Ngoài ra, một số lý thuyết khác như lý thuyết điều khiển học giải thích quá trình truyền thông theo lô-gic vật lý và lô-gic sinh học cũng như lý thuyết của McLuhan ca ngợi các phương tiệ
Trang 1
Ũ P ƯƠ
QUAN H GIỮA BÁO IN QUÂN KHU 9
VỚI CÔNG CHÚNG QUÂN NHÂN QUÂN KHU 9 (Khảo sát áo in uân khu 9 năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017)
Ngành : Quản lý Báo chí - Truyền thông
Mã số : 62 32 01 01
H C
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS MAI QUỲNH NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài "Quan hệ giữa Báo in Quân khu 9 với công chúng quân nhân Quân khu 9" l côn n o ôi n i n c u ới
sự ớng dẫn khoa học của PGS.TS Mai Quỳnh Nam
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn l un ực v c a ừng
đ ợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Luận văn có sử dụng, phát triển và kế thừa nhữn liệu, số liệu, kết quả nghiên c u từ các sách, giáo trình, tài liệu li n quan đến nội un đề tài Thông tin trích dẫn đều đ ợc ghi
rõ nguồn
Tác giả
ũ hị Phương à
Trang 3Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Quỳnh Nam, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Xin ghi nhận nơi tôi lòng biết ơn đối với quý thầy, cô giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tận tình truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho tôi và tập thể lớp Cao học Quản lý Báo chí - Truyền thông K21.2
TP Hồ Chí Minh
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Biên tập và phóng viên, biên tập viên Báo Quân khu 9 ; Đảng ủy - Ban Chủ nhiệm Cục Chính trị; Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9; cán bộ, chiến sĩ các đơn vị Bộ Tham mưu, Cục Kỹ thuật, Sư đoàn 330, Lữ đoàn Tăng - Thiết giáp 416, Lữ đoàn 962, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Vĩnh Long, An Giang cùng các đồng nghiệp đã tạo điều kiện hỗ trợ, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và trong thời gian thực hiện luận văn
Dù có nhiều cố gắng trong thực hiện đề tài, tuy nhiên do thời gian có hạn
và bản thân chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học nên luận văn còn nhiều thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Cần T ơ n y 28 án 11 năm 2017
Tác giả luận văn
ũ hị Phương à
Trang 4M C L C
Trang
hương 1: Ơ Ở LÝ LU N - THỰC TIỄN CỦA VẤ NGHIÊN
CỨU TRUY N T Ô I CHÚNG, CÔNG CHÚNG QUÂN NHÂN QUÂN KHU 9 VÀ BÁO IN QUÂN KHU 9 18
2.2 Công chúng quân nhân Quân khu 9 với việc đọc Báo in Quân khu 9 51 2.3 Công chúng quân nhân Quân khu 9 với việc tiếp nhận thông tin
hương 3: Ủ Ô Ú ÂN NHÂN QUÂN
K 9 Â K 9 Ó Ả P P
3.3 Giải pháp thu hút công chúng quân nhân Quân khu 9 đến với Báo
Trang 5Hạ sĩ quan - binh sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu Quân đội nhân dân
Quân khu 9 Quân nhân chuyên nghiệp Quốc phòng - An ninh Truyền thông đại chúng
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6Trang
Trang 7Biểu đồ 2.1: Tần xuất đọc Báo in Quân khu 9 52
Biểu đồ 2.12: Tỉ lệ bạn đọc gửi tin, bài cộng tác với Báo in QK9 77
Trang 8MỞ ẦU
1 ính cấp thiết của đề tài
Sự tác động mạnh mẽ của internet và quá trình toàn cầu hóa truyền thông đại chúng (TTĐC) hiện nay đã tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội Trước những ảnh hưởng này, nhu cầu thông tin, được thông tin của công chúng (CC) ngày càng đa dạng, tăng lên một cách nhanh chóng CC truyền thông xã hội và mạng xã hội phát triển đã đẩy ngành công nghiệp báo chí (BC) truyền thống trên toàn cầu vào tình cảnh vô cùng khó khăn, làm ảnh hưởng đến vai trò, vị thế và sức mạnh của BC Cơ cấu sức mạnh thực tế của truyền thông xã hội thay đổi, BC truyền thống đang mất dần vị thế thống trị, nhường chỗ cho truyền thông xã hội… Nếu như trước đây, BC được biết đến như một kênh truyền thông độc quyền khơi nguồn, truyền dẫn, định hướng, điều hòa dư luận xã hội; có sức tác động mạnh mẽ, liên tục và không ngừng nghỉ đối với đời sống tinh thần của công chúng… thì ngày nay, vai trò đó thậm chí chủ yếu bắt nguồn từ mạng xã hội
Trong xu hướng truyền thông đa chiều, các cơ quan BC cũng đang tìm cách thay đổi phương thức tác nghiệp, mang lại các sản phẩm thông tin sinh động hơn để có thể đáp ứng những thay đổi về nhu cầu thông tin của
CC Do đó, nghiên cứu CC BC luôn là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong hoạt động BC, là nhân tố quyết định sự thành bại của quá trình truyền thông và cơ quan BC
Đối với Việt Nam, hệ thống BC đã trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước Là công cụ sắc bén tuyên truyền về lợi ích của dân tộc, nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ BC đã làm tốt nhiệm vụ thông tin, truyền thông về chủ trương, chính sách, pháp luật, sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước và phản ánh kịp thời mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, quảng bá hình ảnh, lợi thế của các vùng miền Tổ quốc ra thế giới Đồng thời, BC cũng tạo ra nhiều cơ hội cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, giao
Trang 9lưu văn hóa và là kênh cung cấp các hoạt động giải trí, khai sáng… đáp ứng yêu cầu công chúng trên mọi miền đất nước
Cùng với hệ thống BC cả nước, BC trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng mà trực tiếp là Tổng cục Chính trị luôn giữ vững tôn chỉ, mục đích, thật sự là phương tiện thiết thực để tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đóng góp trong thành tích chung của hệ thống BC Quân đội, BC Quân khu 9 luôn là lực lượng xung kích, nòng cốt trong tuyên truyền, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, chống tiêu cực, bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và lợi ích chính đáng của nhân dân, góp phần cùng BC Quân đội định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
về thông tin của cán bộ, chiến sĩ tại các cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang Quân khu (LLVT QK)
Tuy nhiên, trong môi trường truyền thông có sự hỗ trợ của kỹ thuật, công nghệ số, cùng mạng internet toàn cầu và phương tiện truyền thông cá nhân, đất nước ta đứng trước những thuận lợi, thời cơ lớn và cả những khó khăn, thách thức không nhỏ Mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch là tìm cách xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, đưa Việt Nam đi theo ý đồ, quỹ đạo của họ Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tác động vào lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, BC, xuất bản của nước ta nói chung và của QĐND Việt Nam nói riêng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam Đặc biệt là tình hình tranh chấp trên biển Đông và biên giới Campuchia Mặt khác, do tính chất xã hội hóa của thông điệp truyền thông xã hội, mạng xã hội ngày càng trở nên mạnh mẽ dẫn đến việc tiếp nhận
Trang 10sản phẩm BC của công chúng Việt Nam cũng có sự thay đổi so với trước đây Nhiều người đã chọn báo điện tử, các mạng xã hội, truyền thông xã hội để
phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu tin tức hàng ngày của mình Môi trường truyền
thông đa phương tiện ảnh hưởng đến vai trò, vị thế, sức mạnh của BC, đặc biệt là báo in đã bị hạn chế đi bởi CC, khách hàng và thị trường thu hẹp Thực trạng này ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, tư tưởng, ý thức trách nhiệm của
