Một minh chứng sinh động nữa cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ và bền bỉ của tư tưởng Đạo gia trong đời sống chính trị hiện đại là xu hướng tìm về và nghiên cứu sâu hơn tư tưởng của Lão Tử tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ ĐỨC PHƯƠNG
TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM
“ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA LÃO TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Bùi Thị Thanh Hương
HÀ NỘI – 2017
Trang 3Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày….tháng…năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Bùi Thị Thanh Hương Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình bày, được bảo vệ và công nhận Các số liệu và kết quả nghiên cứu được sử dụng lại từ những nghiên cứu khác đã công bố trong luận văn này được trích dẫn rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Ngô Đức Phương
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 12
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ LÃO TỬ VÀ TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH” 12
1.1 Lão Tử - cuộc đời và sự nghiệp 12
1.2 Khái quát về tác phẩm “Đạo đức kinh” 20
Chương 2: NỘI DUNG MỘT SỐ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CƠ BẢN TRONG TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA LÃO TỬ 27
2.1 Tư tưởng biện chứng về vũ trụ 27
2.2 Tư tưởng biện chứng về nhân sinh 44
2.3 Tư tưởng biện chứng về chính trị - xã hội 55
Chương 3: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA NHỮNG TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG “ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA LÃO TỬ 66
3.1 Một số nhận xét về những tư tưởng biện chứng cơ bản trong “Đạo đức kinh” của Lão Tử 66
3.2 Giá trị chủ yếu của những tư tưởng biện chứng trong “Đạo đức kinh” của Lão Tử 79
3.3 Một số hạn chế của tư tưởng biện chứng Lão Tử trong “Đạo đức kinh” 86
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu về Lão Tử và “Đạo đức kinh” tuy không mới nhưng có thể nói chưa bao giờ cũ bởi sức hấp dẫn của nó Tác giả luận văn lựa chọn nghiên cứu về những tư tưởng biện chứng của Lão Tử trong tác phẩm “Đạo đức kinh” cũng chỉ là hệ thống hóa và góp thêm một cách nhìn nhận, đánh giá về
tư tưởng của Lão Tử Hướng nghiên cứu này được lựa chọn xuất phát từ những lý do sau đây:
Trước hết là xuất phát từ những đóng góp và ảnh hưởng của Lão Tử, đặc biệt là những tư tưởng biện chứng sâu sắc của ông trong tác phẩm để đời
“Đạo đức kinh” Lão Tử là một trong những hiện tượng lạ của nhân loại Ông
là một triết gia lớn, ảnh hưởng của ông tới Đông Nam Á sánh ngang với Khổng Tử và thời nào cũng được người dân Trung Quốc tôn trọng Tuy nhiên, đến nay, xung quanh Lão Tử còn nhiều điều bí ẩn Lão Tử sinh năm nào, thời nào, tên thật là gì, quê quán ở đâu… khó có thể biết được Các tác giả Trung Quốc, Nhật Bản, cả Âu Mỹ từ trước đến nay đã bàn tới nhiều, đặt
ra nhiều giả thiết, nhưng chưa có một giả thiết nào có thể tin là đích xác và thực sự thuyết phục về thân thế cũng như sự nghiệp và các trước tác của ông
Thứ hai, xuất phát từ những giá trị sâu sắc của những tư tưởng biện chứng của Lão Tử trong nhận thức và hoạt động thực tiễn trong giai hiện nay
Dù những thông tin thực sự chính xác xung quanh Lão Tử và “Đạo đức
kinh” còn chưa thống nhất, nhưng không thể phủ nhận giá trị của những tư
tưởng biện chứng mà Lão Tử thể hiện trong tác phẩm để đời của mình Đánh
giá tác phẩm “Đạo đức kinh”, Renebertrand, một học giả phương Tây đã bất chấp rào cản về ngôn ngữ, nghiên cứu “Đạo đức kinh” của Lão Tử và nhận
định “Ông chỉ viết có một quyển rất vắn tắt vài dòng chữ hợp thành quyển sách ấy chứa đựng tất cả sự khôn ngoan trên trái đất này” [Dẫn theo 3, phần
Trang 7giới thiệu] Một học giả khác là E.V Zenker thì cho rằng “Lão Tử đâu chỉ sống cho nước Trung Hoa và thời buổi của ông mà thôi, ông là một trong những bậc thầy thuần túy nhất và sâu sắc nhất của nhân loại” [Dẫn theo 3, phần giới thiệu]
Người sáng lập phái Đạo gia cũng được coi là nhà tư tưởng “nửa huyền thoại” của thế giới, nhà biện chứng số một của toàn bộ nền triết học phương
Đông Tư tưởng của ông được thể hiện chỉ trong khoảng 5000 từ của “Đạo
đức kinh”, nhưng đã gây biết bao ấn tượng sâu sắc cho nhiều thế hệ từ trước
tới nay Không phải ngẫu nhiên mà Heghen đã khẳng định " Lão Tử mới
thật là đại biểu tinh thần của thế giới cổ đại Đông phương" [13, tr 419] “Đạo
đức kinh” của Lão Tử ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến các triết gia phương
Đông, dù các bậc danh Nho ở Trung Hoa, Nhật Bản và ngay cả Việt Nam từ trước đến giờ Không có một nhà văn lỗi lạc nào, không có một nghệ sĩ xuất chúng nào, cũng không một tư tưởng gia sâu sắc nào không chịu ảnh hưởng ít nhiều từ tư tưởng của Lão Tử và triết thuyết Đạo gia nói chung Đạo gia không chỉ ảnh hưởng về mặt tư tưởng mà còn giúp cho con người trong con đường xử thế khôn ngoan, tế nhị Phan Kế Bính từng nhận định “Người ta nhận thấy rằng xưa nay những bậc ẩn sĩ có những phẩm cách thanh cao, những hiệp khách có cái tâm trường hiệp liệt cùng những người biết nhẫn nại,
ưa điềm tĩnh ở xã hội Đông phương, đều do ảnh hưởng của Lão giáo mà ra cả” [Dẫn theo 3, phần giới thiệu]
Nội dung của “Đạo đức kinh” hàm chứa ý nghĩa sâu rộng cả về triết
học, văn hoá, chính trị, xã hội, đạo đức, v.v Nghiên cứu lịch sử triết học phương Đông, đặc biệt là lịch sử triết học Trung Quốc sẽ không thể bỏ qua
nghiên cứu tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử Chúng ta thấy ở ông một tư
tưởng biện chứng sâu sắc mà không phải triết gia nào thời đó cũng đạt được Nghiên cứu và vận dụng tư tưởng, học thuyết của ông sẽ đem lại những ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Trang 8Một minh chứng sinh động nữa cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ và bền bỉ của tư tưởng Đạo gia trong đời sống chính trị hiện đại là xu hướng tìm về và
nghiên cứu sâu hơn tư tưởng của Lão Tử trong “Đạo đức kinh”, không chỉ ở
Trung Quốc mà còn ở cả các học giả phương Tây, đặc biệt là sau thời kỳ khủng hoảng tài chính, tiền tệ 2007 – 2009 Việc nghiên cứu Lão Tử với những tư tưởng biện chứng sâu sắc của ông càng trở nên có ý nghĩa trong bối cảnh thế giới đang phải gánh chịu hậu quả nặng về từ sự phát triển nhanh chóng, với những hệ lụy nặng nề về môi trường cả tự nhiên và xã hội Điều đó
chứng tỏ cho đến nay, “Đạo đức kinh” của Lão Tử với những tư tưởng biện
chứng sâu sắc của nó vẫn còn là nguồn cảm hứng vô tận trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn
Thứ ba, xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu, học hỏi tư tưởng và kinh nghiệm thế giới của Đảng và Nhà nước ta, trong đó có việc nghiên cứu các tư tưởng triết học Trung Quốc mà điển hình là tư tưởng biện chứng của Lão Tử Trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định phải cầu thị trong học hỏi kinh nghiệm thế giới, nghiên cứu tư tưởng và kinh nghiệm các nước để vận dụng sáng tạo, hiệu quả vào Việt Nam Ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc nói chung, trong đó có các tư tưởng triết học Trung Quốc với Việt Nam là khá rõ nét, chính vì vậy, một nghiên cứu về tư tưởng biện chứng của Lão Tử trong “Đạo đức kinh” sẽ có giá trị không chỉ về lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc để vận dụng vào nhận thức và hoạt động thực tiễn, góp phần giải quyết những nan giải của sự phát triển hiện nay
Thứ tư, xuất phát từ những khó khăn trong trong nghiên cứu, tiếp cận Lão Tử và “Đạo đức kinh” khiến cho những nghiên cứu về tác giả, tác phẩm này luôn gây tranh cãi và vì vậy mà luôn hấp dẫn, cần thêm nhiều các nghiên cứu để tiếp tục tranh luận để làm rõ hơn tư tưởng và giá trị của triết học Lão
Trang 9Tử Trung Quốc là một dân tộc sớm trọng sử nhất thế giới Từ ba nghìn năm trước, họ đã có những sử quan ghi chép những biến cố quan trọng của từng triều đại Từ thời Tư Mã Thiên đến nay, biết bao nhiêu sử gia tra cứu đủ các sách cổ để tìm hiểu xem Lão Tử tên thật là gì, quê quán ở đâu, tiếp xúc với những ai, sống thế nào… nhưng chỉ đưa ra được những giả thuyết và càng bàn càng thêm rối vì nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau Đến nỗi có học giả Nhật Tân là Điền Tả Hữu Cát phủ nhận hết thảy và xem Lão Tử chỉ là một con
người huyền thoại Ngay tác phẩm của Lão Tử “Đạo đức kinh” cũng chỉ là
tên đời Hán đặt cho, rất ngắn mà mỗi người chấm câu một khác, hiểu một
