Trong bài viết này sẽ tiến hành nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo trường nhiệt độ áo đường bê tông nhựa trên đường ô tô khu vực đồng bằng Bắc bộ. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng ở đây là phương pháp kết hợp lý thuyết và thực nghiệm.
Trang 1Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII Trường Đại học Giao thông vận tải
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH DỰ BÁO TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ
ÁO ĐƯỜNG BÊ TÔNG NHỰA TRÊN ĐƯỜNG Ô TÔ KHU VỰC ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI TÍCH
Nguyễn Mạnh Hùng 1*
Số 450-451 Lê Văn Việt, Phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt Với mục tiêu xây dựng một công cụ tiện ích để dự báo trường nhiệt độ áo
đường bê tông nhựa (BTN) đường ô tô cho cả khu vực Đồng bằng Bắc bộ nhằm góp
phần giải quyết các vấn đề liên quan đến yếu tố nhiệt, bài báo tiến hành thiết lập và
giải mô hình bài toán truyền nhiệt qua các lớp mặt đường này Nhờ công cụ toán học
là phép biến đổi Laplace áp dụng cho vật liệu nhiều lớp nửa vô hạn, mô hình xác định
và dự báo trường nhiệt độ qua lớp BTN đã được xây dựng Mô hình lý thuyết chỉ ra
rằng, khi tăng hệ số dẫn nhiệt của lớp BTN dày 18 cm từ 1,2 W/(m.K) lên tới 2
W/(m.K), nhiệt độ lớn nhất trong lớp BTN giảm từ 64,89 o C xuống còn 56,40 o C Việc
đánh giá độ tin cậy của mô hình cũng được tiến hành Sai lệch tương đối lớn nhất giữa
kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại Ninh Bình với kết quả thu được từ mô hình dự báo
là 10,98% Tại Hà nội, sai lệch lớn nhất giữa thực nghiệm và mô hình tại các lớp bề
mặt, sâu 20 mm, 50 mm lần lượt là 6,24%, 9,58% và 17,34%
Từ khóa: mô hình dự báo, trường nhiệt độ, áo đường, đồng bằng Bắc bộ, giải tích
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trường nhiệt độ áo đường bê tông nhựa (BTN) phụ thuộc khá nhiều vào bức xạ
mặt trời, nhiệt độ không khí cũng như vĩ độ hay vị trí của đối tượng được nghiên cứu
Việc nghiên cứu, dự báo, đánh giá trường nhiệt độ của lớp áo đường tại một khu vực
có giá trị hữu ích trong việc khai thác, bảo dưỡng chính công trình đường đó
Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu xác định trường nhiệt độ của
các lớp bê tông nhựa bởi nhiệt độ có ảnh hưởng khá lớn đến chất lượng đường Các
công trình nghiên cứu này được thực hiện theo nhiều hướng: lý thuyết, thực nghiệm
hoặc bán thực nghiệm Tuy vậy, cho dù theo hướng nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm
hay kết hợp thì các kết quả này chủ yếu áp dụng cho điều kiện khí hậu tại các khu vực
ở nơi thực hiện công trình nghiên cứu, khi áp dụng cho một vùng cụ thể khác hoàn
