Tiếp đến, vào những năm 1937- 1938, trong phong trào vận động dân chủ, trong số các nhà nghiên cứu, các nhà văn bắt đầu nói đến Nguyễn Lộ Trạch như một niềm tự hào dân tộc, một tấm gương
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÒ THỊ THÁI
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NGUYỄN LỘ TRẠCH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ
Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS Lưu Văn An
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tôi tự nghiên cứu dưới
sự hướng dẫn của TS Dương Thị Thục Anh Các số liệu và kết quả nghiên
cứu của luận văn là trung thực và có cơ sở rõ ràng Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khoa học khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2018
Tác giả luận văn
Lò Thị Thái
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đang công tác tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, khoa Chính trị học
đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn TS Dương Thị Thục Anh, người đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Bản thân em đã cố gắng hoàn thiện luận văn với tất cả sự nỗ lực cao nhất, nhưng luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo, hướng dẫn của các thầy cô, bạn bè, để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lò Thị Thái
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA NGUYỄN LỘ TRẠCH 8
1.1 Những cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch 8
1.2 Những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị của Nguyễn Lộ Trạch 23
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CHỦ YẾU CỦA NGUYỄN LỘ TRẠCH 38
2.1 Tư tưởng về tự cường dân tộc 38
2.2 Tư tưởng về nâng cao dân trí và bồi dưỡng sức dân 60
Chương 3: Ý NGHĨA VÀ SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NGUYỄN LỘ TRẠCH ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM 75
3.1 Một số ý nghĩa trong tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch 75
3.2 Vận dụng tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch đối với công cuộc đổi mới chính trị ở Việt Nam 80
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 101
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một giai đoạn có
sự biến động to lớn về mọi mặt Sự biến động ấy đặt ra nhiều vấn đề, trong đó vấn đề bức thiết nhất là tìm tòi, xác định con đường, cách thức để đấu tranh nhằm giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi sự thống trị của thực dân Pháp Chính trong bối cảnh lịch sử ấy, các chí sĩ yêu nước Việt Nam đã không ngừng tìm kiếm con đường cứu nước, họ đã đi theo nhiều hướng khác nhau
và một số người đã đến rất gần với con đường cách mạng vô sản Nhưng do hạn chế về nhiều mặt khác nhau nên các phong trào đấu tranh do họ khởi xướng đều thất bại Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh đã để lại những giá trị nhất định, đặc biệt nó phản ánh sự phát triển của tư tưởng cách mạng Việt Nam trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
Giữa những nhà tư tưởng tiêu biểu giai đoạn cuối thế kỷ XIX, Nguyễn
Lộ Trạch hiện ra như một ngôi sao sáng bên cạnh ngôi sao khuê tỏa rực - Nhà canh tân Nguyễn Trường Tộ Những trí thức đương thời dường như không thể không biết đến Nguyễn Lộ Trạch với những bản điều trần đầy tâm huyết của ông Tấm lòng ưu thời mẫn thế của ông trước sự an nguy của dân tộc đã làm xúc động bao tâm hồn và khơi thông tư tưởng duy tân tự cường cho biết bao chí sĩ Nhà yêu nước Phan Bội Châu đã từng bày tỏ: ''Cụ Nguyễn Thượng Hiền (Mai Sơn) sau khi đọc bài phú Bái thạch vi huynh của tôi rất lấy làm thích… Cụ đưa cho tôi xem tập văn của Nguyễn Lộ Trạch Tôi được đọc tập "Thiên hạ đại thế luận" và bắt đầu hiểu biết ít nhiều mầm mống tư tưởng hiện đại"
Là một người có tiên kiến chính trị sáng suốt, Nguyễn Lộ Trạch thực sự
am hiểu tình hình thế cuộc Trên cơ sở am hiểu ấy ông đã đề ra được những
kế sách kịp thời nhằm cứu nguy cho đất nước Ông được coi là người có tư tưởng tiến bộ trong số các trí thức Nho học, phân hoá từ giai cấp phong kiến,
Trang 7ý thức được trách nhiệm lịch sử, nỗ lực không ngừng để vươn lên cùng với thời đại, tìm đến một phương thức cách mạng mới, một con đường cứu nước mới vượt ra ngoài khuôn khổ ý thức hệ truyền thống
Công cuộc đổi mới hiện nay đang đặt ra cho chúng ta yêu cầu cần kế thừa, phát huy và phát triển những kinh nghiệm của quá khứ để phục vụ cho
sự nghiệp xây dựng đất nước Xuất phát từ thực tế nói trên tôi chọn đề tài:
“Tư tưởng chính trị của Nguyễn Lộ Trạch và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới chính trị ở Việt Nam” cho luận văn Thạc sỹ của mình, hy vọng
đóng góp một phần nhỏ bé vào lĩnh vực nghiên cứu tư tưởng chính trị Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ trước năm 1945, ở nước ta đã xuất hiện những tài liệu nghiên cứu
về Nguyễn Lộ Trạch Đầu tiên phải kể đến những bài viết về những bản Điều trần của Nguyễn Lộ Trạch được đăng trên tạp chí Nam Phong:
- Bài viết “Nguyễn Lộ Trạch - tiên sinh tiểu sử” (1926), Nam Phong
tạp chí, số 102, đã cung cấp những tư liệu cần thiết về thân thế, sự nghiệp và những đề nghị cải cách của Nguyễn Lộ Trạch Theo đó, qua hai bản Thời vụ sách I và Thời vụ sách II (năm 1882), Nguyễn Lộ Trạch đã đưa ra nhiều đề nghị với triều đình Huế thực hiện các cải cách trên lĩnh vực kinh tế, ngoại
giao, chính trị… Tuy nhiên, do hạn chế của hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ nên
các bài viết chưa đánh giá khách quan, đúng đắn chủ trương và tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ
Tiếp đến, vào những năm 1937- 1938, trong phong trào vận động dân chủ, trong số các nhà nghiên cứu, các nhà văn bắt đầu nói đến Nguyễn Lộ Trạch như một niềm tự hào dân tộc, một tấm gương yêu nước của một con người đã dành cả cuộc đời vì nước, vì dân
Sau thời kỳ này, giới nghiên cứu tiếp tục cho ra đời nhiều công trình, bài viết về Nguyễn Lộ Trạch, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Trang 8“Nguyễn Lộ Trạch” của Từ Ngọc Nguyễn Lân được xuất bản lần đầu vào năm 1941, sau đó được tái bản năm 1942; Công trình “Những đề nghị cải
cách của Nguyễn Lộ Trạch cuối thế kỷ XIX” của các tác giả Đặng Huy Vận,
Chương Thâu, xuất bản năm 1961; Công trình “Sự phát triển tư tưởng ở Việt
Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám”, Tập I, của tác giả Trần Văn
Giàu, xuất bản năm 1973 Cuốn Đại Nam thực lục chính biên, của Quốc Sử
quán triều Nguyễn năm 1973 Các công trình trên bàn nhiều đến cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Lộ Trạch Điểm chung nhận thấy ở các công trình nghiên cứu của các tác giả là sự khẳng định công lao của Nguyễn Lộ Trạch đối với dân với nước Nhưng do hạn chế của lịch sử và thời đại lúc bấy giờ, trong thế giới quan của các nhà nghiên cứu chưa thấy rõ hết giá trị trong
tư tưởng cải cách của Nguyễn Lộ Trạch
Đặc biệt từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới (1986), giới nghiên cứu đã có nhiều hoạt động sưu tầm tài liệu, nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Lộ Trạch được công bố rộng rãi Tiêu biểu như:
- Sách “Một bậc tiên thời nhân vật đồng thời với Nguyễn Trường Tộ ít
ai biết - Nguyễn Lộ Trạch” (1966), Nguyễn Thị Nghiên tập hợp di cảo của cụ
Minh Viên (Huỳnh Thúc Kháng), Nhà xuất bản Anh Minh, tác phẩm cung cấp những tư liệu cơ bản về Nguyễn Lộ Trạch thông qua các đề nghị cải cách trong Thời vụ sách I và Thời vụ sách II (năm 1882) Có thể nhận thấy, ông là người rất quan tâm đến kinh tế và chấn hưng kinh tế đất nước
- Sách “Phong trào Duy tân” (1970), Nguyễn Văn Xuân, Nhà xuất bản
Lá Bối - Sài Gòn, Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến việc khôi phục
đất nước bằng con đường nâng cao dân trí, cải tổ xã hội về mọi mặt, trong đó
có kinh tế, giáo dục và văn hóa với các hoạt động thực tiễn như mở mang kinh tế, lập các nhà buôn lớn để tự lực, thêm khoa học và ngoại ngữ…
Trang 9- Sách “Nguyễn Lộ Trạch và di thảo”, (1995) Nguyễn Văn Huyền,
NXB Khoa học xã hội Tác phẩm nghiên cứu một vài tác phẩm văn học của nhà nho Nguyễn Lộ Trạch (1853-1895) Đã khái quát quát sơ lược tiểu sử, khuynh hướng văn học cách tân của ông
- Sách “Nguyễn Lộ Trạch - Điều trần và thơ văn” (1996) Mai Cao
Chương - Đoàn Lê Giang, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội- Hà Nội, Ccoobng trình đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng cuộc đời và tư tưởng đổi mới của Nguyễn Lộ Trạch thông qua các bản điều trần: Thời vụ sách I, Thời vụ sách II, Thiên hạ đại thế luận
- Sách “Đôi điều về Nguyễn Lộ Trạch, nhà tư tưởng canh tân thế kỷ
