bị giảm, số quả và khối lượng quả đều giảm đáng kể Thiếu đạm ởgiai đoạn cuối trong quá trình phát triển của cây có thể dẫn tới quả và hạt lạcngừng phát triển
Nhờ có vi khuẩn cố định đạm tại rễ mà cây lạc có khả năng tự túc đạmcho bản thân, do vậy lượng đạm cung cấp cho cây lạc thấp hơn những loại câykhác Lượng đạm cần bón cho cây lạc chỉ khoảng 20 – 30 kg N/ha vào giaiđoạn gieo và cây con (2 - 3 lá) [28] Tùy loại đất mà lượng đạm cần bón làkhác nhau: đất nhẹ thì bón ít (khoảng 30 kg N/ha), đất cát cần bón nhiều hơn.Nếu bón vượt quá chuẩn sẽ làm giảm năng suất lạc [28]
Cây lạc cần vừa đủ đạm, thừa hay thiếu đạm đều ảnh hưởng đến quátrình sinh trưởng cũng như phát triển của cây lạc dẫn đến năng suất và chấtlượng lạc không cao Nếu cây thiếu đạm dẫn đến hiện tượng cây yếu mềm,cao vóng lên, cuống lá dài và màu xanh của lá không tươi Nếu thừa đạm dẫn
Trang 15đến quá trình sinh trưởng diễn ra mạnh, thân và lá tốt quá mức dẫn đến hiệntượng hoa ra ít do vậy cây ít quả, năng suất không cao [14].
1.4.2 Vai trò của lân (P) đối với cây lạc
Trong cây, P là thành phần chủ yếu cấu tạo nên nucleoproteit – là thànhphần cấu tạo nên nhân tế bào, đồng thời nó cũng tham gia vào thành phần cácchất hữu cơ quan trọng khác
Cây lạc cần P trong suốt quá trình sinh trưởng, nhưng lượng P bón từnggiai đoạn là không nhiều, cần bón phối hợp 20 kg N + 30 kg P2O5/ha sẽ làmtăng khối lượng nốt sần và rễ phát triển tốt nhất [14]
Cây lạc được bón phân lân đầy đủ phát triển tốt, cân đối, ra hoa sớm vàtập trung, tăng tỷ lệ ra hoa hữu hiệu Nếu cây lạc thiếu lân thì bộ rễ phát triểnkém, hoạt động cố định N cũng giảm vì lượng vi khuẩn cố định đạm giảm,tăng hàm lượng cacbohydrat, giảm hàm lượng nước Triệu chứng thiếu lânbiểu hiện sau 4 tuần, cây còi cọc, lá nhỏ, dày lên, những lá già xanh đậm lại,vàng và sau đó rụng đi [7], [14], [23]
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, lân là yếu tố cơ bản hạn chế năng suấtlạc, bón lân là mấu chốt ở nhiều vùng trồng lạc
1.4.3 Vai trò của kali (K) đối với cây lạc
Kali trong cây tồn tại ở 2 dạng là muối vô cơ hòa tan và muối của axithữu cơ trong tế bào, do vậy K không tham gia trực tiếp vào cấu tạo của câynhưng có tác dụng quan trọng trong quá trình trao đổi chất cũng như quá trìnhquang hợp của cây hay sự phát triển của quả Kali làm tăng khả năng giữnước của tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc, tăng tính chống đổ cho cây,tăng tính chịu hạn và khả năng chống chịu với sâu bệnh hại cho cây lạc
Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs (1996), cây thiếu kali có hiện tượng làthân cây chuyển sang màu đỏ sẫm và lá chuyển sang màu xanh nhạt Tác hại
Trang 16lớn nhất của thiếu kali là cây bị lùn, khả năng quang hợp và hấp thu N giảm, tỉ
lệ quả 1 hạt tăng, trọng lượng hạt giảm và năng suất giảm rõ rệt [22]
Hàm lượng kali trong cây thay đổi theo tuổi của cây Lạc hút một lượngkali lớn, hàm lượng K2O trong cây lên tới 4% trong 6 -8 tuần sinh trưởng đầutiên và đạt 2,15% trong thời kì ra hoa, tạo quả sau đó giảm dần cho tới lúc thuhoạch Khi cây có hàm lượng K2O còn 0,75% thì cây xuất hiện triệu chứngthiếu K
Bộ rễ của cây lạc có khả năng khai thác được chất dinh dưỡng trong mộtkhối lượng đất lớn cho nên lạc vẫn đạt được năng suất khá ở những điều kiệnhàm lượng kali trong đất không cao Do vậy, việc bón kali cho cây còn tùythuộc vào loại đất trồng
1.4.4 Vai trò của các nguyên tố trung và vi lượng đối với cây lạc
Ca, Mg và S là những nguyên tố trung lượng có vai trò quan trọng trongsinh trưởng và phát triển của cây lạc
* Canxi (Ca):
Canxi là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình trồng lạc Canxivừa có vai trò trong điều chỉnh pH đất vừa là nguyên tố dinh dưỡng cho cây.Canxi có vai trò chủ chốt là tham gia vào sự hình thành tế bào, canxi kết hợpvới axit pectinic tạo thành pectan canxi Ngoài ra, canxi còn có vai trò quantrọng trong việc hình thành màng tế bào, hoạt hóa nhiều enzime, trung hòacác axit trong cây Do đó, thiếu canxi làm ức chế sự nảy mầm và sinh trưởngcủa hạt phấn bị ức chế, mô phân sinh dễ bị hại, thân mầm bị đen, quả pháttriển kém, vỏ quả giòn, tỉ lệ đậu hoa giảm, bộ rễ bị rối loạn nếu nghiêm trọngdẫn đến rụng lá, ngọn héo và có thể chết cây [6], [28]
Cây lạc cần canxi nhiều nhất trong giai đoạn ra quả, cây hút canxi qua rễ,tia quả và cả vỏ quả khi quả đang hình thành