toàn có thể gây ra sai số lớn
Bên cạnh đó, hầu hết các mô hình đều ở dạng nhiệt độ mặt đường nhựa là hàm
của nhiệt độ không khí trong khi bức xạ mặt trời lại là yếu tố quyết định ở các nước
thuộc khu vực nhiệt đới, ví dụ như trong các công trình [1], [2], [3], [4] Trong nước
cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về trường nhiệt độ mặt đường BTN nói chung
tại Việt Nam Đa số các công trình nghiên cứu trong số đó được thực hiện theo hướng
Trang 2thực nghiệm ví dụ như [7], [8], [9], [10], [11] Công trình [6] được thực hiện theo phương pháp số Công trình [5] sử dụng phương pháp giải tích, tuy vậy mấu chốt của bài toán cũng là nghiệm cần tìm toán được đưa vào nghiên cứu ở đây là nhiệt độ lớp bề mặt xác định theo phương pháp giải tích thì lại được giả thiết là hàm sin
Bên cạnh đó, theo tìm hiểu của chúng tôi thì chưa có công trình nghiên cứu nào về xây dựng mô hình dự báo trường nhiệt độ trên cơ sở phương pháp giải tích, đặc biệt là cho vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ nơi có mật độ đường tương đối lớn Trong bài báo này sẽ tiến hành nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo trường nhiệt độ áo đường bê tông nhựa trên đường ô tô khu vực đồng bằng Bắc bộ Phương pháp nghiên cứu được sử dụng ở đây là phương pháp kết hợp lý thuyết và thực nghiệm
2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH
2.1 Mô hình bài toán truyền nhiệt qua áo đường và các giả thiết
Các giả thiết cho bài toán truyền nhiệt ở đây bao gồm: vật liệu chỉ bao gồm 2 lớp
là lớp BTN (lớp 1) và lớp móng có chiều dày vô hạn (lớp 2) (hình 2.1); tiếp xúc giữa các lớp vật liệu là lý tưởng; trong các lớp vật liệu không có nguồn sinh nhiệt, nghĩa là việc xác định trường nhiệt độ ở đây ứng với thời gian đủ dài sau khi thi công xây dựng đường; bỏ qua ảnh hưởng nhiệt do các yếu tố vận hành, như tải trọng, tốc độ xe, …; mặt đường là mặt phẳng; bỏ qua giãn nở nhiệt
Với các giả thiết nêu trên, đây là bài toán truyền nhiệt không ổn định một chiều qua nhiều lớp vật liệu nửa vô hạn, mô hình toán học được thể hiện như sau:
2 1 2
1 1
x a
=
, 0 < x < L, > 0 (2.1a)
2 2 2
2 2
x a
=
, L < x < +, > 0 (2.1b) với điều kiện biên (ĐKB):
) ( f
1
1 + =
x x
2 2
1
=
1(x, ) = 2(x, ); tại x = L, > 0 (2.1e)
0 x
2 →
trong đó: - thời gian, giây; a1, a2 – hệ số dẫn nhiệt độ của các lớp vật liệu, m 2 /s;
i(x,) là nhiệt độ trong các lớp 1, 2, o C; L – bề dày lớp vật liệu thứ nhất, m; 1, 2 – hệ
Hình 2.1 Mặt cắt ngang
áo đường
Trang 3Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII Trường Đại học Giao thông vận tải
2.2 Điều kiện đơn trị
2.2.1 Điều kiện hình học và nhiệt vật lý
Với vật liệu BTN có bề dày từ
0,07 đến 0,18 m và lớp móng có bề