khác… tới nay đã có hơn 200 bản, hiệu đính, giới thiệu, thậm chí “Đạo đức
kinh” do ai viết, xuất bản năm nào cũng là vấn đề gây tranh luận
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Tư tưởng biện
chứng trong tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử” làm đề tài luận văn thạc
sĩ chuyên ngành triết học của mình với mong muốn đóng góp thêm những kết
luận để đưa Lão Tử và “Đạo đức kinh” đến gần hơn với cuộc sống hiện đại
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Với tư cách là một tác gia và tác phẩm tiêu biểu trong lịch sử tư tưởng,
lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại, “Đạo đức kinh” và Lão Tử đã được đề cập,
nghiên cứu trong khá nhiều công trình Sau đây là một số công trình tiêu biểu:
Nguyễn Đăng Thục (1991): Lịch sử triết học phương Đông, trong số 30
chương của cuốn sách bàn đến các tư tưởng triết học phương Đông mà chủ yếu là các tư tưởng triết học Trung Quốc từ Khổng Tử đến thời kỳ Tiên Tần,
đã dành 1 chương là chương XI với 35 trang tập trung bàn về “Triết lý ở Đạo
đức kinh” với 5 nội dung chính: chân dung Lão Tử; phân tích “Đạo đức kinh”
qua nội dung Đạo và Đức và sự vận động của Đạo; vũ trụ tự nhiên, nhân loại, đạo tuyệt đối; đồng hợp với đạo thế; và đạo với nhân sinh hành vi Ngoài ra
có 2 chương khác cũng đề cập đến “Đạo đức kinh” bao gồm chương XII bàn
Trang 10về Trang Tử và Lão học và đặc biệt là chương XXV đã có những so sánh về triết lý vô vi của Pháp gia với Đạo gia
Doãn Chính (chủ biên), (1992): Đại cương lịch sử triết học phương
Đông cổ đại, cuốn sách hơn 300 trang với 3 phần chính và 7 chương bàn về
hoàn cảnh lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ai Cập, Babylone, Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại Trong chương cuối cùng nói về quá trình phát sinh và phát triển của triết học Trung Quốc cổ đại đã đề cập khá chi tiết trường phái triết học Đạo gia như một trong sáu trường phái tiêu biểu trong tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại Đi sâu vào nội dung, phần Trường phái triết học Đạo gia có đề cập đến Triết học của Lão Tử với những nội dung: tư tưởng về đạo, phép biện chứng chất phác trong triết học của Lão
Tử, tư tưởng về đạo vô vi Những phân tích và bình luận được viết khá dễ đọc
và dễ hiểu với văn phong mới và hiện đại hơn so với một số công trình khác
nghiên cứu về Lão Tử và “Đạo đức kinh”
Thu Giang, Nguyễn Duy Cần: Đại cương triết học Trung Quốc; Lão
Tử tinh hoa (1992), là công trình nghiên cứu công phu về Lão Tử và “Đạo đức kinh” với ba phần chính Phần thứ nhất giới thiệu lược sử Lão Tử và cuốn
“Đạo đức kinh”, trong đó có đề cập sâu đến văn chương trong sách của Lão
Tử cũng như những người chú giải Lão Tử Phần thứ hai là phần chính bàn về học thuyết Lão Tử qua phần trình bày tổng quan và phần phân tích Giá trị của công trình nằm ở phần phân tích các tư tưởng, phạm trù triết học trong
“Đạo đức kinh” của Lão Tử như đạo, đức, vô, tự nhiên, nhân, lễ nghĩa, thánh
trí, học, phản và phục, tổn hữu dư, tri túc tri chỉ, bất tranh, nhu nhược, bất ngôn chi giáo, tam bửu, huyền đồng, vô vi Phần thứ ba đề cập đến ba nội dung là sự biến thiên của Lão học, Lão Tử và Khổng Tử và Ảnh hưởng của sách Lão Tử Đây là công trình nghiên cứu công phu, dày dặn, có nhiều giá trị tham khảo về tác giả và tác phẩm
Trang 11Khoa Luật, Đại học Tổng hợp Hà Nội (1993): Lịch sử các học thuyết
chính trị trên thế giới, trong phần tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại cũng
đã đề cập đến tư tưởng chính trị của Lão Tử trong “Đạo đức kinh”, đặt trong
sự so sánh với tư tưởng của Nho gia, Pháp gia Tuy nhiên cuốn sách mới chỉ
đề cập đến các nội dung về chính trị và cũng chỉ đề cập một phần, chưa có những phân tích sâu và chi tiết
Trương Lập Văn (1998): Lý trong triết học phương Đông, trong tổng số
10 chương của cuốn sách thì ngay chương đầu tiên, phần tư tưởng lý thời Tiên Tần đã có nội dung thứ 5 bàn về tư tưởng lý thiên nhiên của đạo gia với những nội dung cụ thể: lý là lý trời, lý người, lý sinh, lý vật; và quan hệ giữa
lý và đạo Mặc dù nội dung bàn đến chỉ là phạm trù lý trong tư tưởng đạo gia nhưng tác phẩm cũng chứa đựng những giá trị tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu luận văn của tác giả, đặc biệt là giúp hiểu sâu sắc hơn và luận giải thành công một số nội dung cụ thể trong tư tưởng triết học Lão Tử
Phùng Hữu Lan (bản dịch của Nguyễn Văn Dương) (1999): Đại cương
triết học sử Trung Quốc, cuốn sách với 28 chương bàn đến những vấn đề cơ
bản trong triết học sử Trung Quốc, trong đó có đến 9 chương đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến tư tưởng triết học Đạo gia, riêng chương IX bàn trực tiếp đến Lão Tử và sách Lão Tử, Đạo vô danh, Đạo thường, Đường lối xử thế, Lý thuyết chính trị Đây là công trình đề cập khá sâu sắc, toàn diện và có tính hệ thống về các giai đoạn phát triển của tư tưởng triết học Đạo gia cũng như những nội dung chính trong tư tưởng triết học Lão Tử
Nguyễn Thị Hồng (2005), “Về học thuyết vô vi của Lão Tử” đăng trên
Tạp chí Triết học số 3, tháng 3 năm 2005 Bài viết tập trung làm rõ vị trí, vai trò của mối quan hệ Vô - Hữu trong triết học Lão Tử, coi đây là mối quan hệ xuất phát có tính chất như là vấn đề cơ bản của triết học Lão Tử, là cơ sở để hiểu những tư tưởng khác tưởng như là nghịch lý mà cũng rất có lý của ông
Trang 12Đặc biệt, trên cơ sở đó, tác giả đi sâu phân tích và lý giải tư tưởng “Vô vi nhi bất vô vi” rất độc đáo trong triết học Lão Tử
Trương Ngọc Nam, Trương Đỗ Tiễn (2009), với Giáo trình “Lịch sử
triết học Trung Quốc cổ - trung đại” đã phân tích toàn bộ nội dung triết học
của Đạo gia trong đó có giới thiệu về “Đạo đức kinh” ở một mức độ nhất
định, các nội dung đều được khai thác dưới lăng kính triết học Đây là cuốn sách viết khá hay, cô đọng và là tài liệu tham khảo hữu ích trong quá trình thực hiện luận văn
Khoa Chính trị học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2009), Giáo
trình “Lịch sử tư tưởng chính trị”, trong chương về “Tư tưởng chính trị Trung
Quốc cổ - trung đại” cũng đề cập đến Đạo gia của Lão Tử như một trong những trào lưu tư tưởng chính trị tiêu biểu thời kỳ này, nhưng khai thác Đạo gia dưới góc độ một học thuyết chính trị nên nhấn mạnh các tư tưởng chính trị như tư tưởng về quyền lực chính trị, biện chứng trong chính trị
Vũ Quốc Mạnh (2012) “Triết lý nhân sinh trong tác phẩm “Đạo đức
kinh” của Lão Tử và ý nghĩa của nó đối với xây dựng đạo đức người Việt
Nam hiện nay” Luận văn tập trung làm rõ hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ
bản tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử; phân tích, làm rõ nội dung triết lý nhân sinh của Lão Tử được thể hiện trong tác phẩm “Đạo đức kinh”; những
giá trị và hạn chế của tác phẩm; làm rõ được quá trình du nhập của Đạo gia vào Việt Nam, những ảnh hưởng của nó đến mọi mặt đời sống xã hội, nhất là đạo đức; làm rõ những giá trị đạo đức tiêu biểu của người Việt Nam, quan điểm của Đảng về xây dựng nền đạo đức mới; phân tích những ý nghĩa của
triết lý nhân sinh trong tác phẩm “Đạo đức kinh” đối với xây dựng đạo đức
người Việt Nam hiện nay
Viện Chính trị học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2013): tập bài giảng chính trị học dành cho hệ cao cấp lý luận chính trị, trong bài 3,
Trang 13Lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông, phần Trung Quốc cũng đã đề cập
đến tư tưởng chính trị của Đạo gia với ba nội dung chính là tư tưởng về đạo,
về xã hội lý tưởng và về cách cai trị kiểu “vô vi nhi trị” Cách tiếp cận và phân tích dưới góc độ chính trị học nhưng cũng chứa đựng những giá trị sâu sắc giúp tác giả luận văn suy ngẫm về tư tưởng biện chứng về chính trị - xã
hội của Lão Tử trong “Đạo đức kinh”
Lê Công Sự (2014): Triết học cổ đại, cuốn sách dày dặn với hơn 700
trang, 3 chương nội dung trong đó chương 2 bàn về triết học Trung Quốc cổ đại đã đề cập đến Đạo gia như một trong sáu trường phái tiêu biểu của triết học cổ đại Trung Quốc Nội dung chi tiết của phần này được thể hiện ở bốn vấn đề chính: sự hình thành và các triết gia tiêu biểu của Đạo gia, Những tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia, Nhận xét chung về Đạo gia và từ đạo gia đến đạo giáo Những tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia được đề cập trong cuốn sách bao gồm: thế giới quan đạo gia, nhân sinh quan đạo gia, nhận thức luận của đạo gia Những phân tích khá chi tiết đã nêu bật những nội dung và giá trị cơ bản trong tư tưởng triết học Đạo gia, trong đó có tư tưởng của Lão
