1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tạp chí người làm báo việt nam với những vấn đề lý luận – thực tiễn nghề nghiệp báo chí hiện nay

113 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng những kiến thức, lí luận mà tôi đã được trang bị trong nhà trường, những vấn đề thực tiễn trong quá trình công tác, quá trình tôi khảo sát trên các số báo của tạp chí, tôi có những

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

BẾ KIM CƯƠNG

TẠP CHÍ NGƯỜI LÀM BÁO VIỆT NAM

VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN

NGHỀ NGHIỆP BÁO CHÍ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

BẾ KIM CƯƠNG

TẠP CHÍ NGƯỜI LÀM BÁO VIỆT NAM

VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN

NGHỀ NGHIỆP BÁO CHÍ HIỆN NAY

Ngành : Báo chí học

Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN DỮNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

THEO Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, bảng biểu và kết quả trong luận văn đảm bảo chính xác, trung thực, dựa trên thực tế khảo sát và báo cáo của các cơ quan hữu quan Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Bế Kim Cương

Trang 5

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Báo chí, Khoa Phát thanh - Truyền hình (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã nhiệt tình giảng dạy, đào tạo tôi trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Dững đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn đồng nghiệp các cơ quan báo chí, các chuyên gia, đặc biệt cảm ơn lãnh đạo, phóng viên Tạp chí Người Làm báo Việt Nam

đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý cho tôi trong quá trình tìm hiểu, tiếp cận các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài để hoàn thành luận văn

Mặc dù tác giả đã nghiêm túc thực hiện luận văn nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả mong muốn tiếp tục nhận được

sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy, cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Trang 6

Bảng 2.1 Số lượng bài viết lý luận báo chí trên tạp chí Người làm báo Trang 68

Trang 7

NLB: Người làm báo

Trang 8

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: QUAN NIỆM CHUNG VỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN NGHỀ NGHIỆP BÁO CHÍ 13

1.1 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 13

1.2.Đối tượng nghiên cứu của báo chí học và phạm vi bao quát của tạp chí người làm báo 25

Chương 2: THỰC TRẠNG TẠP CHÍ NGƯỜI LÀM BÁO ĐĂNG TẢI CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN –THỰC TIỄN BÁO CHÍ HỌC 35

2.1 Giới thiệu đối tượng khảo sát 35

2.2 Các vấn đề lý luận-thực tiễn được thông tin trên tạp chí người làm báo 36

2.3 MẤY vấn đề của báo chí Việt Nam 70

Chương 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ KHOA HỌC CHO TẠP CHÍ NGƯỜI LÀM BÁO 79

3.1 Những vấn đề đặt ra 79

3.2 Một số khuyến nghị khoa học 81

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 93

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

“Thanh niên” là tờ báo đầu tiên của nước ta, ra đời ngày 21/6/1925, đến nay, báo chí cách mạng Việt Nam đã trải qua 90 năm xây dựng và trưởng thành Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, báo chí cách mạng Việt Nam đã luôn nỗ lực phấn đấu để hoàn thành sứ mạng của mình, là vũ khí sắc bén trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam với nhiều gian khổ, mất mát, hy sinh, báo chí đã bám sát thực tiễn, phục vụ kịp thời nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc Sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975), báo chí ở nước ta đã phát triển khá nhanh về số lượng

và chất lượng, hình thành hệ thống cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình rộng khắp cả nước; nội dung thông tin của báo chí ngày càng phong phú, hiệu quả Trong công cuộc đổi mới, báo chí đã góp phần to lớn vào việc thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Ngày nay, báo chí Việt Nam đang đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của đất nước Đội ngũ người làm báo Việt Nam là những người đã tạo nên bước đột phá từ một nền báo chí so với báo chí thế giới còn non trẻ nhưng

sự phát triển của báo chí Việt Nam đạt được sự lớn mạnh ngang hàng với báo chí thế giới Hiện nay, cả nước ta có trên 840 cơ quan báo và tạp chí in; 98 báo, tạp chí điện tử; 67 đài phát thanh truyền hình Cả nước có gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ Nhà báo và khoảng 5.000 phóng viên đang hoạt động báo chí nhưng chưa đủ điều kiện cấp thẻ

Nắm bắt được xu thế phát triển của báo chí trong nước, ngày 21/3/1985,

với quyết định của Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam khóa IV, Tạp chí Người Làm Báo ra đời với mục đích góp phần tích cực bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt của người làm báo Theo nhà báo Phan Quang, nguyên Chủ

Trang 10

tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Biên tập đầu tiên của Tạp chí: Người Làm Báo ra đời trong sự chào đón và hoan nghênh của các đồng nghiệp Đây là một sản phẩm cố gắng vượt lên một số khuôn sáo thời bấy giờ, trình bày hình thức nhẹ nhàng, với nhiều thông tin bổ ích, đa dạng cùng quy về một tôn chỉ: Là cơ quan lý luận nghiệp vụ của báo giới Việt Nam 30 năm xây dựng, đổi mới và phát triển cùng với nhịp đập sôi động của đời sống báo chí, tuy tên gọi có lúc khác nhau (từ cuối năm 1991 đến năm 1996, Tạp chí mang tên Nhà báo và Công luận) nhưng xét về mặt nội dung, Người Làm báo luôn kiên trì thực hiện thành công chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn báo chí và là diễn đàn trao đổi nghiệp vụ của báo giới cả nước Từ tháng 6 năm 2008, Tạp chí Người Làm Báo xuất bản bộ mới, đổi mới về nội dung và hình thức được lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, các cấp hội và cơ quan báo chí, nhà báo hội viên ghi nhận, đánh giá cao Nhiều chuyên mục mới của Tạp chí tạo được hiệu ứng sâu sắc, tác động tích cực đến đời sống báo chí, góp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho nhà báo hội viên, tăng cường mối quan hệ gắn kết giữa báo giới với công chúng báo chí và xã hội Bên cạnh ấn phẩm Người Làm báo xuất bản hàng tháng, Tạp chí còn xuất bản Trang thông tin điện tử Nguoilambao.vn Đây là việc làm rất cần thiết, trong bối cạnh hội nhập quốc tế và công nghệ thông tin phát triển mạnh hiện nay Thành quả ấy là kết quả sự đóng góp, cống hiến của nhiều thế hệ cán bộ, phóng viên, cộng tác viên Trong môi trường cạnh tranh báo chí rất gay gắt hiện nay, nhiều tờ báo chạy theo thị hiếu tầm thường, nhưng Tạp chí Người Làm Báo luôn giữ đúng định hướng tuyên truyền, đúng tôn chỉ, mục đích của báo, không sa vào tình trạng thương mại hóa, đánh mất bản sắc riêng của mình

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy : "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng"; "Nhiệm vụ của Hội Nhà báo là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ Có như thế thì Hội

Trang 11

Nhà báo mới làm tròn nhiệm vụ của mình và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng" Tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ X (diễn ra tại Hà Nội, từ mùng 7 đến 9/8/2015) Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu chỉ đạo Đại hội nhấn mạnh: Mỗi nhà báo, cơ quan báo chí cần phát huy truyền thống vẻ vang do các thế hệ những người làm báo bồi đắp suốt 90 năm qua, xây dựng bản lĩnh chính trị, nêu cao trách nhiệm xã hội, nghĩa

vụ công dân và đạo đức nghề nghiệp để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ chính trị của mình, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và lòng mong đợi của nhân dân Tổng Bí thư cũng khẳng định: Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn đánh giá cao vai trò quan trọng của báo chí trong sự nghiệp cách mạng; luôn quan tâm, ủng hộ, tạo điều kiện để báo chí phát triển và mong muốn giới báo chí và Hội Nhà báo nỗ lực hơn nữa để hoàn thành tốt sứ mệnh vẻ vang và cao cả của mình

Báo chí cách mạng Việt Nam là báo chí kiểu mới, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng chính trị, tư tưởng, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao cả của mình Báo chí Việt Nam chính là vũ khí cách mạng sắc bén của Đảng, của chế độ trong công tác tuyên truyền, giáo dục toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đoàn kết, vượt qua khó khăn, thách thức, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta giành những thắng lợi

to lớn Đội ngũ những người làm báo luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đội ngũ làm báo chí cách mạng là đội quân đi đầu trong công tác chính trị, tư tưởng, văn hóa, với chức năng tuyên truyền, vận động nhân dân đứng lên làm cách mạng vì độc lập, tự do, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Người làm báo luôn phải tự trau dồi kiến thức, học tập từ xã hội, đồng nghiệp, sách vở Tạp chí Người làm báo là 1 tạp chí chuyên ngành, là sân chơi bổ ích của những người làm báo, là nơi những phóng viên, người làm

Trang 12

báo giao lưu, trao đổi lại kinh nghiệm nghề nghiệp cũng như tiếp nhận được nguồn thông tin, tri thức từ đồng nghiệp trên chính diễn đàn của mình