19”, (1996), Nguyễn Thị Nghĩa, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, tác phẩm đã
phân tích những trong tư tưởng canh tân chính trị của Nguyễn Lộ Trạch và đóng góp của ông đối với quá trình đấu tranh chống lại sự ảnh hưởng của thực dân Pháp với triều đình nhà Nguyễn
- Sách “Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập 2)” (1997), Lê Sỹ Thắng, Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội Chuyên khảo đã trình bày khái quát sự ra đời của
tư tưởng canh tân nửa cuối thế kỷ XIX và cơ sở thế giới quan của tư tưởng ấy Bên cạnh đó, những điều trần, kiến nghị của các nhà canh tân như Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch được tác giả phân tích khá chi tiết trên các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng…
- Sách “Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn” (1999), nhiều tác giả, nhà xuất bản Thuận Hóa Nội dung chính mà các tác giả đề cập đến là
quá trình chuyển biến trong nhận thức của các nhân vật như Nguyễn Trường
Tộ, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ… trước bối cảnh của đất nước nửa cuối thế kỷ XIX
- Sách “Xu hướng canh tân, phong trào duy tân, sự nghiệp đổi mới (từ
giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX)” (2005), Hải Ngọc Thái Nhân Hòa, Nhà
Trang 10xuất bản Đà Nẵng Tác phẩm đã tập trung khảo cứu về xu hướng canh tân (cuối thế kỷ XIX), phong trào duy tân (đầu thế kỷ XX) và sự nghiệp đổi mới (thời hiện đại)
- Sách “Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam” (2006), Văn Tạo, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, tác phẩm đề cập đến mười cuộc cải
cách trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam bắt đầu từ họ Khúc, Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ, Trịnh Cương, Minh Mệnh, Nguyễn Trường Tộ đến Phong trào đổi mới đầu thế kỷ XX
Qua những công trình nghiên cứu trên, có thể khẳng định, Nguyễn Lộ Trạch là một trong những nhân vật lịch sử đặc biệt thu hút sự chú ý, quan tâm của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà khoa học lịch sử, nhà nghiên cứu tư tưởng Các công trình nghiên cứu đề cập ở trên, chủ yếu tập trung đến những kiến nghị canh tân đất nước mang tính đột phá của Nguyễn
Lộ Trạch lúc bấy giờ, từ đó nhấn mạnh lòng yêu nước của ông đối với dân tộc Tuy nhiên chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu sâu về tư tưởng chính trị của ông Tác giả luận văn trên cơ sở tập hợp các tài liệu nghiên cứu
về Nguyễn Lộ Trạch và có sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước; với mong muốn làm rõ hơn tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch đương thời và bước đầu đánh giá những giá trị và hạn chế của tư tưởng đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, cuộc đời, thân thế sự nghiệp Nguyễn Lộ Trạch, Luận văn đi vào phân tích làm nổi bật nội dung tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch; Đồng thời bước đầu phân tich
ý nghĩa và giá trị trong tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch, từ đó liên hệ đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn tập trung làm rõ những vấn đề sau:
Trang 11- Làm rõ bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX và tiền đề xuất hiện tư tưởng chính trị của Nguyễn Lộ Trạch;
- Phân tích, làm rõ cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Lộ Trạch;
- Phân tích những tư tưởng chính trị cơ bản của Nguyễn Lộ Trạch;
- Liên hệ giá trị tư tưởng chính trị của Nguyễn Lộ Trạch đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về chính trị và tư tưởng chính trị; con người chính trị để làm cơ sở nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương pháp:
lịch sử, lôgic, phân tích, tổng hợp, hệ thống, so sánh, khái quát hóa v,v
6 Đóng góp khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch một cách có hệ thống, sâu sắc
- Bước đầu có sự kế thừa và vận dụng giá trị tư tưởng chính trị Nguyễn
Lộ Trạch trong công cuộc đổi mới ở nước ta
Trang 12- Kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy Chính trị học, nhất là Lịch sử tư tưởng chính trị ở Việt Nam hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận Văn
- Những vấn đề mà luận văn đề cập và giải quyết góp phần thiết thực vào việc luận giải làm sâu sắc hơn giá trị tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch,
từ đó liên hệ đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, giảng dạy và cả những ai quan tâm đến tư tưởng chính trị Nguyễn Lộ Trạch trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục kết cấu Luận văn chia thành 3 chương , 6 tiết
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
CỦA NGUYỄN LỘ TRẠCH 1.1 Những cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng chính trị Nguyễn
Lộ Trạch
1.1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
1.1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Dưới triều Nguyễn, sở hữu tư nhân về ruộng đất đã phát triển hơn các triều đại trước rất nhiều nhưng vẫn chưa chiếm ưu thế so với sở hữu nhà nước
và trên danh nghĩa, nhà vua là chủ sở hữu toàn bộ đất đai trong cả nước Nhà nước phong kiến cho phép ruộng đất tư phát triển nhưng vẫn duy trì chế độ ruộng công nên quá trình tư hữu hóa ruộng đất bị kìm hãm hoặc bị biến dạng theo lối dĩ công vi tư (biến công thành tư) Triều đình triệt để thi hành chính sách “trọng nông ức thương” nên đã phục hồi được nền nông ngiệp vốn dĩ sa sút nghiêm trọng, triền miên do các cuộc nội chiến gây ra Tuy nhiên, chính sách này đã kìm hãm sự phát triển của các thành phần kinh tế khác như thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Cả nội thương và ngoại thương đều kém phát triển Các ngành này chỉ được duy trì ở mức độ thấp, nhằm đáp ứng nhu cầu tối thiểu của nhân dân và phục vụ cho Hoàng gia cũng như triều đình Những quy định khắt khe mang tính đẳng cấp về tiêu dùng mà triều đình nhà Nguyễn đặt ra càng làm hạn chế sức sản xuất trong nhân dân Chế độ quản lý ruộng đất như đã nói cùng với chính sách trọng nông ức thương là hai yếu tố
cơ bản khiến cho nền kinh tế dưới triều Nguyễn vẫn mang đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế tiểu nông lạc hậu Sở hữu tư nhân tồn tại từ trước đó và tiếp tục được duy trì nhưng không được khuyến khích phát triển Vì vậy, ở thời kỳ này, các nhân tố tư bản chủ nghĩa chưa nảy sinh, kinh tế hàng hóa chưa phát triển Một xã hội với kinh tế thuần nông tự cung tự cấp, khép kín được duy trì bởi nhà nước trung ương tập quyền chuyên chế tuyệt đối theo Nho giáo tự nó
Trang 14không thể nảy sinh nhu cầu cải cách Trong giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến, nhiều chính sách của Nhà Nguyễn đã không còn ý nghĩa tích cực
mà làm cho nền kinh tế đất nước vốn đã trì trệ lại càng thêm bế tắc, đời sống nhân dân lâm vào tình trạng khốn cùng
Về nông nghiệp: Nhà Nguyễn rất coi trọng vấn đề ruộng đất và sản xuất
nông nghiệp Năm 1803, ngay khi mới lên ngôi, Nguyễn Ánh đã ra lệnh đo đạc lại toàn bộ ruộng đất, lập địa bạ cho từng xã, thôn ở Bắc Hà Dưới thời Minh Mệnh việc lập địa bạ các thôn, xã trên phạm vi toàn quốc đã được hoàn thành Năm 1804, Nguyễn Ánh ban hành chính sách “quân điền” (lấy đất công, ruộng bỏ hoang chia cho nông dân) Mặc dù nhà Nguyễn đã có nhiều cố gắng, nhưng vẫn không thoát khỏi lối mòn của các triều đại phong kiến trước trong việc bảo vệ công điền, khi ruộng đất công chỉ còn lại 20% tổng diện tích ruộng đất cả nước Do chính sách quân điền của nhà Nguyễn chỉ mang ý nghĩa tượng trưng; về thực chất, chỉ là một hình thức cấp ruộng cho quan lại
và binh lính, tư liệu sản xuất của đại bộ phận quần chúng vẫn bị thu hẹp Ruộng đất tốt đều tập trung trong tay quan lại, địa chủ Hiện tượng nông dân không có ruộng hoặc không thể sinh sống trên mảnh ruộng của mình, buộc phải bỏ làng tha phương cầu thực diễn ra rất phổ biến Song song với việc thiếu tư liệu sản xuất, nông dân Việt Nam còn phải chịu rất nhiều hình thức sưu, thuế hà khắc Theo thống kê của các tác giả Đại cương Lịch sử Việt
Nam, “chỉ từ năm 1802 đến năm 1806, nông dân trên 870 thôn thuộc mấy
trấn lớn ngoài Bắc xiêu tán đi nơi khác Đến năm 1826, lại đến 108 xã thôn thuộc mười ba huyện của trấn Hải Dương xiêu tán” Nông dân bỏ ruộng,
song triều đình hầu như không có các biện pháp khắc phục tình trạng ruộng đất hoang hóa, tu bổ đê điều khiến đê Văn Giang (Hưng Yên) liêp tiếp bị vỡ trong suốt 18 năm Cộng thêm sự khắc nghiệt của thời tiết, phá hoại của sâu
bệnh khiến nạn đói thường xuyên xảy ra “Ngay trước khi tư bản Pháp sắp nổ
súng đánh vào Đà Nẵng (1858), một trận đói ghê gớm đã xảy ra làm cho