dày tiến tới vô hạn thì theo [13], hệ
số dẫn nhiệt và hệ số dẫn nhiệt
độ a của hai loại vật liệu này lần
lượt là 1,6 W/(m.K), 1,2 W/(m.K)
và 0,639.10-6 m 2 /s, 0,847.10-6 m 2 /s
2.2.2 Điều kiện ban đầu
Theo [14], nhiệt độ ban đầu
trong các lớp mặt đường được xác
định theo nhiệt độ không khí thấp
nhất trong ngày và theo chiều sâu
mặt đường x, m:
trong đó, theo [12] và [15], nhiệt độ không khí thấp nhất trong ngày trong khu vực đồng
thời điểm đầu tiên của bài toán truyền nhiệt không ổn định đang được xét ở đây
Biểu diễn F(x,0) trên đồ thị như hình 2.2 và thấy rằng, có thể biến đổi (2.1h) về dạng tuyến tính để việc giải bài toán được thuận lợi hơn Kết quả thu được:
2.2.3 Vùng khí hậu và xác định điều kiện biên
Vùng khí hậu ở đây đã được xác định ngay trong đối tượng và phạm vi nghiên cứu của bài báo, đó là khu vực Đồng bằng Bắc Bộ Theo [12], với trục tọa độ x hướng xuống dưới mặt đường, ĐKB tại bề mặt trên của áo đường chính là phương trình
hệ số hấp thụ (HSHT) bề mặt đường từ 0,5 đến 0,9
- 2.3 Tìm nghiệm của mô hình bằng phương pháp giải tích
Trong số các phương pháp giải tích được dùng cho bài toán truyền nhiệt gồm phương pháp sử dụng hàm Green, trực giao, biến đổi Laplace [16] thì phương pháp biến đổi Laplace được lựa chọn vì nó hỗ trợ đắc lực cho bài toán qua vật nửa vô hạn
Sử dụng phép biến đổi Laplace [16], [17] với hệ (2.1), thu được hệ (2.2) với biến
số phức s:
Hình 2.2 Sự thay đổi nhiệt độ ban đầu trong
các lớp mặt đường theo chiều sâu
Trang 42
1
=
2
2
2
=
1
x
x
Trong các phương trình kể trên, ký hiệu và 1 tương đương với 2 1(x,s) và
2(x,s)
là biến đổi Laplace của 1(x, )và 2(x, ) Giải hệ (2.2) đồng thời sử dụng phép biến đổi Laplace ngược [16], [17] thu được hàm toán học mô tả phân bố nhiệt độ trong lớp bê tông nhựa như sau:
1,1,1 1 1,1,1,c
0
2
2 1
1,1,1,c,1
1
a
a
.erfc
H
2 a
=
2
2 1
i 1 1 1,1,1,c,2
1
a
a
.erfc
H
2 a
+
=
1,1,2(x, ) = 1,1,2,1(x, ) + 1,1,2,2(x, ) (2.3c)
1 2 1
i 1,1,2,1
i 0
1
1
2 a
a
.erfc
H
2 a
=
Trang 5Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII Trường Đại học Giao thông vận tải
1 2 1
i 1 1,1,2,2
i 0
1
1
2 a
a 2(i 1)L x erfc
H
2 a
+
=
1,1,3(x, ) = 1,1,3,1(x, ) + 1,1,3,2(x, ) + 1,1,3,3(x, ) + 1,1,3,4(x, ) (2.3d)
2
1 1,1,3,1
2 i
1
=
2 i
1 1,1,3,2
=
2
i 1 1
1,1,3,3
+
=
2
i 1 1
1,1,3,4
+
=
(2.3e)
2
a a
2
1
1
1
=
1 k
1 k
−
=
Ngoài ra, nghiệm giải tích thể hiện phân bố nhiệt độ trong lớp móng cũng được xác định nhưng do khuôn khổ của bài báo nên không trình bày ở đây
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Trường nhiệt độ lớp bê tông nhựa
Sử dụng phần mềm Mathcad và nghiệm giải tích tìm được ở trên, thu được trường nhiệt độ trong các lớp mặt đường