Trang 17Canxi là yếu tố ít di động, trong cây nó tập trung chủ yếu trong lá (80 –90% lượng canxi hấp thu), hàm lượng canxi trong lá lạc ở mức tới hạn là 2%.Bón canxi còn có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt
động, làm tăng pH đất, các dạng canxi có ảnh hưởng rất lớn đến khảnăng hấp thu canxi của lạc
Việc bón vôi cho lạc trên đất nhẹ cần hết sức lưu ý vì khi bón lượng vôiquá cao sẽ làm cho lượng canxi tích lũy tăng lên, ảnh hưởng xấu đến sự hútđạm và kali của cây
* Magie (Mg):
Mg là nguyên tố khoáng có nhiều vai trò sinh lý quan trọng đối với câylạc Mg đã có tác dụng rất tốt đến sự phát triển thân, lá, cành và khả năng tíchlũy chất khô, khối lượng nốt sần, năng suất quả Khi được bón MgSO4, hàmlượng protein trong hạt lạc ít thay đổi nhưng hàm lượng dầu có xu hướngtăng
Khi thiếu Mg cây lạc thường bị bệnh đốm nâu và hàm lượng diệp lụctrong lá giảm
* Lưu huỳnh (S):
S tham gia vào thành phần của nhiều axit amin quan trọng như xystein,systin, methyonin; các axit amin này tham gia vào quá trình hình thành nênprotein.Thiếu S làm quá trình sinh trưởng, phát triển của lạc bị gián đoạn câyphát triển không bình thường, lá có màu vàng nhạt Khi cây đủ S quả lạc bámchắc vào thân hơn góp phần làm tăng năng suất lạc
Các yếu tố vi lượng là thành phần không thể thiếu của nhiều loại enzyme
có liên quan trực tiếp đến hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng vàvitamin trong cây [19] Ngoài ra, các yếu tố vi lượng còn tham gia vào việchình thành và hạn chế sự phân giải diệp lục, thúc đẩy sự phát triển của câytrồng, tăng khả năng chống chịu của cây trồng đối với hạn hán, với nhiệt độ
Trang 18thấp và nồng độ dung dịch đất cao Các yếu tố vi lượng gồm: đồng (Cu), kẽm(Zn), Molipden (Mo), Bo, … Cây chỉ cần một hàm lượng rất ít, nhưng không
có nghĩa là không cần Nếu thiếu các nguyên tố vi lượng cây sẽ sinh trưởng,phát triển chậm, ra hoa, tạo quả kém dẫn đến năng suất không cao
Cu là thành phần cấu tạo nên các enzyme (polyphenol oxydaza, ascocbinoxydaza, xytocrom oxydaza, …) tham gia tích cực vào các phản ứng oxy hóakhử mà đặc biệt là các phản ứng tối trong quá trình quang hợp Ngoài ra, đồngcòn tham gia vào chuỗi vận chuyển điện tử trong pha sáng của quang hợp.Trong cây hàm lượng N và Cu tỷ lệ nghịch với nhau, hàm lượng N càngcao thì hàm lượng Cu càng thấp do đó sự thiếu hụt của đồng cũng được biểuhiện rõ rệt
* Kẽm (Zn):
Cũng giống như đồng, kẽm tham gia vào cấu trúc của hơn 70 enzyme,đặc biệt là các enzyme tham gia vào sự hoạt hóa enzyme sinh tổng hợptryptophan – chất tiền thân của auxin Ngoài ra, kẽm cũng đóng vai trò quantrọng trong quá trình tổng hợp protein
Thiếu kẽm gây rối loạn trao đổi phytohormon dẫn đến cây sinh trưởng,phát triển không bình thường như sinh trưởng chậm, hình thành hạt kém, sốhoa và tia quả giảm
Bón kẽm cho cây giúp cây tăng cường khả năng hút K, Si, Mn, Mo vàtăng tính chống chịu bệnh phytothora cho cây
* Molipden (Mo):
Mo có vai trò rất quan trọng trong sự cố định N và đồng hóa nitrat vì Motham gia cấu tạo nên enzyme Nitrogenaza Khi cây đủ Mo thì số lượng vàkhối lượng nốt sần tăng do vậy cường độ cố định N của vi khuẩn nốt sần cũngtăng lên Do đó, Mo rất quan trọng trong trường hợp cây thiếu N
Trang 19* Bo:
Bo là nguyên tố có vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển gluxittrong cây Thiếu Bo sự trao đổi hydratcacbon và protein bị giảm (ngưỡngthiếu Bo là 25ppm) Bo có vai trò quan trọng trong quá trình thụ phấn, thụtinh Thiếu Bo dẫn đến số lượng hoa giảm, tỷ lệ hoa có ích cũng giảm mạnh,
số quả trên cây giảm dẫn đến năng suất giảm
Thừa Bo cây lạc không hấp thụ được sắt gây hiện tượng cháy rìa điển hình
1.5 Tình hình sản xuất lạc trên Thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Tình hình sản xuất lạc trên Thế giới
Vào khoảng 500 năm trước, cây lạc được du nhập vào châu Âu nhưngkhông được chú trọng phát triển Khoảng 125 năm gần đây khi ngành côngnghiệp ép dầu được ra đời thì cây lạc mới thực sự được phổ biến và trồngrộng rãi trên thế giới
Hiện nay, lạc là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao và cóvai trò quan trọng trong đời sống người dân nhiều nước trên thế giới, do đóviệc phát triển cây lạc ngày càng được chú trọng đầu tư Sự bùng nổ của khoahọc kỹ thuật càng làm cho năng suất của cây lạc được nâng cao và mang lạinguồn lợi lớn cho các nước
Trang 20Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc trên thế giới
Trang 21Trên thế giới ngày nay có khoảng hơn 100 quốc gia trồng lạc, chủ yếutập trung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ.