Trang 15hàng chục vạn nhân dân các tỉnh Trung Bắc Kì bị chết Đồng thời, cũng do sự bất lực của bọn phong kiến thống trị hồi đó, nạn dịch đã hoành hành dữ dội, giết hại hàng chục vạn người” Theo lời tâu của Nguyễn Công Trứ (năm
1833), số lượng dân đói kém có tới 27.000 người Trận bão đổ bộ vào tỉnh Nghệ An năm 1842 khiến 40.753 ngôi nhà bị đổ, 5420 người chết và hàng trăm nghìn người trở thành vô gia cư Trước tình hình đó, nhà Nguyễn đã ban hành chính sách khai hoang dưới hình thức doanh điền Những người lưu tán
và không có ruộng đất cày cấy được tập hợp lại dưới sự chỉ đạo của một quan chức nhà nước, được nhà nước cấp vốn ban đầu để tiến hành khai hoang, lập làng trên những vùng đất mới bồi đắp ở ven biển Chỉ tính riêng vùng hạ lưu sông Hồng, doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đã tổ chức khai khẩn, lập ra hai huyện mới là Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) Tuy số ruộng đất khai khẩn thêm là khá lớn, nhưng vẫn không thể bù đắp được số ruộng đất
bị hoang hóa Chính sách doanh điền, khai hoang của nhà Nguyễn không thể
giải quyết được những mâu thuẫn đang đặt ra cho nông nghiệp Việt Nam
Về thủ công nghiệp: Triều Nguyễn nắm tất cả những ngành kinh doanh
lớn Các xưởng đúc tàu, đúc tiền, đúc súng, các công trường xây dựng lớn
(lăng tẩm, đền đài…) đều nằm dưới sự quản lý, điều hành của Bộ Công Gần như độc quyền về thương nghiệp nhưng triều đình trung ương lại không có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với lao động tại các công xưởng Họ - những người thợ giỏi - bị nhà Nguyễn cưỡng ép lao động, biên chế thành đội ngũ, đồng thời phải chịu sự kiểm soát gắt gao về nhiều mặt nên không ủng hộ triều đình Thống kê sơ bộ cho biết, từ khi Nguyễn Ánh mở nước (1802) đến trước thời điểm Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam (1858), đã có 139 mỏ được khai thác Ngoại trừ một số lượng không quá nhiều mỏ do Hoa kiều và người Việt Nam đứng ra khai thác, phần còn lại đều do triều đình trung ương độc quyền kiểm soát Không những thế, nhà Nguyễn còn đặt ra những nguyên
Trang 16tắc hết sức vô lí như khoanh vùng những khu vực không được khai thác, đặt
giá cho một số kim loại rồi độc quyền thu mua…
Về thương nghiệp: Nhà Nguyễn duy trì chính sách “trọng nông ức
thương” Các hoạt động buôn bán được mở hết sức nhỏ giọt Ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tự do thương nghiệp Triều Nguyễn đứng trước những hoạt động ráo riết của phương Tây chuẩn bị xâm lược Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XIX nên đã lo sợ và thực hiện chính sách “đóng cửa” không buôn bán với các nước phương Tây, song song với đó là việc độc quyền kinh doanh nguyên liệu công nghiệp (đồng, thiếc, chì, diêm tiêu…), triều đình trung ương còn đặt
ra rất nhiều đạo luật vô lí khác như: Đánh thuế rất nặng vào mặt hàng gạo, nghiêm cấm nhân dân họp chợ khiến việc giao thương giữa các địa phương gặp rất nhiều khó khăn, độc quyền mua bán lâm thổ sản quý… Chính sách
“bế quan tỏa cảng” được thực hiện triệt để, chỉ nhập những nguyên liệu cần thiết cho triều đình như sắt, gang để đúc đạn dược, khí cụ… Ở một số cửa biển Tàu buôn của nước ngoài bị khám xét kĩ và đánh thuế rất nặng Thậm chí một số mặt hàng như tơ lụa, thóc gạo bị cấm xuất khẩu Thương nhân ngoại quốc đến buôn bán ở Việt Nam giai đoạn này chủ yếu là người Hoa, Xiêm, Mã Lai… Cùng với sự sa sút của kinh tế thương nghiệp, các đô thị ngày càng suy thoái Ở Thăng Long, đến cả khu vực 36 phố phường sầm uất cũng nhanh chóng bị nông thôn hóa Các đô thị buôn bán sôi động như Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An cũng sa sút và không còn khả năng phục hồi, nền
kinh tế đất nước trở nên hết sức trì trệ, kém phát triển
1.1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội
Nhà Nguyễn mặc dù có những đóng góp nhất định trong lịch sử dân tộc như thống nhất lãnh thổ quốc gia hay cử một số quan đại thần đi khai hoang, lập đồn điền, tiêu biểu có: Nguyễn Công Trứ mộ dân khai hoang, lập ra hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) trong những năm 1828-1829 hay Nguyễn Tri Phương chiêu dân lập ấp ở Nam Kỳ
Trang 17(1853)… song một thực tế không thể phủ nhận là sau khi được thiết lập vào năm 1802, triều Nguyễn ngày càng có những biểu hiện đi ngược với xu thế phát triển chung của lịch sử
Trong chính sách cai trị của các vua Nguyễn, từ Gia Long tới Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… vấn đề “lợi ích dòng họ” luôn được đặt cao hơn quyền lợi
dân tộc Cũng như nhiều triều đại quân chủ trước đó, nhà Nguyễn duy trì và áp
dụng bộ máy quân chủ chuyên chế tuyệt đối Vua có quyền lực tối thượng là
“Thiên tử”, thay trời hành đạo nhưng thực tế là “địa chủ lớn nhất nước”
Tư tưởng trị quốc, từ vua đến quan lại đều sử dụng học thuyết Khổng Mạnh vốn đã lạc hậu với thời cuộc Theo đánh giá của Giáo sư Đinh Xuân Lâm: “Tổ chức xã thôn thời này đã hoàn toàn trở thành một công cụ của bọn cường hào địa chủ nông thôn Nó trói buộc người nông dân trong những quan
-hệ địa phương hẹp hòi có lợi cho sự bóc lột của nhà nước quân chủ và cản trở
sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa”
Để tập trung quyền hành tuyệt đối vào tay mình và củng cố thống nhất đất nước, nhà Nguyễn đã lấy Nho giáo làm tư tưởng chính thống, với đường lối đối nội “ngoại nho, nội pháp” và đối ngoại là “ bế quan tỏa cảng”
Về mặt hành chính nhà Nguyễn thi hành cải cách hành chính, xóa bỏ chế độ tổng trấn, chia cả nước thành 31 tỉnh, thành do nhà vua trực tiếp quản
lý Những cố gắng của nhà Nguyễn trong cai trị dân vẫn không khắc phục được các mâu thuẫn nan giải trong xã hội lúc bấy giờ, thậm chí còn làm tình hình trầm trọng thêm Bế tắc trong hiện tại các nhà vua nhà Nguyễn tìm về quá khứ với phương châm “pháp tiên vương” (bắt trước người xưa) và nhà Nguyễn đặc biệt đề cao tư tưởng “mệnh trời” nhằm biện minh tính chính thống cho triều đại và củng cố ngôi báu
1.1.1.3 Điều kiện văn hóa - xã hội
Nhà Nguyễn lấy Nho giáo làm cơ sở nền tảng cai trị, các vua Nguyễn nói chung đều đề cao Nho giáo và dùng quan điểm Nho giáo phục vụ mục
Trang 18đích chính trị của mình Các hoạt động mang tính định hướng về tư tưởng như: Mười điều huấn dụ của Minh Mạng, Tự Đức diễn âm thập điều diễn ca… Đều đề cao, tôn sùng Nho giáo để củng cố ý thức hệ quân chủ Với tư tưởng Nho giáo làm nền tảng, hệ thống giáo dục và thi cử dưới triều Nguyễn được xây dựng nhằm mục đích đào tạo đội ngũ quan lại phục vụ cho triều đình Mẫu người mà nền giáo dục khoa cử Nho giáo đề cao là quan lại, những người có khả năng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của nhà nước, gắn quyền lợi của mình với vương triều và tuyệt đối trung thành với nhà vua Vì thế trong
hệ thống giáo dục này, nghề chuyên môn không được đánh giá cao Nội dung giảng dạy chủ yếu là Tứ Thư và Ngũ Kinh, những tác phẩm kinh điển của Nho giáo Trung Quốc Các kiến thức dạy và học vì thế thường mang tính chất phi thực tế, sáo mòn, rập khuôn
Trong xã hội, mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ và nông dân ngày càng trở nên gay gắt Giai cấp địa chủ chiếm nhiều ruộng đất, phát canh thu tô, bóc lột nhân dân bằng tô, tức và nhiều hình thức thuế khóa khác Trong khi đa số dân nghèo không có ruộng đất, phải đi lĩnh canh ruộng đất để cày cấy với mức tô thuế cao Bên cạnh đó, nhà nước không quan tâm đắp đê nên lụt lội, hạn hán, nạn đói, bệnh dịch xảy ra liên miên đã làm cho cuộc sống của nhân dân ngày càng khốn khổ Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt dẫn đến hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra
Có thể nhận thấy, xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX là giai đoạn có rất nhiều biến động Về đối nội, sự bảo thủ, lạc hậu trong chính sách cai trị của triều đình nhà Nguyễn khiến đất nước khủng hoảng trầm trọng Ở góc độ kinh tế: Nông nghiệp, thủ công nghiệp đình trệ, tài chính kiệt quệ; ở góc độ xã hội: Nhân dân đói khổ, mất mùa, đói kém xảy ra liên tục; khởi nghĩa nông dân diễn ra trên bình diện rộng, quy mô lớn, có sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều tầng lớp nhân dân Về đối ngoại, thái độ chần chừ dẫn đến bạc nhược hèn nhát, đi ngược với lợi ích dân tộc khiến Việt Nam từng bước mất chủ
Trang 19quyền vào tay thực dân Pháp Do vậy, để tăng cường sức mạnh của đất nước, một yêu cầu tất yếu là phải tiến hành canh tân về mọi mặt
1.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Lộ Trạch
1.1.2.1 Tiểu sử Nguyễn Lộ Trạch
Nguyễn Lộ Trạch tự là Tổn Tu, Hà Nhân, hiệu Kỳ Am, Hồ Thiên Cư
Sĩ, Bàn Cơ Điếu Đồ, Tùng Linh, sinh ngày 8 tháng giêng năm Qúy Sửu, Tự Đức thứ 6 (tức ngày 15/2/1853) tại Cam Lộ, Quảng Trị Quê ở làng Kế Môn,