CC đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Vấn đề mà các cơ quan BC nước ta nói chung, BC Quân đội, Báo Quân khu 9 (QK9) nói riêng luôn tích cực hướng tới là nắm được đặc điểm, nhu cầu, cách thức theo dõi, tiếp nhận thông tin của đối tượng CC của mình để tìm cách đáp ứng tốt hơn, tăng hiệu quả truyền thông Từ đó xây đắp niềm tin, nâng cao ý thức cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân 12 tỉnh, thành khu vực miền Tây Nam bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Tuy nhiên, từ khi ra đời đến nay, do nhiều nguyên nhân, Báo QK9 chưa một lần tổ chức nghiên cứu độc giả để duy trì và phát triển CC, xác định nhu cầu thông tin và khuynh hướng tiếp cận thông tin của CC của Báo in QK9 Những thay đổi, điều chỉnh về hình thức, nội dung tờ báo thời gian qua chủ yếu xuất phát từ sự chỉ đạo của cơ quan cấp trên hay các ý kiến đề xuất của cán bộ, phóng viên trong toà soạn Vì vậy, để tạo hướng phát triển với sự thay đổi phù hợp cho Báo in QK9 trong bối cảnh TTĐC hiện nay thì việc nghiên cứu công chúng quân nhân (CCQN) tại các cơ quan, đơn vị trong LLVT QK9 là cần thiết
Xuất phát từ mục đích trên, người viết chọn vấn đề nghiên cứu "Quan
hệ giữa Báo in Quân khu 9 với công chúng quân nhân Quân khu 9" làm đề tài luận văn Thạc sĩ báo chí với mong muốn ứng dụng những kiến thức đã được học, bước đầu tìm hiểu đối tượng CC là cán bộ, chiến sĩ đang công tác tại các
cơ quan, đơn vị trong LLVT QK 9 Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp giúp Ban Biên tập Báo QK9 có kế hoạch điều chỉnh, nâng cao chất lượng nội dung, hình thức tuyên truyền cụ thể, hợp lý cho tờ báo in, góp phần củng cố
uy thế, tạo thêm sức hút cho các loại hình Báo QK9 trong thời gian tới
Trang 112 ình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Trên thế giới
Cách đây hơn 100 năm, trên thế giới việc nghiên cứu hiệu quả xã hội của TTĐC đối với CC đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học Từ khi phương tiện TTĐC đầu tiên (báo chí) bắt đầu thâm nhập vào đời sống dân chúng hàng ngày ở châu Âu, cho tới khi hiện tượng TTĐC (BC cùng với phát thanh, truyền hình…) trở thành một một hiện tượng độc đáo, có ảnh hưởng to lớn tại hầu hết các quốc gia trên thế giới
Cuối thế kỷ XIX, tuy chưa có những công trình nghiên cứu về TTĐC, nhưng Marx, Durkheim và Weber trong các tác phẩm của mình đã xuất hiện nhiều suy tư mang tính chất tiền đề cho những nghiên cứu sau này về TTĐC
Ở châu Âu, các khái niệm như sự "tỉnh ngộ" (hay sự "giải ma thuật",
désenchantement, nơi Max Weber), sự "tha hóa" (alienation, nơi Karl Marx),
hay tình trạng "phi chuẩn" (nơi Emile Durkheim) phản ánh một không khí không thuận lợi cho việc nghiên cứu về TTĐC (lúc ấy mới chỉ có BC), vốn còn đang được coi như một cái gì quá mới mẻ, đáng lo ngại, hoặc có nhiều khả năng bị các nhà cầm quyền thao túng Tuy nhiên ở Mỹ lúc này, nhiều tác giả như Peirce, Park, Mead hay Dewey lại có cái nhìn ít bi quan hơn đối với phương tiện TTĐC, một số mô hình lý thuyết cũng như phương pháp được họ đưa ra thời điểm này đã tạo tiền đề thúc đẩy những công trình nghiên cứu về sau
Từ đầu thế kỷ XX cho tới năm 1950 của thế kỷ trước, khi phát thanh, truyền hình xuất hiện, các nhà xã hội học cho rằng những thông điệp của các phương tiện truyền thông được "chích" vào công chúng cũng dễ dàng như chích một mũi thuốc Theo Eric Maigret, đặc điểm tư duy của phần lớn các
nhà nghiên cứu thời kỳ này là "bị ám ảnh bởi những đồ vật" (obsession des
objets), nghĩa là bị ám ảnh bởi hiệu ứng của các phương tiện kỹ thuật (trong
truyền thông) và nghĩ rằng các khía cạnh văn hóa, chính trị đều bị áp đảo hay
bị đè bẹp bởi sự có mặt của các phương tiện này Sau đó, những người thuộc
Trang 12trường phái Frankfurt của Đức như Theodor Adomo và Max Horkheimer cho rằng các phương tiện truyền thông làm tha hóa người dân, vì chúng chỉ là phương tiện nối dài sự thống trị tư bản chủ nghĩa đối với dân chúng thông qua thông tin, giải trí, do đó chúng trở thành như một thứ ma túy làm cho mọi người không còn óc phê phán và chỉ biết làm theo người khác Họ cho rằng xã hội đại chúng đã sản sinh ra những cá nhân không còn khả năng đề kháng trước sức thuyết phục của truyền hình Ngoài ra, một số lý thuyết khác như lý thuyết điều khiển học (giải thích quá trình truyền thông theo lô-gic vật lý và lô-gic sinh học) cũng như lý thuyết của McLuhan (ca ngợi các phương tiện TTĐC như một thành tựu vĩ đại có tác dụng giải phóng con người, làm cho mọi người hiểu biết nhau hơn và làm cho thế giới trở thành một "ngôi làng toàn cầu")…
Trong khoảng thập niên 60-80, các nhà nghiên cứu không còn quan niệm tuyệt đối hóa vai trò của các phương tiện TTĐC mà chuyển sang chú trọng hơn tới lô-gic hành động của các tác nhân xã hội trong quá trình truyền thông Các phương tiện TTĐC chỉ là những yếu tố nằm bên trong một tổng thể xã hội rộng lớn, chứ không phải là những yếu tố nằm bên ngoài và mang tính chất quyết định đối với tổng thể này Chúng tồn tại, vận hành thông qua
sự trung gian của các nhóm xã hội và các cá nhân, cũng như trong sự tương tác giữa các nhóm xã hội và các cá nhân với nhau Quá trình truyền thông được quan niệm như một quá trình phức tạp và không được coi là có quyền lực vạn năng Một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như Joseph Klapper, người đầu tiên đưa ra kết luận TTĐC không hề có tác động trực tiếp đối với người dân; Lazarsfeld - tác giả qua nghiên cứu thực nghiệm cho rằng TTĐC có những tác động gián tiếp và phức tạp, chứ không mang tính chất đơn giản và tuyến tính
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu truyền thông trong thế kỷ XX cũng quan tâm đến việc tìm hiểu hoạt động của các hãng truyền thông nói riêng và ngành công nghiệp truyền thông nói chung Cụ thể, Ronland Barthes và Umberto Eco bằng lối phân tích tín hiệu nghiên cứu những công cụ nhận thức mà các
Trang 13phương tiện TTĐC sử dụng để ghi nhận, phản ánh các quan hệ quyền lực giữa các tầng lớp xã hội Tuy nhiên, một số tác giả khác lại bác bỏ luận đề về sự huyền thoại hóa của Barthes và Eco, chọn con đường đi vào nghiên cứu quá trình tiếp nhận các thông điệp, hay quá trình sản xuất các thông điệp
Trường phái "Cultural Studies" (nghiên cứu văn hóa) của các nhà nghiên cứu Anh và Mỹ, mà những người tiên phong là Richard Hoggart và Stuart Hall sử dụng nhiều kỹ thuật khảo sát quá trình tiêu thụ, tiếp nhận các nội dung TTĐC khác nhau như điều tra về tần suất mua báo, đọc báo, mua kênh truyền hình…, bảng câu hỏi, phỏng vấn, quan sát tham dự… nhằm mục tiêu nhường lại tiếng nói cho những người lâu nay thường bị coi là CC thinh lặng CC được hình dung như những tác nhân xã hội có khả năng lý giải và khả năng phê phán, chống chọi lại những sự áp đặt trong quá trình TTĐC Họ quan niệm TTĐC là một quá trình đối thoại (trong khuôn khổ trật tự đẳng cấp), chứ không phải chỉ là một sự thống trị từ bên trên đối với bên dưới Đặc biệt, ở thập niên 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng, công chúng là những người nuôi sống BC
Vào cuối thế kỷ XX cho đến nay, với sự xuất hiện của internet, truyền thông trở thành một trong các yếu tố quan trọng của quá trình toàn cầu hóa
Sự tiến bộ của công nghệ điện tử đã tạo cho thế giới một ngôi nhà chung, các kênh truyền thông, mạng xã hội tạo nên một cuộc cách mạng về thông tin BC
- một không gian BC mà trước đó chưa bao giờ có Bản thân quá trình toàn cầu hóa cũng tác động một cách sâu rộng đến truyền thông Một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đối với lối tiếp cận trên đây là Jurgen Habermas, ông đã đưa ra một khái niệm mới là "không gian công cộng?"