Số liệu tập hợp trong bảng 1.1 cho thấy diện tích lạc trên thế giới năm
2014 đạt 25,67 triệu ha, tăng 40,73% so với trung bình thập niên 70, tăng40,04% so với trung bình thập niên 80 và tăng 17,70% so với trung bình thậpniên 90
Một số quốc gia có diện tích trồng lạc lớn trên thế giới (2014) như: Ấn
Độ (5,20 triệu ha), Trung Quốc (4,52 triệu ha), Nigeria (2,77 triệu ha), Sudan(2,10 triệu ha), Braxin (1,43 triệu ha)
Qua bảng 1.1, cũng cho thấy rằng năng suất lạc của các nước trên thếgiới có sự chênh lệch rất lớn Cụ thể vào năm 2014: năng suất lạc trung bìnhcủa thế giới nhìn chung thấp Năng suất giữa các quốc gia trồng lạc trên thếgiới chênh lệch nhau khá lớn: một số quốc gia có năng suất lạc cao như Israelđạt 73,90 tạ/ha; Mỹ đạt 44,07 tạ/ha; Trung Quốc đạt 34,91 tạ/ha, Braxin đạt28,17 tạ/ha, Inđônêxia 22,04 tạ/ha, trong khi đó ở Chad chỉ đạt năng suất lạc9,00 tạ/ha, Sudan 8,40 tạ/ha và Niger 5,18 tạ/ha
Sản lượng lạc trên thế giới cũng không ngừng tăng lên, nhưng có sựbiến động qua từng năm: năm 2010 có sản lượng đạt 42,74 triệu tấn, nhưngđến năm 2011 sản lượng lạc chỉ còn 40,77 triệu tấn, đến năm 2012 con số nàylại giảm còn 39,54 triệu tấn, sau đó sản lượng tăng đạt 42,85 triệu tấn và đếnnăm 2014 sản lưởng đạt 42,32 triệu tấn Các quốc gia khác nhau cũng có sựchênh lệch tương đối về sản lượng lạc Cụ thể năm 2014: Ấn Độ có sản lượngđạt 6,56 triệu tấn, Nigeria đạt 3,41 triệu tấn, Trung Quốc đạt 15,78 triệu tấn;trong khi đó Brazil đạt 0,40 triệu tấn, Chad đạt 0,41 triệu tấn, Israel đạt 0,02triệu tấn
Như vậy, hướng sản xuất lạc trên thế giới trong những năm tới tốc độphát triển sẽ chậm hơn so với nhiều năm trước Đồng thời, diện tích gieo
Trang 22trồng cũng có sự thay đổi do chính sách quản lý, thương mại và mục tiêu pháttriển của từng nước đưa ra.
Năng suất là yếu tố để phản ánh sự nghiên cứu về cây lạc và chính sách
là yếu tố quyết định tương lai của loại cây trồng này Những yếu tố quan trọngdẫn đến năng suất cao là:
- Cải tiến kỹ thuật canh tác và mở rộng diện tích ở các nước nhiệt đới và
á nhiệt đới, đặc biệt là các nước đang phát triển
- Chú trọng đến công tác chọn tạo giống mới có năng suất, phẩm chấtcao hơn; giống phải phù hợp với từng điều kiện sinh thái, hình thành vùng sảnxuất hàng hóa, cơ giới hóa sản xuất Thuốc trừ sâu, trừ cỏ, bệnh tốt hơn
- Chế biến, đi sâu vào lĩnh vực chế biến dầu thực vật, hỗ trợ và giúp đỡ các nước đang phát triển về xuất khẩu và nhập khẩu lạc nhân
Cây lạc chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉđược gieo trồng với diện tích lớn mà còn vì hạt lạc được sử dụng rộng rãi đểlàm thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Nhu cầu sử dụng và tiêu thụlạc ngày càng tăng đã và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển sảnxuất lạc với quy mô ngày càng được mở rộng
1.5.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây lạc đã được trồng từ rất lâu đời nhưng chưa được quantâm và phát triển Do vậy, trong nhiều năm năng suất và sản lượng lạc là rất thấp.Trong những năm gần đây khi nền công nghiệp ép dầu phát triển mạnh mẽ thì câylạc đã được quan tâm phát triển hơn, nhưng so với một số loại cây công nghiệpkhác thì năng suất, sản lượng và diện tích trồng lạc đều giảm
đáng kể
Từ năm 1995 đến nay, diện tích gieo trồng lạc tăng chậm Diện tích gieotrồng lạc của nước ta ổn định xung quanh 250.000 ha/năm và sản lượng tăngdần từ 334.500 tấn vào năm 1995 lên 485.800 tấn vào năm 2010 [36] Tương
Trang 23tự như nhiều quốc gia trên thế giới, năng suất lạc ở nước ta tăng trong nhữngnăm gần đây là nhờ đầu tư vào công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới nên
đã đưa vào sản xuất nhiều giống mới năng suất cao, chất lượng tốt và chốngchịu với điều kiện bất lợi của ngoại cảnh như: MD7, MD9, L08, L12, L14,L18, LVT, L23, L26, … đồng thời nghiên cứu áp dụng nhiều biện pháp kỹthuật (mật độ, phân bón, che phủ đất …) hợp lý cho mỗi giống và mùa vụ trêntừng vùng sinh thái cụ thể [3], [25], [26], [27] Không những thế, các đề tàinghiên cứu cấp nhà nước và cấp ngành, các dự án trong nước và quốc tế vềnghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật trên cây lạc đã được triểnkhai thu hút sự tham gia đông đảo của các cán bộ nghiên cứu Công tác Hợptác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển cây lạc đã được tăng cường
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc tại Việt Nam từ
Theo số liệu của FAOSTAT năm 2017 trong 10 năm từ năm 2007 –
2014 diện tích lạc của Việt Nam có chiều hướng giảm xuống từ 254,5 nghìn
ha vào năm 2007 giảm xuống còn 208,2 nghìn ha vào năm 2014, bên cạnh đó
Trang 24năng suất có sự tăng nhẹ: năm 2007 năng suất đạt 20,0 tạ/ha đến năm 2014đạt 21,8 tạ/ha.