Cùng với sự phát triển của nền báo chí nước nhà, Tạp chí Người làm báo Việt Nam với chức năng và nhiệm vụ của mình đã đóng vai trò quan trọng cùng lịch sử phát triển của báo chí Cách mạng Việt Nam Bằng những kiến thức, lí luận mà tôi đã được trang bị trong nhà trường, những vấn đề thực tiễn trong quá trình công tác, quá trình tôi khảo sát trên các số báo của tạp chí, tôi có những nhận xét, đánh giá, những ý tưởng cá nhân về vấn đề nghề nghiệp báo chí đã được đăng tải trên tạp chí, qua đó hy vọng kiến giải những biện pháp nâng cao chất lượng của Tạp chí đối với người làm báo

Vấn đề quan trọng là, hiện nay quan niệm về lý luận hay lý thuyết báo chí chưa có nội hàm rõ ràng và thống nhất; đối tượng nghiên cứu của báo chí học càng như bức tranh hư ảo – tức là cái gì cũng có thể và những gì thì không thể chỉ ra Vậy nên, trong các sách về lý luận báo chí chưa có quan niệm rõ ràng, chưa có giới thuyết nghiên cứu hay phạm vi bàn thảo, mà hầu hết gặp đâu viết đấy, thấy gì viết nấy Đây là hạn chế phổ biến của nền lý luận báo chí Việt Nam

mà chúng ta cần khắc phục từng bước, trước hết là từ giới nghiên cứu học thuật Vấn để này thôi thúc chúng tôi tìm hiểu xem tạp chí Người làm báo Việt Nam –

cơ quan lý luận nghiệp vụ của Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam đã và đang quan tâm những vấn đề gì trong bức tranh lý luận báo chí nói chung, trong phạm vi đối tượng nghiên cứu của báo chí học nói riêng

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Qua tìm hiểu thực tế, người nghiên cứu nhận thấy các kết quả nghiên cứu báo chí được thể hiện dưới dạng các bài báo, chuyên luận, tuyển tập, công trình của các nhà khoa học, luận án, luận văn của học viên sau đại học, tuyển tập các bài báo, kinh nghiệm làm báo của các nhà báo Những tác giả tiêu biểu với những lĩnh vực nghiên cứu tiêu biểu như: nghiên cứu lịch sử báo chí có Hồng Chương, Nguyễn Thành, Đỗ Quang Hưng…; về những vấn đề cơ sở lý luận báo

Trang 13

chí truyền thông có Tạ Ngọc Tấn, Nguyễn Văn Dững, Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang …; về các thể loại, tác phẩm báo chí có Hà Minh Đức,

Tạ Ngọc Tấn, Trần Thế Phiệt, Nguyễn Văn Dững, Nguyễn Thị Thoa, Nguyễn Đức Dũng, Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, Nguyễn Tiến Hải, Nguyễn Đình Lương…; về ngôn ngữ báo chí truyền thông có Vũ Quang Hào, Hoàng Anh, Nguyễn Trọng Báu, Hoàng Trọng Phiến…; quan hệ giữa báo chí, văn học và ngôn ngữ có Hà Minh Đức, Nguyễn Thiện Giáp, Trần Thị Trâm, Nguyễn Đức Dũng, Đoàn Hương, Nguyễn Thị Minh Thái ; vấn đề báo chí và

dư luận xã hội có Mai Quỳnh Nam, Nguyễn Văn Dững, Lê Thanh Bình ; vấn

đề báo chí và kinh tế, báo chí trong kinh tế thị trường có Vũ Hiền, Hoàng Hải, Phạm Tất Thắng ; những vấn đề khá mới mẻ của lý luận báo chí như báo chí

và quan hệ công chúng, quảng cáo và báo chí, tập đoàn báo chí, truyền thông

đa phương tiện cũng được quan tâm nghiên cứu bởi những người nghiên cứu trẻ như Đỗ Thị Thu Hằng, Nguyễn Thanh Huyền, Đặng Thu Hương, Trường Giang ; và hàng loạt vấn đề khác như đạo đức nhà báo, vai trò, trách nhiệm của nhà báo, luật pháp báo chí được nhiều người bàn luận rộng rãi trên rất nhiều tờ báo in và tạp chí

Hiện tại ở Việt Nam, có 6 cuốn sách về cơ sở lý luận báo chí vốn là các cuốn giáo trình giảng dạy trong trường đại học Năm cuốn của các tác giả trong nước và một là sách dịch của tác giả người Nga do Nxb Thông tấn ấn hành:

Cơ sở lý luận báo chí do Tạ Ngọc Tấn chủ biên, xuất bản lần đầu năm

1992 và tái bản vào các năm 1993, 1999 (Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin),

2005 (NXB Lý luận chính trị) đã bao quát phần nào những vấn đề lý luận cơ bản của báo chí

Cơ sở lý luận Báo chí truyền thông của nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, xuất bản lần đầu năm 1995 (Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin) và là tái bản mới nhất là 2004 (Nhà xuất bản Đại học quốc gia

Trang 14

Hà Nội), về cơ bản cùng cách tiếp cận với cuốn của Tạ Ngọc Tấn xuất bản năm

1992

Giáo trình Cơ sở lý luận báo chí của Nguyễn Văn Hà, khoa Báo chí – truyền thông, Nxb ĐH KHXH&NV Tp Hồ Chí Minh năm 2011, có 10 chương bao quát từ quy trình truyền thông cho tới công chúng và tiếp thị

Cơ sở lý luận báo chí – đặc tính chung và phong cách của GS Hà Minh Đức, Nxb ĐHQGHN 2005, chủ yếu tiếp cận từ văn học với những đặc trưng riêng của báo chí, trong đó đi sâu phong cách báo chí như một phong cách chức năng

Cơ sở lý luận của báo chí (tập 1 & 2 - bản dịch từ tiếng Nga) của tác giả E.P.Prôkhôrốp, NXB Thông tấn ấn hành năm 2004 Cuốn sách bao quát những vấn đề cơ bản của lý luận báo chí, tiếp cận từ quan điểm hệ thống và xuất bản năm 1999, trong thời đoạn mà xã hội Nga có nhiều biến động và chính quan niệm của các nhà khoa học Nga về báo chí đang định hình lại sau khi Liên Xô sụp đổ

Cuốn sách cùng tên của Nguyễn Văn Dững, Nxb Lao động năm 2012, tái bản năm 2013 được đề cập khá toàn diện, bao quát rộng hơn, theo cách tiếp cận mới, rõ ràng hơn, cập nhật và mang tính thực tiễn nghề nghiệp hơn Đặc biệt, nối tiếp cuốn Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng cơ bản1, cuốn sách này với lối tiếp cận từ truyền thông, truyền thông đại chúng và sau cùng là báo chí, đã tạo được sự nhất quán và chuỗi khái niệm từ rộng đến hẹp; mặt khác, cuốn sách

đã báo quát được hầu hết các vấn đề lý luận báo chí

Ngoài các bộ giáo trình vừa kể trên, trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí - đặc tính chung và phong cách của tác giả Hà Minh Đức (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội – năm 2000) cũng luận bàn những vấn đề lý luận cơ bản tương

tự, ví dụ: báo chí và khuynh hướng; vấn đề tự do báo chí; trách nhiệm xã hội của báo chí, báo chí và đạo đức, ngôn ngữ báo chí

1 Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng; nxb Lý luận Chính trị 2006; nxb CTQG-Sự thật 2013

Trang 15

Các vấn đề lý luận và thực tiễn báo chí còn được tập hợp dưới dạng tuyển tập các bài báo khoa học xuất bản khá đều đặn của hai cơ sở đào tạo báo chí lớn

là Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội Các sách dịch từ tài liệu nước ngoài thời gian qua cũng đề cập nhiều đến các vấn đề lý luận báo chí

Cùng với sự phát triển của báo chí, Tạp chí Người Làm Báo ra đời với mục đích góp phần tích cực tạo diễn đàn trao đổi thông tin, nghiệp vụ và kinh nghiệm hành nghề, cũng như bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt của người làm báo Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu về những đóng góp nâng cao trình độ cho người làm báo của Tạp chí Người làm báo Việt Nam nhằm ghi nhận, đánh giá những giá trị của Tạp chí mang tới cho người làm báo Cũng chưa có công trình nào nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng nội dung của Tạp chí mang lại nơi trao đổi kinh nghiệm, kiến thức cho các nhà báo Mặc dù đã có không ít những đề tài, công trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau về lý luận – Thực tiễn của nghề làm báo nhưng chưa có công trình nghiên cứuvề vấn đề lý luận – thực tiễn nghề nghiệp trên Tạp chí Người làm báo, vì vậy đề tài chúng tôi thực hiện là đề tài có nội dung nghiên cứu rõ ràng và độc lập, không trùng với bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào đã được công bố

Lý do mà tác giả luận văn lựa chọn tạp chí này vì đây là tạp chí chuyên ngành của Hội Nhà Báo Việt Nam, tổ chức uy tín của ngành báo chí Việt Nam Tác giả luận văn lựa chọn thời gian khảo sát gần với thời điểm hiện tại, để những số liệu và sự kiện được cập nhật và mang tính thời sự

3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu

3.1 Câu hỏi nghiên cứu

Xã hội hiện nay đang phát triển nhanh chóng, người làm báo chí – truyền thông cũng phải thay đổi để thích nghi với sự phát triển đó Những vấn đề lý luận, lý thuyết của nghề báo hiện nay là gì và trong tương lai sẽ thay đổi thế nào

và trên cơ sở nền tảng quan niệm nào để thích ứng với sự phát triển đó?