(Offendichkeit) khi nói về TTĐC Các phương tiện TTĐC đóng vai trò làm
trung gian liên lạc và tiếp xúc trong nội bộ xã hội dân sự, cũng như giữa xã hội dân sự và các thiết chế nhà nước
Hiểu theo ý nghĩa này, TTĐC không còn là một lãnh địa dành riêng cho các nhà truyền thông hay các chuyên gia về truyền thông, mà là một nơi có
Trang 14mục tiêu thực hiện cùng một lúc hai chức năng: vừa là nơi trình bày các kiến thức về xã hội con người, và vừa là nơi diễn ra các mối quan hệ tiếp xúc, liên lạc giữa các tầng lớp, các khu vực, hay các nhóm xã hội Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu về truyền thông đề xuất đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng kiến trúc của công nghệ nhằm phát triển thông tin vì cả lợi ích kinh tế lẫn xã hội Đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, truyền thông đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động mang tính toàn cầu như vận động dân chủ, nhân quyền, bảo vệ môi trường, sức khỏe người lao động, an toàn hạt nhân, ứng dụng kỹ thuật công nghệ truyền thông mới…
Mỗi một gốc độ và cách tiếp cận khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu ở từng giai đoạn lịch sử nghiên cứu, đặt vấn đề nghiên cứu CC ở mỗi khía cạnh riêng dựa trên cơ sở lý thuyết truyền thông
Trong cuốn "Nghiệp vụ báo chí - lý luận thực tiễn", V.V.Vôrôsilốp (2004)
đã chỉ ra nhiều khía cạnh khác nhau của BC truyền thông như: Kỹ thuật và công nghệ; hệ thống các loại hình BC, kinh tế trong ngành BC và quản lý các phương tiện TTĐC… Trong đó, tác giả đã dành một phần tìm hiểu về thính giả báo phát thanh: Có thể duy trì sự hứng thú của giới nghe đài nếu làm phong phú thêm nội dung chương trình bằng các buổi phát thanh tìm hiểu các vấn đề khác nhau BC trên đài phát thanh có hai khuynh hướng thông tin ở Nga Nhưng phần lớn các đài theo hướng âm nhạc Mô tả một số đài theo hướng âm nhạc vẫn duy trì nhiều
sự chú ý của thính giả
Nhà xã hội học BC Mỹ, Schuson M (2003) - Sức mạnh của tin tức và truyền thông, đã từng có một "phạm vi công chúng chính trị" gắn liền với các cuộc bầu cử và báo chí Mỹ đã chỉ ra tầm quan trọng của việc thăm dò ý kiến người dân đối với BC, thông qua điều tra dư luận
Cuốn sách "BC hiện đại nước ngoài những quy tắc và nghịch lý" X.A.Mikhailốp (2004), đặt ra vấn đề trách nhiệm của BC trước công chúng - bạn đọc, người xem, người nghe và đưa ra nhiều nghiên cứu khác nhau của
Trang 15nhiều tác giả về CC Theo Giáo sư Đ.P.Garva hiệu quả ấy, có thể được lý giải như sau: "Các nguồn thông tin ấy ảnh hưởng như thế nào đến CC? Những đặc trưng nào của các nguồn thông tin làm cho những tác động có tính chất thuyết phục trở nên hữu hiệu hơn Theo Aristốt, khi xem bài phát biểu trước CC, đã tập trung chú ý không phải ở nội dung bài phát mà vào đặc trưng và tư cách của diễn giả Aristốt cho rằng một người cung cấp thông tin hữu hiệu phải có
sự nhạy cảm về sự cảm nhận của CC, một ý chí mạnh mẽ và những phẩm chất đạo đức xứng đáng"
Đây đều là các công trình nghiên cứu quan trọng, giúp người viết có kiến thức nền tảng, có hướng nhìn khái quát, cụ thể về sự thay đổi và khả năng tiếp nhận của CC trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội
2.2 Ở Việt Nam
Lĩnh vực nghiên cứu quan hệ giữa TTĐC và CC vẫn còn khá mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam Tuy nhiên đã có những bước tiếp cận khá đa dạng từ bình diện lý thuyết xã hội học công chúng, nghiên cứu khảo sát thực nghiệm, tâm lý đến góc độ BC học… có nhiều luận án, luận văn, khóa luận cũng lấy đề tài CC làm vấn đề nghiên cứu
Ở góc độ BC học, trong các nghiên cứu "Báo chí truyền thông hiện
đại", (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011), "Cơ sở lý luận báo chí", (Nxb lao
động, 2012) của Nguyễn Văn Dững và "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng
cơ bản", Nguyễn Văn Dững chủ biên, viết chung với Đỗ Thị Thu Hằng (Nxb
Chính trị Quốc gia, 2012) bên cạnh phân tích những vấn đề cơ bản về truyền
thông, truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, TTĐC, hai tác giả còn đi sâu nghiên cứu về lý thuyết truyền thông, chu trình truyền thông, lập kế hoạch truyền thông; xem xét mối quan hệ giữa TTĐC với phát triển văn hóa, giáo dục và một số vấn đề đặt ra cho sự phát triển của BC truyền thông Việt Nam Tác giả Tạ Ngọc Tấn với công trình nghiên cứu "Truyền thông đại chúng"
(Nxb Chính trị Quốc gia, 2001) đã khái quát về khái niệm truyền thông, sơ
lược lịch sử phát triển, mô hình và cơ chế tác động, các chức năng xã hội của
Trang 16TTĐC Tác giả cũng phân tích sơ nét về các loại hình TTĐC, những vấn đề
về TTĐC trong thế giới hiện đại và những vấn đề về lãnh đạo, quản lý và giao tiếp với các phương tiện TTĐC Công trình nghiên cứu "Quan hệ công chúng -
Lý luận và thực tiễn" (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) của Nguyễn Thị
Thanh Huyền đã giúp người đọc khám phá những bí ẩn căn bản nhất, bao gồm
cả lý luận, thực tiễn về nghề quan hệ công chúng trên thế giới và ở Việt Nam
Bên cạnh đó cũng có thể kể đến "Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo"
(Nxb Thông tấn, 2013) của Đỗ Thị Thu Hằng đã đi sâu vào tìm hiểu về tâm lý
tiếp nhận sản phẩm BC của công chúng từ đó đưa ra những đề xuất, yêu cầu trong kỹ năng viết báo, tổ chức sản phẩm BC tiếp cận tâm lý CC Năm 2010,
từ thành công của luận án tiến sĩ TTĐC "Quan hệ CC của các tờ báo dành cho thanh niên" (2009), tác giả Đỗ Thị Thu Hằng đã nghiên cứu thực nghiệm hoạt động nghiên cứu CC của ba tờ báo tiêu biểu nhất trong hệ thống các tờ báo dành cho thanh niên ở nước ta gồm: Thanh niên, Tuổi trẻ, Tiền phong Cuốn
"PR - công cụ phát triển báo chí" (Nxb trẻ 2010), Đỗ Thị Thu Hằng đi sâu
phân tích thực trạng, khả năng tương tác của các lĩnh vực PR được thực hiện
và quản trị bởi tòa soạn báo với CC mục tiêu Trên cơ sở đó đánh giá, đưa ra những đề xuất về yêu cầu của hoạt động quan hệ CC để tác động tích cực đến
CC nhằm phát triển sản phẩm BC, cơ quan BC trong nền BC cạnh tranh Hay
"Công chúng báo chí" của Phạm Thị Thanh Tịnh, (Nxb Chính trị - Hành
chính, 2013) tìm hiểu về nhu cầu, thực trạng và điều kiện tiếp nhận thông tin
BC của CC, đặc biệt là nhu cầu thông tin phát thanh; những vấn đề đặt ra và giải pháp tạo lập các điều kiện để phát triển, thỏa mãn nhu cầu thông tin của CC
hiện nay "Xã hội học báo chí", (Nxb Trẻ Thời báo Kinh tế Sài Gòn Trung tâm
kinh tế Châu Á - T ái B n D ơn 2005) của tác giả Trần Hữu Quang đã hệ
thống những nội dung chính chủ yếu về xã hội học TTĐC, bao gồm cách tiếp cận xã hội học đối với các quá trình truyền thông, đối với nghề làm báo và hoạt động của nhà báo, những quan điểm, phương pháp phân tích xã hội học về CC truyền thông, nội dung truyền thông cũng như về các tác động của TTĐC
Trang 17Một số luận văn tiến sĩ và thạc sĩ đã nghiên cứu về vấn đề CC như luận án: "Xu hướng tiếp nhận sản phẩm báo chí của CC Việt Nam" (2015) của Lê Thu Hà là công trình khảo sát, nghiên cứu đánh giá tổng quát xu hướng tiếp nhận của CC Việt Nam đối với bốn loại hình BC cơ bản (báo in, truyền hình, phát thanh, báo mạng điện tử) và các phương tiện truyền thông mới của CC Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu, Lê Thu Hà đã cung cấp những dự báo về
sự phát triển của BC Việt Nam nói chung và các loại hình BC nói riêng qua
đó có khuyến nghị, giải pháp cho các cơ quan BC và cơ quan quản lý BC nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của CC