xã Điền Môn, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa- Thiên Huế
Tổ tiên của ông có lẽ là người Hoan Ái (Thanh Hóa- Nghệ An) theo Nguyễn Hoàng vào Nam Họ Nguyễn Thanh truyền đến Nguyễn Lộ Trạch
là 12 đời Cha Nguyễn Lộ Trạch là Nguyễn Thanh Oai (1816 - 1876) từng giữ chức quyền Thượng thư bộ Hình, sau làm tổng đốc Ninh - Thái (Bắc Ninh - Thái Nguyên) Nguyễn Lộ Trạch là trưởng nam, con bà Phan Thị Hài (1818-1867)
Nguyễn Lộ Trạch thủa nhỏ có tiếng là thông minh, tài giỏi, nhưng ông không theo lối mòn vạch sẵn lúc bấy giờ: Đi học, đi thi, làm quan - có lẽ vì ông thấy được sự bất tài của đám quan lại và cái vô nghĩa của lối học cử tử lúc bấy giờ Ông đọc nhiều sách, học nghề thuốc, đi nhiều nơi, lúc thì ở Huế, lúc thì như ở ẩn ở nơi thôn dã với thái độ ngông nghênh, khinh bạc Người ta gọi ông là “cậu ấm tàng tàng”
Năm 20 tuổi, ông kết hôn với Trần Thị Nhàn, con gái Thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành Chính ở thư phòng của nhạc phụ, Nguyễn Lộ Trạch đã được tiếp xúc với những sách báo theo quan điểm khoa học phương Tây viết bằng tiếng Trung Quốc Cùng với những sách đó, là những bản điều trần sáng suốt, mới mẻ, nhiệt huyết, đầy sức thuyết phục của Nguyễn Trường Tộ với nội dung đề nghị cải cách về mọi mặt từ tôn giáo, giáo dục, đến nông nghiệp, khai mỏ, thương nghiệp, quân sự, ngoại giao… Nhưng trước triều đình hủ bại,
Trang 20ươn hèn, đầy mâu thuẫn, những cố gắng của Nguyễn Trường Tộ đều trở nên
vô ích
1.1.2.2 Sự nghiệp của Nguyễn Lộ Trạch
Năm 1873, thực dân Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất, triều đình nhà Nguyễn đã ký với Pháp hòa ước Giáp Tuất (1874) nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam Kỳ và đồng ý cho chúng tự do đi lại trên toàn cõi Đông Dương Triều đình Huế vô cùng hoang mang, không có một phương sách tích cực nào chống Pháp, đi hết từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, lại còn tự mãn, thiển cận, không thấy hết được dã tâm của thực dân Pháp
Trong kỳ thi Hội năm Đinh Sửu (1877), Nguyễn Lộ Trạch tuy không
dự thi, nhưng với tấm lòng luôn băn khoăn, day dứt về tình hình đất nước, ông muốn vạch rõ hiện tình để triều đình thức tỉnh Tiếp tục con đường canh tân chống Pháp mà Nguyễn Trường Tộ đã vạch ra, ông muốn đề nghị một phương sách cứu nước kịp thời ông đã gửi lên triều đình bản điều trần đầu tiên: Thời vụ sách thượng năm ấy ông mới 25 tuổi chủ trương của ông không được triều đình thi hành, nhưng dẫu sao cũng gây được một tiếng vang lớn
Đầu năm Nhâm Ngọ 1882, cơ mật viện có ý định cử Nguyễn Lộ Trạch sang Hương Cảng học kỹ thuật Tháng 2 (âm lịch) năm ấy, Nguyễn Lộ Trạch gửi thư lên phụ chính đại thần nhắc nhở triều đình không thể chỉ trông cậy hoàn toàn vào kỹ thuật đơn thuần, điều quan trọng là phải biết tự cường tự trị, đồng thời, phải biết mật giao với các cường quốc thù địch với Pháp như: Đức, Anh để tạo thanh thế kiềm chế Pháp Cuối tháng 8, Cơ mật viện trình bức thư này lên vua Tự Đức, vua xem rồi phê bằng bút son 4 chữ : Ngôn hà quá cao! ( nói sao quá cao)
Tháng 4/1882, quân Pháp tấn công thành Hà Nội lần thứ hai, thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết Triều đình cử Phạm Thận Duật sang Thiên Tân cầu cứu nhà Thanh Pháp tiếp viện ra Hà Nội, rồi triệu khâm sứ ở Huế về Thế hòa hoãn tạm thời chấm dứt, chiến tranh Pháp - Việt lại bùng nổ trước
Trang 21tình hình nguy cấp đó, Nguyễn Lộ Trạch viết tiếp bản điều trần khác: Thời vụ sách hạ, nhờ người anh rể tên Lê Đại dâng lên triều đình Trong bản điều trần này, Nguyễn Lộ Trạch chỉ rõ những điểm cụ thể cần làm ngay để ứng phó với tình hình, trong đó có những chủ trương rất mạnh mẽ, kiên quyết như: Xây dựng thủ đô ở Thanh Hóa để chuẩn bị kháng chiến, tổ chức lại quân đội, ngoại giao với Đức, Anh để kiềm chế Pháp Triều đình vẫn làm ngơ, không thực hiện một chiến lược chống Pháp nào có hiệu quả
Kỳ thi Hội năm Nhâm Thìn (1892) Nguyễn Lộ Trạch không đi thi, nhưng ông vẫn nhân dịp này, viết một bài luận, nhan đề Thiên hạ đại thế luận Nội dung chính là: Đề xuất tư tưởng canh tân, bồi dưỡng sức dân, tăng cường dân trí Chấn chỉnh binh sĩ, bỏ vũ khí cũ, sắm vũ khí mới; Phòng thủ ngoài biển, lấy biển làm cương giới; Tự cường tự trị kết hợp với ngoại viện; Đưa người tài giỏi ra nước ngoài học kỹ thuật, đề cao người đi học khoa học kỹ thuật; Cầu hòa để chấn hưng đất nước (Lập đồn điền sản xuất, giao thương buôn bán với nước ngoài,…) khi đủ mạnh, thời cơ đến sẽ giành chiến thắng Tất nhiên không phải để dự thi mà là nhằm dụng ý truyền bá trong giới sỹ tử, thuộc tầng lớp trí thức đương thời, những quan điểm mới mẻ của ông Để cảnh tỉnh tầng lớp sĩ phu, khuyến khích triều đình lúc bấy giờ do Thành Thái, một ông vua yêu nước có ý định chống Pháp đứng đầu Trình bày rõ ràng tình hình thế giới và những dự kiến tình hình trong tương lai, nêu ra những nét đại cương về công việc phải làm, bày tỏ niềm hy vọng vào một lực lượng mới gánh lấy nhiệm vụ lịch sử Bài luận đã gây được tiếng vang đáng kể, ít nhất là đối với những người có tâm huyết với hiện tình đất nước Nó có giá trị như một luận cương chính trị nhằm giải thoát đất nước khỏi tình trạng bế tắc không lối thoát
Năm 1895, Nguyễn Lộ Trạch làm một chuyến Nam du vào Phan Thiết
- trung tâm “ tị địa” của nhóm sĩ phu Nam Trung, Nguyễn Lộ Trạch dự định cùng Trương Gia Mô xuất dương Kế hoạch không thành, ông đã trút hơi thở
Trang 22cuối cùng của mình ở Bình Định với mộng lớn giúp nước còn chưa thực hiện được Ông mất vào ngày 27 tháng giêng năm Mậu Tuất (27/2/1898)
1.1.2.3 Các tác phẩm của Nguyễn Lộ Trạch
Là con trai trưởng một vị Tiến sĩ đại thần, thời trẻ ông có đầy đủ điều kiện theo học đến nơi đến chốn ở “cửa khổng sân trình” Được tập ấm cha, lại còn là con rể của một vị quan lớn đầu triều, nếu theo lẽ thường thì con đường khoa cử và công danh đã rộng mở trước mắt Song, ông lại không thiết tha gì theo con đường đó Ngay những cái tên hiệu “Kỳ am”, “cư sĩ”, “điếu đồ” đã phần nào in đậm chí hướng không màng thế lợi Bước tụt danh vọng đi liền với cái chết của cha phải chăng cũng là bài học cảnh tỉnh đối với ông Lại thêm những thông tin hoàn toàn mới lạ, bổ ích từ sách, báo nước ngoài đang được truyền bá ở kinh đô; cùng với những ý tưởng canh tân của nhà trí thức tân học Nguyễn Trường Tộ thông qua nhạc phụ Trần Tiễn Thành - người đã trực tiếp nhận phần lớn các bản luận của Nguyễn Trường Tộ trước khi đệ lên vua Tự Đức Tất cả đã khiến Nguyễn Lộ Trạch hình thành cách nhìn, cách nghĩ mới
Dù thế nào, cả cuộc đời 43 năm của ông đã nghe, nhìn, cảm nhận đủ mọi biến thiên của đất nước trong giai đoạn lịch sử bi đát nhất Khi còn chưa đến trường thì Thực dân Pháp đã nổ phát súng đầu tiên xâm lược Đà Nẵng (1858); lúc đang tuổi thiếu niên, thực dân Pháp đã chiếm cả Nam Kỳ (1867); vào tuổi thanh niên, giặc mở rộng đánh chiếm ra Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873); vừa đến tuổi “tam thập nhi lập” thì đất nước mất quyền độc lập, tự chủ (1884); những năm cuối đời, chứng kiến một phong trào Cần Vương hào hùng, bi phẫn đầy tuyệt vọng
Giá như, bây giờ còn được đầy đủ di thảo của ông như các nhà canh tân khác thì có thể tiếp cận được rõ ràng và cụ thể hơn những tư tưởng cũng như tâm hồn của tác giả qua từng biến thiên của đất nước Những tác phẩm quan trọng thể hiện tư tưởng và tài năng của ông ngày nay chúng ta vẫn còn có
Trang 23được, như: Tập Quỳ ưu lục và bài Thiên hạ đại thế luận Những tác phẩm này
phần nào giúp chúng ta nhận diện được tư tưởng và tài năng của ông và đó cũng chính là một phần diện mạo lịch sử, tư tưởng, văn học nước nhà giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX
Tập Quỳ ưu lục gồm tất cả 4 văn bản, bao gồm:
- Thời vụ sách thượng (kế sách về thời cuộc - I);
- Thời vụ sách hạ (kế sách về thời cuộc – II);
- Thư tháng 2 năm Nhâm Ngọ (1882) gửi quan Chấp chính;
- Thư đứng tên chung với Phạm Phú Đường gửi quan phụ chính đại thần
Bản Thời vụ sách thượng được viết vào giữa năm 1877, khi Pháp đang
bình định Nam Kỳ và mở cuộc hành quân thăm dò đánh ra Bắc Kỳ song phải lui quân vì thế lực còn chưa đủ mạnh Nguyễn Lộ Trạch nhân đầu đề kỳ thi hội năm ấy bộc lộ rõ quan điểm chính thống của triều nguyễn, chỉ tự mãn tự túc, không quan tâm gì tới việc xúc tích lực lượng để đối phó với nạn xâm lăng Thời gian này, ông đang ở độ tuổi 25, là con rể của vị quan đầu triều Trần Tiễn Thành, có điều kiện để qua trung gian là nhạc phụ của mình đưa những đề nghị tâm huyết đến tận tay vua Tự Đức