Tử trong “Đạo đức kinh”
Thu Giang Nguyễn Duy Cần (2016): Nhập môn triết học phương Đông,
Cuốn sách tiếp cận triết học phương Đông theo cách không đi vào từng trường phái mà theo logic chiều dọc, nghĩa là nêu bật những tư tưởng tiêu biểu trong triết học phương Đông rồi làm rõ biểu hiện và sự kế thừa, phát triển các tư tưởng ấy thông qua các đại biểu, các trường phái Tuy nhiên cuốn sách cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ đại cương, sơ lược, các phân tích chưa sâu, còn tản mát, khó tiếp cận
v.v…
Những kết quả đạt được của các công trình trên có thể khái quát ở các nội dung chính sau đây:
Trang 14Một là, đã bàn đến khá đầy đủ những nội dung, tư tưởng cơ bản trong
“Đạo đức kinh” của Lão Tử và cũng đã có những luận giải khá sâu sắc về
phạm trù đạo, về phép biện chứng, về tự nhiên, về nhận thức luận, những tư
tưởng về chính trị - xã hội của Đạo gia nói chung và của Lão Tử trong “Đạo
đức kinh” nói riêng
Hai là, đã có những công trình đề cập đến thân thế, sự nghiệp của Lão
Tử cũng như những vấn đề xoay quanh tác phẩm “Đạo đức kinh” có tác dụng
chỉ dẫn, gợi mở cho tác giả khi tiếp cận và nghiên cứu một số tư tưởng biện chứng cơ bản trong tác phẩm này
Ba là, đã có một số công trình đánh giá về giá trị của những tư tưởng
biên chứng trong “Đạo đức kinh” của Lão Tử dựa trên những góc độ và mức
độ tiếp cận khác nhau Những đánh giá được đưa ra là khá xác đáng và có căn
cứ nên có giá trị tham khảo
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả này, các công trình nghiên cứu có
liên quan đến Lão Tử và “Đạo đức kinh” vẫn còn những hạn chế như sau:
Một là, chưa có một công trình nào đề cập một cách sâu sắc và toàn
diện về các tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử
Nếu có cũng chỉ mang tính tản mạn và còn nhiều mâu thuẫn, bất đồng cả trong tiếp cận, lựa chọn, trích dẫn, luận giải và đánh giá Chính vì vậy, rất khó khăn cho tác giả luận văn khi cùng lúc phải nghiên cứu, phân loại và xử lý tất
cả các tài liệu này
Hai là, dù đã bàn đến ở những mức độ khác nhau nhưng chưa có công trình
nào tập trung vào nêu lên giá trị của các tư tưởng biện chứng trong “Đạo đức kinh”
đặt trong sự so sánh với tư tưởng của một số trường phái triết học cùng thời và sau này Đây là khoảng trống nhiều thách thức nhưng cũng tạo động lực để tác giả luận văn đào sâu, làm mới và đóng góp trong luận văn của mình
Chính vì vậy, tác giả luận văn xác định còn khoảng trống trong nghiên
cứu về những tư tưởng biện chứng trong “Đạo đức kinh” của Lão Tử và giá
Trang 15trị của nó, bao gồm cả khoảng trống về nội dung cũng như về cách tiếp cận
vấn đề
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo cứu, hệ thống hóa và làm rõ hơn về thân thế, sự nghiệp
của Lão Tử và những nội dung cơ bản của “Đạo đức kinh”, luận văn phân tích
một số tư tưởng biện chứng cơ bản trong tác phẩm và bước đầu nhận định về những giá trị và hạn chế của nó
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ thân thế, sự nghiệp của Lão Tử và khái quát những nội dung
cơ bản của tác phẩm “Đạo đức kinh”
- Phân tích nội dung một số tư tưởng biện chứng cơ bản trong tác phẩm
“Đạo đức kinh”
- Bước đầu nhận định về giá trị và hạn chế của các tư tưởng biện chứng được thể hiện trong tác phẩm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Đạo đức
kinh” của Lão Tử và giá trị của những tư tưởng ấy
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung vào một số tư tưởng biện chứng cơ bản, cụ thể
là tư tưởng biện chứng trong vũ trụ quan, nhân sinh quan và chính trị - xã hội
trong tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu có liên quan
Trang 165.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể để nghiên cứu như phương pháp hệ thống, phương pháp logic - lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn được thực hiện sẽ góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn các
tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử, góp phần
làm phong phú và sâu sắc hơn những nghiên cứu về một triết gia, một triết thuyết có ảnh hưởng bền bỉ và mạnh mẽ nhưng vẫn được xem là còn nhiều bí
ẩn và gây nhiều tranh cãi hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn được thực hiện thành công sẽ cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho những người tìm hiểu và nghiên cứu về lịch sử triết học Trung Quốc, làm tài liệu tham khảo cho học viên, sinh viên chuyên ngành triết học, chính trị học và các ngành khoa học xã hội khác
7 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống về những tư tưởng biện
chứng cơ bản trong tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử
- Trên cơ sở những phân tích về các tư tưởng biện chứng cơ bản trong tác phẩm, luận văn chỉ ra giá trị của những tư tưởng ấy đối với đương thời và hiện nay
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương và 8 tiết
Trang 17PHẦN NỘI DUNG Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ LÃO TỬ VÀ TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH”
1.1 Lão Tử - cuộc đời và sự nghiệp
Triết học Trung Quốc cổ đại không chỉ là niềm tự hào của người Trung Quốc, mà còn là di sản văn hóa vô cùng quý giá của nhân loại Có lẽ mãi mãi về sau, những Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Lão Tử, Trang Tử, Hàn Phi, Mặc Địch … vẫn sẽ là những tên tuổi luôn được nhớ đến và tiếp tục nghiên cứu Trong đó, Lão Tử là một tên tuổi lẫy lừng Những tư tưởng triết học uyên thâm, độc đáo nhưng vẫn rất thực tế của Lão Tử là một mảnh ghép quan trọng làm nên bản sắc của nền triết học Trung Quốc và phương Đông nói chung
Đời sống Lão tử được ghi chép lần đầu tiên trong bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, phần “Liệt truyện” Lão Tử người làng Khúc Nhân, xã Hương Lệ,
huyện Hỗ, nước Sở, họ Lý tên Nhĩ, tự là Đam, làm quan sử, giữ kho sách của nhà Chu Ông là người nổi danh đương thời, tư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn vì nó phản ánh được nguyện vọng của đại đa số nhân dân lao động lầm than cũng như những kẻ sĩ bất lực trước thời cuộc loạn lạc
Lão Tử là người “giấu mình”, do đó cuộc đời và sự nghiệp của ông như một huyền thoại, có nhiều giả thiết khác nhau Theo những tài liệu được nhiều đại biểu trong giới nghiên cứu và phần đông xã hội thừa nhận, Lão Tử
là người khởi xướng trường phái triết học Đạo gia, khuynh hướng triết học của ông được Dương Chu (440-360 TCN), Trang Tử (370-298 TCN) kế thừa
và có ảnh hưởng rất sâu rộng ở phương Đông Bản thân năm sinh, năm mất của Lão Tử cho đến nay chưa được xác định dứt khoát, chỉ biết rằng ông sống trong thời kỳ Đông Chu (770 – 221 TCN) Trường phái triết học Đạo gia mà
Trang 18Lão Tử sáng lập hình thành ở đất Sở, miền Nam Trung Quốc, chịu ảnh hưởng của văn hóa – lịch sử Canh Sở mang đặc trưng của vùng nam Trường Giang
Theo ghi chép của người xưa, Khổng Tử đã từng qua nước Chu hỏi Lão
Tử về lễ, Lão Tử đã nói “Người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp thời thì đội nón lá, đi bộ Tôi nghe nói người buôn giỏi thì dấu kỹ vật quý, coi bề ngoài như không, người quân tử đức cao thì dung mạo như ngu độn Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục, cái chí hăm hở của ông đi, những cái đó không ích gì cho ông đâu Tôi chỉ khuyên ông có vậy thôi” Sau khi qua Chu trở về, Khổng Tử nói với môn sinh rằng “Loài chim ta biết nó bay, loài cá ta biết nó lội, loài thú ta biết nó chạy Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn Nhưng nói đến loài rồng cưỡi gió mây mà lên trời thì không sao biết được Hôm nay ta gặp Lão
Tử, ông là rồng chăng?”
Theo Sử ký Tư Mã thiên, Lão Tử cũng từng khuyên Khổng Tử “Tôi
nghe nói người giàu tiễn nhau bằng tiền bạc, người nhân tiễn nhau bằng lời nói Tôi không phải là người giàu sang, mạn phép tự coi là người có nhân
mà tiễn ông bằng lời này: Kẻ thông minh và sâu sắc thì khó sống vì ham phê bình người khác; kẻ giỏi biện luận (biết nhiều) thì nguy tới thân vì hay nêu cái xấu của người khác Kẻ làm con với kẻ làm tôi đều không có cách
gì để giữ mình cả”
Còn nhiều sách khác của Tuân Tử, Hàn Phi Tử, Chiến quốc sách, Lã
thị Xuân thu… cũng nhắc đến Lão Tử, trong đó có những ý kiến không giống
nhau Tổng hợp các tư liệu về Lão Tử, có thể rút ra một số vấn đề hiện còn đang đặt ra xung quanh thân thế, sự nghiệp của Lão Tử như sau:
Một là về quê quán, ý kiến về quê quán của Lão Tử hầu như thống
nhất, các bản sử ký lưu hành hiện nay đều cho Lão Tử gốc làng Khúc Nhân, Hương Lệ, huyện Hỗ, nước Sở Tư Mã Thiên không có gì nghi ngờ về việc xác định quê hương Lão Tử
Trang 19Hai là về tên họ, có mấy quan điểm sau đây:
Quan điểm thứ nhất của Tư Mã Thiên cho rằng Lão Tử tên là Nhĩ, họ
là Lý, tự là Đam, được giải thích như sau: nhĩ là tai, đam là dài, Lão Tử sống rất thọ nên người ta còn gọi là “ông già tai dài”
Quan điểm thứ hai lại bác họ Lý của Lão Tử, họ lập luận rằng các sách
cổ thời Xuân Thu không có họ Lý Mãi đến thời Chiến quốc mới có Lý Khôi,
Lý Khắc, Lý Mục, do đó Lão Tử phải là họ Lão Sách Tả truyện có Lão Tả,
Sử ký có Lão Lai, Luận ngữ có Lão Bành Không thể tra cứu Lão Tử có thuộc
dòng họ những người này không nhưng “không còn nghi ngờ là thời kỳ cổ đại
đã có họ Lão” nên Lão Tử phải là người họ Lão Cũng rất có thể họ Lão mà lầm gọi là họ Lý vì hai chữ đó đọc gần giống nhau
Ba là về chức tước, Lão Tử làm quan sử, giữ kho chứa sách của nhà
Chu Điểm này các ý kiến cũng thống nhất
Bốn là về việc Lão Tử và Khổng Từ có từng gặp nhau không và Khổng
Tử có từng hỏi Lão Tử về lễ không Vấn đề này gây nhiều tranh cãi nhất và đến nay vẫn còn tiếp tục tranh cãi Xung quanh đó có ba ý kiến:
Ý kiến thứ nhất của Diệp Thích, Tống Dật Danh, Đàm Giới, Phủ Tiền
Mục… cho rằng có hai Lão Tử, và Lão Tử viết “Đạo đức kinh” khác Lão Tử
giảng lễ cho Khổng Tử Ý kiến này chỉ có một số người đồng ý
Ý kiến thứ hai giải thích như sau: sách thời Chiến quốc có nhiều chỗ nói về điều này, không thể xem là sự bịa đặt được; Tư Mã Thiên là nhà Nho rất sùng bái Khổng Tử, là người rất có lương tâm, nếu không có tài liệu chắc
chắn chắc không đưa vào Sử ký, đưa vào nói sẽ làm giảm giá trị của Khổng
Tử Hơn nữa, trong bài tựa Thiên trạng Ni đệ tử (phần Liệt truyện), Tư Mã
thiên còn kể tên mấy người nữa mà Khổng Tử rất coi trọng, đó là Lão Tử ở nước Chu, Cừ Bá Ngọc ở nước Vệ, Án Bình Trọng ở nước Tề, Lão Lai Tử ở
Sở, Tử Sản ở Trịnh, Mạnh Công Xước ở Lỗ, 5 người này đều có thật, không
Trang 20lý gì Lão Tử không có thật Vậy, việc học lễ của Khổng Tử nơi Lão Tử là có
thật; mặt khác, Lễ ký là một bộ sách của Nho, những người biên tập như Hưu
Hướng, Đái Đức, Đái Thánh tất nhiên phải là những Nho gia thận trọng, thế
nhưng trong thiên Tăng tử vấn có ghi: Lão Tử với Khổng Tử có đi trợ tang ở
Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực Còn Dư Bồi Lâm cho rằng, Khổng Tử gặp Lão Tử hai lần, lần thứ nhất khi ông 34 tuổi, lần thứ hai khi ông 51 tuổi ở đất Bái
Ý kiến thứ ba cho rằng Lão Tử và Khổng Tử không gặp nhau với
những lý lẽ như sau: sách Chiến quốc có nhiều chỗ nói về việc vấn lễ nhưng
đều ở ngoại thiên, tạp thiên, những thiên đó đều không đáng tin vì không nằm trong những thiên chính của cuốn sách Câu Khổng Tử bảo Lão Tử như con rồng chỉ nên coi là một ngụ ngôn thôi Còn chuyện đi trợ tang ở Hạng Đảng, gặp nhật thực, điểm đáng nghi là Hạng Đảng ở đâu không ai biết; việc Khổng
Tử qua nước Chu nghiên cứu Lễ cũng chưa chắc đúng vì Nam Cung Kính Thúc cùng đi với Khổng Tử còn ít tuổi, không thể nào yết kiến vua được Hơn nữa, năm đó Khổng Tử mới được thăng quan nên rất bận việc, không thể đi
được; Lão Tử ngày đó đã nổi danh thì tại sao trong Luận ngữ lại không đề cập tới Lão Tử và chuyện Khổng Tử gặp Lão Tử Trong Luận ngữ chỉ có đoạn đầu, thiên Thuật nhi nói về Lão Bành, có người nói Lão Bành là bành tổ sống
7-800 năm là bầy tôi của vua Nghiêu, lại có người nói Lão Bành chính là Lão Đam, tức là Lão Tử Nhưng Bành không thể thành Đam được vì hai chữ rất
khác nhau; Lão Tử cực đoan, phản đối lễ Chương 38 sách Lão Tử có ghi
“Đạo mất rồi mới có đức, đức mất rồi mới có nhân, nhân mất rồi mới có nghĩa, nghĩa mất rồi mới có lễ Lễ là biểu hiện sự suy vi của trung tín (trung hậu thành tín), là đầu mối của sự hỗn loạn Như vậy Lão Tử đối lập với lễ, sao Khổng Tử lại phải sang Chu hỏi Lão Tử về lễ được Do đó, chuyện Khổng Tử gặp Lão Tử hỏi về lễ dù được nhiều sách ghi chép cũng không đáng tin; hơn
Trang 21nữa, khi thấy nhà Chu suy, Lão Tử bỏ đi, tới cửa quan, viên quan cai cửa là Doãn Hỉ yêu cầu ông viết sách để lại, ông viết xong rồi đi, không biết sau sống chết ở đâu, ra sao Doãn Hỉ là ai, nay không biết chắc dù có giải thích nhưng không rõ, còn cửa quan đó là cửa Hàm Cốc, cửa ngõ từ nước Chu qua nước Tần; mặt khác về tuổi thọ, hiện vẫn không biết chính xác năm sinh, năm mất nên không thể biết được tuổi thọ của Lão Tử Những lời đồn ông sống được 160, 200 tuổi… Tư Mã Thiên chỉ ghi lại cho đủ chứ không đáng tin Trước nay tồn tại hai phái, một phái cho rằng Lão Tử cùng thời với Khổng Tử nhưng lớn tuổi hơn Khổng Tử, một phái cho rằng Lão Tử sinh sau Khổng Tử
Tóm lại, nhiều điều về Lão Tử còn là những bí ẩn, chưa được làm sáng
tỏ, thậm chí không thể sáng tỏ nên đa phần thừa nhận ông là huyền bí, từ con
người đến học thuyết, tư tưởng Ngay trong “Đạo đức kinh”, ở chương 20, khi
tự họa chân dung để phân biệt với người khác, Lão Tử cũng đã khắc họa:
“Chúng nhân hi hi, như hưởng thái lao, như xuân đăng đài Ngã độc bạc hề kỳ vị triệu, Như anh nhi chi vị hài, luy luy hề, nhược vô sở quy Chúng nhân giai hữu dư Nhi ngã độc nhược di Ngã ngu nhân chi tâm dã tai! Độn độn hề Tục nhân chiêu chiêu Ngã độc hôn hôn Tục nhân sát sát Ngã độc muộn muộn Đạm hề kỳ nhược hải, liêu hề nhược vô chỉ Chúng nhân giai hữu dĩ, nhi ngã độc ngoan tự bỉ Ngã độc dị ư nhân Nhi quý thực mẫu” [46,
tr 112- 113]
Nghĩa là “Đại chúng hớn hở như được hưởng tế thịt bò, hay là như ngày xuân bước lên đài Một mình ta riêng đậu ở bến chưa có hình tướng, như đứa hài nhi chưa cười, loanh quanh thay như không biết về đâu Đại chúng đều có thừa
mà một mình ta thì như bỏ không ham nữa Ta là kẻ ngu sao! Ngu độn thay! Đại chúng có vẻ sáng tỏ soi mói Riêng ta như hôn mê Đại chúng xét nét, riêng ta tối tăm Phẳng lặng thay như mặt bể, phất phới thay như không ngừng Đại chúng đều có ý vào việc nọ việc kia, riêng ta thì ương mà khinh bỉ Riêng khác với mọi người, mà chỉ quy về sống nơi lòng mẹ” [37, tr 135]
Trang 22Như vậy, có nhiều ý kiến và kết quả nghiên cứu khác nhau, nhưng những quan niệm của Tư Mã Thiên có tính thuyết phục hơn cả, do đó trong luận văn này, chúng tôi sử dụng những quan niệm đó Theo đó Lão Tử có tên thật là Lý Nhĩ, còn gọi là Lão Đam, từng làm quan Thái sử, giữ kho sách của nhà Chu Lão Tử sống trong thời kỳ Đông Chu, thời kỳ loạn lạc triền miên và xảy ra nhiều biến động xã hội lớn lao trong lịch sử Trung Quốc
Ở Trung Quốc thời kỳ này, sản xuất khá phát triển, sự phân công lao động diễn ra hết sức mạnh mẽ, sản xuất hàng hóa, thương nghiệp nhộn nhịp, nhiều ngành nghề ra đời Kinh tế khởi sắc đòi hỏi có sự thay đổi về quan hệ sản xuất, về sở hữu, cách tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm Xã hội nảy sinh nhiều mâu thuẫn, điển hình là mâu thuẫn giữa nhà Chu ngày càng suy yếu và giai cấp quý tộc mới đang đại diện cho sức sản xuất mới và ngày càng khẳng định vị thế của mình trên chính trường Các tầng lớp lao động bị áp bức nặng nề bởi các tập đoàn phong kiến cũ và mới đang dùng nhiều thủ đoạn để thống trị xã hội Hàng ngàn cuộc chiến tranh do các thế lực phong kiến tiến hành để thực hiện mưu đồ tranh hùng xưng bá, vương đạo suy vi, các mối quan hệ xã hội từ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ đến anh – em đều xuống cấp trầm trọng
Cục diện xã hội phức tạp lại đem đến một hệ quả là nó tạo động lực cho
sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực của khoa học, hàng trăm triết thuyết đã ra đời, mỗi triết thuyết có những nét riêng song hầu như đều có một điểm chung: trước sự biến loạn của thời cuộc, “bách gia chư tử” đều muốn mưu cầu sự bình ổn xã hội từ những đề xuất của mình về cách trị nước, an dân, đề xuất những chủ trương, những mô hình xã hội để nhân dân được hưởng một cuộc sống thái bình Trong bách gia, Lão Tử và Đạo gia nói chung chiếm vị trí khá nổi bật với những quan niệm độc đáo về tự nhiên, sự vận hành của tự nhiên cũng như những chủ trương xã hội
Trang 23Những tư tưởng, quan niệm của Lão Tử, đặc biệt là tinh thần biện chứng - tinh thần biện chứng khiến ông được coi là nhà biện chứng xuất sắc nhất trong số các nhà triết học xuất sắc của Trung Quốc cổ đại, đương nhiên