Luận văn Tiến sĩ của Trần Bá Dung "Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội" (2007) đã mô tả thực trạng nhu cầu thể hiện qua mô thức tiếp nhận thông tin BC của CC Hà Nội, xem xét nhu cầu của CC như là một nguyên nhân chi phối cơ bản đối với quá trình truyền thông, chỉ ra các mối quan
hệ có tính quy luật, những nhân tố tác động tới nhu cầu tiếp nhận thông tin BC của CC Hà Nội Trên cơ sở đó dự báo một số xu hướng vận động của nhu cầu, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động BC
Cùng hướng nghiên cứu CC Thủ đô, luận văn thạc sĩ khoa học báo chí
"Công chúng Hà Nội với việc đọc báo in và báo điện tử" (T ờn Đại học
Khoa học Xã hội v N ân văn 2007), của tác giả Nguyễn Thu Giang đã xem
xét nhu cầu, cách thức tiếp cận của CC Hà Nội đối với hai loại hình báo in, báo điện tử, phân tích đặc điểm tương quan giữa hai nhóm CC cũng như xu hướng phát triển của hai loại hình BC nói trên Hay luận văn thạc sĩ báo chí
"Báo Hà Nội mới và CC Thủ đô" (Học viện Báo chí - Tuyên truyền, 2009) của
Phạm Thị Thu Hà, đã chỉ ra những tác động, hiệu quả của thông điệp truyền thông đối với CC, đồng thời phác họa chân dung CC của Báo Hà Nội mới cùng những đặc điểm chi phối đến cách thức tiếp nhận, sử dụng tin tức của
CC Thủ đô Từ nghiên cứu của hai tác giả, chúng ta có thể thấy một cách rõ nét về đặc điểm, cách thức tiếp nhận, mức độ thỏa mãn thông tin, hành vi và thói quen sử dụng báo in, báo điện tử của CC Thủ đô
Trang 18Đặc biệt, đối với đối tượng BC chuyên biệt như hệ thống BC Quân đội
có một số nghiên cứu: "BC Quân đội với vấn đề giáo dục chiến sĩ trẻ hiện nay" (2014) của Trần Bá Dung và Nguyễn Trần Thùy Vinh đã khảo sát các tác phẩm trong chương trình "Dành cho các bạn trẻ trong Quân đội" trên sóng phát thanh QĐND, "Trang Tuổi trẻ với Tổ quốc" của Báo QĐND để đánh giá một cách khái quát về chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục đối tượng chiến
sĩ trẻ của chương trình và chuyên trang này; từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng, đổi mới, giúp chương trình, chuyên trang ngày càng phát triển Đề tài luận văn thạc sĩ "Báo chí Quân khu
9 với vấn đề tuyên truyền Quốc phòng toàn dân" (2015) của Hoàng Văn
Khiêm chỉ rõ một số vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền Quốc phòng toàn dân trên BC Quân khu 9; đồng thời gợi ý một số giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền vấn đề này trên BC Quân khu 9 hiện nay
Thông qua các nghiên cứu trên, các tác giả đã cho chúng ta thấy việc nghiên cứu CC BC là vô cùng quan trọng; dù ở bất cứ thời kỳ nào, giai đoạn nào nhận diện CC, nghiên cứu CC là yếu tố tích cực góp phần duy trì, phát triển nền tảng BC cách mạng Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu CC chuyên biệt do yêu cầu đặc thù nhiệm vụ của QĐND
VN nói chung và QK9 nói riêng
Ở góc độ xã hội học TTĐC, các công trình nghiên cứu của Mai Quỳnh Nam đã đặt ra những vấn đề cơ bản về nghiên cứu xã hội TTĐC, chỉ rõ phạm
vi vấn đề nghiên cứu và đi sâu nghiên cứu CC Bài "Về vấn đề nghiên cứu
hiệu quả truyền thông" (Tạp c í Xã ội ọc số 4 2001), tác giả đã tổng hợp
một hệ thống chỉ tiêu định tính và định lượng làm cơ sở để phân tích hiệu quả của các phương tiện truyền thông Trong nghiên cứu "Báo thiếu nhi dân tộc
và công chúng thiếu nhi dân tộc" (Tạp c í Xã ội ọc số 4 2002), tác giả Mai
Quỳnh Nam chú ý tới đặc điểm quá trình hoạt động, tiếp nhận và xử lý thông tin, các cơ chế lây lan, sử dụng thông tin và các chỉ báo cho phép đánh giá hiệu quả của tờ báo đối với CC Trên Tạp chí Xã hội học còn đăng tải các
Trang 19nghiên cứu của Mai Quỳnh Nam về "Dư luận xã hội về các con số" (Tạp c í
Xã ội ọc số 3 1994), "Dư luận xã hội, mấy vấn đề lý luận và phương pháp
nghiên cứu" (Tạp c í Xã ội ọc số 1 1995), "Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội" (Tạp c í Xã ội ọc số 1 1996) … Ngoài đưa ra những cơ sở lý
thuyết cho việc nghiên cứu TTĐC và dư luận xã hội, Mai Quỳnh Nam đã gợi
mở ra hướng nghiên cứu thực nghiệm trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, phân tích mối quan hệ giao tiếp các cá nhân, giao tiếp đại chúng và hệ thống TTĐC, phác thảo xu hướng phát triển của các nghiên cứu về TTĐC và dẫn chứng bằng các kết quả nghiên cứu khoa học mang tính thực tiễn cao, có tính đúc kết vấn đề
Ngoài ra, nghiên cứu có nhiều đóng góp quan trọng là luận án tiến sĩ của Trần Hữu Quang "TTĐC và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh" (năm 1998) Công trình nghiên cứu CC truyền thông, mức độ và cách thức tiếp nhận các phương tiện TTĐC của người dân một địa phương tiêu biểu Tác giả đã lý giải những khái niệm về truyền thông, cách ứng xử với truyền thông của CC, mức độ và cách thức sử dụng các phương tiện TTĐC của CC, nhận diện và phân tích các mô hình tiếp nhận thông tin đại chúng
Các đề tài nghiên cứu khảo sát về CC của nước ta thời gian qua thường
là những khía cạnh có liên quan đến CC truyền thông, CC BC với phạm vi nghiên cứu ở các nội dung khác như: nâng cao chất lượng Báo Đảng địa phương, các tờ báo dành cho thanh niên, đối với lĩnh vực truyền hình, phát thanh hay công tác giáo dục chiến sĩ trẻ, tuyên truyền Quốc phòng toàn dân của Báo Quân đội, Báo QK9 Có thể nói, các công trình nghiên cứu nêu trên
đã giới thiệu và phân tích tình hình nghiên cứu công chúng, chỉ ra được thực trạng, hành vi tiếp nhận các sản phẩm BC của CC nói chung, lượng CC được nghiên cứu nói riêng Đồng thời, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các tờ báo để ngày càng phục vụ tốt hơn nhu cầu của CC… Đây là những tư liệu, là cơ sở quan trọng giúp người viết định hình về mặt
lý thuyết cũng như ứng dụng thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu, có nền tảng
Trang 20cùng những gợi ý thiết thực trong quá trình triển khai thực hiện đề tài luận văn của mình
Tuy nhiên, do đến thời điểm này chưa có bất kì nghiên cứu cụ thể nào
về CC chuyên biệt do đặc thù yêu cầu nhiệm vụ của Quân đội và QK9 nên tác giả chọn đề tài "Quan hệ giữa Báo in QK9 với CCQN QK9" cho luận văn thạc sĩ
BC của mình Vì là đề tài mới, nên trong quá trình nghiên cứu chắc chắn sẽ gặp khó khăn do ít tư liệu tham khảo Nhưng đây là đề tài có ý nghĩa đối với những người làm báo trong LLVT QK9 khi tìm kiếm, xác định được việc đọc sản phẩm Báo in QK9 và các nhóm CCQN cụ thể của từng chuyên trang, chuyên mục của
tờ báo Qua đó, Ban Biên tập Báo QK9 có điều kiện nắm bắt nhu cầu thông tin của CC mục tiêu của mình để có sự thay đổi và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động Báo in QK9
3 ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn nghiên cứu quan hệ giữa Báo in QK9 với CCQN QK9, từ đó
đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nội dung, hình thức tuyên truyền trên loại hình báo in theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu CCQN và sự phát triển của Báo QK9 trước sự tác động mạnh mẽ của truyền thông internet hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ cơ bản cần phải thực hiện như sau:
- Làm rõ một số khái niệm và lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu này
- Chỉ ra vai trò, ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng xã hội của thông điệp đối với CC
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu hệ thống lý thuyết về CC, quan hệ giữa CCQN QK9 và quá trình tiếp nhận thông tin của họ với Báo in QK9
Trang 21- Khảo sát, điều tra xã hội về những vấn đề liên quan đến CCQN QK9 gồm các vấn đề mang tính định lượng, tần suất đọc, thái độ, hành vi, mức độ hài lòng, khả năng phản hồi cũng như mong muốn của CCQN với thông tin, cách thức trình bày của Báo in QK9 Xác định được ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân ảnh hưởng đến việc tiếp nhận các sản phẩm báo chí của CC là các quân nhân