Trong bài luận, Nguyễn Lộ Trạch đặt nước ta trong bối cảnh và xu thế chung trên toàn cầu, các nước mạnh phương Tây có công nghệ, kỹ thuật phát triển, đang đua tranh, đồng thời kiềm chế, tranh giành thị trường của nhau- ở đây là thuộc địa (mà sau đó, người ta gọi là sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản - Đế quốc) ông cũng chỉ ra rằng, một đất nước vừa lạc hậu, vừa nghèo nàn như Việt Nam thì chưa thể đối chọi lại được Phân tích một cách biện chứng các quan điểm chiến, thủ và hòa, Nguyễn Lộ Trạch cho rằng trước mắt phải tạm hòa hoãn, song cũng không thể ngồi yên mà van xin lòng thương hại của giặc, nếu vậy, tất yếu sẽ không thoát khỏi nỗi nhục mất nước như nhiều trường hợp không xa Bằng nhiều dẫn chứng cụ thể và lời lẽ thiết tha, ông gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, phải mau mau có kế sách tự lực tự cường và
Trang 24bắt tay vào hành động tức khắc Tấm gương Việt vương Câu Tiễn ở Trung Quốc, Pi-e đại đế ở Nga mà ông nêu ra, chính là để nhắc nhở vua Tự Đức phải trực tiếp ra tay
Nhưng rồi, Tập “Thời vụ sách thượng” được gửi đã 5 năm, không thấy
có hồi âm và chuyển biến Mãi đến mùa xuân năm Nhâm Ngọ (1882), Viện
Cơ mật mới ngỏ ý cử ông đi Hương Cảng tìm học các ngón “cơ xảo”, song vẫn còn lưỡng lự, triệu ông đến hỏi xem sự tình nên đi hay thôi
Vì thế mới có Bức thư tháng hai năm Nhâm Ngọ 1882, Nguyễn Lộ
Trạch lo tình hình đất nước đã gay cấn hơn trước nhiều “địch được, ta thua đã rành rành”, sự kiềm chế của địch thì biến đổi không cùng Tuy nhiên, ông vẫn kiên trì chủ trương: Muốn cầu ngoại viện, trước hết phải tự cường tự trị Lường trước những khó khăn do địch bao vây, ông xin đi Hương Cảng học tiếng trước, rồi tìm cách bám vào một con tàu Anh, Đức nào đó sang tận Châu
Âu tìm hiểu tình hình trước, sau đó mới chính thức nhận lệnh công cán
Bức thư này được vua Tự Đức phê “Ngôn hà quá cao” để rồi lại chìm trong yên lặng Ngày 8/3 năm Nhâm Ngọ (25/4/1882) Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2
Tháng 9/1882 do gợi ý của người anh rể - Tiến sĩ Lê Đại là Thị lang bộ
Binh trong triều, Nguyễn Lộ Trạch viết bản Thời vụ sách - hạ gửi lên vua Tự
Đức Trong bài luận, ông không tán thành quan điểm “thu thập dư lực, dựa lưng vào thành, quyết một trận sống mãi” theo lối “đánh một tiếng, bạc dốc túi” không cần tính đến hậu quả Ông cũng thừa nhận rằng lúc này đã quá muộn cho một phương sách “mười năm sinh tụ” như Việt vương Câu Tiễn đã từng làm Song chỉ vì “đau đáu một niềm trung vua” mà trình bày đầy đủ 5 phương sách ông ấp ủ bấy lâu nay, gồm:
Một, trên cơ sở phân tích những hạn chế về địa điểm của kinh đô Huế,
ông đề nghị xây dựng thêm một kinh đô mới ở Thanh Hóa để giữ vững gốc nước Trong tình hình Nam Kỳ bị chiếm, Thanh Hóa vừa là nơi trung độ của
Trang 25cả nước còn lại, bốn bề hiểm yếu, trăm vạn binh có thể đánh giữ, lại có nghìn dặm đất đai tương đối màu mỡ
Hai, lấy quân làm đồn điền trữ lương, tổ chức thông thương hàng
hóa với nước ngoài, đồng thời học tập kinh nghiệm của họ
Ba, tinh tuyển lại quân lính, nuôi dạy cho mạnh
Bốn, tổ chức cho người đi học các ngón “cơ xảo” của phương Tây Năm, giao thiệp rộng với nước ngoài để tranh thủ sự ủng hộ
Thực ra, từ hàng chục năm trước đã được nhiều người đề xuất Chỉ nêu một vài dẫn chứng, người có điều kiện nhìn xa trông rộng như Nguyễn Trường
Tộ, người chỉ hoạt động chủ yếu trong một địa phương như Phạm Văn Nghị… mỗi người đều có những lập luận riêng Vấn đề là triều Nguyễn vẫn cứ làm ngơ, không chịu mạnh dạn thực hiện, có nét khác là ở bài luận của Nguyễn Lộ Trạch nêu được khá nhiều dẫn chứng cụ thể, có tính thuyết phục cao
Thời thế lúc này đã khác nhiều, trầm trọng hơn nhiều khi nguy cơ cả nước bị thực dân nuốt chửng chỉ còn là ngày tháng Có lẽ, điều khả thi nhất là
2 phương sách cuối Tục ngữ có câu: Mất dê, lấy bò bù chưa muộn Kể ra bây giờ bàn việc học kỹ thuật tuy không thiết thực với thời cuộc cấp bách, xong
cứ dấm đấy để đợi, thời cơ có thể làm được thì cách tính ấy cũng chẳng sai
Về phương sách quan hệ với nước ngoài để cầu viện, ông thấy cũng không ngại vì Pháp đã tước quyền ngoại giao của ta
Tầm nhìn của Nguyễn Lộ Trạch là rộng ra cả thế giới để thấy quan hệ ràng buộc, kiềm chế lẫn nhau giữa các nước đế quốc mà ta có thể khéo léo lợi dụng Cũng như các bậc tiền bối cùng chí hướng, ông không hề đả động đến việc trông cậy Trung Quốc Trong khi ấy, năm 1883, triều Nguyễn còn cử cả một phái bộ Phạm Thận Duật sang cầu cứu Bắc triều
Cũng năm ấy, Pháp từ Hà Nội mở rộng đánh chiếm Nam Định, Hòn Gai ngoài Bắc Kỳ Ngày 19/7, vua Tự Đức mất, sau đó triều Huế xảy ra nạn
“bốn tháng ba vua” (Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc) Lợi dụng thời cơ ấy,
Trang 26quân Pháp bất ngờ đánh chiếm cửa Thuận An (Huế) buộc triều Nguyễn phải
ký hiệp ước Hác - Măng (25/8/1883), chấp nhận Nam Kỳ là thuộc địa, Trung
Kỳ và Bắc Kỳ là đất bảo hộ của Pháp Mọi quyền ngoại giao đều bị tước bỏ
Trước tình hình nguy cấp đột biến ấy, Nguyễn Lộ Trạch và Phạm Phú Đường được đại diện Nam Triều làm Quan chính Phụ Chính đại thần, sau khi Nguyễn Văn Tường gọi đến hỏi về mưu kế chống giặc Trở về, ông thảo một bức thư, tóm tắt những điều đã trình bày: Bây giờ, chỉ còn một cách cầu viện, “Pháp chăm chăm cấm ta quan hệ với ngoài chính là sợ điều này vậy” Nhiều nước trên thế giới “coi việc làm của Pháp là không chính trực, hẳn họ
sẽ thông cảm với nước phải chịu đựng” Đó là hoàn cảnh khách quan để ta vẫn còn có thể tranh thủ “Tơ đã rối, không lẽ nào cứ khoanh tay ngóng tơ tự khỏi rối”
Những ý ấy, tất nhiên không được coi ra gì Vì lúc ấy, phái bộ Phạm Thận Duật sang cầu cứu nhà Thanh đã về, quân Thanh có kéo sang thượng du Bắc Kỳ, nhưng với thâm ý hòng chia quyền chiếm trị nước ta với Pháp Thấy phương sách đề xuất của mình trước sau không được đoái hoài, một đêm mùa thu năm Giáp Thân (1884), ngồi ở sơn trang bàn cờ, ông vỗ tập văn bản điều trần đã viết mà than thở “Ta sao khổ thế! Nói nhiều mà chẳng được dùng… biến cố dồn dập theo nhau xảy ra lại đúng theo lời dự đoán Thế là trên đời này, ta không mảy may bổ ích Thật là đắc tội với đời nhiều lắm!” rồi sắp xếp
lại bản thảo thành Tập Quỳ ưu lục mà tâm huyết của ông là 4 chữ “tự cường
tự trị” và nỗi lòng của ông dồn lại trong 2 chữ “đau đời”
Mùa xuân năm 1892, phong trào nổi dậy Cần Vương dần tắt lịm Theo lệnh của “chính quyền bảo hộ” Pháp, Nam triều mở kỳ thi hội ở Huế như một biểu hiện của sự ổn định Nhân cái đầu bài văn sách có chủ đề “Thiên hạ thế
nhi di hi” Nguyễn Lộ Trạch đã viết bài Thiên hạ đại thế luận (bàn về thế lớn
thiên hạ) Tất nhiên không phải để dự thi mà nhằm dụng ý truyền bá trong giới sĩ tử thuộc tầng lớp tri thức đương thời, những quan điểm mới mẻ của
Trang 27ông Bài luận đã gây được tiếng vang đáng kể, ít nhất là đối với những người
có tâm huyết với hiện tình đất nước Nó có giá trị như một luận cương chính trị nhằm giải thoát đất nước khỏi tình trạng bế tắc không lối thoát
Mở đầu là một mệnh đề: “Một quốc gia còn hay mất là do chính sự - giáo hóa chứ không phải mạnh hay yếu, lớn hay nhỏ” Nói gọn lại và theo cách nói hiện đại là do đường lối chính trị Muốn có một đường lối đúng đắn thì phải có tầm nhìn rộng rãi, bao quát cả tình hình và xu thế thế giới, trong thời đại cạnh tranh- ý nói chủ nghĩa đế quốc phát triển Không phải chỉ để bàn luận xuông mà để trù tính phương lược cho sát thực
Nói về sức mạnh và sự hung hãn của Chủ nghĩa đế quốc phương Tây lúc bấy giờ, ông lấy dẫn chứng nhiều nước Châu Á đã bị nuốt chửng, trong đó
có Trung Quốc khổng lồ như thế nhưng vẫn bị xâu xé bốn bề Tuy chưa mất hẳn, không phải vì Trung Quốc có sức mạnh mà cái chính là vì sự cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau giữa các nước đế quốc Pháp tuy đã chiếm hẳn được cả nước ta, song bản thân nó cũng có nỗi lo vì ngay cả chính quốc cũng suy yếu
và bị các nước đế quốc khác dòm ngó
Rút kinh nghiệm từ quá khứ, triều Nguyễn để mất nước vì không thấy được cái đại thế trên cả thế giới, tự ru ngủ mình trong cái gọi là “thịnh trị” giả tưởng, không chịu nhìn thẳng vào thực tế xã hội đầy ung nhọt, không kịp thời sửa sang lại đất nước, để cho tệ nọ đẻ ra tệ kia mà dẫn đến hậu quả không thể tránh khỏi Đối với hiện tình, bài luận đưa ra lời khuyến cáo những người còn tâm huyết với đất nước “Chớ thấy đất nước loạn lạc mà sợ hãi, lẩn tránh Một ngày còn có trách nhiệm với đời này thì một ngày còn có việc phải làm” Ông gợi ý, theo gương Câu Tiễn xa xưa nhẫn nhục dài lâu tích lực lượng, học theo người Nhật, người Đức tự lực tự cường, thậm chí có thể lợi dụng ngay sự mở mang của đế quốc mà làm giàu, học những ngón kỹ thuật của chúng mà đánh đuổi chúng, dựng nền độc lập như Mỹ làm với Anh chẳng hạn
Trang 28Kết thúc bài luận là một lời kêu gọi tha thiết: “Xem cái lý, xét cái thế,