là kết quả tư duy thiên tài của ông, nhưng nó cũng không thể không chịu ảnh hưởng của những quan niệm biện chứng mà một số triết gia tiền bối, hoặc cùng thời của ông đã đạt được Trong số đó trước hết phải kể đến những yếu
tố biện chứng tiềm tàng trong học thuyết Âm dương và Ngũ hành
Với thuyết Âm dương, “âm” và “dương” là hai thế lực đối chọi nhau trong thế giới vật chất, nhưng lại là điều kiện tồn tại của nhau Hai yếu tố này không thể tách rời nhau: trong dương có âm và ngược lại; âm dương luôn biến hóa, khi phát triển đến cùng cực thì quay trở lại mặt đối lập của nó (dương cực âm hồi, âm thịnh dương suy) Với thuyết Ngũ hành, năm yếu tố kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là năm yếu tố khởi nguyên của thế giới, tự chúng tồn tại,
tự chúng vận động và luôn tác động lẫn nhau theo tính chất “tương sinh”,
“tương khắc” để từ đó thế giới vận hành một cách nhịp nhàng, hợp lý
Nho gia được xem là học phái cùng thời Lão Tử, những quan niệm về chính trị, xã hội của Nho gia khá uyển chuyển với “nhân”, “lễ”, “chính danh” hướng tới sự rèn luyện nền tảng đạo đức của con người và xã hội Nho gia tích cực đề ra những chính sách “hữu vi” để nhằm xây dựng xã hội lý tưởng như thời Nghiêu, Thuấn Các triết gia cũng có khuynh hướng tìm khuôn mẫu cho xã hội từ những giai đoạn đã qua, cho đời xưa hơn đời nay … Tư tưởng Nho gia ảnh hưởng lớn đến toàn xã hội Trung Quốc và các trường phái triết
học khác, trong đó có Đạo gia Trong “Đạo đức kinh”, dù không trực tiếp
nhưng vẫn có sự phảng phất nhiều tư tưởng của Nho gia, mặc dù phần nhiều
nó tồn tại dưới hình thức bị Lão Tử phê phán trong tác phẩm
Xu hướng pháp trị lập luận một cách đơn giản và dứt khoát rằng, xã hội không ngừng diễn biến và phát triển, không thể cứ dùng mãi những lối cũ
Trang 24Cần phải tăng cường sức mạnh về kinh tế, quân sự, uy thế của người đứng đầu Những nhà Pháp gia như Quản Trọng (725-645 TCN), Tử Sản (?-522 TCN), Lý Khôi (455-395 TCN), Thận Đáo (370-290 TCN) v.v đã lý giải sự vận động xã hội khá thực tế, chủ trương kết hợp “thuật”, “thế”, “pháp”, những nhà tư tưởng đó xuất hiện trước hoặc cùng thời với Lão Tử, trở thành tiền đề cho những quan niệm biện chứng của Lão Tử hình thành và phát triển sâu sắc
Lão Tử cũng đắm mình trong rất nhiều thành tựu văn hóa ngay từ thời
cổ đại của đất nước Trung Quốc - một nền văn hóa lớn Những quan niệm về
tự nhiên, về các hiện tượng xã hội, sự vận hành các triều đại … đều đã được người Trung Quốc cắt nghĩa, trong đó có những quan niệm biện chứng ngẫu nhiên và không ít quan niệm có lý Điển hình của những giá trị đó là tác phẩm
Chu Dịch, được coi là tác phẩm lâu đời nhất mà các triết gia thời Lão Tử, kể
cả ông và Khổng Tử, Mạnh Tử … đều tâm đắc và kế thừa
Như vậy, tư tưởng biện chứng của Lão Tử chắc chắn là sự chắt lọc, kết tinh những yếu tố biện chứng phong phú, đa dạng về tự nhiên, xã hội mà nền văn hóa trung Quốc đã đạt được Lão Tử có những quan niệm và cách lý giải rất riêng của ông cho mọi vấn đề, mọi lĩnh vực mà ông đề cập đến, những quan niệm đó không phải là độc đạo, lập dị mà nó là sự phát triển ở một trình
độ đỉnh cao của các tư tưởng mà ông đã tiếp nhận, kế thừa Tính độc đáo của
Lão Tử và “Đạo đức kinh” chính là ở chỗ đó
Lão Tử là người đi chu du khắp thiên hạ, đọc nhiều, hiểu rộng nhưng lại giấu mình, kín tiếng Ông là một ẩn sĩ Ẩn sĩ là những người hiểu đời, hiểu đạo, tận tâm lo cho đất nước, giáo hóa mọi người, dù biết đạo của mình không ai theo nhưng vẫn cứ làm Ông cũng là một con người có tư tưởng siêu phàm, chán ghét danh lợi, vinh hoa, phú quý, những cái gọi là văn minh Lão Tử thích sống ẩn, khuất, đơn giản và khiêm tốn Những quan niệm nhân sinh của ông được nhiều người đón nhận trong điều kiện
Trang 25xã hội đương thời, thậm chí cả trong thời hiện đại Tinh thần biện chứng trong triết học của ông cho đến hiện nay vẫn không mất đi giá trị và vẫn là cảm hứng vô tận cho các thế hệ về sau
1.2 Khái quát về tác phẩm “Đạo đức kinh”
Theo những quan niệm phổ biến nhất, “Đạo đức kinh” (tiếng Trung:
道德經) là quyển sách do triết gia Lão Tử viết ra vào khoảng năm 600 TCN Theo truyền thuyết thì Lão Tử vì chán chường thế sự nên cưỡi trâu xanh đi ở
ẩn Ông Doãn Hỷ đang làm quan giữ ải Hàm Cốc níu lại "nếu ngài quyết đi ẩn
cư xin vì tôi để lại một bộ sách!", Lão Tử bèn ở lại cửa ải Hàm Cốc viết bộ
"Đạo đức kinh" dặn Doãn Hỷ cứ tu theo đó thì đắc đạo Do đó, “Đạo đức
kinh” thường được gọi là sách Lão Tử
“Đạo đức kinh” gồm có 81 chương với khoảng 5000 từ, chia làm 2 phần: Thượng Kinh và Hạ Kinh Thượng Kinh gồm 37 chương (chương 1 đến chương 37), bắt đầu bằng câu: "Đạo khả Đạo phi thường Đạo" Thượng Kinh tập trung luận về chữ Đạo nên được gọi là Đạo Kinh Hạ Kinh gồm 44
chương (từ chương 38 đến chương 81), bắt đầu bằng câu: "Thượng Đức bất
Đức thị dĩ hữu Đức" Hạ Kinh chủ yếu luận về chữ Đức nên được gọi là Đức
Kinh Nội dung các chương rất phong phú, phức tạp, không sắp xếp theo trật
tự Các chương đều ngắn gọn, có chương rất ngắn (chương 40 chỉ có 21 chữ), chương 20, 38 được xem là dài nhất cũng chỉ dưới 150 chữ
Dù chỉ gồm hơn 5000 chữ nhưng có lẽ là tác phẩm ngắn nhất mà có ảnh hưởng to lớn nhất trong lịch sử văn hóa phương Đông Điều độc đáo so với các kinh sách cổ điển khác là quyển sách này càng ngày càng nổi tiếng và
được nhiều người tìm đọc hơn Trong những năm vừa qua, “Đạo đức kinh” lại
tiếp tục đi vào thế giới tri thức và văn hóa phương Tây và đã có hơn 60 bản dịch khác nhau của tác phẩm sang Anh ngữ
Trang 26“Đạo đức kinh” xuất hiện từ hơn 2.500 năm trước đây Tuy nhiên, văn
bản cổ đã bị thất lạc từ lâu Văn bản cổ nhất là bản khắc trên núi đá vào năm
708 Hơn hai ngàn năm qua các học giả Trung Hoa đã không ngừng bàn thảo
về vấn đề văn bản “Đạo đức kinh”, vì vẫn thiếu một văn bản gốc đáng tin cậy
và đầy đủ Đầu thế kỷ XX, cuộc khám phá ra kho sách cổ điển lớn ở Đôn Hoàng cũng chỉ mang lại một số chương rời rạc chép vào năm 279 (TCN) Cho đến tháng 12 năm 1973, giới khảo cổ tìm ra ngôi mộ cổ thời nhà Hán ở thôn Mã Vương Đôi, Trường Sa, Hà Nam Trong số 51 tài liệu cổ quí giá tìm
lại được ở đây có 2 bản “Đạo đức kinh” được chép vào khoảng năm 190 trước
công nguyên Đây là văn bản cổ nhất, xuất hiện trước bản khắc trên núi đá cả
900 năm Bản văn cổ này đã trả lời nhiều thắc mắc mà hai ngàn năm qua các
học giả đã liên tục tranh luận Tuy nhiên, xung quanh cuốn “Đạo đức kinh”
của Lão Tử vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất
Có ý kiến cho rằng, “Đạo đức kinh” có lẽ viết ra lúc Khổng Tử còn sống vì trong sách Trang Tử có thuật lại việc hỏi Lễ của Khổng Tử, và trong
Lễ ký ở thiên “Tăng Tử vấn”, nhất là ở trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên cũng
đều có đề cập đến việc gặp gỡ của hai người Ngoài ra, trong nhiều quyển sách viết ra trước hoặc sau ngày chết của Khổng Tử (năm 479 TCN), người ta
thường thấy có trích nhiều đoạn văn trong “Đạo đức kinh” gồm có 1745 lời [Dẫn theo 3, tr 18] Như vậy, có thể cho rằng “Đạo đức kinh” được viết ra
vào khoảng cuối thế kỷ thứ V TCN
Ý kiến khác lại cho rằng “Đạo đức kinh” là một quyển sách tạp nham
“phỏng theo thuyết Âm dương, lượm lặt những chỗ hay của Khổng học và Mặc học để dung hợp với những điều cốt yếu của Danh gia và Pháp gia” [Dẫn theo 3, tr 18], hoặc về sau phỏng theo sách của Trang Tử, các sách binh pháp
và rút tỉa những tư tưởng về thuyết ngu dân cuối thế kỷ thứ IX mà thêm vào…
Và chính vì vay mượn tư tưởng của nhiều trường phái khác nhau nên có
Trang 27những ý tưởng mâu thuẫn Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ sẽ thấy “Đạo đức kinh”
là tác phẩm do một người viết ra, vì vậy về phương diện tư tưởng cũng như văn chương có sự thống nhất và hình thành một hệ thống tư tưởng chặt chẽ
Về thuyết cho rằng sách này được viết ra sau Trang Tử thì là việc phi lý, khó
có thể tin được vì sách của Trang Tử và Hàn Phi Tử là những sách giải thích
tư tưởng của Lão Tử rất rõ ràng đến từng chi tiết
Ý kiến thứ ba cho rằng “Đạo đức kinh” rất có thể viết ra vào khoảng
giữa từ Khổng Tử (551 - 479 TCN) và Mặc Tử (480 - 400 TCN) đến Trang
Tử (355 - 275 TCN) và Mạnh Tử (372 - 289 TCN), nghĩa là khoảng cuối thế
kỷ V và đầu thế kỷ IV TCN là vì Khổng Tử và Mặc Tử không hề nói đến tên Lão Tử, còn Lão Tử, trong nhiều đoạn văn, lại mâu thuẫn với hai nhà tư tưởng trên Những danh từ như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Nho gia đều bị Lão
Tử chỉ trích chê bai, nhất là ở các chương 18, 19 và 38 Cũng như nếu sách của Mặc Tử đề cao “thượng hiền” thì Lão Tử trái lại viết “bất thượng hiền” ở