- Chỉ rõ những vấn đề đang đặt ra và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tuyên truyền trên Báo QK9, nhằm đáp ứng yêu cầu của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhu cầu thông tin ngày càng cao của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn miền Tây Nam bộ
4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu, khảo sát
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Về loại hình báo chí: Luận văn nghiên cứu về Báo in Báo QK9
- Về công chúng: Cán bộ, chiến sĩ tại một số cơ quan, đơn vị bộ binh,
binh chủng, địa phương trên địa bàn QK9 tại thời điểm khảo sát
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017; thời gian khảo sát
từ tháng 7/2017 đến 30/9/2017
- Về không gian: Chia theo đặc điểm yêu cầu nhiệm vụ với các cơ quan,
đơn vị đại diện: Sư đoàn bộ binh 330, Lữ đoàn Tăng - Thiết giáp 416, Lữ đoàn
962 (đơn vị chủ lực đủ quân); Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Kỹ thuật (khối
cơ quan); Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Vĩnh Long, An Giang (khối địa phương)
5 iả thiết nghiên cứu
Dựa trên các công trình nghiên cứu có liên quan mà tác giả tiếp cận được và thực tế nhu cầu tiếp nhận thông tin BC ở các cơ quan, đơn vị, luận văn đưa ra ba giả thuyết sau:
- Đặc thù chức năng, nhiệm vụ, quy định trong QĐND VN ảnh hưởng
đến quá trình tiếp cận thông tin của CCQN QK9 hơn là phụ thuộc vào các đặc
điểm chung của CC TTĐC
Trang 22- Có mối liên hệ giữa việc tiếp nhận thông tin từ Báo in Quân khu 9 của
CCQN QK9 với việc sử dụng thông tin từ tờ báo trong học tập, công tác, sinh
- Luận văn dựa trên cơ sở nhận thức luận những vấn đề lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Bộ Quốc phòng liên quan đến BC - truyền thông Đồng thời dựa trên các hệ thống lý thuyết: Lý thuyết truyền thông, lý thuyết tâm lý học BC, lý thuyết xã hội học BC và lý thuyết ngôn ngữ học để tiếp cận vấn đề nghiên cứu
- Luận văn cũng dựa trên cơ sở thực tiễn công tác truyền thông của Báo in QK9; qua thực tiễn tình hình tại các cơ quan, đơn vị, địa phương; qua các báo cáo tổng kết, đánh giá về công tác tuyên truyền của các cơ quan chức năng và từ kết quả khảo cứu tin, bài trên Báo in QK 9 năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học bao gồm các nhóm:
- P ơn p áp n i n c u địn l ợng: Điều tra xã hội học bằng bảng
hỏi Anket được dùng để xin ý kiến CC Báo in QK9, chủ yếu được dùng để khảo sát CC trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang là nơi có nhiều đơn vị LLVT QK đóng quân Mỗi đơn vị chọn một Trung đoàn/Tiểu đoàn; tỉnh/thành chọn một quận/huyện, mỗi quận/huyện chọn một phường/xã
Để bảo đảm tính khách quan, tương đối khi khảo sát, mỗi Lữ đoàn/Trung đoàn/cơ quan tác giả khảo sát khoảng 50 phiếu, Mỗi tỉnh/thành khảo sát 60 phiếu Sau khi làm sạch dữ liệu còn 400 phiếu hợp lệ, đủ điều kiện để phân tích trong nghiên cứu
Trang 23- P ơn p áp n i n c u định tính: Phỏng vấn sâu 16 trường hợp về
các vấn đề liên quan đến CC, những thành công, hạn chế, định hướng phát triển của Báo chí QK9, nhằm thu thập ý kiến thực tế, cung cấp cho việc triển khai các luận điểm khoa học - thực tế cần thiết trong nghiên cứu đề tài
Cụ thể: Chính ủy QK9; Chủ nhiệm Chính trị QK9; Tổng Biên tập Báo QK9; 02 Cán bộ Lữ đoàn, Trung đoàn; 01 Cán bộ cấp Tiểu đoàn; 02 Cán bộ cấp Đại đội; 02 Cán bộ cấp Trung đội; Cán bộ lãnh đạo Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại TP Cần Thơ; Trưởng Ban đại diện Báo QĐND tại ĐBSCL; Thư ký Tòa soạn Báo QK9; 01 Cộng tác viên; 02 chiến sĩ
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
7.1 Ý nghĩa khoa học
Xuất phát từ góc nhìn của BC học, xã hội học BC, đề tài nghiên cứu
"Quan hệ giữa Báo in QK9 với CCQN QK9 " là công trình nghiên cứu đánh giá tổng quát xu hướng tiếp nhận thông tin của cán bộ, chiến sĩ khu vực miền Tây Nam bộ và tìm hiểu dư luận xã hội trong CCQN về chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin tuyên truyền của Báo in QK9
Luận văn góp phần bổ sung và phát triển hệ thống lý thuyết về nghiên cứu CCQN QK9 với các loại hình BC ở Việt Nam nói chung, BC Quân đội, Báo QK9 nói riêng
Kết quả nghiên cứu từ đề tài này có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong lĩnh vực CC BC học và xã hội học TTĐC Nghiên cứu CCQN cho hệ thống BC Quân đội trong toàn quân
- Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giúp các cơ quan
BC, phóng viên, nhà báo trong Quân đội nhận thức được vai trò của CCQN
Trang 24với BC Qua đó góp phần nâng cao chất lượng hệ thống BC Quân đội, cụ thể
là Báo QK9 để có chiến lược cụ thể thu hút CC
- Đối với riêng Báo QK9, từ kết quả nghiên cứu để đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng quản lý, chất lượng chuyên môn và phương thức phục vụ nhu cầu tiếp nhận thông tin của bộ đội cho Ban Biên tập Báo QK9 (đặc biệt là báo in) Đồng thời giúp Bộ Tư lệnh, Cục Chính trị, Báo QK9 có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên Báo QK; thực hiện có hiệu quả Đề án "Hiện đại hóa các cơ quan Báo chí Quân đội giai đoạn 2015 - 2018" và Đề án "Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025"
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và giải pháp, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, nội dung luận văn gồm 03 chương, 7 tiết Cụ thể:
- Chương 1: Cơ sở lý luận - thực tiễn của vấn đề nghiên cứu TTĐC, công chúng quân nhân Quân khu 9 và Báo in Quân khu 9
- Chương 2: Công chúng quân nhân Quân khu 9 và hoạt động tiếp nhận thông tin trên Báo in Quân khu 9
- Chương 3: Nhận định của công chúng quân nhân Quân khu 9 về Báo
in Quân khu 9 và nhóm giải pháp thu hút công chúng của Báo Quân khu 9
Trang 25hương 1
Ơ Ở LÝ LU N - THỰC TIỄN CỦA VẤ NGHIÊN CỨU TRUY N
Ô I CHÚNG, CÔNG CHÚNG QUÂN NHÂN QUÂN KHU 9
VÀ BÁO IN QUÂN KHU 9
mà ta có thể lấy ra phân tích, so sánh, phân loại, giải thích, khái quát, tổ chức lại, từ đó mà rút ra được những ý nghĩa, giá trị nào đó mà tính chất, đặc trưng của các sự vật, hiện tượng nào đó cũng như các quy luật tồn tại và vận động của chúng
Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh
Theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh… hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người
Trong lĩnh vực TTĐC, thông tin hoạt động chủ yếu dựa trên nội dung của các thông điệp, nhất là khi tiếp xúc với công chúng
Trong lĩnh vực BC, thông tin được dùng để nói đến chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu tả câu chuyện, bằng chứng, chỉ cần nó thể hiện một nhân tố của thực tại Nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang cho
Trang 26rằng thông tin trong BC đang tồn tại hai cách hiểu: Một là tri thức, tư tưởng
do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống Hai là sự loan báo cho mọi người biết [54, tr.55] Theo cách hiểu đầu tiên, thông tin thể hiện tính chất khởi đầu, khởi điểm; còn theo cách hiểu thứ hai, là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện có để truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thế giới xung quanh Trong hoạt động BC, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình Thông tin trở thành cầu nối giữa BC và CC
Bên cạnh đó, thông tin BC là dạng thông tin xã hội đặc thù mang tính thời sự, phổ cập và rất quan trọng về phương diện chính trị - xã hội Là sự phản ánh hiện thực, thông tin có nội dung khách quan đồng thời lại mang tính chủ quan Do vậy, việc sử dụng thông tin vào hoạt động TTĐC cũng như việc tiếp nhận thông tin ở mỗi người đều không thể diễn ra một cách thụ động mà phải có sự kiểm định, xử lý lại thông tin Những thông tin chính xác, khách quan, đầy đủ, trung thực sẽ được sử dụng, tiếp nhận Ngược lại những thông tin giả dối, ngụy tạo, phiến diện sẽ bị loại bỏ, phủ nhận