Trang 16

Tạp chí Người làm báo của Hội Nhà báo Việt Nam một mặt, đã bao quát những vấn nào đề lý luận – thực tiễn báo chí đang đặt ra; mặt khác, đã kịp thời phát hiện và nêu những vấn đề thực tiễn để giới báo chí và xã hội cùng bàn thảo, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm?

3.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết thứ nhất, tạp chí Người làm báo Việt Nam (của Hội Nhà báo

Việt Nam) đã kịp thời nêu ra và tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn nghề nghiệp, từ đó góp phần đúc kết thành những vấn đề lý luận báo chí; và những vấn đề này cần được nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống

Giả thuyết thứ hai, những vấn đề lý luận và thực tiễn nghề nghiệp báo chí

được đăng tải trên tạp chí Người làm báo dưới góc nhìn của báo chí học đã cơ bản bao quát phạm vi đổi tượng nghiên cứu của báo chí học ở các mức độ và góc tiếp cận khác nhau, và vấn đề này cần được nghiên cứu, tổng hợp và phân tích dưới góc độ tiếp cận của báo chí học, để tiếp tục khái quát hóa về lý luận báo chí đương đại

Giả thuyết thứ ba, việc nghiên cứu cơ bản và hệ thống dưới góc độ tiếp

cận của báo chí học về các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của báo chí học

có thể nêu ra những vấn đề, những gợi ý để tạp chí Người làm báo tiếp tục làm tốt hơn chức năng của mình trong bối cảnh báo chí hoạt động trong môi trường

truyền thông số và hội nhập quốc tế

3.3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở xác định khung lý thuyết về những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của báo chí học, qua khảo sát những tác phẩm công bố trên tạp chí Người làm báo Việt Nam trong thời gian khảo sát, luận văn góp phần miêu tả, tổng kết bức tranh lý luận - thực tiễn báo chí Việt Nam đã được thông tin trên tạp chí này; từ đó nêu vấn đề và đề xuất giải pháp, khuyến nghị nhằm tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng tạp chí

3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện mục đích, luận văn triển khai các nhiệm vụ chính sau đây:

Trang 17

+ Giải mã khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu, hình thành khung lý thuyết

về đối tượng nghiên cứu của báo chí học làm cơ sở cho khảo sát thực trạng tạp chí Người làm báo thông tin những vấn đề lý luận - thực tiễn dưới góc nhìn của báo chí học

+ Khảo sát và bước đầu đánh giá thực trạng vấn đề lý luận – thực tiễn về nghề được đăng trên Tạp chí Người làm báo, bước đầu chỉ ra những thành công

và hạn chế của tạp chí trong thông tin những vấn đề lý luận – thực tiễn nghề nghiệp báo chí Việt Nam đương đại

+ Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho tạp chí Người làm báo trong vấn đề thông tin lý luận và thực tiễn về nghề nghiệp báo chí, góp phần tiếp tục tổng kết thực tiễn và đổi mới công tác thông tin của tạp chí của Hội Nhà báo Việt Nam

4 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận – thực tiễn nghề

nghiệp báo chí được công bố trên tạp chí Người làm báo Việt Nam

4.2 Đối tượng khảo sát

Nghiên cứu các bài viết về những vấn đề lý luận – thực tiễn nghề nghiệp báo chí được đăng tải trên tạp chí Người làm báo Việt Nam (khảo sát từ 1/2011 đến 12/2015); Khảo sát nhóm đối tượng nhà báo - độc giả của tạp chí Người làm báo (Khoảng 250 người)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận (Phương pháp luận)

Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí và các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về báo chí

Trang 18

Lý thuyết cụ thể cho vấn đề nghiên cứu là cơ sở lý thuyết của báo chí học2, nhất là khung lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của báo chí học Về đối tượng nghiên cứu của báo chí học lần đầu tiên đã được PGS, TS Nguyễn Văn Dững đã mô tả khá chi tiết trong giáo trình (nội bộ) cho các lớp cao học “Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn của báo chí học”, được luận văn lấy làm cơ sở lý

thuyết trực tiếp cho vấn đề nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, tác giả luận

văn đã sử dụng những phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dùng để nghiên cứu và hệ thống hóa

những vấn đề lý luận báo chí; xem xét phân tích các tài liệu liên quan cũng như các bài nghiên cứu trên tài liệu khảo sát, trên cơ sở đó kế thừa những giá trị vốn

có, sau đó rút ra những dữ liệu để so sánh, đối chiếu

- Phương pháp thống kê – phân loại được dùng để thống kê và phân loại

các tác phẩm đăng tải trên tạp chí khảo sát, theo các vấn đề nghiên cứu giúp nhận diện khả năng bao quát các vấn đề lý thuyết báo chí trên khung lý thuyết đối tượng nghiên cứu của báo chí học

- Phương pháp phân tích nội dung: được sử dụng để phân tích các văn

bản, tác phẩm báo chí trên tạp chí Người làm báo , qua đó chỉ ra những thành

công, hạn chế và những vấn đề đang đặt ra

- Phương pháp phỏng vấn sâu: được thực hiện với những cán bộ là

lãnh đạo quản lý các cán bộ nghiên cứu báo chí, các cơ quan báo chí và phóng viên các cơ quan báo chí được khảo sát

- Phương pháp điều tra bằng bảng anket: Tác giả luận văn tiến hành

điều tra khoảng 250 người là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam như nhóm

2 Xem giáo trình sau đại học Những vấn đề lý luận và thực tiễn của báo chí học (2014); Nguyễn Văn Dững; Lưu hành nội bộ khoa Báo chí; hoặc Những vấn đề cơ bản của báo chí học, chuyên đề giảng cho các khóa NCS báo chí (của Nguyễn Văn Dững)

Trang 19

công chúng của tạp chí để tìm hiểu thu thập ý kiến của công chúng tạp chí đối với vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: dùng để đánh giá những kết quả

nghiên cứu, qua đó đề xuất các giải pháp cần thiết

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa khoa học

- Làn đầu tiên, luận văn nghiên cứu khả năng bao quát những vấn đề lý luận - thực tiễn báo chí của tạp chí Người làm báo Việt Nam dưới góc tiếp độ cận thuộc đối tượng nghiên cứu của báo chí học Nói cách khác, lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của báo chí học lần đầu tiên được dùng để nghiên cứu khảo sát thực tiễn dựa trên tư liệu của một tạp chí chuyên ngành của Hội Nhà báo Việt Nam

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận – thực tiễn về báo chí học được đăng tải trên tạp chí Người làm báo Qua đó khẳng định những đóng góp của tạp chí trong việc góp phần trau dồi, bổ sung thêm lý luận, thực tiễn cho đội ngũ làm báo chí cách mạng Việt Nam

Luận văn này là tài liệu tham khảo bổ ích, thú vị cho các cơ sở nghiên cứu đào tạo liên quan đến báo chí – truyền thông, cũng như các cơ sở nghiên cứu liên ngành

Luận văn góp phần tìm ra những điểm yếu của Tạp chí về những vấn đề

lý luận, thực tiễn của nghề báo được đăng tải trên tạp chí từ đó có phương pháp nâng cao chất lượng những bài đăng về nghề báo chí nói riêng và nâng cao chất lượng cho tờ tạp chí Người làm báo nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được bố cục trong 3 chương, gồm:

Trang 20

Chương 1 Quan niệm chung về lý luận – thực tiễn nghề nghiệp báo chí Chương này luận văn dựa trên cơ sở lý thuyết báo chí học3

để xây dựng khung nghiên cứu cho vấn đề khảo sát ở chương 2

Chương 2 Thực trạng tạp chí Người làm báo đăng tải các vấn đề lý luận – thực tiễn nghề nghiệp báo chí Chương này tập trung khảo sát những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của báo chí học được phản ánh, thông tin như thế nào trên tạp chí Người làm báo

Chương 3 Vấn đề đặt ra và khuyến nghị khoa học cho tạp chí Người làm báo

3 Xem giáo trình sau đại học, in nội bộ; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của báo chí học; Nguyễn Văn Dững;

2014

Trang 21

Chương 1 QUAN NIỆM CHUNG VỀ LÝ LUẬN-THỰC TIỄN

NGHỀ NGHIỆP BÁO CHÍ

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Những khái niệm liên quan đến nghề nghiệp báo chí, truyền thông

1.1.1.1 Báo chí, truyền thông

1.1.1.1.1 Báo chí

Báo chí 4 là môt bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh ướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của thông tin đại chúng

Do đó, trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng; và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng trước hết phải nói đến báo chí