Hình 3.1 là kết quả trường nhiệt độ lớp BTN dày 18 cm có hệ số hấp thụ (HSHT)
0,9 tại bề mặt tức ứng với x = 0, tại vị trí có độ sâu 2 cm, 9 cm – điểm giữa và mặt dưới (độ sâu 18 cm) Phân bố nhiệt độ tại các điểm theo thời gian có dạng hình sin
Trang 6Nhiệt độ các điểm trong lớp BTN tăng nhanh chóng theo thời gian trong ngày sau khi
có ánh nắng mặt trời vào lúc sau 6 giờ sáng Nhiệt độ bề mặt trên đạt cực đại (60,08
o C) vào 13 giờ 45 phút Nhiệt độ điểm có độ sâu 20 mm đạt cực đại (56,51 o C) vào 14
giờ 20 phút) Nhiệt độ điểm dưới của lớp BTN (ứng với bề dày L = 0,18 m) đạt cực đại
theo quy luật truyền nhiệt cơ bản trong các lớp vật liệu theo thời gian
Hình 3.1 Sự thay đổi nhiệt độ tại 4 điểm điển hình lớp BTN trong một ngày
khi HSHT = 0,9 với 1(0.0,) là nhiệt độ bề mặt trên, 1(0.02,) – nhiệt độ
điểm cách bề mặt 20 mm, 1(0.09,) – nhiệt độ điểm giữa
và 1(0.18,) – nhiệt độ mặt dưới lớp BTN có bề dày 18 cm
Hình 3.2 Sự thay đổi nhiệt độ tại 4 điểm điển hình lớp BTN trong một ngày
khi HSHT = 0,9 với 1(0.0,) là nhiệt độ bề mặt trên, 1(0.02,) – nhiệt độ
điểm cách bề mặt 20 mm, 1(0.06,) – nhiệt độ điểm giữa
và 1(0.12,) – nhiệt độ mặt dưới lớp BTN có bề dày 12 cm
Hình 3.2 là kết quả trường nhiệt độ lớp BTN dày 12 cm có HSHT 0,9 tại bề mặt
trên tức ứng với x = 0, tại vị trí có độ sâu 2 cm, 9 cm và mặt dưới (độ sâu 12 cm)
Đường phân bố nhiệt độ tại các điểm theo thời gian có dạng hình sin, tương tự như với
Trang 7Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII Trường Đại học Giao thông vận tải
giống như trường hợp dày 18 cm Điều này thể hiện sự ảnh hưởng mạnh của bức xạ mặt
14 giờ 21 phút Nhiệt độ điểm dưới của lớp BTN (ứng với bề dày L = 0,12 m) đạt cực
3.2 Ảnh hưởng của hệ số dẫn nhiệt lớp BTN đến trường nhiệt độ
Theo các tài liệu [18] đến [21], hệ số dẫn nhiệt của các loại BTN thay đổi trong
khoảng từ 1,2 đến 2,2 W/(m.K) Trong mục này, ảnh hưởng của hệ số dẫn nhiệt lớp
BTN đến trường nhiệt độ sẽ được đưa vào nghiên cứu
Hình 3.3 thể hiện sự thay đổi nhiệt độ bề mặt trên lớp BTN dày 18 cm trong một ngày điển hình với HSHT bằng 0,9, hệ số dẫn nhiệt thay đổi từ 1,2 đến 2,0 W/(m.K) Khi hệ số dẫn nhiệt là 1,2 W/(m.K) thì nhiệt độ lớn nhất cũng là nhiệt độ bề mặt trên
W/(m.K) là 60,08 o C tại 13 giờ 45 phút và 56,40 o C tại 13 giờ 54 phút Từ đó thấy
rằng, khi hệ số dẫn nhiệt lớp BTN tăng thì trường nhiệt độ thay đổi theo hướng giá trị nhiệt độ lớn nhất trong lớp BTN giảm xuống Đây cũng là một gợi ý cho việc giải quyết các vấn đề về bền nhiệt lớp BTN
Hình 3.3.Sự thay đổi nhiệt độ bề mặt trên lớp BTN trong một ngày khi HSHT = 0,9 với
hệ số dẫn nhiệt thay đổi từ 1,2 đến 2,0 W/(m.K) đối với lớp BTN dày 18 cm