kịp thời sửa sang chính sự, giáo hóa để không phụ lòng mong mỏi trông đợi của dân lành, đó là công việc ngày nay vậy”[34, tr.28]
Không những chỉ kêu gọi mà hình như chính ông cũng bắt tay vào hành động, mặc dù gia đình lúc ấy gặp nhiều rủi ro, đau buồn, ông vẫn dứt khỏi nhà vào Bình Định gặp các đồng chí tính cách kinh doanh và mất ở đó năm 1895, khi chưa kịp thấy những tư tưởng của mình được đưa ra thực hiện
Bài Thiên hạ đại thế luận chỉ được truyền tay lưu hành trong phạm vi
hẹp ở miền Trung Tuy nhiên, sau đó ít lâu, trong số những người được tiếp xúc với nó, có một Phan Bội Châu tổ chức phong trào Đông Du sang du học ở Nhật Bản, một Phan Chu Trinh dựa và Pháp để đòi dân chủ, những người như Trần Qúy Cáp, Huỳnh Thúc Kháng vận động Duy Tân Phan Sào Nam có gọi ông là “người trồng mầm khai hóa”- với ý là người mở ra một đường hướng mới - không có gì là quá
1.2 Những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị của Nguyễn Lộ Trạch
Có thể nói, tư tưởng Nguyễn Lộ Trạch được hình thành là kết quả của một
sự hỗn dung các tư tưởng của Nho giáo và tư tưởng của nền văn hóa Tây phương
1.2.1 Ảnh hưởng từ truyền thống Nho học
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình công giáo yêu nước, thân sinh Nguyễn Quốc Oai là một quan chức có địa vị, lại có hiểu biết nên ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn Lộ Trạch đã được làm quen với bút nghiên, kinh sách của Thánh hiền Vốn thông minh, lại ham học hỏi, Nguyễn Lộ Trạch từ nhỏ nổi tiếng có trí nhớ hơn người, học đến đâu nhớ đến đó, ít khi làm bài Thưở nhỏ, ông học vỡ lòng về Hán học trong gia đình với thân sinh Sau theo học với tú tài ở những trường nổi tiếng và quan huyện Địa Linh mất ở Bình Định Vì thế
mà ông có một vốn liếng về Hán học rất lớn không thua các vị khoa bảng trong triều Nguyễn lúc bấy giờ Văn chương, cú pháp cũng như kiến thức về
Trang 29lịch sử và luật lệ Đông phương cũ, qua các bài viết của Nguyễn Lộ Trạch gửi lên triều đình vua Tự Đức không ai chê vào chỗ nào được Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, thân phụ là Tiến sĩ giữ chức Tổng đốc hàm Thượng thư, nhạc phụ là Tiến sĩ Phụ chính Đại thần Ông học rộng biết nhiều, ghét lối
từ chương nên không đi thi, chỉ chú tâm vào con đường thực dụng Ông thường giao du với những người có tư tưởng tiến bộ, chấp nhận cái mới Năm
1877, nhân một kỳ thi Đình có đề ra nói về thời sự, ông ở ngoài làm bài và dâng một bản Thời vụ sách nêu lên những yêu cầu bức thiết của nước nhà nhưng không được chấp nhận
Có thể nói vốn liếng kiến thức về Hán học và những hiểu biết về lịch sử cũng như luật lệ Đông phương là rất lớn, là cơ sở, những tiền đề lý luận đầu tiên có ảnh hưởng đến hệ thống tư tưởng của Nguyễn Lộ Trạch sau này
Những năm đầu, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi lập nên Vương triều Nguyễn, nền chính trị Việt Nam như đang mò mẫm tìm đường và chao đảo giữa hai khuynh hướng bảo thủ đóng cửa và cải cách mở cửa Trong triều đình xảy ra những cuộc đấu tranh quyền lực phức tạp, phe thủ cựu đã dần lôi kéo được Gia Long và tiến tới thao túng quyền lực trong triều đình
Kế tục Gia Long, Minh Mệnh lên ngôi và tiếp tục đi theo đường lối chính trị bảo thủ, triệt để theo tư tưởng chính trị Nho giáo Kể từ những năm
30 của thế kỷ XIX, bằng những nỗ lực của vua Minh Mệnh trong công cuộc chấn hưng tổ chức, thể chế quân chủ chuyên chế được đẩy tới đỉnh điểm Trong Nhà nước phong kiến đó, vua có uy quyền tối thượng, bộ máy hành chính hoàn chỉnh được quản lý từ trung ương đến địa phương, nền giáo dục khoa cử Nho học được đẩy mạnh; Nhà nước can thiệp sâu vào đời sống kinh
tế xã hội cũng như văn hóa dân chúng Chính vì vậy, nước Đại Nam khi đó đã trở thành một quốc gia mạnh có vị thế trong khu vực
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nước Đại Nam thời Nguyễn chứa nhiều mâu thuẫn khó giải quyết và tiềm ẩn những dấu hiệu khủng hoảng
Trang 30Trong thể chế quân chủ tập quyền quan liêu, bên cạnh mặt gắn bó, đã tồn tại những mặt mâu thuẫn giữa nhà vua và đám triều thần có thế lực Thời kỳ đầu, những vị vua mạnh như Gia Long, Minh Mệnh đã tìm cách triệt hạ một số công thần để đề phòng hậu họa Nhưng đến thời vua Tự Đức lại tỏ ra nhu nhược để cho đám đại thần quan liêu, Nho sĩ tìm cách bao vây, khống chế Mâu thuẫn cũng xảy ra giữa chính quyền trung ương muốn tập trung thâu tóm quyền lực với các cấp chính quyền địa phương (kể từ cấp tổng, trấn, tỉnh đến cấp làng, xã) có xu thế ly tâm, đòi hỏi nhiều hơn quyền tự trị Chính những mâu thuẫn đó đã dẫn đến nhiều cuộc bạo loạn mang tính chất chống lại triều đình trung ương cũng như các cuộc nổi dậy của nông dân chống lại tầng lớp quan tham và cường hào, ác bá nổ ra
Nguyên tắc bao trùm, chi phối trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thời Nguyễn là tập trung thống nhất quyền lực vào hoàng đế, tăng cường sự quản lí, giám sát chặt chẽ của nhà nước trung ương đối với tất cả các địa phương, quan lại các cấp Trong thực tế, mô hình nhà nước triệt để theo Nho giáo đã có tác dụng củng cố chế độ trung ương tập quyền, thúc đẩy
bộ máy chính quyền các cấp hoạt động có hiệu quả hơn Tuy nhiên, từ trong ý
đồ chủ trương và trong hiện thực, bộ máy nhà nước thời Nguyễn là một nhà nước quân chủ quan liêu chuyên chế nặng nề Nhà nước quân chủ chuyên chế
đó lại ở trước ngưỡng cửa cuộc cách mạng công nghiệp và trong tình hình chủ nghĩa tư bản phương Tây đang chuẩn bị ráo riết xâm lược Việt Nam, thì không còn phù hợp với xu thế của thời đại và yêu cầu phát triển của lịch sử dân tộc Hậu quả tất yếu mà triều đình nhà Nguyễn phải gánh chịu là mất lòng dân, không củng cố được khối đoàn kết dân tộc và ngày càng trở nên bảo thủ, trì trệ, kìm hãm sự phát triển xã hội, tách rời đất nước với thế giới bên ngoài
Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời kì này, chúng ta không thể phủ nhận tính đúng đắn, tích cực và những hiệu quả không nhỏ của những chính sách
do nhà Nguyễn mang lại, nhất là dưới các triều vua Gia Long và Minh Mệnh
Trang 31Tuy nhiên, trong các chính sách đó lại tồn tại rất nhiều vướng mắc, thậm chí mâu thuẫn, đó là: Trọng nông nhưng lại ức thương, cố duy trì quan hệ hòa hiếu với Trung Quốc, nhưng lại “ bế quan, tỏa cảng” với phương Tây; muốn buôn bán với các thương nhân phương Tây, nhưng cự tuyệt mọi đề nghị dẫn đến một văn kiện pháp lý chính thức; muốn tìm hiểu kỹ thuật phương Tây, nhưng lại bằng lòng với lời giải thích rằng đó chỉ là trò “ trí trá, gian xảo”; và còn nhiều mâu thuẫn nữa, để rồi cuối cùng thừa nhận rằng, tình hình đất nước đòi hỏi những cải cách, nhưng không mạnh dạn mang ra thực hiện những sáng kiến nhận được
Thái độ nửa vời đó của nhà Nguyễn đã không thể đi đến một chính sách đối ngoại nhất quán và phù hợp thời cuộc Thái độ đó chấm dứt ngay khi vấp phải những khó khăn đầu tiên, xuất hiện vào cuối thập niên 30, đầu thập niên
40 của thế kỷ XIX, khi Trung Quốc nước mà chế độ phong kiến Việt Nam, kể
cả triều Nguyễn xem là tấm gương để noi theo, bị thất thế trước phương Tây
Sự kiện này đã khiến Minh Mệnh lo lắng và ông đã cử các phái đoàn sang các nước vùng Đông Nam Á, những nơi người Châu Âu có mặt, thậm chí sang cả Anh, Pháp để thăm dò, nắm tình hình, và tìm cách đối phó Tuy nhiên, sau khi Minh Mệnh qua đời ( 1/1841), những toan tính của ông đã không được các vị vua kế nghiệp tiếp tục thực hiện, nhất là trong hoàn cảnh vào những năm sau
đó, các tàu của Pháp thường xuyên tỏ thái độ gây hấn với Việt Nam
Đến thời vua Thiệu Trị và đặc biệt là Tự Đức đã quay hẳn với phương Tây Trong bối cảnh quốc tế và khu vực thay đổi nhanh chóng, bang giao quốc tế ở Viễn Đông đã bị đảo lộn hoàn toàn bởi sự có mặt của một nhân tố mới đó là các cường quốc phương Tây, nhất là Anh và Pháp Vị thế cường quốc số một, duy nhất và chưa hề bị thách thức cả ngàn năm nay trong khu vực của Trung Quốc bị thách thức nghiêm trọng Do vậy, việc xác lập một đường lối ngoại giao cũ sẽ chẳng còn ý nghĩa tích cực trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, nếu đường lối đó chỉ lấy Trung Quốc làm đối trọng duy nhất
Trang 32Đến cuối thế kỉ XIX, vương triều Nguyễn rơi vào tình trạng khủng hoảng toàn diện Sau nhiều năm chiến tranh và qua 4 bản hoà ước 1862, 1874,
1883 và 1884 nước Pháp đã hoàn tất việc xâm lăng thực dân ở Việt Nam Nam kỳ trở thành thuộc địa, Bắc kỳ là đất bị bảo hộ và Trung kỳ là nơi Pháp lập chế độ trú sứ, nhưng trên thực tế cả ba miền đều là thuộc địa của Pháp, nhà Nguyễn ở Huế không có quyền hành gì cả Hoà ước 1884 xác định quyền