chương thứ 3 Vì vậy, giả thuyết cho rằng “Đạo đức kinh” viết vào thời Chiến
quốc, khoảng 460 - 380 TCN, nghĩa là cuối thế kỷ V, đầu thế kỷ IV TCN có nhiều cơ sở để tin hơn cả vì trong sách không thấy ghi tên người hay một việc
gì có thể dùng làm đối chứng
Xét về hình thức, “Đạo đức kinh” không giống các tác phẩm khác Nó
gồm những mảnh tư tưởng vụn vặt gộp lại, và được viết theo lối văn tối cổ, mỗi chương là một bài thư phú nho nhỏ, đặt theo vần và đối nhau Về nội dung, tác phẩm lộn xộn, không mạch lạc, không có kết thúc, nhiều đoạn mâu thuẫn hoặc không ăn nhập gì với thuyết của Lão Tử Ví dụ trong toàn bộ cuốn sách chỉ có 1 chương 42 nói đến hai chữ âm - dương, Phùng Hữu Lan đã căn
cứ vào đó cho rằng “Đạo đức kinh” ra đời sau Khổng Tử Trong tác phẩm có
hai chương 16 và 25 có chữ “Vương”, xem ra không phù hợp với học thuyết Lão Tử, có thể do người sau thêm ý kiến riêng của mình vào Có khi cùng
Trang 28một từ được hiểu với nghĩa khác nhau, chẳng hạn chữ “thánh”, có lúc được xem là người hiểu đạo, có ích cho đời, có lúc lại được hiểu là người đa trí, nguy hiểm
Trong 81 chương của “Đạo đức kinh”, chỉ khoảng 50 chương với 3000
từ là quan trọng, còn các chương khác chỉ là sự lặp lại, hoặc là bổ sung thêm ý của chương trước, các chương sắp đặt không theo trật tự Tuy vậy, học thuyết Lão Tử được coi là học thuyết hoàn chỉnh nhất, hệ thống nhất trong các hệ
thống triết học đương thời Sự hoàn chỉnh của “Đạo đức kinh” thể hiện ở chỗ,
các nội dung có sự gắn bó, hỗ trợ và bổ sung cho nhau: vũ trụ quan làm cơ sở cho nhân sinh quan và chính trị quan Các nội dung này đều được trình bày sâu sắc Tính hệ thống thể hiện ở chỗ phần nhân sinh quan và chính trị quan chỉ là cái tất nhiên (kết quả) của phần vũ trụ quan Nó gắn bó với nhau mật thiết: câu trên hoặc phần trên nói về vũ trụ quan thì câu dưới, phần dưới nói
về nhân sinh quan và chính trị quan Điều này được thể hiện trong toàn bộ tác phẩm, thậm chí ngay trong mỗi chương
Nghiêm Linh Phong, một học giả người Trung Quốc hiện đại đã thống
kê các thư mục sách viết về Lão Tử, cho thấy ngay từ thời Hậu Hán đến cận đại đã có 283 cuốn chú giải và dịch giải sách Lão Tử Ở Nhật cũng có 192
cuốn, ở Anh, Pháp, Đức cũng rất nhiều học giả nghiên cứu “Đạo đức kinh”,
số sách nghiên cứu, và dịch giải cũng phải lên tới vài trăm cuốn Nếu kể tất cả những cuốn bàn luận về học thuyết của Lão Tử khi cũng phải lên tới 1.600 hay 1.700 cuốn Ở Việt Nam, những thập kỷ qua có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việc dịch, giải sách Lão Tử, trong đó có những bản đã được công bố như của Ngô Tất Tố, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê… Trong
luận văn này, chúng tôi dựa vào tác phẩm “Lão Tử, Đạo đức kinh” do Nguyễn
Duy Cần dịch và bình chú, Nhà xuất bản Văn học năm 1991
Trang 29Tóm lại, có nhiều quan điểm không thật thống nhất về tác phẩm, nhưng
tất cả những nhà nghiên cứu, những người từng đọc, từng đề cập đến “Đạo
đức kinh” đều thừa nhận tác phẩm dù ngắn gọn nhưng đã thể hiện được một
hệ thống triết học hoàn chỉnh và sâu sắc nhất trong triết học giai đoạn tiên Tần, thể hiện những tư tưởng triết học uyên thâm của Lão Tử, có những giá trị to lớn
Những khó khăn trong việc nghiên cứu “Đạo đức kinh” của Lão Tử:
Sách của Lão Tử truyền lại đời nay chỉ có quyển “Đạo đức kinh” với
81 chương chia làm hai thiên, tuy có sự thống nhất và khá chặt chẽ về nội dung, nhưng về hình thức khá lộn xộn Trong tác phẩm có nhiều đoạn trùng lắp, nhiều câu trái ngược về nghĩa, có câu dường như không quan hệ gì với học thuyết Lão Tử Các nhà nghiên cứu đều thống nhất sở dĩ có điều đó là do người đời sau sao đi chép lại đã làm mất tính hệ thống, hoặc nhiều người tự tiện bổ sung, thêm vào tác phẩm những ý kiến của mình
Hơn nữa, tác phẩm có lối diễn đạt ngắn gọn, súc tích, nhiều hình tượng, nhiều ẩn dụ, nhiều câu đạt trình độ khái quát cao như những câu châm ngôn,
để “luận” ra được những nội dung cần có sự nghiên cứu chu đáo, thận trọng
và phải đặt các tư tưởng, quan niệm trong toàn bộ logic triết học của Lão Tử Nhiều tư tưởng của Lão Tử trong tác phẩm mang tầm vóc “siêu tư tưởng”, hết sức thâm sâu, không dễ có thể hiểu được Chẳng hạn có những chỗ ông diễn đạt theo cách mà với tư duy thông thường, nó dường như là vô lý: “cực đầy dường như không, cực thẳng dường như cong, cực khéo dường như vụng, thượng đức là bất đức” Những quan niệm này thực ra là những yếu tố biện chứng thiên tài mà Lão Tử đã quan sát tinh tế tự nhiên và xã hội, nghiền ngẫm
kỹ càng mà khái quát ra, xét về trình độ, những tư tưởng biện chứng này của ông chẳng hề thua kém những tư tưởng biện chứng xuất sắc của phương Tây, chẳng hạn tư tưởng “Cái khẳng định đồng thời là phủ định” của Xpinoda, triết gia Hà Lan thế kỷ XVII
Trang 30Cũng chính do hình thức rất cô đọng của nó, những quan niệm, tư tưởng của Lão Tử thường dẫn đến những cách giải thích khác nhau Chẳng hạn, ngay với phạm trù “Đạo”, một trong những phạm trù trung tâm của tác phẩm, những người theo quan điểm duy vật có thể giải thích “Đạo” là quy luật khách quan của thế giới, nhưng chủ nghĩa duy tâm cũng có thể giải thích
“Đạo”như một Thượng đế siêu nhiên nào đó
Các tài liệu ghi chú, giải thích cho “Đạo đức kinh” rất nhiều, nhưng bản
thân các cuốn “chú giải” này cũng mâu thuẫn nhiều với nhau, vì nó chịu ảnh hưởng rõ nét của yếu tố chủ quan của các tác giả Một học giả đời nhà Thanh nhận xét: “Đời nào (Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh - là
những xã hội kế tiếp sau nhà Chu) cũng viết nhiều sách chú giải “Đạo đức
kinh”, tuy phong phú nhưng “phần đông lạc chạc mâu thuẫn, chưa nắm vững
yếu chỉ của Lão học và quá vụ về hình thức, nhất là cái chú giải hiện đại như
Hồ Thích, Trần Trụ… Bởi vậy có người cho rằng chú giải càng nhiều càng giết mau Lão Tử” [Dẫn theo 3, tr 30]; lại có nhiều sách viết về Lão Tử nhưng
đã có sự “cải biến” dưới dạng tôn giáo (đạo giáo), biến Lão Tử thành một
nhân vật siêu nhiên như Lão Tử Tây Thăng kinh, Lão Tử Tôn nhất kinh, Lão
tử Giới kinh, Lão Tử tu thân kinh, Lão Tử trung kinh…, những sách đó đều là
những sách của đời sau, chứa đựng những quan niệm không phù hợp với logic tư tưởng của Lão Tử, chắc chắn không phải là sách thật của Lão Tử
Ngoài ra còn những sách “Giải Lão thiên” của Hàn Phi Tử, Khảo cứu
triết học Lão Tử của các nhà triết học lớn Trung Quốc thế kỷ XX có rất nhiều như Lương Khải Siêu, Hồ Thích, Phùng Hữu Lan, La Căn Trạch, Tấn Nguyên, Uông Trung, Cao Hanh, Quách Mạt Nhược… nhưng họ lại giải thích
rất khác nhau về “Đạo đức kinh” Phần nhiều trong số họ giải thích Lão Tử
trên cơ sở cắt nghĩa từng chữ, từng câu chứ không hiểu được bản chất, ý tưởng của tác giả
Trang 31Tóm lại, nghiên cứu “Đạo đức kinh” gặp nhiều khó khăn, chính vì vậy, bản thân Lão Tử và tư tưởng trong “Đạo đức kinh” của ông còn nhiều điểm
chưa rõ ràng Trong luận văn này, chúng tôi đưa ra những quan niệm, nội dung tư tưởng của Lão Tử và trong tác phẩm được công nhận phổ biến nhất
Tiểu kết chương 1
Là một nhân vật vốn được tôn làm “Thái thượng lão quân”, cuộc đời và
sự nghiệp của Lão Tử có nhiều chi tiết, yếu tố được thêm thắt, thêu dệt cho trở nên huyền bí Vì vậy cho đến nay, dù có khá nhiều công trình nghiên cứu
về Lão Tử và “Đạo đức kinh” nhưng những thông tin, tư liệu và hiểu biết về
tác giả, tác phẩm này vẫn còn chưa thống nhất và là ẩn số hấp dẫn những người nghiên cứu
Dù vậy, điều không thể phủ nhận là những ảnh hưởng to lớn, mạnh mẽ
của Lão Tử và “Đạo đức kinh” đến đời sống xã hội Trung Quốc đương thời,
đến các quốc gia láng giềng của Trung Quốc trong đó có Việt Nam, thậm chí
xu hướng quay trở lại nghiên cứu Lão Tử và “Đạo đức kinh” ở một số quốc
gia phương Tây trong những năm gần đây khá nở rộ Tất cả những điều đó khẳng định, Lão Tử là một nhà tư tưởng, một triết gia có ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại nói riêng, lịch sử triết học
phương Đông nói chung “Đạo đức kinh”, tác phẩm để đời của ông được coi
là cuốn sách hấp dẫn đối với giới nghiên cứu và cả với những người hoạt động thực tiễn
“Đạo đức kinh” chứa đựng những tư tưởng triết học đạt đến tầm “tri
bất ngôn, ngôn bất tri” của Lão Tử, trong đó có những tư tưởng biện chứng sâu sắc
Trang 32Chương 2 NỘI DUNG MỘT SỐ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CƠ BẢN TRONG
TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA LÃO TỬ