Báo chí được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm báo in, báo chí phát thanh, báo chí truyền hình, báo mạng điện tử (“phát hành” trên mạng internet) và hãng thông tấn Báo chí theo nghĩa hẹp, là bao gồm báo, tạp chí và bản tin thời sự

Báo chí là hiện tượng xã hội đa nghĩa, phức tạp và có nhiều cách tiếp cận không giống nhau trong các xã hôi có thể chế chính trị khác nhau

Khái niệm báo chí tiếp cận từ quan điểm hệ thống Khi nhìn nhận xã hội như một hệ thống trong tổng thể đang vận hành, báo chí cũng cần được tiếp cận từ quan điểm hệ thống; nhìn nhận báo chí như một tiểu hệ thống cấu thành hệ thống xã hội nói chung; trong đó, báo chí là một bộ phận cấu thành

và chịu sự chi phối của hệ thống lớn cũng như sự tác động của các tiểu hệ thống (hoặc hệ thống con )

4 PGS, TS Nguyễn Văn Dững, Đề cương chuyên đề phục vụ lớp thi nâng ngạch giảng viên chính, BTVC, PVC và tương đương năm 2012, Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác tư tưởng, lý luận và quản lý báo chí

Trang 22

Từ góc độ lãnh đạo quản lý, tiếp cận từ quan điểm hệ thống, phù hợp với quan điểm hiện thời, có thể nêu ra khái niệm báo chí bao gồm các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố ấy như sau:

1.1.1.1.1 Truyền thông

Nghề nghiệp báo chí nằm trong nhóm nghề thuộc truyền thông Bởi vậy, khái niệm về truyền thông cần định nghĩa cụ thể Theo đó: Truyền thông6 là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau

5 Nguồn: Cơ sở lý luận báo chí (2013); Nguyễn Văn Dững; Nxb Lao động

6 Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Thực tiến kinh tế-xã hội

Quyền lực chính

trị tối cao

Cơ quan sáng lập

( Chủ quản )

Nhà chủ thế trực tiếp

báo-Sản phẩm báo chí

Kênh phát hành

Công chúng xã hội

Tổ chức kinh tế-

xã hội

Sơ đồ 1.1 Mô hình khái niệm báo chí nhìn từ quan điểm hệ thống

Trang 23

Truyền thông ngoại biên là hoạt động trao đổi thông điệp giữa người này

và người khác thông qua sự tiếp cận giữa các giác quan

Truyền thông nội biên là quá trình trao đổi thông điệp diễn ra trong bản thân một con người

Truyền thông ngoại biên mang tính xã hội, quan hệ hữu cơ với xã hội trong quá trình phát triển Truyền thông nội biên mang tính nhân chủng, nằm trong cơ chế vận hành chung của tâm – sinh lý con người [29; tr.8]

Truyền thông có thể được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau, nhằm thay đổi nhận thưc, thái độ và hành vi phù hợp với nhu cầu phát triển [8]

Truyền thông là quá trình truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng [24; tr.1053]

Truyền thông là sự tạo ra mối liên hệ giữa hai đối tượng có thể mang bản chất sự sống hay không [38; tr.517]

(Nguồn: Michel de Coster (1992), Introduction à la sociologie, Bruxelles,

De Boeck, tr.98)

Sơ đồ 1.2 Mô hình truyền thông theo Roman Jakobson

Trang 24

Điều quan trọng của tính chất có qua có lại của quá trình truyền thông là

sự chờ đợi và sự kỳ vọng của người nhận tin hầu như luôn luôn được người phát tin tiếp nhận và hình dung trong đầu mình, không chỉ sau khi phát tin mà ngay

cả trước khi anh ta phát tin [38; tr.517]

Tóm lại: Truyền thông là qúa trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người

1.1.1.2 Nghề nghiệp và nghề nghiệp báo chí, truyền thông

1.1.1.2.1 Nghề nghiệp

chức Nghề là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và phát

là con đường để chúng ta thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân Sự thành đạt, nổi tiếng của mỗi người hầu hết đều gắn liền với nghề nghiệp của họ

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong Nghề báo gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội

Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn (chuyên ngành) Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000

7 Trần Hữu Quang (2009), “Làm báo là một nghề hay một sứ mệnh?”; Nhà báo viết về nghề báo; NXB Trẻ, thời báo kinh tế Sài Gòn

Trang 25

Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp” Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa

1.1.1.2.1 Nghề nghiệp báo chí, truyền thông

Nhà báo là khái niệm dùng để chỉ những người tiến hành các loại hình lao động trong quá tình thu thập, xử lý và chuyển tải thông tin Đó là lao động

tổ chức và quản lý, lao động biên tập, lao động tác giả và lao động kỹ thuật - dịch vụ [9]

Nhà báo có thể đựơc hiểu là người tham gia một trong các loại hình lao động báo chí của quá trình thu thập, xử lý và chuyển tải thông tin cho công chúng xã hội; đó là lao động tổ chức - quản lý (bao gồm tổ chức quản lý vĩ

mô và vi mô), lao động biên tập, lao động tác giả, lao động kỹ thuật - dịch vụ báo chí truyền thông Nhà báo là chủ thể hoạt động báo chí, chịu trách nhiệm trước pháp luật và dư luận xã hội, trên cả hai bình diện : Pháp lý và đạo đức”

Về phương diện pháp lý, luật báo chí hiện hành của nước ta quy định tại điều 14: "Nhà báo phải là người có quốc tịch Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam, có đủ các tiêu chuẩn chính trị, đạo đức, nghề nghiệp báo chí do nhà nước quy định, đang hoạt động hoặc công tác thường xuyên với một cơ quan báo chí tại Việt Nam và được cấp thẻ nhà báo"

Nghề báo là nghề cần những tố chất cũng như phẩm chất đặc thù:

(1) Có khả năng phát hiện thông tin: Nhà báo phải có khả năng nhìn thấy thông tin ở khắp nơi trong đời sống xã hội Nhà báo là người nằm trong dòng chảy thông tin vận động không ngừng, nên buộc phải thông hiểu mọi lĩnh vực

để có thể phát hiện cái mới và thông tin tới công chúng

Trang 26

(2) Có khả năng truyền tin: quyết định thông tin đó có nên đưa tới công chúng không, và đưa tới ở mức độ nào

(3) Đam mê với nghề: Làm nghề báo rất dễ bị căng thẳng về thần kinh trước áp lực của công việc và sự kiện Chính vì vậy, đam mê nghề thì mới có thể thành công được

(4) Có lập trường tư tưởng vững vàng, phẩm chất chính trị trong sáng: Báo chí là nghề hoạt động chính trị - xã hội nên lập trường tư tưởng vững vàng, phẩm chất chính trị trong sáng giữ vai trò tiên quyết với người làm báo

(5) Bồi dưỡng bản thân có vốn văn hóa, vốn sống phong phú: Với nghề báo, người viết báo luôn tiếp cận với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Chính vì thế cần có một vốn văn hóa vững chắc, luôn luôn được bồi dưỡng, cập nhật với vốn sống thực tế, phong phú

(6) Có trình độ về ngoại ngữ: Trong môi trường giao lưu quốc tế rộng rãi hiện nay, ngoại ngữ và tin học cần cho tất cả các ngành nghề trong xã hội, nghề báo cũng không ngoại lệ Cùng với xu thế khu vực hóa mạnh mẽ, ngoài những ngoại ngữ thông dụng như Tiếng Anh, Tiếng Pháp, các thứ tiếng khác trong khu vực cũng sẽ là một lợi thế rất lớn cho người viết báo khi tác nghiệp

(7) Với nghề báo, người làm báo thường phải bôn ba nhiều nơi Thích đi

và biết cách đi là một trong những yếu tố quan trọng của nhà báo

1.1.1.3 Nghề nghiệp và tính chuyên nghiệp

Tính chuyên nghiệp của báo chí không đơn thuần chỉ sự tác nghiệp của phóng viên hay việc sử dụng các phương tiện, máy móc để hành nghề Nó được thể hiện một cách rõ nét và toàn diện trong mọi khâu của đời sống báo chí: Từ khâu giảng dạy, đào tạo báo chí, khâu tác nghiệp của phóng viên, khâu chỉ đạo và điều hành bộ máy ở các cơ quan báo chí, cho đến công tác quản lý và chỉ đạo báo chí

Nhà báo Vũ Bằng từng thuật lại mà cụ Lỗ Thư (bút hiệu của cụ Nguyễn Văn Luận) thường đưa ra để dạy cho lớp hậu sinh: “ Làm báo phải như con dao

Trang 27

pha Bất cứ cái gì cũng phải viết được, mà viết nhanh, thiếu mục gì là mình có bài điền vào luôn, không anh nào bắt bí được mình” [1]