đô hộ của Pháp ở Việt Nam đã thi hành tới ngày 9/3/1945 Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng đó, nhưng nguyên nhân chính là do sự độc tôn Nho giáo của vua quan nhà Nguyễn Thế giới quan của họ nằm trong khuôn khổ Nho giáo và không một vị vua nào muốn từ bỏ nó Trên thực tế, nhà Nguyễn đã thực hiện chính sách đóng cửa đối với phương Tây, kể cả với Pháp nước phương Tây được ưu đãi nhất lúc đó
Quan điểm Nho giáo cho rằng, lịch sử xã hội phát triển theo vòng tuần hoàn, thời trị và thời loạn kế tiếp nhau, đắp đổi nhau theo vận hội, thời đại bình trị lý tưởng của loài người là các vua Nghiêu, Thuấn nên các triều đại sau phải tuân thủ nguyên tắc “pháp tiên vương” (bắt chước người xưa) Quan điểm đó đã tạo ra sự thụ động và trì trệ trong nhận thức thời cuộc của người Việt Nam Đồng thời, sự ảnh hưởng của tư tưởng “nội hạ ngoại di” ( coi bên trong là văn minh, bên ngoài là mọi rợ) của Trung Hoa phong kiến đã tạo ra rào cản ngăn trở tầng lớp trí thức Nho giáo và vua quan triều Nguyễn mở cửa đối với văn minh phương Tây Nhận thức được công cụ thống trị về tư tưởng của Nho giáo, đặc biệt trong việc củng cố vương quyền, Gia Long và Minh Mệnh đã đưa Nho giáo lên địa vị quốc giáo
Chính sách đối ngoại sai lầm của các vua triều Nguyễn, bắt đầu từ Gia Long, được hoàn thiện và củng cố bởi Minh Mệnh, được duy trì bởi Thiệu Trị
và Tự Đức là nguyên nhân sâu xa làm cho nước Việt Nam khi đó trở nên lạc hậu so với nhiều nước đương thời Nói cách khác, chính sách đóng cửa, bế quan tỏa cảng, tự cố thủ trong nền văn hóa Nho giáo đã đưa Việt Nam vào
Trang 33tình trạng trì trệ về mọi mặt Mặc dù các vua triều Nguyễn luôn cử tàu đi thám sát mọi tin tức các nước xung quanh; Minh Mệnh đã tiếp xúc với báo Tiếng Anh ở Hương Cảng, triều đình luôn sử dụng hàng hóa mua của phương Tây
và các nước lân cận, nhưng tinh thần tự tôn dân tộc, tư tưởng “nội hạ, ngoại di” đã khiến họ cự tuyệt với việc tiếp thu, học tập, phổ biến các tri thức văn minh phương Tây ngay từ đầu Tư tưởng phòng thủ bị động, tiêu cực đối với
sự xâm nhập của văn hóa, văn minh phương Tây nhằm phòng tránh nguy cơ xâm lược từ hướng này đã chứng tỏ sự bất cập của vua quan nhà Nguyễn trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước
Xuất phát từ quan niệm cho rằng, việc đặt quan hệ giao dịch, thương mại chính thức với các nước phương Tây có thể sẽ dẫn đến sự suy đồi về đạo đức, làm xói mòn những giá trị của tư tưởng Nho giáo, ảnh hưởng trực tiếp đến uy thế quyền lực và sự tồn tại của triều đình, nên các vua triều Nguyễn đã bày tỏ thái độ cự tuyệt với xu hướng này Bên cạnh đó, những hoạt động trắng trợn của các giáo sĩ, thừa sai xâm nhập bất hợp pháp lãnh thổ, hỗ trợ hoạt động chống đối triều đình của một số lực lượng xã hội trong quá trình truyền
bá đạo Thiên chúa giáo, đã làm cho triều đình nhà Nguyễn càng thận trọng, e
dè và cảnh giác trong mối quan hệ với phương Tây Thậm chí, vua Tự Đức còn ban hành các chỉ dụ cấm đạo, không cho các giáo sĩ hoạt động, gây ra sự căng thẳng trong quan hệ Việt - Pháp, tạo cớ để pháp đẩy mạnh quá trình can thiệp vào Việt Nam
Phản ứng của triều Nguyễn trước sự bành trướng về thương mại, quân
sự của Pháp và các nước phương Tây là thụ động, lo sợ, nghi ngờ, thiếu tự tin Thay vì một mặt phải tìm hiểu, tiếp cận, nghiên cứu đối phương, mặt khác phải phát huy sức mạnh bộ máy nhà nước, động viên, tập hợp lực lượng để đấu tranh thì nhà Nguyễn lại tìm cách né tránh, hạn chế giao tiếp, thực hiện chủ trương “bế quan tỏa cảng”
Trang 34Nguy cơ mất nước vào tay bè lũ thực dân pháp ngày càng rõ, tình hình
đó làm cho những người yêu nước và thức thời không thể có thái độ bàng quan Ngay cả một số quan lại triều đình, nhất là một số người có dịp đi ra nước ngoài công cán thấy rõ sức mạnh của văn minh thế giới cũng phải lên tiếng, đề đạt với triều đình một số công việc cấp bách cần làm để nước giàu, dân mạnh thì mới có khả năng bảo vệ độc lập dân tộc
Phạm Phú Thứ (1821-1882) trong phái đoàn ngoại của triều đình sang Pháp đầu năm 1863 đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trên đường đi và tại xứ người Khi về nước ông đã cho khắc in 5 bộ sách giới thiệu nền văn minh phương Tây, đó là: “Bác vật tân biên” (nói về khoa học); “Khai môn yếu pháp” (nói về khai mỏ); “Hàng hải kim châm” (nói về đi biển); “Tùng chánh chinh quy” (kinh nghiệm làm quan) và “Vạn quốc công pháp” (giao thiệp quốc tế)
Theo Phan Bội Châu, hệ tư tưởng Nho giáo đã hết vai trò lịch sử và chỉ
làm cho dân tộc ta mất dần sức sống Ông viết: “… nước Việt Nam mơ màng
đôi mắt ngủ, uể oải một thân bệnh, tôn quân quyền, ức dân quyền, trọng hư văn, khinh võ sĩ, trộm cướp rình mò ở sân, mà vợ con say hát trong nhà, chủ nhân nằm dài trên giường luôn luôn ngáp mỏi mệt Than ôi! Nguy ngập lắm thay!” [46] Còn nền Nho học thì không thiết thực, tạo nên tầng lớp văn sĩ
chẳng có mấy tác dụng đối với xã hội: “Các triều đình chuyên chế đã dùng
khoa cử làm cái bẫy ràng buộc hào kiệt, tai mắt xóm làng cũng chỉ chuyên chú đến trường thi, làm cho người ta sinh ra từ tám tuổi trở lên đã vùi đầu,
mờ mắt vì cái ngục tù bát cổ thi phú Tiếng nói là văn sĩ, chứ thực ra chỉ là một vật chết không biết cái gì, cũng không làm được trò gì” [46]
Phan Châu Trinh cũng cho rằng, do chế độ phong kiến đã thực sự thối nát, mục ruỗng, nhu nhược, nên đã để cho quyền lực chính trị rơi vào tay thực dân Pháp Bộ máy của chế độ phong kiến là bù nhìn, như quân trên bàn cờ
tướng: “Một ông tướng lác đứng trong cung, Sĩ tượng khoanh tay chẳng vẫy
Trang 35vùng” Tầng lớp Nho sĩ vẫn chìm đắm trong hư văn, chưa kịp chuyển biến
theo thời thế: “Việc đời nhìn lại thấy chẳng còn gì, sông núi không còn nước
mắt để khóc các bậc anh hùng Muôn nhà làm tôi tớ dưới ách cường quyền, nhiều người đang ngủ mê trong giấc mộng văn chương bát cổ”[46]
Nguyễn An Ninh là trí thức Tây học, cũng coi sai lầm lớn nhất là quá
đề cao tư tưởng Nho giáo, dẫn đến sự cản trở quá trình phát triển của lịch sử Ông nói: “… suy tôn học thuyết của Khổng Tử lên tới giá trị cao nhất về tinh thần, thì lại là một bước khác, khó cho ta dấn tới được” Không chỉ có vậy, việc nhào nặn tư tưởng Khổng Tử theo quan điểm của các nhà Nho phong kiến cũng rất tai hại Nhiều nhà tư tưởng tiến bộ khác, như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can,… cũng đã kịch liệt phê phán Nho giáo
và chế độ phong kiến, thể hiện trong tư tưởng và sự bất hợp tác với chế độ phong kiến
Thay vì một mặt phải tìm hiểu, tiếp cận, nghiên cứu đối phương, mặt khác phải phát huy sức mạnh bộ máy nhà nước, động viên, tập hợp lực lượng
để đấu tranh thì nhà Nguyễn lại tìm cách né tránh, hạn chế giao tiếp, thực hiện
chủ trương bế quan, tỏa cảng, “Việc bang giao giữa nước này với nước khác
đều vì lợi, nhưng nước mạnh bao giờ cũng trưng việc nghĩa để che đậy ý gian, rồi kết quả mọi điều lợi đều về nước mạnh, chứ chẳng vì nghĩa chi cả Thế mà triều đình Huế, cũng như nhiều người cứ u u, mê mê đi cầu cạnh người, không biết lo làm cho dân giầu, nước mạnh, thật là phường ích kỷ? vị lợi chỉ biết chăm lo bản thân mà coi thường quốc gia dân tộc” [30, tr.26]
1.2.2 Ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây
Sau khi thôi học chữ Hán, Nguyễn Lộ Trạch đã có mở trường dạy học chữ Hán trong nhà chung địa phương và thường xuyên tiếp xúc với văn hóa Pháp, học tiếng Pháp và tiếp cận được một số hiểu biết về các khoa học thường thức của Tây phương
Trang 36Nguyễn Lộ Trạch là một trí thức phong kiến, ít có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với nền văn hóa và khoa học kỹ thuật của phương Tây, nhưng ông đã
tự học, tự tìm tòi để nâng cao tầm hiểu biết của mình Qua các tác phẩm “Thời
vụ sách thượng”, “Thời vụ sách hạ”, “Thiên hạ đại thế luận”, ông đã thể
hiện kiểu suy nghĩ mới lạ, nhãn quang sáng suốt, tầm nhìn xa rộng và nhiệt tình yêu nước cháy bỏng của mình
“Thiên hạ đại thế luận” đã trình bày cái “đại thế” của hoàn cầu nói
chung, trong đó tập trung phân tích thế lực của các nước đế quốc tại châu Á Ông chỉ ra rằng: Các nước phương Tây không phải điều binh khiển tướng, tải lương từ “ngoài trùng dương bảy vạn dặm” như trước nữa mà nó đã có những căn cứ quân sự và cơ sở hậu cần trên nững vùng đất Châu Á mà nó chiếm được, cho nên Trung Quốc và Châu Á đều nằm trong tầm kiểm soát của các cường quốc phương Tây Trung Quốc rộng lớn nhưng cũng đang bị các nước phương Tây xâu xé như đàn cá mập đớp mồi
Nói tóm lại, ngoài vốn liếng về Hán học, Nguyễn Lộ Trạch đã sớm tiếp xúc với văn hóa phương Tây, trước hết có thể là qua các giáo sĩ thừa sai người Pháp Nguyễn Lộ Trạch cũng đã có dịp đi ra nước ngoài, nếu không qua các nước Tây Âu thì cũng qua các nước Đông Nam Á, nơi đây ông đã được đọc các sách báo của Tây phương đã được dịch ra tiếng Trung Quốc