Trong cuốn "Thông tin xã hội và định hướng xã hội" Afanaxiep định nghĩa: Thông tin là phần tri thức được sử dụng để định hướng, tác động đến những hành động tích cực và quản lý xã hội, thực hiện mục đích giữ gìn những đặc điểm phẩm chất, sự hoàn thiện và phát triển hệ thống" [1, tr.33] Như vậy, trong hoạt động BC, khi tìm hiểu về khái niệm thông tin chúng ta cần xem xét ảnh hưởng trực tiếp của thông tin đối với CC, hướng dẫn nhận thức và giáo dục đạo đức cho họ để có hành động đúng đắn
1.1.1.2 Truyền thông
Truyền thông (communication) được hiểu là hoạt động truyền phát và trao đổi thông tin giữa người với người nhằm đạt được sự hiểu biết và tạo ra
sự giao tiếp, liên kết xã hội
Có nhiều cách định nghĩa truyền thông, tùy thuộc vào góc nhìn của mỗi chuyên ngành khoa học Theo các nhà nghiên cứu BC học, truyền thông là hoạt động thông tin giao tiếp xã hội, là phương tiện, phương thức liên kết xã hội, là
Trang 27phương tiện và phương thức can thiệp xã hội Với cách nhìn nhận của BC học về truyền thông, Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng đưa ra định nghĩa:
"Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia
sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội" [14, tr.14-15]
Dưới góc nhìn xã hội học, truyền thông là một trong những dạng căn bản nhất của hành vi con người Theo Mai Quỳnh Nam, "Người ta nhất trí rằng: truyền thông là một phạm trù cơ bản, qua đó các hệ thống xã hội được hình thành, phát triển Thông qua truyền thông các thành tố xã hội, hệ thống con người, các hệ thống xã hội bao gồm cả hệ thống nhỏ, hệ thống lớn liên tiếp được cải biến và phân hóa" [39]
Khi nói về quá trình truyền thông, nhà chính trị học người Mỹ H.Lasswell (năm 1948) đã mô tả truyền thông con người như một nhà hùng biện phát đi một thông điệp thuyết phục đến công chúng Đây là mô hình truyền thông đơn giản, song rất thuận lợi khi cần chuyển những thông tin khẩn cấp Tuy nhiên, trong mô hình này, những thông tin phản hồi từ phía đối tượng tiếp nhận lại chưa được đề cập tới
Cũng trong thời gian này, nhà toán học Claude Shannon đưa ra mô hình truyền thông hai chiều có sự tham gia của yếu tố phản hồi và nhiễu Mô hình này thể hiện rõ hơn tính tương tác, bình đẳng cũng như sự chuyển đổi giữa chủ thể và khách thể của truyền thông; đồng thời cho thấy sự chú ý tới hiệu quả truyền thông - mong đợi của bất kỳ nhà truyền thông nào khi chuẩn bị hoạt động của mình
Còn Charles Osgood và Wilbur Schramm đưa ra mô hình truyền thông tương tác Đây là mô hình có ý nghĩa đặc biệt đối với hoạt động BC Mô hình thể hiện ở trên bao hàm khái niệm chia sẻ thông tin, đưa ra giả thuyết là việc
mã hóa và giải mã thông điệp phụ thuộc vào nguồn và người nhận, những công chúng đông đảo, với nền văn hóa, ngôn ngữ đặc thù Người gửi và người
Trang 28nhận tham gia vào quá trình truyền thông đều đóng vai trò truyền tin nên sự phản hồi - tương tác chắc chắn sẽ nhiều, phong phú, đa dạng hơn, cho thấy năng lực, hiệu quả truyền thông tốt hơn Thực tế cũng cho thấy, truyền thông tương tác cũng ngày càng phát triển, cùng với sự ra đời của internet và sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của báo mạng điện tử, các trang thông tin điện tử
Như vậy, truyền thông là phương thức tồn tại, nhu cầu tất yếu đồng thời cũng là bản chất, động lực của sự phát triển xã hội loài người Truyền thông đồng nghĩa với sự giao tiếp, giao tế, chia sẻ thông tin, ý kiến, quan điểm, tình cảm giữa các cá nhân hay giữa các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được
sự hiểu biết lẫn nhau Và nói tới truyền thông người ta thường nói tới các quá trình và các phương tiện truyền thông có tính xã hội rộng rãi như hoạt động ấn loát, xuất bản sách báo, phát thanh, truyền hình và Internet
1.1.1.3 Truyền ôn đại chúng
Truyền thông đại chúng, tên tiếng Anh là "mass communication" được hiểu là hoạt động truyền phát và tiếp nhận thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng "mass media" như BC, truyền hình, phát thanh, Internet TTĐC là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm 3 thành tố: các nhà truyền thông - hoạt động truyền thông - CC truyền thông Theo cơ chế tác động của TTĐC, thì chủ thể truyền thông được hiểu là nhà truyền thông, nguồn phát, bao gồm: cơ quan chủ quản, quản lý; đội ngũ những người làm báo; sản phẩm chứa đựng nội dung thông tin hướng đến và tác động và CC đại chúng
Năm 1946, lần đầu tiên thuật ngữ TTĐC được dùng trong Lời nói đầu của Hiến chương Liên hiệp quốc tế về văn hóa, khoa học và giáo dục và trở nên thông dụng khi BC, nhất là phát thanh và truyền hình phát triển ngày càng mạnh
mẽ, rộng rãi
Với cách nhìn nhận của BC học về TTĐC, Nguyễn Văn Dững đưa ra định nghĩa khá đầy đủ, nêu lên được bản chất của TTĐC, từ các yếu tố cấu
Trang 29thành cho đến mục đích hoạt động: “TTĐC có thể được hiểu là hệ thống (hoặc mạng lưới, tùy theo mô hình tổ chức - hoạt động) các phương tiện truyền thông hướng thông điệp tác động vào đông đảo CC xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm, nhằm lôi kéo và tập hợp, giáo dục, thuyết phục
và tổ chức đông đảo CC xã hội và nhân dân nói chung tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội đã và đang đặt ra” [13, tr.41]
Điều này có nghĩa là TTĐC tác động đến ý thức CC xã hội, ý thức quần chúng Việc phân tích ý thức quần chúng trong hệ thống tri thức về truyền thông phản ánh sự tương tác của các yếu tố: Thế giới quan, nhân sinh quan, ý thức lịch sử văn hóa và dư luận xã hội
Nghiên cứu về khoa học BC quan tâm đến việc hình thành nên các sản phẩm truyền thông Sản phẩm truyền thông là kết quả tổng hợp của các quá trình xã hội gồm: Thiết kế xã hội truyền thông, thông điệp BC, kênh truyền, đối tượng tiếp nhận và hiệu quả đạt được
Ở góc độ xã hội học, TTĐC được hiểu như là một quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội, quá trình này được thực hiện thông qua các phương tiện TTĐC như: báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử
Theo quan điểm xã hội học, TTĐC diễn ra như một quá trình xã hội gồm các yếu tố cơ bản: Người nói (những nhà truyền thông, người cung cấp thông tin); Công chúng (người được cung cấp tin, người nhận); Người nói và người nghe (nói với nhau bằng thông điệp, điều người ta nói hay gọi là nội dung thông tin); Kênh (phương tiện kỹ thuật nhờ đó có thể truyền thông tin) Những yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Mai Quỳnh Nam cho rằng: "TTĐC còn được hiểu là giao tiếp đại chúng Đó là quá trình truyền bá với số lượng lớn nội dung giống nhau cho những cá nhân và những nhóm đông người trong xã hội, dựa vào kỹ thuật truyền bá tập thể gọi là media" [35]
Trang 30Trần Hữu Quang cũng có suy nghĩ tương tự: "Nói một cách đơn giản, TTĐC là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong
xã hội thông qua các phương tiện TTĐC như báo chí, phát thanh, truyền hình…" [47, tr.16]
Dựa trên các quan điểm đã nêu, chúng ta có thể thấy rằng TTĐC vừa là nhu cầu vừa là thành tựu của sự phát triển xã hội loài người Đây là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm 03 yếu tố cấu thành: hoạt động truyền thông, những người làm công tác truyền thông và CC Với TTĐC, thông tin được truyền đến số đông CC một cách nhanh chóng, đều đặn, gián tiếp thông qua các phương tiện truyền tải (báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng…) Ngoài ra, hệ thống TTĐC phải hướng tới các đối tượng CC nói chung và các nhóm CC cụ thể Nói về vị trí, ý nghĩa của TTĐC trong đời sống xã hội, Trần Ngọc Tăng nhận xét: "TTĐC gắn liền với xã hội hiện đại Nó vừa là sản phẩm của xã hội hiện đại, vừa là điều kiện tồn tại của xã hội hiện đại" [57, tr.73]