Khác với một vị giáo sư đại học hay một kỹ sư, nhà báo có thể thành đạt hay thành danh không phải nhờ vào thời gian dùi mài kinh sử và thi cử để lấy bằng cấp mà chủ yếu dựa vào những nguồn lực khác, từ khả năng diễn đạt, khả năng quan hệ xã hội, tiếp xúc với người khác, khả năng tiếp cận được những người có thế lực hay thẩm quyền (trong mọi lĩnh vực), cho đến một số phẩm chất cá nhân cần thiết cho nghề báo như tính trung thực và lòng gan dạ chẳng hạn Và phần lớn những khả năng và phẩm chất này có được đều chủ yếu nhờ tự rèn luyện, tự học và tích lũy thông qua thực tế, qua kinh nghiệm sống trong cuộc đời của mỗi người [25; tr.42-tr.57]

Để nâng cao tính chuyên nghiệp của nền báo chí cần có sự phối kết hợp đồng bộ giữa các khâu, các bộ phận một cách linh hoạt Vấn đề đầu tiên vẫn là vấn đề con người Nâng cao tính chuyên nghiệp của nền báo chí trước hết là nâng cao tính chuyên nghiệp của nhà báo Bởi suy cho cùng, để xảy ra những sai phạm trong nội dung thông tin trên báo chí trước hết là do sự yếu kém của nhà báo

Theo GS, TS Tạ Ngọc Tấn: “Tính chuyên nghiệp của nhà báo thể hiện ở những phẩm chất chính trị - xã hội, đạo đức nghề nghiệp, ở phương pháp, cách thức hành nghề một cách khoa học, hiệu quả; ở sự hiểu biết sâu sắc về các mối quan hệ, cơ chế vận hành trong lĩnh vực báo chí; ở sự tinh thông, thuần thục các

kỹ năng nghề nghiệp; ở khả năng sử dụng và thích nghi với các loại hình phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp” [30; tr.263]

1.1.2.Những khái niệm về lý luận, thực tiễn

1.1.2.1 Lý luận, lý thuyết

Khái niệm

Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội tích lũy lại trong quá trình lịch sử [25]

Trang 28

Thứ nhất: Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế [25; tr.233]

Thứ hai: Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người

Theo Từ điển Tiếng Việt - NXB Đà Nẵng 2007, lý thuyết được hiểu là kiến thức về lý luận (nghĩa khái quát nhất)

Lý thuyết là một hệ thống tư tưởng bao gồm các khái niệm/phạm trù, phán định (phán đoan/nhận định), và quá trình lập luận, như luận kết (suy diễn, quy nạp, loại tỷ) hoặc/và luận chứng (chứng minh, phủ bác) hợp logic nhằm làm sáng tỏ hệ thống đặc trưng, bản chất và các quy luật biến đổi của đối tượng nhất định trong Tự nhiên, Xã hội và Tư duy

Trong ngôn ngữ đời sống hàng ngày, lý thuyết và lý luận vẫn thường được dùng với ý đối lập với thực tiễn

Trong cuốn Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, các tác giả định nghĩa “lý thuyết là những vấn đề chung nhất, khái quát nhất được đúc kết từ thực tiễn và có giá trị chỉ đạo, hướng dẫn thực tiễn”

Trong giáo trình sau đại học của Nguyễn Văn Dững “Những vấn đề lý

thuyết và thực tiễn báo chí – truyền thông đương đại” có quan niệm và sự khu

biệt khá rõ ràng về hai khái niệm – phạm trù lý luận và lý thuyết; trong đó tác giả cho rằng lý luận là luận ra từ những lý thuyết hay học thuyết, mang tính giải thích, minh họa; còn lý thuyết là những điều căn cốt được đúc kết, tổng kết, đúc rút từ hoạt động thực hiễn thành những quy luật, định luật, có giá trị hướng dẫn, chỉ dạo hoạt động thực tiễn Tác giả cho rằng, với quan niệm như vậy, ở Việt Nam có tình trạng thừa lý luận những lại thiếu lý thuyết

Lý thuyết, lý luận báo chí – truyền thông

Ở đây, để đơn giản hóa vấn đề nghiên cứu, chúng tôi dùng hai khái niệm

lý luận và lý thuyết như những khái niệm đồng nhất

Trang 29

Trong lĩnh vực hoạt động báo chí, nói đến lý thuyết báo chí hay lý luận báo chí chính là nói đến hệ thống kiến thức chuyên ngành báo chí được tổng kết

và đúc rút từ kinh nghiệm thực tiễn hoạt động báo chí

Một thực tế không thể phủ nhận rằng: hầu như các nền báo chí lớn trên thế giới đều tương ứng với di sản lý luận phong phú và sâu sắc Còn ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực hoạt động báo chí còn tồn tại khoảng cách khá xa, bởi vậy lâu nay chúng ta vẫn thường nghe nhắc đến những câu, những nhận định đại loại như: “coi trọng lý thuyết hơn thực hành”, hay ngược lại, “chỉ dựa vào kinh nghiệm mà bỏ rơi nền tảng lý luận”, hoặc đặt dấu hỏi

“chọn kiến thức chuyên ngành hay năng khiếu bẩm sinh?”

Những vấn đề lý luận cơ bản của báo chí bao gồm: Nguyên tắc hoạt động; đặc trưng; chức năng; luật pháp báo chí; tự do báo chí; đạo đức báo chí; nhà báo - đạo đức và trách nhiệm xã hội; công chúng báo chí; đối tượng và cơ chế tác động của báo chí; hiệu lực và hiệu quả báo chí; thể loại tác phẩm báo chí; phong cách sáng tạo;

Lý luận báo chí còn thể hiện ở việc tổng kết các phương thức tổ chức thiết kế

hệ thống báo chí của mỗi nền báo chí khác nhau Chúng ta có lý luận báo chí của Liên Xô, của Anh, của Mỹ, của Trung Quốc Mỗi nhà nước, mỗi chế độ chính trị

và văn hóa khác nhau sẽ có những nền lý luận báo chí mang đậm dấu ấn của mình trên cơ sở những điểm chung của khoa học lý luận báo chí thể giới Như vậy, khi nói đến Lý luận báo chí Mỹ hay Lý luận báo chí Việt Nam, chúng ta hiểu rằng, đó kết quả tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và sự giao lưu chia sẻ, những khuynh hướng nghiên cứu báo chí ở Mỹ hay ở Việt Nam trong giai đoạn cụ thể, chứ không phải hiểu đó là một ngành khoa học hay một bộ môn khoa học riêng của Mỹ, kiểu Mỹ hay riêng của Việt Nam, kiểu Việt Nam

1.1.2.2.Thực tiễn và thực tiễn báo chí – truyền thông

Cũng tương tự như các khái niệm trên đây, có nhiều quan niệm khác nhau

về thực tiễn báo chí – truyền thông

Trang 30

Thực tiễn là hoạt động vật chất có tính chất lịch sử xã hội của con người làm biến đổi tự nhiên và xã hội

Đời sống thực tiễn báo chí vô cùng phong phú và đa dạng:

Báo chí đã góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước, nâng cao dân trí, phát triển dân chủ xã hội, kịp thời phát hiện, đấu tranh kiên quyết với những hành vi tham nhũng, lãng phí và các hành vi tiêu cực xã hội khác, góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ

Báo chí đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin sai trái của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên Thông tin trên báo chí đã góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, thành tựu đổi mới của nhân dân ta với bạn bè quốc tế và đồng bào ta sinh sống ở nước ngoài

Đối với các vụ việc nhạy cảm, phức tạp, báo chí đã thể hiện sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật; sự chỉ đạo và cung cấp thông tin của các cơ quan chức năng, tạo được những thông tin chính xác, kịp thời góp phần ổn định

dư luận xã hội

1.1.2.3 Vai trò của lý luận báo chí đối với hoạt động thực tiễn báo chí

Thực tiễn sáng tác bao giờ cũng đi trước Trên cơ sở thực tiễn ấy, đến một độ chín muồi nào đó, hoạt động nghiên cứu lý luận mới ra đời Báo chí không nằm ngoài quy luật đó Khi báo chí phát triển, tất yếu sẽ hình thành và phát triển lý luận và khoa học về báo chí

Lý luận báo chí ra đời, hình thành và phát triển do nhu cầu chỉ đạo, định hướng hoạt động báo chí Một hệ thống lý luận được đúc rút, tổng kết kịp thời, khoa học luôn có tác dụng chỉ đạo, định hướng, làm cơ sở cho thực tiễn báo chí phát triển đúng hướng, cân đối và bền vững

Lý luận báo chí góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động báo chí, trước hết là đối với hoạt động của nhà báo Đối với những người trực tiếp

Trang 31

tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí, hơn ai hết, phần đông trong

số họ ý thức được tầm quan trọng của kiến thức lý luận nền tảng chi phối trong suốt quá trình làm nghề