Hơn 10 năm trở lại đây việc thực hiện chính sách chuyển đổi cơ chếquản lý trong sản xuất nông nghiệp đã dần giải quyết được vấn đề về lươngthực, do đó người dân có điều kiện để chuyển một phần diện tích trồng lúahoặc loại cây khác sang trồng lạc
Hiện nay, cây lạc phân bố chủ yếu ở 4 vùng lớn là: miền núi và Trung
du, Bắc bộ, đồng bằng Sông Hồng, khu Bốn cũ và miền Đông Nam bộ Cả 4vùng chiếm đến ¾ diện tích và sản lượng của cả nước, ¼ còn lại rải rác ở cácvùng khác trong cả nước.Theo số liệu thống kê ngành nông nghiệp 2014,vùng có diện tích trồng lạc lớn nhất là Bắc Trung bộ (61,1 nghìn ha), tiếp đến
là vùng Trung du miền núi phía Bắc (50,8 nghìn ha), Duyên hải Nam Trung
bộ (34,2 nghìn ha), đồng bằng sông Hồng (25,8 nghìn ha), đồng bằng sôngCửu Long (13,9 nghìn ha), Tây Nguyên (13,5 nghìn ha) và Đông Nam bộ (9,7nghìn ha)
Nước ta nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa thích hợp cho câylạc sinh trưởng, phát triển, không những thế nhờ tiến bộ của khoa học kĩ thuật
đã tạo ra nhiều giống lạc chống chịu sâu bệnh và mang lại năng suất cao, đặcbiệt trình độ thâm canh của người dân ngày càng được nâng cao vì thế khảnăng để nâng cao năng suất lạc là rất lớn
1.5.3 Tình hình sản xuất lạc ở Bình Định
Bình Định là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ với diện tích
tự nhiên là 6039 km2 Lãnh thổ trải dài 110 km theo hướng Bắc – Nam, cóchiều ngang với độ hẹp trung bình là 55 km (chỗ hẹp nhất là 50 km, rộng nhất
là 60 km) Phía Bắc giáp Quảng Ngãi, phía Nam giáp Phú Yên, phía Tây giápGia Lai và phía Đông giáp biển Đông
Trang 25Trong một vài năm gần đây, cây lạc dần trở thành loại cây chủ lực của
một số huyện của tỉnh như: Phù Cát, Phù Mỹ, mang lại hiệu quả kinh tế cao
và ổn định cho người dân địa phương Do lạc là loại cây công nghiệp có giá
trị kinh tế cao và ổn định nên người dân địa phương ngày càng mạnh dạn thay
thế những loại cây có giá trị thấp khác bằng cây lạc, kéo theo diện tích trồng
lạc cũng như sản lượng và năng suất lạc của Bình Định ngày càng được mở
rộng và gia tăng
Bảng 1.3: Diện tích và sản lượng lạc tỉnh Bình Định từ năm
2010 – 2015 Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)
(Nguồn: niên giám thống kê Việt Nam, năm 2017) Qua số liệu trong bảng 1.3,
ta thấy từ năm 2010 đến năm 2015 diện tích đất trồng lạc có sự biến động lớn,
vào năm 2010 Bình Định có diện tích trồng lạcđạt 8,3 nghìn ha, năm 2011 diện tích tăng lên 0,5 nghìn ha đạt 8,8 nghìn ha, năm
2012 đạt được 9,0 nghìn ha, đến năm 2013 diện tích đất trồng lạc tăng lên rất cao
đạt 10,2 nghìn ha, sau đó giảm dần ở các năm sau: năm 2014 diện tích đất trồng
lạc giảm 1,8 nghìn ha do đó diện tích đất trồng lạc chỉ còn 8,4 nghìn ha và sơ bộ
đến năm 2015 diện tích đất trồng lạc đạt 8,7 nghìn ha Do diện tích đất trồng lạc
có sự biến động đáng kể nên sản lượng lạc của tỉnh Bình Định cũng có sự biến
động lớn qua các năm từ 2010 đến 2015, cụ thể: sản lượng lạc năm 2010 đạt 23,2
nghìn tấn đến năm 2013 do diện tích trồng lạc tăng mạnh nên kéo theo sản
Trang 26lượng lạc trên toàn tỉnh cũng tăng mạnh đạt 30,1 nghìn tấn và sau đó giảmdần đến năm 2015 đạt 27,8 nghìn tấn.
Bình Định có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa mưa nắng rõ rệt,bên cạnh đó tỉnh còn có diện tích đất cát lớn và nguồn lao động dồi dào, nên tỉnh có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển cây lạc Tuy nhiên, năngsuất và sản lượng lạc hiện nay của tỉnh Bình Định vẫn đang còn thấp so vớitiềm năng về khí hậu và thổ nhưỡng mà tỉnh hiện có Theo Hồ Huy Cường(2007), các yếu tố hạn chế năng suất lạc ở Bình Định là thiếu giống có năngsuất cao, đất trồng lạc thiếu dinh dưỡng, hàm lượng chất hữu cơ và mùn thấp,canh tác phụ thuộc vào nước trời, sử dụng phân vi sinh vật ít, hiệu quả phòngtrừ sâu bệnh hại lạc chưa cao Trong rất nhiều các yếu tố hạn chế đó, yếu tốdinh dưỡng hạn chế năng suất lạc có ảnh hưởng trực tiếp và đáng kể
Do vậy, Bình Định nên chú trọng trong việc chọn tạo giống lạc có năngsuất cao để đưa vào sản xuất, cũng như tổ chức các buổi tập huấn để cung cấpcho người dân địa phương kỹ năng, phương pháp trồng lạc đạt hiệu quả kinh
tế cao
1.6 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
1.6.1 Kết quả nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài
1.6.1.1 Nghiên cứu về kali cho cây lạc
Kali là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng có ảnh hưởng nhất định đến sinhtrưởng và phát triển của cây lạc
Để đạt được năng suất 2.875 kg/ha, ở Mỹ năm 1975 người ta bón 20 - 25
kg N, 50 - 60 kg P2O5, 50 - 80 kg K2O Trong khi đó ở Ấn Độ liều lượng bón