Theo tham khảo các tài liệu tại nhà của Nguyễn Lộ Trạch ở làng Bình Định, thì trong tủ sách của Nguyễn Lộ Trạch có rất nhiều quyển sách chữ Hán thuộc loại Tân thư Nhờ đó mà vào đầu năm 1861, Nguyễn Lộ Trạch đã có được một số kiến thức khá rộng lớn về khoa học, kỹ thuật cũng như khoa học
- xã hội Tây phương
1.2.3 Các tư tưởng canh tân của Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX
Có thể nói, đến nửa cuối thế kỷ XIX, ở Việt Nam xuất hiện hai luồng tư tưởng chống đối nhau Một bên là vua chúa và các sĩ phu xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội, họ tự đắc, tự mãn với bằng cấp, kiến thức Nho học của
Trang 37mình, có quyền bính trong tay, cho mình là nhất thiên hạ, không ai văn minh hơn mình, quay lưng với thời cuộc Một bên là những quan lại, chí sĩ yêu nước, có tư tưởng phóng khoáng tiến bộ, mong muốn canh tân để cứu nước Trong hàng ngàn quan lại, nho sĩ cùng chịu nền giáo dục khoa cử đã xuất hiện một số con người nhận thức được thực trạng yếu kém và tình thế hiểm nghèo của dân tộc, đưa ra các đề nghị canh tân nhằm cứu vãn đất nước khỏi họa ngoại xâm Chúng ta có thể lí giải được điều này khi căn cứ vào năng lực tư duy của cá nhân các sĩ phu yêu nước Họ can đảm biểu lộ sự thật, tha thiết mong muốn triều đình nghe rõ lập trường cứu nước thương dân của mình Nhưng triều đình lạc hậu cố chấp, một mực thi hành đường lối bế quan, tỏa cảng, kì thị ngoại quốc Đường lối đó cuối cùng đã dẫn đến sự mất nước vào tay thực dân pháp
Điểm chung của các nhà tư tưởng cải cách Việt Nam giai đoạn này là
họ đều là những người xuất thân trong gia đình khoa bảng, thừa hưởng nền giáo dục Nho học và thuộc tầng lớp trên của xã hội, nhờ có trình độ học vấn
và đỗ đạt trong các kì thi, phần lớn họ đều nắm giữ một chức vụ trong bộ máy quan lại của triều Nguyễn Ví dụ như Phạm Phú Thứ đỗ Tiến sĩ năm 1843 và
đã từng giữ chức Tham tri Bộ Lại rồi Thượng thư Bộ Hộ Phan Thanh Giản, người Nam Kỳ đầu tiên giữ học vị Tiến sĩ; là nhà ngoại giao, ông giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong các cuộc đàm phán Pháp - Việt trong giai đoạn đầu thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Bùi Viện từng được cử đi sứ hai lần sang
Mỹ với mục đích cầu viện cứu nước nhưng không thành công Cho dù ở vị trí nào trong bộ máy đó, thì tất cả họ đều thể hiện là những ông quan không ham danh vọng, có tâm huyết với vận mệnh dân tộc Mặt khác những nhà canh tân Việt Nam giai đoạn này đều là những người trực tiếp hay gián tiếp, ít hay nhiều tiếp xúc với văn minh phương Tây Phần lớn các sĩ phu có tư tưởng cải cách đều bày tỏ sự lo ngại về tình hình đất nước, về thái độ bàng quan, thờ ơ, chậm trễ của triều đình, theo họ, lẽ ra phải tiến hành ngay các biện pháp canh
Trang 38tân, chấn hưng đất nước, phải đề ra những chủ trương đối nội, đối ngoại, phù hợp, không thể trần trừ, chờ đợi lâu hơn nữa
Mục đích cấp thiết trước mắt theo các nhà cải cách là tạo ra thế cân bằng cho đất nước đủ sức chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp, cứu dân tộc khỏi ách nô dịch Không chỉ hạn chế bởi những mục đích ngắn hạn, trước mắt nhằm chống lại thực dân Pháp, các nhà cải cách còn nhìn nhận và đề ra mục đích lâu dài, toàn diện mà kế hoạch này phải đạt được Đó là đưa đất nước phát triển toàn diện về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa giáo dục, nhằm tiến kịp, thậm chí vượt các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, bởi vì theo Đặng Huy Trứ (1825-1874), một người được tiếp xúc nhiều
với văn minh phương Tây: “Trong thiên hạ không có cái nhục nào bằng cái
nhục không được như người” Trước mắt, các nhà cải cách đều thống nhất kế
hoạch thực hiện một loạt các biện pháp tức thời mà trọng tâm là cải cách quân đội như học tập binh thư kết hợp với sử dụng, chế tạo vũ khí, tăng cường kỹ thuật quân ngũ, có chế độ ưu đãi thích đáng cho quân đội, xây dựng lực lượng dân binh hùng hậu Về lâu dài, theo các nhà canh tân, triều đình phải thực hiện công cuộc cải cách sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, xã hội và giáo dục nhằm đưa đất nước phát triển
1.3.4 Ảnh hưởng từ tư tưởng cải cách Duy tân Nhật Bản
Trước xu thế bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây hầu hết các nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malayxia… đều trở thành thuộc địa của tư bản phương Tây Tuy nhiên, ở châu Á vẫn có các quốc gia sớm nhận thức được cục diện chính trị thế giới, xây dựng chương trình hành động phù hợp bảo vệ chủ quyền dân tộc, phát triển đất nước Với Nguyễn Lộ Trạch Nhật Bản chính là tấm gương để Việt Nam học tập, noi theo và đây được coi là những tiền đề khách quan hình thành tư tưởng chính trị Nguyễn
Lộ Trạch
Trang 39Nhật Bản ngay từ cuối thế kỷ XVI đã tiếp xúc với văn hóa châu Âu qua các đoàn thương thuyền của Bồ Đào Nha đến Cửu Chân rồi qua các giáo sĩ tôn giáo Trong vấn đề truyền giáo có kèm cả văn học Tây Âu rất thuận lợi Học vấn và tư tưởng Tây Âu lan tràn mau chóng, tạo thành ảnh hưởng sâu đậm trong công chúng Một dẫn chứng thú vị khác là phong trào chơi bản đồ
mà người dân nào, nhà nào cũng chơi với các loại bản đồ Nhật Bản, bản đồ
Âu, Á, Phi được dán ở khắp mọi nơi
Đến thời Đức Xuyên Cát Bồng (1716-1745) thì việc phổ biến văn hóa-
kỹ thuật phương Tây đều không bị cấm đoán nếu không phạm đến đường lối chính trị của Mạc Phủ Chính Đức Xuyên Cát Bồng đã khuyến khích phiên dịch các sách giáo khoa kỹ thuật châu Âu từ trình độ sơ đẳng trở lên bằng lời văn bình dị, dễ hiểu
Từ những năm thuộc niên hiệu Minh Hòa đến Khoan Chính 1800) thì nền Âu học nói chung đã đi từ hấp thụ đến thấu đáo chuyên khoa, nhóm văn học, nhóm về khoa học, nhóm về tổ chức xã hội, nhóm về chính trị
(1764-và nhóm nào cũng lên tiếng phê bình, so sánh sự chênh lệch giữa mình với người và kết luận bằng những yêu cầu cải cách
Như vậy có thể thấy cuộc Duy Tân thời Minh Trị không phải dấy lên một ngày, một buổi mà nó là cả một quá trình vận động qua nhiều thời gian, không phải sáng kiến của Minh Trị Thiên Hoàng, khi ông mới là ông vua 15-
16 tuổi
Cuộc vận động Duy Tân của Nhật thành công là nhờ có một đội ngũ trí thức duy tân làm tham mưu và hậu thuẫn cho Thiên Hoàng, khi vua mới lên ngôi Là một ông vua sáng suốt, có kiến thức, hiểu thời thế và kiên quyết thực hiện chủ trương duy tân, đặc biệt bên trong nước Nhật khi đó đã có một cơ sở vật chất tuy khiêm tốn so với các nước phương Tây nhưng có đủ tác dụng trong bước đi ban đầu Vì thế, ngày 6/4/1868, khi Thiên Hoàng cùng với quần thần văn võ làm lễ tuyên thệ duy tân mở rộng dân chủ (lập chế độ đại nghị,
Trang 40ban hành quyền bình đẳng trong nhân dân), mở rộng cửa bang giao, canh tân
và phát triển đất nước được xem như một dấu ấn đặc biệt, mở ra cho Nhật Bản một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Minh Trị Duy tân, đưa đất nước lên ngang tầm với các cường quốc trên thế giới
Nghiên cứu về Nhật Bản, một nước nhỏ, kém văn minh nhưng chính nhờ việc canh tân đúng lúc, hợp thời mà dần trở nên hùng mạnh, có chí hướng lớn và có vị thế, không bị các quốc gia phương Tây khinh thường, quấy nhiễu Nguyễn Lộ Trạch đề nghị triều đình nên học tập Nhật Bản chủ trương
mở rộng quan hệ với nhiều nước Ông cho rằng để cứu nước lúc bấy giờ chỉ
có 2 con đường: Trong nước thì “tự cường tự trị”, bên ngoài thì“tìm những nước thù địch với chúng (Pháp) mà giao thiệp để dò xét những chỗ yếu kém của chúng”, lợi dụng mâu thuẫn giữa các cường quốc mà đứng vững
Chủ trương của Nguyễn Lộ Trạch là lợi dụng mâu thuẫn giữa các cường quốc phương Tây để các nước kiềm chế lẫn nhau Ông không nói đến việc dùng quân tiếp viện mà chỉ cần thanh thế các nước đối nghịch với Pháp,
hạn chế Pháp cho ta Nguyễn Lộ Trạch nói: “Từ khi người tây dương gây sự
với ta đến nay Ta chỉ xem bản đồ mà chỉ đó là nước phật lăng cơ mà nào có biết nước ấy ở đâu? Đương lúc nước Phổ đánh nước Pháp, nếu ta có người sớm am hiểu tình hình ấy thì có thể nhân lúc Pháp rã rời mà mưu đồ khôi phục Nam kỳ Đó cũng là một cơ hội tốt, mất ở đằng đông, thu lại ở đằng tây Song chân ta không bước ra khỏi sân nhà thì làm sao biết được tình thế để lợi dụng cơ hội được? trước đây, do chiến tranh Anh - Pháp đời nọ qua đời kia
mà Hoa Kỳ được Pháp giúp đỡ đã nổi lên độc lập Vì thế, Pháp vẫn là kẻ thù đời đời của Anh Phổ cũng là nước thù địch với Pháp Nếu mình biết được nước thù địch với Pháp mà giao dịch với họ thì nội tình bí mật của Pháp không thể giấu ta được” [12, tr.78]
Chủ trương này chưa được thực hiện nên chưa thể đánh giá được kết quả, nhưng việc liên lạc giao thương với nhiều nước chẳng đã giúp cho Nhật