1.1.3 Tạp chí Người làm báo Việt Nam

1.1.3.1.Tạp chí

Là cơ quan lý luận, học thuật, khoa học của một tổ chức, đoàn thể nào đó chủ yếu đi sâu nghiên cứu, hướng dẫn, trao đổi nghiệp vụ khoa học về một lĩnh vực nào đó thuộc phạm vi ngành mình, địa phương mình Định kỳ phát hành của tạp chí thường thời gian dài, thưa hơn định kỳ phát hành của báo Tạp chí gồm: tạp chí thông tin ngôn luận và tạp chí chuyên ngành nghiệp vụ - Tạp chí

là loại ấn phẩm khổ nhỏ hơn báo, đóng thành tập, có bìa, chuyển tải các loại thông tin có tính tổng hợp, chuyên sâu, xuất bản định kỳ ở một thời điểm nhất định, có thể định kỳ một tuần một lần, một tháng 2 lần, hoặc 6 tháng một lần

Hiện nay, trên một phương diện nào đó, có thể nhận diện tạp chí ở Việt Nam thành các dòng tạp chí khác nhau, như dòng tạp chí khoa học, dòng tạp chí

lý luận chính trị, dòng tạp chí lý luận nghiệp vụ, dòng tạp chí thời trang,

1.1.3.2 Tạp chí Người làm báo Việt Nam

Tạp chí Người Làm Báo là cơ quan lý luận nghiệp vụ của Hội Nhà báo Việt Nam Tạp chí được cấp phép xuất bản ngày 15/1/1985 Giai đoại 1985-

1990, Người làm báo xuất bản 3 tháng 1 kỳ Từ 1/10/1991, Tạp chí đổi tên thành Nhà báo và công luận theo giấy phép xuất bản báo chí số 1718/BC- GPXB do Bộ trưởng Bộ Văn hoá –Thông tin Tháng 3/1995, trong dịp Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nhà báo Việt Nam lần VI, tạp chí được quyết định lấy lại tên ban đầu là Người làm báo cho đến nay

Tôn chỉ, mục đích là tuyên truyền và đấu tranh bảo vệ đường lối, chính sách thông tin báo chí của Đảng và Nhà nước; Thông tin những vấn đề lý luận, nghiệp vụ thông tin đại chúng cũng như hoạt động báo chí trong nước và trên thế giới; Là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ của những người làm báo,

Trang 32

đề xuất với Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội những vấn đề về chính sách, chế độ có liên quan đến sự nghiệp phát triển báo chí, đến đời sống và hoạt động của những người làm báo; Là tiếng nói của giới báo chí trong việc tham gia bảo

vệ các quyền lợi hợp pháp của Hội viên và nhà báo trong hoạt động nghề nghiệp

Đối tượng phục vụ của tạp chí Người Làm Báo là các nhà báo, đội ngũ lãnh đạo, quản lý báo chí và những người quan tâm tới báo chí trong cả nước Tạp chí xuất bản mỗi tháng 1 kỳ

Ngày 01/3/1985 Tạp chí Người Làm báo, cơ quan ngôn luận của Hội Nhà báo Việt Nam, ra số đầu tiên Để cải tiến nội dung và hình thức sau 23 năm tồn tại và phát triển với 291 số báo, từ tháng 6 năm 2008, Tạp chí Người Làm Báo (Bộ mới) ra đời, đến nay tạp chí đã có hơn 30 năm tồn tại và phát triển Tạp chí người làm báo giống như một cuốn cẩm nang tác nghiệp, là hành trang không thể thiếu cho mỗi bạn sinh viên khi bước chân trên con đường báo chí:

(1)Tạp chí người làm báo - nơi cung cấp những kiến thức về nghiệp vụ báo chí: Tạp chí người làm báo sẽ cung cấp những kiến thức, kỹ năng về sáng tạo tác phẩm báo chí, trả lời cho bạn những câu hỏi: làm như thế nào để có một tác phẩm truyền hình hay? công chúng báo mạng điện tử thay đổi như thế nào? Mối quan hệ tác động giữa báo chí và mạng xã hội ra sao?

(2) Tạp chí người làm báo - nơi chia sẻ những câu chuyện về nghề: Đó là những câu chuyện rất thật, rất trần trụi trong cuộc sống thực tế mà chính những nhà báo đã trải qua – những câu chuyện của niềm vui, của những giọt nước mắt, của những trái đắng trong quá trình tác nghiệp

(3) Tạp chí người làm báo – nơi khắc họa chân dung những nhà báo đầy bản lĩnh: “Chân dung nhà báo” là một chuyên mục trong tạp chí nói về cuộc đời, về sự lặn lội, gắn bó và cảm xúc trong nghề của những nhà báo Là những chia sẻ của những “người gác cổng” dày dặn kinh nghiệm, tâm huyết như : nhà

Trang 33

báo Hữu Thọ, nhà báo Đỗ Trung Kiên, nhà báo Phan Đình Sung, Những chân dung nhà báo đó giúp bạn hiều nghề báo là nghề của cống hiến, của bản lĩnh và của sự khâm phục

(4) Tạp chí người làm báo – câu chuyện của những bạn sinh viên đam mê học báo: Chuyên mục “ Sinh viên & báo chí” là chuyện mục giới thiệu về những bạn sinh viên có niềm đam mê, có khát khao trở thành nhà báo, những người có thành tích xuất sắc trong học tập Đây là chuyên mục chia sẽ những trải nghiệm, những bài học, những khó khăn trắc trở và cách vượt qua khó khăn

đó của các bạn sinh viên trong những chuyến đi tác nghiệp thực tế đầu tiên của mình

1.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA BÁO CHÍ HỌC VÀ PHẠM VI BAO QUÁT CỦA TẠP CHÍ NGƯỜI LÀM BÁO

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu của báo chí học

1.2.1.1.Những vấn đề về đối tượng nghiên cứu của báo chí học

Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi dựa vào khung lý thuyết trong giáo

trình SĐH (lưu hành nội bộ) của PGS,TS Nguyễn Văn Dững “Những vấn đề lý

thuyết và thực tiễn của báo chí – truyền thông đương đại” Theo đó, nhằm xác

định đối tượng nghiên cứu của báo chí học, cấn trả lời các câu hỏi sau đây

Thứ nhất, báo chí hoạt động trong môi trường xã hội cụ thể nào?

Báo chí bao giờ cũng nảy sinh và phát triển trong một môi trường kinh tế

- xã hội cụ thể, với những thiết chế xã hội cụ thể, muốn hiểu bản chất báo chí, trước hết cần nghiên cứu môi trường xã hội lịch sử Các vấn đề cần được quan tâm là: Tình hình kinh tế - văn hoá xã hội, thiết chế chính trị đương đại; các loại hình lịch sử báo chí truyền thông; lập trường xã hội và nguyên tắc hoạt động; phương pháp luận tiếp cận và giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra

Về các loại hình báo chí trong lịch sử, cho đến nay, báo chí thế giới nghiên cứu và ghi nhận bốn loại hình, bao gồm: báo chí tăng lữ - phong kiến, báo chí tôn giáo, báo chí tư bản chủ nghĩa (báo chí phương Tây) và báo chí xã

Trang 34

hội chủ nghĩa (báo chí vô sản) Trong đó, loại hình báo chí tăng lữ - phong kiến

đã chấm dứt vai trò lịch sử của mình

Tương ứng với các loại hình báo chí - truyền thông, phù hợp với môi trường pháp lý, thiết chế kinh tế - chính trị, mỗi loại hình báo chí trong mỗi giai đoạn lịch sử sẽ có những nguyên tắc hoạt động cuả mình Nhưng cho dù loại hình nào, trong giai đoạn lịch sử nào thì báo chí truyền thông cũng chịu sự can thiệp, chi phối trực tiếp hay gián tiếp của các thế lực chính trị như một tất yếu lịch sử

Về lập trường xã hội của nhà báo, thể hiện trong báo chí, hiện tồn tại ít nhất hai quan điểm: quan điểm thứ nhất cho rằng, nhà báo không cần có lập trường xã hội, bởi nhà báo đơn thuần là người đưa tin, báo chí là thư ký xã hội, có sao chép vậy nên không quan tâm đến có lập trường hay không; quan điểm thứ hai khẳng định, nhà báo và hoạt động báo chí nhất thiết phải dựa trên một lập trường xã hội nhất định Như vậy, vấn đề đặt ra là trong hoạt động báo chí, có cần lập trường xã hội không và biểu hiện của nó như thế nào?

Thứ hai, trong môi trường xã hội cụ thể ấy, báo chí có vai trò gì đối với

sự phát triển, hay báo chí thực hiện những chức năng xã hội nào? Cơ chế và đối tượng tác động của báo chí, hiệu lực và hiệu quả báo chí cũng được thể hiện thông qua các chức năng trên ra sao?