1.1.1.4 Báo chí
Báo chí là một loại TTĐC có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và có vai trò to lớn trong sự phát triển của nhân loại, nhưng đây cũng là hiện tượng xã hội đa nghĩa, phức tạp Trong lịch sử hình thành và phát triển của BC thế giới cũng như Việt Nam đã tồn tại rất nhiều ý kiến xoay quanh khái niệm này
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là những nhà tư tưởng vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới, những người đặt nền móng cho lý luận BC cách mạng;
họ khẳng định và đánh giá cao vai trò tích cực của BC, nhất là trong xã hội
có giai cấp; các giai cấp trong xã hội, đặc biệt là giai cấp thống trị lấy BC làm công cụ sắc bén trong cuộc đấu tranh thu hút lực lượng, giành chính quyền và bảo vệ quyền lực C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra khái niệm về BC: "Xét theo xứ mệnh của nó, BC là người bảo vệ của xã hội, là người tố cáo không mệt mỏi những nhà cầm quyền, là con mắt ở khắp mọi nơi, là tiếng nói rộng rãi của tinh thần nhân dân đang hăng hái gìn giữ quyền tự do của mình" [52, tr.313]
Trang 31Trong cuốn "Cơ sở lý luận Báo chí", Nguyễn Văn Dững đưa ra khái niệm: "BC là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế… [13]
Còn tác giả Đức Dũng trong cuốn "Viết báo như thế nào?" lại khẳng định: "BC là một hình thái ý thức - xã hội, lấy hiện thực khách quan làm đối tượng để phản ánh Thông tin trong BC là một quá trình liên tục, xuyên suốt trong mối quan hệ trực tiếp giữa nhà báo - tác phẩm BC - CC BC" [8, tr.9]
Trong Chương I, Điều 3 của Luật Báo chí năm 2016, thuật ngữ "báo chí" được giải thích như sau: "BC là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn
đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo CC thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử" [50]
Như vậy, có thể hiểu BC là hoạt động thông tin giao tiếp xã hội, nhằm thông tin về những sự kiện, thời sự đã và đang diễn ra cho một đối tượng nhất định và xuất bản định kỳ, đều đặn BC là phương tiện thông tin đại chúng, là phương tiện đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng văn hóa
1.1.1.5 Công chúng và công chúng báo chí
Công chúng (audience) là một bộ phận quan trọng của quá trình truyền thông; là đối tượng tác động của TTĐC, là người tiếp nhận thông điệp và có những ảnh hưởng trở lại nhất định đối với nguồn cung cấp thông tin Theo Trần Hữu Quang: "CC là một tập hợp xã hội được cấu thành một cách phức tạp bởi nhiều giới, nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, và mỗi người đều đang sống trong những mạng lưới xã hội và những mối quan hệ xã hội nhất định" [49, tr.26]
Công chúng BC là khái niệm để chỉ người đọc, người nghe, người xem các sản phẩm của các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử
Họ có thể là đại chúng, một nhóm đối tượng hay một cá thể nhất định tiếp nhận thông tin từ các loại hình BC Như vậy, trên khía cạnh xã hội, CC là lực
Trang 32lượng quan trọng, quyết định vai trò, vị thế, sức mạnh của cơ quan BC và luôn được các cơ quan BC hướng vào để cung cấp, trao đổi thông tin, thuyết phục gây ảnh hưởng nhằm lôi kéo, thu phục vào phạm vi ảnh hưởng của mình Khi viết bài về TTĐC, Mai Quỳnh Nam cho rằng: "CC BC là một tập hợp xã hội rộng lớn, thậm chí ở họ không có mối liên hệ nào…" [34]
Ở góc độ khác, CC BC và cơ quan BC còn có quan hệ biện chứng, tác động mạnh mẽ, bổ trợ nhau trong quá trình trao đổi, kiểm chứng, sàng lọc thông tin Nguyễn Văn Dững quan niệm: "CC BC là đối tác của cơ quan BC, là nguồn cung cấp dữ liệu và nguồn nuôi dưỡng BC Sản phẩm BC nào, từ báo in, phát thanh, truyền hình hay báo mạng điện tử, CC, nhóm đối tượng tham gia càng nhiều bao nhiêu, uy tín và năng lực tác động của nó càng cao bấy nhiêu" [9]
Từ nhận định của các nhà nghiên cứu, có thể đi đến một cách hiểu chung về
CC BC như sau: "CC BC là đối tượng mà các các cơ quan BC (báo in, báo hình, phát thanh, báo mạng, báo chí trên thiết bị di động) hướng vào để tác động, nhằm lôi kép, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình Đồng thời, CC còn tương tác trở lại, tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm - phát tán thông tin, giám sát, quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm BC - truyền thông" Như vậy, CC BC không chỉ là đối tượng tác động, đối tượng thuyết phục, lôi kéo mà còn là chủ thể tham gia tích cực, là lực lượng đánh giá, giám sát và cổ vũ động viên mọi hoạt động của BC Vì vậy, nghiên cứu CC và quá trình tiếp nhận thông tin của họ sẽ giúp cơ quan BC tìm ra những căn cứ cụ thể để xây dựng nội dung, cách thức truyền tải thông tin phù hợp với đối tượng phục vụ của mình
1.1.1.5 Báo in và công chúng báo in
- Báo in là một trong những loại hình của BC, là phương tiện truyền thông
không thể thiếu của đời sống xã hội Có nhiều quan niệm khác nhau về báo in
Nguyễn Văn Dững cho rằng "Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký hiệu chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các vấn
đề sự kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định" [13, tr.102]
Trang 33Luật Báo chí năm 2016, tại Điều 3, Mục 3 giải thích về báo in như sau:
"Báo in là loại hình BC sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in" [50]
Hiểu một cách đơn giản nhất, báo in là một loại hình BC, chuyển tải nội dung các vấn đề, sự kiện bằng văn bản, chữ viết, ký tự, hình ảnh thông qua trang giấy cung cấp thông tin cho độc giả
Công chúng báo in là một tập hợp xã hội rộng lớn bao gồm tất cả các
nhóm đối tượng, các tầng lớp nhân dân hay một cá thể nhất định đang sinh sống và làm việc tại nhiều nơi khác nhau nhưng cùng tham gia vào quá trình tuyên truyền với vai trò là người theo dõi, tiếp nhận và phản hồi thông tin trên các sản phẩm báo in Tuy nhiên, tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình mà các Tòa soạn báo chia CC thành những nhóm đặc thù để xây dựng kế hoạch, chiến lược nhằm thu hút nhóm đối tượng CC mục tiêu của mình
1.1.1.6 Báo c í Quân đội, Báo Quân khu 9 và Báo in Quân khu 9
- Báo c í Quân đội là hệ thống báo in, báo phát thanh, báo truyền hình,
báo mạng điện tử của Quân đội có yếu tố liên hệ với nhau, có cơ quan chủ quản trong Quân đội bao gồm: Báo QĐND, Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quốc phòng Việt Nam, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Điện ảnh QĐND, Báo Điện tử Quốc phòng, Thông tấn Quân sự, Báo Biên phòng, Báo Quốc phòng Thủ đô, Báo các Quân khu 1,2,3,4,5,7,9, Báo Phòng không - Không quân, Báo Hải quân Việt Nam và các tạp chí trực thuộc các tổng cục, các cục chuyên ngành, các trung tâm, viện nghiên cứu khoa học, các học viện trường sĩ quan BC Quân đội có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quy định, quy chế riêng của Quân đội, phản ánh các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần xây dựng chế độ XHCN dân chủ, công bằng, văn minh và tiến bộ BC Quân đội đều được phát hành, phát sóng định kỳ và nhất quán về mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ tuyên truyền
- Báo Quân khu 9 là một bộ phận trong hệ thống BC Quân đội, hoạt động
dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh QK9, thực hiện chức năng