3.3 Mô hình dự báo trường nhiệt độ chung cho cả khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Dựa trên việc đánh giá giá trị các số hạng trong các hàm số cấu thành phương trình xác định trường nhiệt độ (2.3) trong thời gian một ngày điển hình, nhận thấy rằng có thể chỉ sử dụng các số hạng 1,1,1,a(x, ) và 1,3(x, ) là đủ Do đó, mô hình dự báo trường nhiệt độ cho cả khu vực đồng bằng Bắc Bộ được đề xuất ở đây là:
2
2 1
i 1
i 0
1
a
a
.erfc
H
2 a
=
Trang 83.4 Đánh giá độ tin cậy của mô hình
Để đánh giá độ tin cậy của mô hình, việc thực nghiệm xác định nhiệt độ lớp BTN được thực hiện như sau: đo nhiệt độ mặt trên lớp BTN vào ngày 06.7.2018 tại Ninh
- Bảng 3.1 Kết quả thực nghiệm tại Ninh Bình và sai lệch so với mô hình dự báo
Bề dày lớp BTN,
cm
Giá trị trung bình thực nghiệm, o C
Giá trị từ
mô hình
dự báo,
o C
Sai lệch (TN-MH)/TN, %
Bảng 3.1 là kết quả đối sánh giữa thực nghiệm và mô hình Sai lệch tương đối giữa mô hình và thực nghiệm lớn nhất là 10,98%, thấp nhất là 1,84%
Tiếp đó, kết quả của thu được từ mô hình sẽ được sử dụng để đối sánh với kết quả của nhóm tác giả khác đã thực hiện tại Hà nội năm 2015 và được công bố trong tài liệu [11] Trong [11], các tác giả đã tiến hành thực nghiệm đo nhiệt độ các điểm trên
bề mặt và theo chiều sâu lớp BTN Điểm thử nghiệm trên phố Cầu Giấy hướng đi từ Cầu Giấy đi Kim Mã, trước trường Đại học Giao thông vận tải (đường vào bến xe buýt
cũ) Đường đang khai thác, mặt đường BTN có bề dày 12 cm Các điểm đo bao gồm một điểm sát mặt đường (M0), một điểm dưới mặt đường 20 mm (M1), một điểm – 50
mm (M2), 01 điểm – 90 mm (M3), 01 điểm – 115 mm (M4) Việc thực nghiệm được
tiến hành trong 6 ngày 30/5, 01/6, 03/6, 04/6, 09/6 và 10/6/2015 Đo tự động liên tục trong ngày từ 8h00 đến 17h00, cứ 5 phút lấy số liệu 1 lần
Theo [11], thời điểm nhiệt độ cao nhất của lớp BTN nằm trong khoảng từ 13 đến
14 giờ Biến thiên nhiệt độ trong ngày của lớp BTN cũng giống như các kết quả thu được từ mô hình, được thể hiện trong các hình từ 3.1 đến 3.3 Cũng theo [11] giá trị
giữa mô hình dự báo ở đây và kết quả vừa nêu trong [11] Với sai lệch thu được, tiếp tục thấy rằng mô hình đảm bảo độ tin cậy để sử dụng cho các nghiên cứu tiếp theo Về
mức độ sai lệch của trường hợp tại điểm M4 có độ sâu 115 mm gần với bề mặt phân
cách giữa lớp bê tông nhựa và lớp móng có thể được lý giải bởi giả thiết tiếp xúc lý
Trang 9Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII Trường Đại học Giao thông vận tải
tưởng giữa các lớp vật liệu
- Bảng 3.2 Đối sánh mô hình và kết quả của Nguyễn Quang Phúc và đồng nghiệp
[11] về giá trị thực nghiệm lớn nhất thu được
BTN, cm
Giá trị max thực nghiệm,
o C
Giá trị max từ mô
12