2.1.1 Tư tưởng biện chứng trong học thuyết “Đạo”
Nguyễn Đăng Thục cho rằng “Lão Tử là một nhà triết học đầu tiên của Trung Quốc đã đem danh từ đạo để chỉ cho thực thể tuyệt đối Mở đầu, ông nói ngay về sự bất đắc dĩ của mình phải dùng đến chữ “đạo” để chỉ cho thực tại, cái thực tại tuyệt đối mà tri thức khái niệm không thể nào đạt tới được Cái thực tại ấy, ông đã cảm thông trong một trạng thái thuần túy kinh nghiệm của ý thức siêu thần thì ông thấy khó mà truyền bá ra bằng ngôn ngữ diễn dịch” [37, tr 136] Chính vì vậy, để hiểu hết nội dung và ý nghĩa của học thuyết đạo và những tư tưởng biện chứng trong đó không phải điều dễ dàng
Có thể khái quát ở một số nội dung cơ bản sau đây:
2.1.1.1 Tư tưởng biện chứng trong phạm trù “Đạo”
Trước hết là quan niệm về Đạo Trong triết học Lão Tử, “Đạo” là
phạm trù cơ bản nhất Nó xuyên suốt những quan điểm trong học thuyết của
ông về vũ trụ, con người và các vấn đề chính trị - xã hội Ở tác phẩm “Đạo
đức kinh”, Lão Tử đã sử dụng chữ “Đạo” gần bảy chục lần với nhiều ý nghĩa
khác nhau Khi thì Lão Tử coi “Đạo” là “vô” tức là không Nó vô sắc, vô thanh, vô hình nhưng không phải là hư vô, là không có gì “Vô” là để đối lập với hữu “Đạo” của Lão Tử là “nhìn không thấy gọi là Di, nghe không được
Trang 33gọi là Hi, nắm bắt không thể gọi là Vi Ba cái đó “Di”, “Hi”, “Vi” tức là vô sắc, vô thanh, vô hình, truy đến cùng cũng không biết được gì, chỉ thấy “trộn lộn làm một thôi” [46, tr.89]
Có khi Lão Tử lại dùng “Đạo” với “vô danh” (không có tên) theo quan niệm của ông “Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải đạo vĩnh viễn bất diệt, tên mà có thể đặt ra mà gọi nó thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến” [46, tr.35] Ông coi đạo là cái gì không cụ thể, rõ ràng và vĩnh viễn nên nó
“vô danh” tuy ông vẫn phải bất đắc dĩ gọi nó là “Đạo”, là “phác” nghĩa là chất phác, thuần phác, tự nhiên, ban đầu… “Đạo thường vô danh, phác” nghĩa là đạo vĩnh viễn không có tên, nó chất phác [46, tr 165] Ngoài ra, đạo được coi
là bản nguyên của vũ trụ, trật tự quy luật của tự nhiên Lão Tử còn thường gắn “Đạo” với chữ “Thường” (thường đạo) để chỉ sự tồn tại vĩnh viễn của Đạo, gắn “Đạo” với chữ “Đại” (lớn) để chỉ sự to lớn, rộng khắp của “Đạo”
“Đại Đạo phiếm hề” [46, tr.174] nghĩa là đạo lớn tràn lan khắp cả…
Có thể nói, “Đạo” trong học thuyết Lão Tử là một phạm trù được sử dụng với nhiều nghĩa hết sức phong phú, huyền bí Dường như thế mới có thể diễn tả được tư tưởng cao siêu của Lão Tử về tất cả các vấn đề mà ông bàn tới Đề cập đến tư tưởng biện chứng trong học thuyết của Lão Tử mà tập
trung nhất trong “Đạo đức kinh” thì phải xuất phát từ phạm trù “Đạo”
Nếu biện chứng thông thường được hiểu là sự tác động, vận động, biến đổi, phát triển theo quy luật của thế giới, của các sự vật, hiện tượng, các quá trình khách quan thì trong phạm trù “Đạo” của Lão Tử đã hàm chứa một tư tưởng biện chứng thật thâm sâu về những gì ông thấy và bàn đến Theo Lão
Tử, “Đạo” gắn liền với “sinh thành”, “nuôi lớn”, “dưỡng dục”, “lan tỏa”, “trở về” rồi lại “sinh ra” của các sự vật “Đạo” không độc lập, bất biến, không thay đổi “Đạo” của Lão Tử là sự vận động, biến đổi thường xuyên, liên tục, vô cùng, vô tận Mặc dù còn mang tính “mơ hồ”, “cảm tính” Học thuyết Lão Tử
Trang 34như là một sự chiêm nghiệm, suy ngẫm qua phạm trù “Đạo” nhưng đó lại là
sự cảm nhận rất biện chứng về thế giới, vũ trụ, con người và xã hội
Hầu như mỗi nhà triết học cổ đại đều có một thuyết riêng của mình về
vũ trụ Soạn giả Kinh dịch cho trời đất, vạn vật đều do âm dương tạo thành
Đức Phật khẳng định thế giới tự nó tạo thành nó theo luật nhân – duyên Ở châu Âu, Xôcrát và Platôn cho vũ trụ từ “ý niệm” mà ra v.v Đối với Lão Tử, nguồn gốc của vũ trụ là “Đạo”, hiểu được “Đạo” là hiểu được vũ trụ, trời đất, vạn vật
Trong học thuyết của Lão Tử, quan điểm về “Đạo” được hiểu theo nghĩa: “Đạo” là bản nguyên của sự vật, tất cả từ “đạo” mà ra và lại trở về với nguồn cội là “đạo”; “đạo” là cái vô hình, hiện hữu là cái “có”, song “đạo” và hiện hữu không thể tách rời nhau Đạo là cái bản chất, còn hiện hữu là cái biểu hiện của đạo Bởi vậy, đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại, là nguyên
lý vận hành của mọi hiện hữu Nguyên lý ấy chính là “đạo pháp tự nhiên”
Thông thường “đạo” được người Trung Quốc quan niệm là “đường đi”,
là “lẽ phải”, là “chủ nghĩa”, là “đạo lý”, “đạo đức” Ở đây, vẫn từ cơ sở quan niệm đó, Lão Tử đã mượn chữ “Đạo” để chỉ một yếu tố bản nguyên vô hình,
vô ảnh, nó là nguyên thủy của trời đất, vạn vật Chữ “Đạo” được sử dụng với ngầm ý là đúng đắn, hợp với lẽ phải Lão Tử viết “Có một vật hỗn độn mà thành, có trước cả trời đất, “hữu vật hỗn thành tiên thiên địa sinh”, vừa trống không vừa yên lặng, đứng yên một mình mà không biến cải, trôi đi khắp mọi nơi mà không thôi, có thể là mẹ đẻ của thiên hạ” [46, tr.135] Vì không biết gọi nó là gì nên gượng đặt tên là Đạo Đạo là một vật có thật Nghĩa là ông ngờ rằng trước nó còn có cái gì nữa mà ông không quan niệm nổi nó ra sao Không biết nó là con ai nhưng có lẽ nó có trước thượng đế Như vậy, Lão Tử bác bỏ Trời (thượng đế) sinh ra vạn vật
“Đạo” là một vật không tên, tên của nó là “không tên” Không tên là tên của một vật Vật đó có tên là không tên để phân biệt với các vật khác có
Trang 35tên Kỳ thực, cái vật nguyên thủy sinh ra trời đất là cái vật không tên Đạo là cái tên dùng tạm vậy thôi vì không thể tìm được một cái tên nào thích hợp và ngay cái “bản nguyên của vũ trụ” đó cũng không thể diễn tả được nên Lão Tử
mở đầu “Đạo đức kinh” bằng câu “Đạo khả đạo, phi thường đạo Danh khả
danh, phi thường danh” [46, tr.33] Nghĩa là, Đạo mà có thể diễn tả được rõ ràng thì không phải là đạo vĩnh viễn bất biến Tên mà có thể đặt ra cho mọi vật để gọi nó thì không phải là tên vĩnh viễn bất biến
Đạo có những tính chất và đặc trưng của nó Đạo là cái vừa „có”, vừa
“không” Thường lúc thì không để cho người ta trông thấy cái ảo diệu của nó, thường lúc thì có để người ta thấy được cái phạm vi giới hạn của nó
Đạo huyền diệu vô cùng, lúc có thể có lúc có thể không nhưng kết quả đều là một, vì thế, Lão Tử nói “Hai cái ấy tuy khác nhau nhưng đều là một nơi
mà ra, đều là cái huyền diệu, huyền diệu đến mấy tầng, và là cái cửa (cái nguồn gốc) của tất cả mọi cái huyền diệu khác”
Đạo có ba đặc trưng: trông không thấy, nghe không thể, nắm bắt không được “Thị chi bất kiến, Thính chi bất văn, đoàn chi bất đắc” Ba đặc trưng ấy Lão Tử đặt tên là di - hi - vi (vô sắc, vô thanh, vô hình) Di - hi - vi không thể phân tách mà tra xét rõ ràng, nên phải hợp lại làm một, ở trên thì không sáng,
ở dưới thì không tối,… nó thấp thoáng mập mờ Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi [46, tr 88] Chương 21 ông viết thêm “Đạo là cái
gì chỉ mập mờ thấp thoáng, thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng, mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vạn vật, nó thâm viễn tối tăm mà bên trong có cái tinh túy, tinh túy đó rất xác thực và rất đáng tin” [46, tr 121], tức
là vừa có vừa không có
Lão Tử giải thích về nghĩa bản thể của “Đạo” Lão tử gọi “Đạo” - bản thể của vũ trụ là vật: đạo chi vi vật [46, tr.118], hữu vật hỗn thành [46, tr 135] Vi vật, hữu vật tức là cái gì đó Chữ vật ở đây không nên hiểu như cái bàn, cái ghế, bông hoa… mà chỉ hiểu là “một cái gì đó” “Cái gì đó” (đạo)
Trang 36mênh mông, thâm viễn, tối tăm, không sáng, không tối, thấp thoáng, mập mờ, hỗn tạp nhưng “cái gì đó” (đạo) lại vô sắc, vô thanh, vô hình nên không thể thấy được Nó là vật thì nó phải là hữu nhưng nó vô sắc, vô thanh, vô hình thì
nó lại là vô Vậy, đạo tựa như có, lại tựa như không Bảo là không thì không được vì nó là vật hỗn độn mà thành, nó lại có tĩnh; bảo là có thì sắc, thanh, hình của nó là gì? Không biết, chỉ có thể bảo nó là mập mờ, thấp thoáng… tức
là tựa như có lại tựa như không, ở giữa có và không Nó thật huyền bí
Trong chương 1, Lão Tử viết “Không là gọi cái bản thủy của trời đất
Có là gọi mẹ sinh ra muôn vật” [46, tr.33], cũng là để diễn đạt ý tựa như có, tựa như không, vừa không vừa có, vừa có vừa không Nó là không xét về mặt huyền diệu, nó là có xét về mặt sinh hóa
Vậy, đạo của Lão Tử là bản nguyên của vũ trụ và cũng là toàn thể vũ trụ, vạn vật trong vũ trụ chỉ là biểu hiện những trạng thái khác nhau của đạo
mà thôi
Quan niệm về đức - sự cấu tạo, hình thức của vũ trụ