là 10 - 13 kg N, 20 - 26 kg P2O5, 0 - 60 kg K2O [3]
Tại Hàn Quốc, tổng hợp các kết quả nghiên cứu về phân bón, Shin vàcộng sự (1985) [34] cho biết lượng phân kali thích hợp để bón cho cây lạc là
83 kg K2O/ha
Trang 27Theo Borkert và cs [33], Jonie While [39]: cây họ đậu có phản ứng vớiphân kali khi lượng kali trao đổi trong đất ở mức dưới 40 mg K2O/kg đất.Cũng theo tác giả này thì bón kali ở mức trên 80 kg K2O/ha sẽ cho năng suấtcây trồng cao nhất và đồng thời cũng góp phần trả lại lượng kali trong đất đãmất đi sau 5 năm thí nghiệm Abd - El - Hardi và cs (1990) [31] lại cho rằng:bón kali ở mức 70 kg K2O/ha cho năng suất cao nhất tại Hy Lạp (Egypt).Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng cũng thể hiện rõ khi chúng đượcbón với liều lượng và tỷ lệ phù hợp Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về
tỷ lệ N:K2O bón cho cây đậu đỗ nói chung và cây lạc nói riêng Pamplona và
cs (1990) [45] cho rằng: năng suất đậu tương đạt cao nhất ở mức tỷ lệ N:K2Obón là 1:2 (30 N và 60 K2O) Năng suất lạc tăng từ 16 - 21% trên một số loạiđất của Ấn Độ ở công thức bón đạm và kali với liều lượng 25 N và 30 K2O.Bón 60 kg K2O/ha kết hợp với 30 kg N cho năng suất lạc cao nhất [38]
Ở Hà Nam (Trung Quốc) bón kali có tác dụng làm tăng hàm lượng chấtbéo và amino axít trong hạt lạc Phần trăm aminoaxít cần thiết tăng từ 8,7% ởcông thức không bón kali lên đến 9,4% ở các công thức có bón kali [46].Cây lạc cần kali ngay từ đầu cho đến khi thu hoạch Lạc hút từ đất mộtlượng kali rất lớn, nhưng các loại đất ở Ấn Độ đều giàu kali Bón kali chỉ có hiệuquả khi kali dễ tiêu trong đất dưới 126 kg/ha (Dẫn theo Vũ Công Hậu, 1995)Kết quả thực nghiệm của Viện Nghiên cứu cây công nghiệp Guangdong
- Trung Quốc đã xác định lượng phân kali hợp lý để bón cho cây lạc tại
Guangdong là từ 75 - 90 kg K2O/ha (Liang Xuanqiang, 1996) [40]
Tại Saurashtra - Ấn Độ, B Golakiya (1998) đã tiến hành đánh giá hiệulực của phân kali trên các loại đất có hàm lượng lân tổng số từ 109 - 712kg/ha, kết quả thực nghiệm ở 6 điểm đã xác định, ở lượng bón 80 kg K2O/hanăng suất lạc cao hơn so với lượng bón 40 và 120 kg K2O/ha
Trang 28Tại Cairo - Ai Cập, trên đất cát vừa mới cải tạo có hàm lượng kali trongtầng đế cày (0 - 20cm) là 210,6 ppm, Migawer và cộng sự (2001), đã xácđịnh, khi bón 50 kg K2O/ha năng suất hạt của giống lạc Giza4 và Giza5 đạtbình quân 19,8 tạ/ha, cao hơn 9,4% so với lượng bón 25 K2O/ha.
Kết quả thử nghiệm về hiệu lực phân bón đối với cây lạc trên các loạiđất ở khu vực ven biển Phúc Kiến, Zhang Mingqing và Lin Xinjian đã xácđịnh lượng phân kali tối ưu cần bón cho đất cát đỏ là 87 kg K2O/ha, cho đấtlúa có nguồn gốc từ đất đỏ là 97 kg K2O/ha và cho đất cát mặn là 85 kg
K2O/ha Kết quả thực nghiệm của Viện Nghiên cứu Cây công nghiệp QuảngĐông đã xác định lượng phân kali hợp lý để bón cho cây lạc tại Quảng Đông
là từ 75 - 90 kg K2O/ha (Liang Xuanqiang, 1996)
Ngoài việc bón kali vào đất, ảnh hưởng của biện pháp phun phân kalitrực tiếp lên lá cũng đã được thực nghiệm Tại Gujarat - Israel, Shahid Umar
và cộng sự (1999) đã tiến hành đánh giá hiệu lực của biện pháp phun KCl(nồng độ 1,0%) và K2SO4 (nồng độ từ 0,5 và 1,0%) lên lá vào thời điểm saukhi nảy mầm 25 và 60 ngày Kết quả, trên nền phân bón 50 kg K2O/ha, khiphun KCl 1% năng suất hạt của giống lạc GAUG10 đạt 19,6 tạ/ha, cao hơn11,4% so với không phun và từ 4,8 - 9,5% so với phun K2SO4
1.6.1.2 Nghiên cứu về lưu huỳnh cho cây lạc
Lưu huỳnh giữ một vai trò quan trọng trong sự chuyển hóa của cây lấydầu như là thành phần của protein và glucosinolates S cần thiết cho sự tạothành protein, không những số lượng protein mà còn chất lượng protein bị ảnhhưởng bởi tính trạng S của cây ( Wrigley et al 1980) Trong điều kiện thiếu S,
sự thụ tinh của hoa bị giảm Trong suốt thời gian phát triển quả , số lượng hạttrong quả giảm xuống Khi bị thiếu hụt trầm trọng, quả trở nên rỗng
Raghavaiah (1982) nghiên cứu hiệu lực của S và Ca đối với sinh trưởngnăng suất và hấp thu dinh dưỡng của giống lạc TMV2, trên đất li mông cát đỏ
cả trong điều kiện nước trời và tưới nước Ông thấy bón 250 kg CaSO4 cholạc có tưới (khi Ca trao đổi trong đất là 5,5 - 5,8 meq/100g đất) và cung cấp
Trang 29qua nước tưới 160 kg Ca và 25 kg S và bón 500 kg CaSO4/ha cho lạc trồngnhờ nước trời (Ca trao đổi trong đất là 1,42 - 1,50 mg/100g đất và S dễ tiêu rấtthấp = 3ppm) thì năng suất cao hơn và lợi nhuận cũng nhiều hơn Singh(1970) bón S dưới dạng Sunfat amon cho đất và cát li mông thì năng suất quảtăng Verma (1973) cho biết bón 25 kg S/ha vào mùa mưa thì tỷ lệ bóc vỏ vànăng suất quả đều tăng [15].