Hình 3.4 Nhiệt độ tại sân bay Nội bài trong tháng 5 và tháng 6/2015 [22]
Để tiếp tục đánh giá độ tin cậy mô hình, số liệu thực nghiệm chi tiết của Nguyễn Quang Phúc trong [11] được đưa vào sử dụng Trong số 6 ngày tiến hành thực nghiệm thì ngày 30/5/2015 là ngày nóng nhất theo số liệu từ website weather-online.co.uk [22] với thông tin tham khảo là nhiệt độ tại trạm đo sân bay Nội bài (hình 3.4) Do đó ở đây chỉ sử dụng kết quả đo chi tiết trong ngày 30/5/2015 để đối sánh
Trang 10- Bảng 3.3 Đối sánh mô hình và kết quả thực nghiệm của Nguyễn Quang Phúc và
đồng nghiệp [11] theo thời gian trong ngày 30/5/2015
TT Thời gian
Thực nghiệm,
o C
Mô hình,
o C
Sai lệch, %
Thực nghiệm,
o C
Mô hình,
o C
Sai lệch, %
Thực nghiệm,
o C
Mô hình,
o C
Sai lệch, %
Thực nghiệm,
o C
Mô hình,
o C
Sai lệch, %
1 9:28:32 51.3 48.10 -6.24 47.8 43.22 -9.58 45.8 37.86 -17.34 43.7 33.53 -23.27
2 9:58:32 54.4 51.55 -5.24 51.1 46.27 -9.45 48.0 40.27 -16.10 46.0 35.16 -23.57
3 10:28:32 57.0 54.73 -3.98 53.4 49.19 -7.88 49.6 42.70 -13.91 46.7 36.90 -20.99
4 10:58:32 59.4 57.58 -3.06 54.6 51.91 -4.93 50.7 45.07 -11.10 48.5 38.70 -20.21
5 11:28:32 60.5 60.04 -0.76 56.9 51.91 -8.77 53.3 45.07 -15.44 49.5 38.70 -21.82
6 11:58:32 61.9 62.03 0.21 57.6 54.35 -5.64 54.0 47.31 -12.39 52.5 40.51 -22.84
7 12:28:32 63.7 63.53 -0.27 59.9 58.20 -2.84 56.0 51.22 -8.54 51.5 43.97 -14.62
8 12:58:32 64.6 64.49 -0.17 62.7 59.52 -5.07 52.8 52.79 -0.02 54.2 45.53 -16.00
9 13:28:32 64.4 64.89 0.76 61.9 60.37 -2.47 59.7 54.05 -9.46 55.8 46.93 -15.90
10 13:58:32 61.2 64.70 5.72 60.1 60.75 1.08 57.7 54.96 -4.75 54.8 48.14 -12.15
11 14:28:32 61.8 63.94 3.46 59.5 60.64 1.92 57.6 55.50 -3.65 55.4 49.11 -11.35
12 14:58:32 61.6 62.61 1.64 59.8 60.03 0.38 57.9 55.66 -3.87 55.7 49.83 -10.54
13 15:28:32 61.4 60.72 -1.11 59.9 58.93 -1.62 58.5 55.42 -5.26 55.3 50.27 -9.10
14 15:58:32 58.0 58.30 0.52 57.7 57.34 -0.62 57.1 54.78 -4.06 55.4 50.42 -8.99
15 16:28:32 56.5 55.38 -1.98 56.3 55.29 -1.79 56.0 53.75 -4.02 54.8 50.36 -8.10
16 16:58:32 53.9 52.03 -3.47 54.5 52.82 -3.08 54.9 52.34 -4.66 54.4 49.83 -8.40
17 17:28:32 51.0 48.28 -5.33 52.0 49.95 -3.94 52.8 50.56 -4.24 52.8 49.09 -7.03
Theo kết quả thu được từ bảng 3.3, ngoại trừ 9 thời điểm đầu đối với điểm M3 là điểm gần với bề mặt phân cách giữa hai lớp thì sai lệch giữa thực nghiệm và mô hình tại các điểm đo như đã nêu trên đều nằm trong phạm vi cho phép với lĩnh vực nhiệt Theo đó, với điểm trên bề mặt (M0), sai lệch giữa thực nghiệm và kết quả mô hình dự
báo dao động từ 0,17% đến 6,24% Với điểm có độ sâu 20 mm (điểm M1) là từ 0,38% đến 9,58% Với điểm có độ sâu 50 mm (M2) là chủ yếu nằm trong phạm vi từ 0,02%
đến 17,34%