Bàn đến tác dụng của “Đạo”, Lão Tử cho rằng, bản thể của đạo là huyền diệu, mà dụng của nó là vô cùng vì nó sáng tạo ra vạn vật Vạn vật nhờ
nó mà sinh “vạn vật thị chi nhi sinh nhi bất từ” [46, tr.174] Nhưng nó sinh ra vạn vật bằng cách nào thì điều này chính Lão Tử cũng mù mờ Có chỗ Lão Tử cho rằng “Đạo vốn không hề làm gì song không việc gì mà nó không làm
“Đạo thường vô vi, nhi vô bất vi” Có chỗ ông lại quan niệm rằng “Đạo lớn giống như làm nước lan tràn có thể khắp cả bên tả bên hữu, muôn vật trông cậy vào nó mà sinh ra…” Có chỗ Lão Tử lại giải thích rằng “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra muôn vật” [46, tr.210] nghĩa là Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật Vạn vật đều cõng âm
mà ôm dương, điều hòa bằng “khí trùng hư”
Vậy, một, hai, ba và khí trùng hư là gì? Có nhiều ý kiến khác nhau về
“một” Có người cho Đạo là không, không sinh ra có, vậy một là có Cũng có
Trang 37người cho Đạo là vô cực, vô cực sinh ra thái cực, vậy một là thái cực Có người cho đạo là tổng nguyên lý, lý sinh ra khí, vậy khí là một… Còn “hai” ai cũng đồng ý là âm - dương vì vạn vật cõng âm ôm dương Còn “ba” là “khí trùng hư”, do âm dương giao nhau mà sinh ra
Chương 4, Lão Tử viết “Đạo là chúa tể của vạn vật” [46, tr.51] Chương 25 ông viết “Đạo làm phép tắc cho trời, đất, người, vạn vật” [46, tr
136 – 137] Tóm lại, Đạo là cái gốc sinh ra vạn vật nhưng làm cho mọi vật tồn tại và trưởng thành là ở Đức
Lão Tử bàn tiếp về tác dụng của “Đức”: Đức là sự trưởng thành của mọi vật Chương 51 Lão Tử viết “Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc bồi dưỡng nuôi lớn thành thục, che chở mỗi vật khiến nó thành hình, hoàn cảnh, khí hậu, thủy thổ khiến nó thành vật Đạo chỉ có công sinh ra vạn vật thôi còn nuôi dưỡng, che chở cho mọi vật trưởng thành là Đức Vì thế, muôn vật phải tôn Đạo quý Đức” [46, tr.245-247] Cần chú ý, chữ Đức ở đây được Lão Tử dùng với một nghĩa mới, khác với chữ đức trong Nho giáo: đức nhân, đức tín, đức trung, đức hiếu… Theo Lão Tử, sau khi đạo sinh ra vạn vật còn bao nhiêu công việc thuộc về vạn vật còn lại đều là công việc của Đức Đức của Lão Tử
là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ, vạn vật
Quan niệm về mối quan hệ Đạo - Đức
Lão Tử cho rằng, “Đạo” đi với “Đức” “Đức” là thể hiện của “Đạo”
“Đạo sinh chi, đức súc chi” [46, tr 244], nghĩa là “Đạo sinh ra vạn vật Đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục, che chở mỗi vật…” Đức là một phần của đạo và luôn theo đạo Những biểu hiện của Đức lớn là tùy ở Đạo
“Khổng đức chi dung, duy đạo thị tòng” [46, tr.118] Có thể hiểu rằng Đức là một phần của Đạo Khi chưa biểu hiện ra trong mọi vật thì là Đạo Khi đã biểu hiện ra rồi thì phần biểu hiện trong mỗi vật là Đức Mỗi vật đều có Đức
mà Đức của bất kỳ vật nào cũng từ Đạo mà ra, là một phần của Đạo nên Đức nuôi lớn mỗi vật vẫn luôn tùy theo đạo
Trang 38Có nhiều ý kiến khác nhau về quan niệm này Có ý kiến cho Đức là tác dụng của Đạo, có ý kiến cho Đức là tính năng động của Đạo, có ý kiến lại cho Đức là nguyên lý của mỗi vật, còn Đạo là tổng nguyên lý của mọi vật… Dù quan hệ cụ thể giữa Đạo và Đức còn có ý kiến khác nhau song vẫn có thể xem Đạo là vật chất còn Đức là sự vật, thông qua các sự vật, hiện tượng trong thế giới mà thấy được vật chất tồn tại là khách quan
Khái quát lại, “Đạo” trong quan niệm của Lão Tử là một quyền năng rất lớn bao trùm thế giới “Đạo” có sức mạnh lan tỏa khắp vũ trụ, “Đạo” luôn vận động không ngừng, chuyển hóa thành vạn vật Vạn vật sinh ra từ Đạo rồi lại quay trở về với Đạo “Muốn hiểu vũ trụ luận của Lão Tử, chúng ta phải tưởng tượng một cái không gian giới hạn, vô danh, vô hình, nhưng có chứa chất sinh khí gọi là đạo Bắt đầu tạo thiên lập địa thì đạo ngưng kết thành vạn vật Vạn vật sống chết rồi lại trở về với đạo” [43, tr.34]
2.1.1.2 Tư tưởng biện chứng trong triết lý “vô - hữu”
Trong “Đạo đức kinh”, tư tưởng biện chứng trong triết lý vô - hữu của
Lão Tử được thể hiện khá độc đáo
Quan niệm về “vô”
Một là, về vị trí, chữ “vô” trong học thuyết Lão Tử có một vị trí rất
quan trọng và có một triết lý rất sâu xa “vô” là bản nguyên của vũ trụ - trời đất Nó là khởi đầu nhưng cũng là kết thúc một giai đoạn, một quy trình: bắt đầu từ vô rồi lại trở về với vô
Hai là, về ý nghĩa, chữ vô không có nghĩa là hoàn toàn không có gì, trái
hẳn với hữu, như thể vô vẫn có nghĩa là hữu, là có Vô của Lão Tử chỉ là cái không bề ngoài, đối với quan năng của người ta Vô là vô sắc, vô thanh, vô hình của đạo Vô đối với khả năng nhận thức của con người Vô có tính huyền diệu, nó sinh ra hữu rồi lại trở về vô, nên vô và hữu là quan hệ tương sinh, tương thành Đạo có lúc hữu, lúc vô
Trang 39Chữ vô còn có nghĩa là không gian, là khoảng trống Để giải thích công dụng của vô, Lão Tử đã đưa ra nhiều ví dụ tài tình “Ba mươi sáu cái nan hoa cùng quay vào trục bánh xe, giữa có khoảng trống của nó làm nên công dụng của xe Nặn đất sét để làm chén bát chính nhờ khoảng trống ở trong chén bát mời dùng được Trổ cửa để làm nhà, giữa có khoảng trống của nó, có khoảng trống ấy mới có công dụng của cái nhà” [46, tr.76]
Trái lại, “bánh xe không có khoảng trống ở giữa không gọi là bánh xe, bát chén không có khoảng trống ở giữa không gọi là bát chén, nhà không có khoảng trống ở trong không gọi là ngôi nhà” [46, tr.76] Như vậy, vô là không, không mà lại có, có là có cái khoảng không nên nó có dụng, do đó vô
mà vẫn có dụng
Vương An Thạch, nhà tư tưởng lớn đời Tống của Trung Quốc phản đối
tư tưởng trên của Lão Tử Ông cho rằng công dụng của bánh xe tuy ỏ chỗ trống giữa 36 cái nan hoa nhưng ở ngoài còn có cả vành Công dụng của chén bát là khoảng trống của nó nhưng còn phải có cái vỏ xung quanh Công dụng của nhà là khoảng trống bên trong nhưng phải có tường, vách, nền, mái… Như vậy công dụng của nó là ở cái có, không ở cái không
Vì sao Lão Tử coi trọng “vô” còn Vương An Thạch coi trọng “hữu”? Quan niệm nào có lý hơn? Để lý giải cần đứng trên quan điểm lịch sử - cụ thể: Lão Tử sống trong thời loạn, thấy người ta càng cứu loạn thì càng loạn nên ông chủ trương vô vi, do vậy mà coi trọng “vô” Vương An Thạch sống trong thời Trung Hoa suy nhược, muốn cứu nguy cho quốc gia phải tăng quyền lực cho triều đình nên ông chủ trương hữu vi, do vậy mà trọng “hữu” Như vậy, các quan niệm đó đều là những quan niệm hợp lý trong điều kiện tồn tại xã hội của chúng
Mặt khác, “Đạo” của Lão Tử là hữu vô tương thành nghĩa là phải có cả hai: có - không, không - có, vô không thuần vô Nhưng Lão Tử vì lấy vô làm gốc nên khuyên con người vô vi, vô ngôn, vô dục, vô sự…[46, tr.276]
Trang 40Chữ vô của Lão Tử vừa tuyệt đối, vừa tương đối Vô tuyệt đối thì nó tồn tại vĩnh viễn, nó im lặng, trống không, đứng một mình, không thay đổi, vận hành khắp vũ trụ, là vô bản thể Vô tương đối thì vô quan hệ với hữu Trong quan hệ đó, nếu nói đến bản nguyên (bản thể) của vũ trụ thì Đạo là vô, còn nói đến căn nguyên của vũ trụ (mẹ) thì đạo là hữu Khởi đầu là vô, từ vô sinh ra hữu, hữu sinh ra vạn vật rồi chuyển động, biến đổi trở thành vô “Vật cùng tắc phản”, “vật cực tắc biến” Lão Tử cũng đưa ra những ví dụ tiêu biểu
về vô mà hữu để giải thích Giữa trời đất có khoảng không bao la có “ông bể”
mà vạn vật vận động sinh sôi nảy nở Vô là không nhưng vô cùng là hữu tức
là có, có cái không có do vậy mà có dụng, dụng là hữu dụng Vô là khoảng không, “vô quang năng” Vô và hữu không có gì trái ngược hoàn toàn mà tương sinh tương tác Đây là tư tưởng biện chứng thật đặc sắc của Lão Tử
Quan niệm về danh
Danh và thực là một trong những nội dung quan trọng trong triết học Một số triết gia cổ đại phương Tây đã giải quyết nội dung này ở một mức độ nhất định Đến thời kỳ phong kiến nó được phát triển mạnh mẽ trở thành hai trường phái triết học đối lập nhau, đấu tranh với nhau (phái duy danh và phái duy thực)
Khổng Tử cũng đã bàn tới danh và thấy danh có một vị trí quan trọng
nên đề xướng thuyết chính danh Nhưng nếu coi “Đạo đức kinh” là tác phẩm
có trước đời Khổng Tử thì Lão Tử có thể là người đầu tiên bàn đến danh và thực Với Lão Tử, danh và thực có quan hệ đến thuyết vũ trụ, nhân sinh và chính trị, truy nguyên cuối cùng là “Đạo” Quan niệm của ông được thể hiện đầy đủ trong tác phẩm khi ông viết: “Tuy là mập mờ thấp thoáng ở trong vẫn
có vật chất, tuy là hỗn độn mù mịt ở trong vẫn có tinh túy, cái tinh túy ấy rất thật Từ xưa đến nay danh không rời muôn vật Ta biết được muôn vật phải nhờ vào danh Danh chính là Đạo” [46, tr.34-35]