Về vai trò, chức năng xã hội cơ bản của báo chí, hiện cũng có nhiều quan niệm khác nhau Tuy nhiên với tư cách là một thiết xã hội đặc thù, thiết chế báo chí truyền thông ngày càng có vai trò quan trọng, nó liên kết, chắp nối, giám sát mục tiêu của các thiết chế khác trong toàn hệ thống xã hội, đảm bảo cho hệ thống xã hội vận hành đồng bộ và đúng mục tiêu Việc nhận thức đúng đắn và khoa học các chức năng xã hội của báo chí sẽ góp phần thúc đẩy thực tiễn báo chí phát triển đúng hướng; ngược lại, nếu quan niệm lệch lạc sẽ hạn chế tính phong phú đa dạng và làm khô cứng những trang báo, những chương trình phát thanh, truyền hình

Trang 35

Bên cạnh đó mô tả, phân tích cơ chế tác động của báo chí cũng sẽ xác định một cách cụ thể hơn những yếu tố, những công đoạn và các mối quan hệ chi phối quy trình tác nghiệp, góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động báo chí Đối tượng tác động của báo chí, cơ chế tác động của báo chí, hiệu lực, hiệu quả báo chí là những vấn đề cơ bản và bức thiết của lý luận và thực tiễn báo chí hiện đại cần được quan tâm nghiên cứu đúng mức

Thứ ba, chủ thể hoạt động báo chí là ai và để thực hiện tốt vai trò, chức

năng của mình trong môi trường xã hội cụ thể đó, yêu cầu nào đặt ra đối với chủ thể hoạt động báo chí? chủ thể báo chí - truyền thông với bổn phận và trách nhiệm của mình thực hiện quá trình lao động sáng tạo tác phẩm báo chí thông qua quy trình nào, bằng phương tiện và phương thức nào để tác động vào công chúng xã hội?

Chủ thể ấy có những quyền lợi, bổn phận như thế nào, cũng như mô hình nhân cách nghề nghiệp ra sao? Từ câu hỏi đặt ra này, hàng loạt vấn đề cần nhận thức về lý luận cũng như thực tiễn là: báo chí và dân chủ, nhân quyền và tự do,

tự do báo chí; tự do và trách nhiệm, tự do và luật pháp; luật pháp báo chí, chính sách thông tin, vấn đề tâm lý sáng tạo; nhân cách, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của chủ thể được thể hiện trong thực tế ra sao ? Những mối quan hệ này cần được nghiên cứu và khai thác sâu xa hơn nữa trong định hướng phát triển cộng đồng và xã hội

Như chúng ta đã biết, quá trình lao động, sáng tạo tác phẩm báo chí - tức quá trình thiết kế thông điệp trong chu trình truyền thông – gắn với các khái niệm cốt lõi như: sự kiện báo chí, chi tiết báo chí, ngôn ngữ báo chí, thể loại báo chí, phong cách báo chí Nhà báo nói chuyện với công chúng chủ yếu thông qua tác phẩm báo chí với các sự kiện cụ thể và tại sao sự kiện lại có vai trò quan trọng đặc biệt trong tác phẩm báo chí cũng như hoạt động sáng tạo của nhà báo Làm thế nào để phát hiện, để săn tìm được tin nóng, lựa chọn được sự kiện hấp dẫn lại có ý nghĩa đối với cộng đồng? Khi đã lựa chọn được sự kiện, việc tìm

Trang 36

kiếm chọn lọc chi tiết ra sao, liên kết chúng thế nào, áp dụng thể loại nào cho phù hợp để có được tác phẩm hấp dẫn công chúng? Đấy là những trăn trở thường trực của nhà báo trong quá trình lao động sáng tạo

Thứ tư, báo chí có vai trò và ý nghĩa gì trong quá trình tham gia giải

quyết các vấn đề toàn cầu? Tại sao các vấn đề toàn cầu lại cần và nhất thiết phải

có sự tham gia của báo chí – truyền thông và vai trò truyền thông, mối quan hệ tác động của nó như thế nào để bảo đảm hiệu quả? Trong thế giới đương đại, vấn đề và mối quan hệ này càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cơ bản và cấp thiết cần quan tâm

Thứ năm, báo chí hoạt động dựa trên cơ sở kinh tế nào và vấn đề này có ý

nghĩa gì đối với năng lực, hiệu quả tác động cũng như vai trò xã hội của báo chí? Vấn đề này đối với báo chí Việt Nam càng có ý nghĩa lý luận - thực tiễn cần nghiên cứu để có thể góp phần xây dựng hành lang pháp lý vững chắc cho báo chí hoạt động

Thứ sáu, Nhà báo và vấn đề tự do báo chí

Báo chí có chức năng phản biện xã hội thông qua quyền tự do ngôn luận Vậy nhà báo có nhiệm vụ và trách nhiệm gì trong việc phản ánh xã hội và thực hiện tốt nhất quyền “phê và tự phê” trên phương diện người làm báo

Thứ bảy, báo chí có mối quan hệ tác động và có vai trò như thế nào đối

với các lĩnh vực đời sống xã hội? hay: Tạp chí Người làm báo - diễn đàn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng trong lao động sáng tạo sản phẩm báo chí

Nhìn nhận báo chí như một công cụ của Đảng và Nhà nước, báo chí có v.ai trò gì đối với các lĩnh vực như chính trị - tư tưởng, văn hóa – xã hội, kinh tế

- đời sống, an ninh quốc phòng, môi trường và biến đổi khí hậu, ?

Nhín nhận báo chí như một thiết chế kiến tạo xã hội, mối quan hệ tác động của nó với các lĩnh vực đời sống các có ý nghĩa hơn, và được thể hiện như thế nào, trên những khung lý thuyết hay format nào của các hình thứ tác động là vấn đề cần nghiên cứu

Trang 37

Thứ tám, hệ thống báo chí truyền thông chỉ có thể được vận hành để thực

hiện chức năng của mình trên bệ đỡ của công nghệ và kỹ thuật truyền thông như thế nào? Trong báo chí – truyền thông đương đại, ký thuật và công nghệ có vai trò quyết định năng lực và hiệu quả tác động, thậm chí quyết định phong cách,

lý luận và thực tiễn, trên bình diện vĩ mô cũng như vi mô về quản lý, khai thác các kênh cũng như ấn phẩm truyền thông một cách hiệu quả nhất, đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng xã hội

1.2.2 Nhứng vấn đề thực tiễn

1.2.2.1 Báo chí thế giới

Dưới tác động của cuộc cách mang khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, báo chí đã và đang phát triển nhanh chóng, toàn diện và ngày càng phát huy sức mạnh như một vũ khí chính trị tư tưởng rất lợi hại nhất Xu hướng hình thành các tập đoàn báo chí - truyền thông đa quốc gia, xuyên lục địa, cùng với làn sóng toàn cầu hóa TTĐC đang làm gia tăng tính phức tap của cuôc đấu tranh tư tưởng trên pham vi khu vực và toàn cầu

Mặt khác, sư chi phối của quyền lực chính trị và kinh tế đã và đang tao nên “làn sóng xâm lăng” từ các nước giàu, các nước mạnh đến các nước đang phát triển Biên giới mềm giữa các quốc gia đang bị xóa nhòa, “làn sóng xâm lăng” này đang đặt các nước đang phát triển, các khu vực đang phát triển trước yêu cầu phải tăng cường đoàn kết, liên kết để có thể nâng cao sức đề kháng và bảo vệ sư ổn định và tính bền vững trong quá trình phát triển của mình

Đối với các nước phương Tây, báo chí – truyền thông không chỉ là công cụ đấu tranh chính trị tư tưởng, là diễn đàn chia sẻ thông tin, kiến thức,

Trang 38

kỹ năng và kinh nghiệm, mà còn là một ngành kinh doanh có khả năng đem lại lợi nhuận khổng lồ Ở đó, bản chất hoạt động báo chí không chỉ là hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thông tin đại chúng, mà còn là hoạt động kinh doanh siêu lợi nhuận

Với sự phát triển của hệ thống internet toàn cầu và báo mạng điện tử, các loại hình báo chí đang có sự cạnh tranh và hợp tác phát triển Ngày nay, với sự

ra đời phát triển của mạng internet, các mạng xã hội, truyền thông xã hội đã và đang tạo điều kiện cho blog phát triển như một làn sóng, cùng với những dạng thức truyền thông mới trên mạng internet, đã hình thành cộng đồng cư dân mạng, nhất là trong giới trẻ và xuất hiện những khái niệm mới trong hoạt động báo chí, truyền thông Những hiện tượng này đang đặt ra những vấn đề thách thức báo chí truyền thông, cũng như công tác quản lý nhà nước về báo chí của các quốc gia

1.2.2.2 Báo chí Việt Nam

Thứ nhất: Báo chí Việt Nam trong lịch sử

Xã hội Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX trở về trước chưa có báo chí Người

ta kể rằng các nhà vua triều Nguyễn, từ vua Minh Mạng trở đi, thường lệnh cho các tàu buôn mỗi lần đi Hương Giang thì mang báo Anh về, rồi nhờ mấy nhà truyền giáo Tây phương dịch lại cho triều đình nghe [11]

Trong một bài viết trên tờ Tri Tân năm 1945, cụ Nguyễn Văn Tố cho rằng thực ra có thể tìm thấy những mầm mống tiền thân của báo chí qua hình thức thông tin ở Quảng Văn Đình thời Lê Thánh Tôn (“ nơi niêm yết những phép tắc trị dân) ở Quảng Minh Đình thời Gia Long ( cũng là nơi dán các huấn lệnh của nhà vua) hay qua những sinh hoạt “ giảng thập điều” ở các đình làng [18; tr.5]