Theo Kamvar (1983) phương pháp tốt nhất để bón CaSO4 là rắc bột lên cây lạc thời kỳ chớm hoa và CaSO4 rơi xuống quanh cây lạc ở vùng quả [15] Kết quả nghiên cứu của chương trình thực nghiệm bón bổ sung S trên đồng ruộng ở Ấn Độ cho thấy năng suất thu hoạch cho những nơi đó đã tăng đáng
kể, trung bình tăng 17% đối với lúa gạo, 25% đối với lúa mì, 30% đối với cây các dầu và 32% đối với lạc
Kết quả nghiên cứu của chương trình "chất dinh dưỡng quan trọng thứ tưcho cây trồng" ở Trung Quốc tiến hành trên các loại cây lúa gạo, lúa mì, ngô
và hạt dầu cho thấy năng suất thu hoạch ở cây trồng được bón bổ sung phânlưu huỳnh đã gia tăng đáng kể, trong đó có năng suất lạc tăng đến 13% [15].Tóm lại: các thực nghiệm và nghiên cứu đều khẳng định cũng như chứngminh được tầm quan trọng của lưu huỳnh trong sản xuất nông nghiệp đang làmục tiêu và xu hướng của các nước trên thế giới hướng tới Các tác giả trênthế giới đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ và toàn diện về ảnh hưởng củacác yếu tố dinh dưỡng bón đối với cây lạc Đó là những cơ sở thực tiễn giúpchúng ta nhìn nhận được vai trò quan trọng của việc bón phân cho lạc, đặcbiệt là trên chân đất nghèo dinh dưỡng
1.6.2 Kết quả nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
1.6.2.1 Nghiên cứu về kali cho cây lạc
Đối với đất nghèo dinh dưỡng, bón kali rất có hiệu quả, kết quả nghiêncứu của Nguyễn Thị Dần năm 1991 cho thấy, hiệu suất của 1kg K2SO4 trênđất cát biển là 6 kg lạc vỏ và trên đất bạc màu là 8 – 10 kg lạc vỏ
Trang 30Trên đất bạc màu ở Hà Bắc, kali có hiệu lực rõ rệt đối với sinh trưởng vànăng suất của cây lạc, bón 60 kg K2O/ha năng suất lạc tăng 23,8% so với nền bón 30 kg K2O/ha (Nguyễn Thị Dần, 1995) Kết quả thử nghiệm một số mô hình bón phân hợp lý trên đất bạc màu của Đoàn Văn Điểm và cs (1995) cho biết: bón kali tăng năng suất từ 1,57 tấn/ha lên 1,78 tấn/ha.
Nguyễn Văn Bộ (1999) [20] cho biết: cũng như đối với lúa, bón phâncân đối cho lạc dù trên loại đất nào cũng đều làm tăng năng suất đáng kể.Trên đất cát biển, bón cân đối đạm lân (30 kg N 60 - 90 kg P2O5) cho bội thu2,5 - 3,2 tạ/ha, trên đất bazan bội thu 5,6 - 10 tạ/ha Bội thu do bón kali caohơn so với bón lân và đạt 3,5 tạ/ha (60 - 90 kg P2O5/ha) Bón cân đối đạm -lân - kali làm tăng năng suất 6 tạ/ha Quy luật tương tự cũng thấy trên đất bạcmàu, đất xám, bazan
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kali đến năng suất lạc vụ xuân trênđất bạc màu của Nguyễn Thị Hiền và cs (2001) [16] cho thấy: bón phân kalicho lạc trong vụ xuân trên đất bạc màu Bắc Giang đã có tác dụng làm tăng sựsinh trưởng và phát triển của cây lạc, đồng thời làm tăng sự tích luỹ N, P và Ktrong thân lá Cũng theo các tác giả này thì trên đất bạc màu, lượng kali bón ởmức 90 kg K2O/ha cho năng suất lạc cao nhất
Kali có hiệu quả cao trên đất bạc màu, các loại đất nghèo dinh dưỡng và
có hiệu lực kém trên đất phù sa, đất thịt hoặc đất cát pha Theo kết quả nghiêncứu của Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, thì kali tốt nhất dùng bón lótvới lượng 40 - 60 kg K2O/ha [20] Phân kali có hiệu lực cao đối với lạc trồngtrên đất cát thô ven biển, đất bạc màu vùng Trung du Bắc bộ, hiệu lực 1 kg
K2O trong các thí nghiệm là 5 - 11,5 kg quả khô [17]
Theo TS Lê Thanh Bồn với năng suất trung bình 1,5 - 2 tấn/ha lạc quả thì tỷ lệ dinh dưỡng cân đối cho lạc là 20 - 30 kg N, 60 - 90 kg P 2 O 5 , 30 - 60 kg K 2 O [ 4]
Trang 31Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ phân bón đạm và kali cho lạc vụ thu đôngtrên đất gò đồi ở Bình Định của Hoàng Minh Tâm và cộng sự (2012) chothấy: đối với đất xám bạc màu sử dụng mức bón/ha: 5 tấn phân chuồng + 500
kg vôi và 45 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O; đối với đất feralit sử dụng mứcbón/ha: 5 tấn phân chuồng + 500 kg vôi và 30 kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg
K2O, đạt năng suất và cho hiệu quả cao nhất
Theo Hoàng Thị Thái Hòa và cs (2012), trên đất cát biển tỉnh Bình Địnhkali bón ở mức 60 kg K2O/ha kết hợp với 40 kg N trên nền 90 kg P2O5, 10 tấnphân chuồng và 500 kg vôi/ha đã cho năng suất lạc cao, đồng thời thu đượchiệu quả kinh tế cao nhất và cải thiện được độ phì của đất
Theo Hồ Khắc Minh (2014), kết quả nghiên cứu xác định tổ hợp phâncân đối, hợp lý giữa vô cơ với hữu cơ cho lạc trồng trên đất cát biển tỉnhQuảng Bình cho thấy bón phân kali ở mức 80 K2O kết hợp với 40 kg N + 120
kg P2O5 + 500 kg vôi/ha + 10 tấn phân chuồng/ha vừa tăng năng suất và chohiệu quả kinh tế cao nhất [20]
1.6.2.2 Nghiên cứu về lưu huỳnh cho cây lạc