Khi nghiên cứu báo chí Việt Nam giai đoạn 1865 – 1930, tác giả Huỳnh Văn Tòng viết vào đầu những năm 1970 như sau: “ Ngay từ khi khởi thủy, báo chí Việt Nam không là thương mãi, mà chỉ là báo chánh trị Vấn đề thương mãi (kinh doanh thương mãi) chỉ là yếu tố thứ yếu , so với yếu tố chánh yếu là

Trang 39

nhiệm vụ chánh trị Khi nào tình hình chánh trị trở nên sôi động , với những biến cố vĩ đại thì báo chí ra nhiều Nhận xét trên đây vẫn đúng và càng đúng nếu

ta nhìn khoảng thời gian 1930 về sau, mãi tới lúc gần đây

Xét về mặt nào đó, chúng ta nhận thấy dường như lịch sử phát triển của báo chí Việt Nam có những nét khá giống với lịch sử phát triển của báo chí Pháp buổi ban đầu với hai đặc điểm chính yếu là thiên về văn chương và nhất là thiên về chính trị

Sinh hoạt báo chí trong ba phần tư đầu thế kỷ XX đã để lại những dấu ấn sâu đậm trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong lịch sử cận đại và hiện đại của xã hội Việt Nam [26; tr.85]

Báo chí đóng vai trò hết sức quan trọng trong lĩnh vực thông tin kinh tế - thương mại và kinh tế kỹ thuật kể từ đầu thế kỷ XX trở đi, bởi lẽ đây là một kênh truyền thông không thể thiếu trong bất cứ một nền kinh tế nào

Một trong những đặc điểm đáng chú ý của báo chí trong lịch sử Việt Nam, đó

là chức năng truyền bá những tư tưởng cách tân xã hội Ngoài những trào lưu tư tưởng triết học và chính trị - xã hội tiến bộ của phương Đông cũng như phương Tây, chúng ta còn phải kể tới những tư tưởng cách tân xã hội được bàn luận và phổ biến trên nhiều tờ báo kể từ hồi đầu thế kỷ XX trở đi, gây những tiếng động không nhỏ tới tư tưởng, quan niệm và lối sống của nhiều thế hệ

Sự phát triển của báo chí Tiếng Việt kể từ đầu thế kỷ XX đã đóng vai trò hết sức quan trọng vào việc phổ cập chữ quốc ngữ, vào sự ra đời của thể loại văn xuôi, cũng như thúc đẩy nền văn học chữ quốc ngữ Những tờ báo đóng góp đáng kể về mặt này ở Sài Gòn là Lục tỉnh tân văn (1907-1943), Phụ nữ tân văn (1929 – 1935), còn ở Hà Nội là nhật báo Trung Bắc tân văn (1913-1941), Đông Dương tạp chí (1913-1919), Nam phong tạp chí (1917 – 1934), Đông Tây (1929 – 1932), Phong hóa tuần báo (1932 – 1936), Ngày nay (1935 – 1940)…

Báo chí, một phương tiện truyền thông lúc đó còn rất mới mẻ và chưa được phổ cập bao nhiêu, đã được giới sĩ phu yêu nước đề ra như một trong những con đường để mở mang dân trí Theo Sơn Nam, tờ Lục tỉnh tân văn từ số

Trang 40

1 tới số 50 là một thành tích đáng kể của công cuộc Minh Tân, đây là “ tờ báo đối lập, công khai tranh đấu chống thực dân Pháp với chủ đích rõ rệt gần như đầu tiên trong làng báo Việt Nam [20]

Từ thập niên 1920, ngoài những tờ báo của nhà cầm quyền hoặc thân chính quyền, người ta thấy xuất hiện nhiều tờ báo đối lập với nhà cầm quyền thực dân Pháp, từ đối lập ôn hòa tới đối lập gay gắt, trong đó có những tờ bị gây khó khăn, hăm dọa và đình bản, chủ nhiệm thì bị bắt như tờ La Cloche fêlée (Chuông rè)(1923 – 1926) và tờ L’Annam (1926-1928) của hai luật sư Nguyễn

An Ninh và Phan Văn Trường…

Trong thời kỳ 1954 – 1975, cuộc đấu tranh trên diễn đàn báo chí cũng không kém phần phức tạp, gay gắt và ác liệt so với những giai đoạn trước Đặc điểm của những tờ báo khuynh tả trong thời kỳ này là thường phối hợp hoặc gắn liền với nhiều phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi hòa bình, thống nhất đất nước, chống Mỹ và chống chính quyền Sài Gòn của các tầng lớp

xã hội khác nhau, từ trí thức, giáo sư, kỹ sư, luật sư, tu sĩ Phật giáo và Công giáo, cho tới công nhân và sinh viên, học sinh Rất nhiều tờ báo thường xuyên

bị kiểm duyệt, bị tịch thu, nhiều chủ nhiệm và chủ bút phải “ vác chiếu” ra tòa

và lãnh án, nhiều ký giả bị bắt giam vì chống chính quyền….[26; tr.87 – tr.99]

Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, đời sống báo chí Việt Nam bước sang một trang sử mới, đối diện với những vấn đề mới của một xã hội hậu chiến theo hướng xã hội chủ nghĩa

Đặc trưng của báo chí thời bao cấp thực ra là sự biểu hiện mà cũng là hệ quả của một phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung và hành chính quan liêu, của một lối tư duy giáo điều và một quan niệm duy ý chí về vai trò “quản

lý toàn diện” của nhà nước đối với sự phát triển của xã hội

Kể từ năm 1986 trở đi, tin tức trên các trang báo bắt đầu “ nóng hơn”, những thể loại như phóng sự và điều tra được các tòa soạn chú trọng sử dụng nhiều hơn hẳn so với trước

Bước vào thời kỳ đổi mới, một thị trường báo chí trong nước thực sự hình thành và tuy chưa phải lớn mạnh lắm nhưng đã khá sôi động Sự cạch tranh giữa

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Bằng (1969), Bốn mươi năm “nói láo”, Sài Gòn, Tủ sách Nam Chi Sách, tạp chí
Tiêu đề: nói láo
Tác giả: Vũ Bằng
Năm: 1969
2. Lê Thanh Bình (2006), Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Trần Ngọc Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Dững (đồng tác giả) (2005), Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Ngọc Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Dững (đồng tác giả) (2005), "Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Ngọc Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Dững (đồng tác giả)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
4. Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007), "Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2007
5. Nguyễn Văn Dững (2006), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
9. PGS.TS Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
12. PGS.TS. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
13. PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên), TS. Đỗ Thị Thu Hằng (2012), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên), TS. Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
15. PGS.TS. Nguyễn Văn Dững (2013), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2013
22. Trần Văn Giàu, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, “ Chữ quốc ngữ trên đất Sài Gòn – Gia Định những thế kỷ XVII-XVIII-XIX”, trong Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ quốc ngữ trên đất Sài Gòn – Gia Định những thế kỷ XVII-XVIII-XIX
24. Vũ Quang Hào (2001, 2004), Ngôn ngữ báo chí, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
25. Đỗ Thị Thu Hằng (2010), PR - công cụ phát triển báo chí, Nxb Trẻ.TS Sách, tạp chí
Tiêu đề: PR - công cụ phát triển báo chí
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Trẻ.TS
Năm: 2010
27. Đinh Văn Hường (2004), Tổ chức và hoạt động của toà soạn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của toà soạn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
28. Đỗ Quang Hƣng (1999), “ Buổi đầu tiên của báo chí Việt Nam”, Xƣa và nay, số 46B Sách, tạp chí
Tiêu đề: Buổi đầu tiên của báo chí Việt Nam
Tác giả: Đỗ Quang Hƣng
Năm: 1999
29. Hồ Quang Lợi (2008), Nâng cao tính thực tiễn trong đào tạo báo chí, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế "Báo chí và truyền thông đại chúng - Đạo tạo, bồi dƣỡng trong thời kỳ hội nhập” do Học viện Báo chí tổ chức tháng 6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và truyền thông đại chúng - Đạo tạo, bồi dƣỡng trong thời kỳ hội nhập
Tác giả: Hồ Quang Lợi
Năm: 2008
31. PGS.TS. Đỗ Chí Nghĩa (2014), Nhà báo và sáng tạo báo chí trong tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Thông tin & Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà báo và sáng tạo báo chí trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: PGS.TS. Đỗ Chí Nghĩa
Nhà XB: NXB Thông tin & Truyền thông
Năm: 2014
32. Lê Thị Nhã (2010), Lao động nhà báo - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động nhà báo - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Lê Thị Nhã
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
35. Trần Hữu Quang (2009), “Làm báo là một nghề hay một sứ mệnh?”; Nhà báo viết về nghề báo; NXB Trẻ, thời báo kinh tế Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm báo là một nghề hay một sứ mệnh
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2009
39. Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
43. Bùi Hỏa Tiễn, Thông tin quảng bá du lịch trên báo chí, Khóa luận tốt nghiệp TC2, ĐH KHXHNV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin quảng bá du lịch trên báo chí

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w