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Chiến [21] từ năm 2005 đến 2007trên đất cát biển huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa cho thấy: đối với lạc vụxuân bón B năng suất hạt lạc tăng 12,8%, bón Zn tăng 12,1%, bón Mn tăng11,7%, bón Cu tăng 13,4%, bón Mg tăng 14,6%, bón S tăng 18,5%, bón Motăng 12,5%; bón kết hợp Mg, S, B năng suất hạt tăng 25,1%, bón kết hợp Mo,
Cu, Mn, Zn năng suất hạt tăng 17,3%, bón kết hợp B, Mo, Zn, Cu, S năngsuất hạt tăng 21,4%, bón kết hợp B, Mo, Zn, Cu, S, Mg năng suất tăng 27,0%
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống lạc: Giống LDH.01 được lấy từ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ
- Phân bón kali và lưu huỳnh
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
1- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến một số chỉ tiêu sinh hóa của cây lạc trồng trên đất cát;
2- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến sinh trưởng, phát triển của cây lạc trồng trên đất cát;
3- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến các yếu
tố cấu thành năng suất của cây lạc trồng trên đất cát;
4- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến năng suất và chất lượng của cây lạc trồng trên đất cát;
5- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến hiệu quả kinh tế sản xuất lạc trồng trên đất cát
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Công thức thí nghiệm
Công thức 1: Nền + 60 kg K2O + 30 kg S;
Công thức 2: Nền + 90 kg K2O + 30 kg S;
Công thức 3: Nền + 60 kg K2O + 20 kg S;
Trang 33Công thức 4: Nền + 90 kg K2O + 20 kg S;
*Nền phân bón cho 1ha: 8 tấn phân chuồng + 45kg N + 90 kg P2O5 +9,38 kg CuSO4.5H2O + 1,00 kg (NH4)6Mo7O24.4H2O + 17,81 kg ZnSO4.5H2O+ 1,43 kg H3BO3 + 500,0kg vôi bột
- Phơi hạt giống: Trong quá trình bảo quản, hạt giống đã hút ẩm vì thế
trước khi gieo cần phải phơi lại trong nắng nhẹ nhằm làm giảm độ ẩm trong hạt đểtăng sức hút nước của hạt, đồng thời kích thích sự hoạt động của các enzim chuyểnhóa trong quá trình nảy mầm Phơi quả trong nắng nhẹ trên
các nong, nia tre
- Chọn hạt giống để gieo: Chọn những hạt to, mẩy, vỏ lụa sáng, loại bỏ
những hạt lép nhăn nheo, tróc vỏ hay bị trầy xước cơ giới
2.3.3.2 Làm đất
- Cày bừa 2 lần để đất tơi xốp, nhỏ và đủ ẩm Đất được làm sạch cỏ dại
và các tàn dư cây trồng ở vụ trước, được phơi ải kỹ Đất sau khi xử lý phải bằngphẳng, có khả năng giữ nước và thoát nước nhanh, thoáng khí để tạo điều kiệnthuận lợi cho hạt nảy mầm
Trang 34- Lên luống: luống cao 10 - 15cm, luống cách nhau 25cm, rạch hàng sâu 15cm và gieo hạt.
- Khi cây có 3 - 4 lá thật tiến hành bón thúc đợt 1 kết hợp làm cỏ, xới xáo
Kỹ thuật đảm bảo là xới xáo toàn bộ mặt luống nhẹ tay, xới nông 2
-3cm, xới xa gốc Đây là lúc cây con thiếu dinh dưỡng trong 2 lá tử diệp đã cạn kiệt mà nốt sần chưa hình thành nên chưa có khả năng cung cấp đạm cho
Trang 35cây, do đó trong thời kỳ này cần bón đạm để đảm bảo dinh dưỡng cho cây.
- Tiến hành theo dõi đồng ruộng để dự tính dự báo tình hình sâu bệnhhại, khi sâu bệnh hại đến ngưỡng kinh tế thì tiến hành phun thuốc Có thể bắt sâuxanh, sâu xám bằng tay vào buổi sáng hoặc chiều tối
2.3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
1, Các chỉ tiêu sinh hóa
- Hàm lượng các dạng nước qua giai đoạn 3 - 4 lá thật, ra hoa rộ vàđâm tia, hình thành quả: Xác định theo phương pháp A.P.Marinsich, xác đinhhàm lượng nước tổng số bằng cách xác định khối lượng lá tươi và sấy khôtuyệt đối ở 1050C
- Hàm lượng diệp lục trong lá qua 3 giai đoạn 3 - 4 lá thật, ra hoa rộ vàđâm tia, hình thành quả: đầu tiên, ta phải rút sắc tố ra khỏi lá xanh sau đó địnhlượng chúng Cân khoảng 0,2g lá đã được loại bỏ gân cho vào cối sứ, dùngchày nghiền với 1 cồn 960, thêm vào đó là 1 ít CaCO3 để trung hòa axit củadịch tế bào Thành ngoài miệng cối sứ được bôi vazelin để tránh mất mátdung dịch sắc tố khi rót ra Để yên một lúc sau đó cẩn thận rót dung dịch theođũa thủy tinh vào phễu thủy tinh, phễu được gắn với ống của bình Bunsen.Dùng bơm chân không để hút dịch sắc tố qua phễu xuống bình tam giác, hútcho đến khi không còn dung dịch trên phễu Sau đó, cho dung dịch vào bìnhđịnh mức và pha thêm cồn 960 để được thể tích 10ml dung dịch Lấy dungdịch này đo bằng máy so màu quang điện, kết quả được tính theo công thứcsau:
Etanol 96% (Wintermans.De Mots 1965)
Trang 36p.1000
A: Hàm lượng sắc tố tính ra mg/g lá tươi
C: Hàm lượng sắc tố (mg/l)
V: Thể tích dịch chiết sắc tố (ml) p: Khối lượng mẫu (g)
- Phương pháp lấy mẫu lá: mẫu lá được lấy vào buổi sáng và theo nguyêntắc đường chéo, không lấy lá già hoặc non, không lấy lá bị sâu bệnh hại, lá vàng.Ghi lại thời gian lấy mẫu Mẫu lấy xong phải lau sạch, thấm khô, sau đó đưa vòaphòng thí nghiệm phân tích ngay Nếu chưa phân tích kịp mẫu phải được giữ trong
tủ lạnh để tránh hiện tượng thoát hơi nước cũng như những tổn hại đến mẫu
2- Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất, phẩm chất lạc
- Phương pháp lấy nốt sần và đánh giá nốt sần
+ Phương pháp lấy nốt sần: cây lạc được sử dụng để đánh giá nốt sần sẽđược rửa đất bằng vòi nước chảy nhằm không gây tổn hại đến số nốt sần trên cây.Sau đó, đem cây vào phòng thí nghiệm để đánh giá nốt sần
+ Nốt sần được đánh giá theo thanh điểm từ 0 – 5
Trang 37+ Thời gian sinh trưởng (ngày): Khoảng 80 - 85% số quả có gân điểnhình, mặt trong vỏ quả có màu đen, vỏ lụa hạt có màu đặc trưng của giống; tầng lágiữa và gốc chuyển màu vàng và rụng;
+ Chiều cao cây (cm): Đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính của 10 cây mẫu/ô;
+ Số cành cấp 1/cây (cành): Đếm số cành hữu hiệu (cành có quả) mọc từ thân chính của 10 cây mẫu/ô;
+ Diện tích lá: Diện tích lá trên cây S (dm2 lá/cây), chỉ số diện tích lá LAI (m2 lá/m2 đất) qua các thời kỳ: 3 - 4 lá thật, ra hoa rộ, hình thành quả
Diện tích lá được xác định theo phương pháp dùng máy đo diện tích lá.Lấy 5 cây trên một ô thí nghiệm, ngắt toàn bộ lá trộn đều, cân được khốilượng M (g), lấy ngẫu nhiên 10 lá đưa vào máy đo diện tích lá d (dm2) và đồng thời cân khối lượng 10 lá m (gam):
5
m: Khối lượng lá của 10 lá (gam);
d: diện tích lá của 10 lá (dm2); M: Khối lượng lá của 5 cây (gam);
- Số lượng và khối lượng nốt sần qua các thời kỳ: Lấy 5 cây/ô thínghiệm vào các thời kỳ 3 - 4 lá thật, ra hoa rộ, hình thành quả, thu hoạch để
Trang 38xác định số lượng và khối lượng nốt sần.
+ Số cây thực thu (cây): Đếm số cây thu hoạch thực tế trên mỗi ô;
+ Số quả/cây (quả): Đếm tổng số quả trên 10 cây mẫu/ô Tính trung bình
+ Khối lượng 100 hạt (gam): Cân 3 mẫu hạt nguyên vẹn không bị sâu,bệnh được tách từ 3 mẫu quả (chỉ tiêu 14), mỗi mẫu 100 hạt ở độ ẩm khoảng 12%,lấy 2 chữ số sau dấu phẩy;
- Tỷ lệ hạt/quả (%): Tỷ lệ hạt/quả (%) = khối lượng hạt khô/Khối lượngquả khô của 100 quả mẫu ở độ ẩm khoảng 12%;
+ Năng suất quả khô (tạ/ha): Thu riêng từng ô, bỏ quả lép, nonchỉ lấy quả chắc, phơi khô (độ ẩm hạt khoảng 12%), cân khối lượng (gồm cả
hạt của 10 cây mẫu) để tính năng suất trên ô, sau đó quy ra năng suất tạ/ha;
Số quả chắc/cây x số cây/m2 x P100 quả x 10.000 m2
- Hàm lượng protein trong hạt lạc: Tách Nitơ khoáng bằng nước cấtnóng, kết tủa Nitơ Protein bằng CuSO4 Xác định Nitơ trong kết tủa bằng phươngpháp Kjendahl;
- Hàm lượng lipid trong hạt sau thu hoạch: theo phương pháp Soxlet Kếtquả được tính theo công thức:
Trang 39Trong đó: X: hàm lượng lipid có trong hạt ở độ khô tuyệt đối (%)
Gm: khối lượng gói mẫu ở độ khô tuyệt đối
Gc: khối lượng gói mẫu đã rút lipid ở độ khô tuyệt đối
G: khối lượng mẫu đem đi phân tích
3- Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế:
+ Lãi ròng = Tổng thu - tổng chi
+ Tổng thu = NSTT (kg/ha) x giá bán (đồng/kg)
+ Tổng chi = Giống + phân bón + thuốc bảo vệ thực vật + công lao động + chi phí tưới nước
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp cân, đo, đếm để xác định các chỉ tiêu sinh trưởng
và phát triển, chỉ tiêu năng suất (số nốt sần, số cành cấp 1, đo chiều cao cây,
cân khối lượng quả, các yếu tố cấu thành năng suất)
2.3.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu thí nghiệm được xử lý và tính toán bao gồm: trung bình, phântích ANOVA và LSD0.05, phân tích tương quan bằng phần mềm Statistix10.0 Vẽ đồ thị và biểu đồ bằng phần mềm Excel
Trang 40Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến các chỉ tiêu sinh hóa của cây lạc trồng trên đất cát
3.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến hàm lượng nước tổng số trong lá cây lạc
Nước là thành phần quan trọng cấu trúc nên nguyên sinh chất,nướcchiếm trên 90% khối lượng chất nguyên sinh và nó quyết định tính ổn địnhcủa cấu trúc keo nguyên sinh chất Bình thường chất nguyên sinh ở trạng tháisol biểu hiện hoạt động sống mạnh Nếu mất nước thì hệ keo nguyên sinh chất
có thể chuyển sang trạng thái gel làm giảm mức độ hoạt động sống của tế bào
Hàm lượng nước tổng số trong lá lạc ở các giai đoạn sinh trưởng, pháttriển khác nhau của cây là khác nhau, điều này chứng tỏ 1 điều rằng hàmlượng nước tổng số ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây,cây sinh trưởng và phát triển nhanh hay chậm đều phụ thuộc vào lượng nướctổng số trong cây
Kết quả phân tích hàm lượng nước tổng số của cây lạc trồng trên đất cátqua các giai đoạn dưới sự ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưuhuỳnh khác nhau được trình bày trong bảng 3.1 và minh họa ở biểu đồ 3.1
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến
hàm lượng nước tổng số trong lá cây lạc
Đơn vị tính: % khối lượng tươi
Giai đoạn 3 - 4 lá Giai đoạn bắt Giai đoạn hình