Trang 34thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các hoạt động của LLVT QK theo quy định của pháp luật, của Luật Báo chí và quy định của Quân đội Báo QK9 thực hiện 03 loại hình BC: Báo in; Báo hình (còn gọi là Chương trình truyền hình Quốc phòng toàn dân QK9); Báo nói (còn gọi là Chương trình Phát thanh Quốc phòng toàn dân QK9)
- Báo in QK9 là một bộ phận trong hệ thống BC nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam, là cơ quan ngôn luận của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh QK9, tiếng nói của cán bộ, chiến sĩ LLVT và nhân dân khu vực ĐBSCL về nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong LLVT QK9 Cùng với báo nói, báo hình QK9, Báo in QK9 hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh QK, trực tiếp là Đảng ủy - Ban Chủ nhiệm Chính trị QK; thực hiện chức năng thông tin, tuyên tuyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và mọi hoạt động của LLVT QK theo quy định của pháp luật, của Luật BC và quy định của Quân đội
1.1.1.7 Công chúng quân nhân, công chúng quân nhân Quân khu 9
- Công chúng quân nhân QĐND Việt Nam bao gồm bộ đội chủ lực và
bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng 450.000 sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp (QNCN), hạ sĩ quan - binh sĩ (HSQ-BS), dân quân tự vệ đang công tác tại Bộ Tổng Tham mưu, 5 Tổng cục (Tổng cục Chính trị, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục Tình báo), Bộ Tư lệnh Thủ đô và 7 Quân khu, 3 quân chủng, 6 binh chủng, 4 quân đoàn và một số cơ quan chức năng trực thuộc Ngoài ra còn có khoảng 5 triệu quân nhân dự bị tại các địa phương để bổ sung tăng cường cho lực lượng thường trực của Quân đội khi có nhu cầu Các lực lượng này đồng thời cũng
là công chúng mục tiêu của các cơ quan BC Quân đội
- Công chúng quân nhân QK9 là toàn thể nhân dân và cán bộ, HQS-BS,
QNCN, công nhân viên chức, lao động quốc phòng, dân quân tự vệ, dự bị động viên khu vực ĐBSCL Tuy nhiên, trên thực tế, công chúng Báo in QK9
Trang 35chủ yếu tập trong vào cán bộ, chiến sĩ, QNCN, công nhân viên chức, lao động quốc phòng của các cơ quan, đơn vị trong LLVT QK và đội ngũ cán bộ quân
sự cấp ấp, xã, phường, thị trấn trở lên của 12 tỉnh, thành trên địa bàn QK
- Quân nhân trong QĐND Việt Nam là công dân nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam phục vụ tực tiếp trong Quân đội, được nhân dân giao cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
- Sĩ quan QĐND Việt Nam (sau đây gọi là sĩ quan) là cán bộ của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, được Nhà nước phong quân hàm cấp úy, cấp tá, cấp tướng Sĩ quan đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý hoặc trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ khác, bảo đảm cho Quân đội sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao
- Quân nhân chuyên nghiệp là công dân Việt Nam có trình độ chuyên
môn kỹ thuật, nghiệp vụ phục vụ trong QĐND, được tuyển chọn, tuyển dụng theo chức danh và được phong quân hàm QNCN
- Hạ sĩ quan - bin sĩ là công dân đang phục vụ trong lực lượng thường
trực của QĐND và lực lượng Cảnh sát biển
- Bộ đội chủ lực là thành phần nòng cốt của QĐND Việt Nam gồm lực
lượng cơ động của các quân đoàn, quân chủng, binh chủng như: Lục quân, Phòng không - Không quân, Hải quân, Tăng - Thiết giáp, Công binh
- Bộ đội địa p ơn là lực lượng cơ động tác chiến chủ yếu trên địa bàn địa
phương, cùng dân quân tự vệ làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân tại địa phương, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh (thành phố) trực thuộc trung ương và Ban Chỉ huy quân sự huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) Bộ đội địa phương gắn bó chặt chẽ với khu vực phòng thủ chung của quân khu và của cả nước và có các đơn vị chuyên môn, kỹ thuật, các đơn vị phòng không, pháo binh, trinh sát, đặc công, công binh và các đơn vị bảo đảm khác
- 4 cơ quan Quân khu bao gồm Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Kỹ
thuật, Cục Hậu cần là các cơ quan tham mưu, giúp việc cho Đảng ủy - Bộ Tư
Trang 36lệnh Quân khu 9 chỉ đạo, tiến hành các mặt như: tác chiến, huấn luyện, xây dựng chiến lược quốc phòng, khu vực phòng thủ trên địa bàn (Bộ Tham mưu); công tác Đảng, công tác chính trị, công tác cán bộ, tuyên huấn, tổ chức đảng, dân vận, an ninh chính trị nội bộ (Cục Chính trị); bảo đảm vật chất, bảo đảm sinh hoạt, quân y, vận tải, xăng dầu, quân nhu, doanh trại (Cục Hậu cần); sửa chữa, bảo dưỡng bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật cho huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và một số nhiệm vụ đột xuất của Quân khu (Cục Kỹ thuật)
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận nghiên cứu
Trong nghiên cứu khoa học (nhất là khoa học xã hội), lý thuyết không chỉ là công cụ mà còn là kết quả, tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng của một công trình nghiên cứu Nghiên cứu trong chuyên ngành BC học thuộc khoa học xã hội là nghiên cứu có tính chất liên ngành, do đó nghiên cứu cần phải tiếp cận từ nhiều lý thuyết khác nhau để luận giải các vấn đề do thực tế đặt ra
Vì vậy, nghiên cứu quan hệ giữa Báo in QK9 với CCQN QK9 là hướng nghiên cứu liên ngành, được tiếp cận theo nhiều chiều hướng lý thuyết khoa học nhằm trả lời câu hỏi "Nhóm CC mục tiêu của Báo in QK9 gồm những nhóm đối tượng nào?" và "Nghiên cứu quan hệ giữa Báo in QK9 với quân nhân QK9 nhằm mục đích gì?" để kiểm tra đánh giá hiệu quả việc đầu tư cho hoạt động của Báo in QK9 đồng thời đề xuất các biện pháp điều chỉnh phù hợp với mong muốn của CCQN QK9
1.1.2.1 Lý thuyết báo chí truyền thông
Trong suốt một thế kỷ qua, TTĐC đã trở thành một trong những đối tượng quan tâm hàng đầu của các giới nghiên cứu khoa học xã hội trên thế giới, kể từ khi phương tiện TTĐC đầu tiên (báo chí) bắt đầu thâm nhập vào đời sống dân chúng hàng ngày ở châu Âu, cho tới khi hiện tượng TTĐC (BC cùng với phát thanh, truyền hình…) trở thành một một hiện tượng độc đáo và
có ảnh hưởng to lớn tại hầu hết các quốc gia trên thế giới
Lý thuyết BC truyền thông là cách để khái niệm hóa các mối quan hệ giữa các phương tiện TTĐC và CC, các nhà truyền thông đã cố gắng mô tả quá trình
Trang 37giao tiếp trong một nỗ lực để hiểu được bản chất và mức độ ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông Tất cả các nghiên cứu truyền thông đều nhấn đến trọng tâm là tìm hiểu các nội dung thông tin truyền tải và các nội dung thông tin
đó ảnh hưởng đến như thế nào đến thái độ, ý kiến, cảm xúc và hành vi của CC tiếp nhận
Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, bao gồm các yếu tố: Nguồn tin, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận, hiệu quả, phản hồi và nhiễu Do đó, để nghiên cứu nắm bắt đặc thù tâm lý tiếp nhận của nhóm đối tượng cụ thể để có thể thiết kế thông điệp phù hợp với CC, nghiên cứu sử dụng mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon - (một nhà toán học, kỹ sư điện tử, mật mã học người Mỹ) để phân tích thông điệp trong
sự tương quan biện chứng giữa các yếu tố của chu trình truyền thông Mô hình truyền thông hai chiều được Claude Shannon đưa ra năm 1949 gồm các yếu tố truyền thông:
S (Source, Sender): Nguồn phát, chủ thể truyền thông; M (Messgage); Thông điệp, nội dung truyền thông; C (Channel): Kênh truyền thông; R (Recceiver): Người nhận thông điệp, đối tượng; E (Effect): Hiệu quả truyền thông; N (Noise): Nhiễu (yếu tố gây ra sai số cản trở thông điệp); F (Feedback) phản hồi
Trang 38Trên nền tảng này, nghiên cứu sử dụng sơ đồ để thấy rõ được tiến trình truyền thông điệp: Thông tin được truyền từ nguồn phát (S) là Báo QK9, thông qua kênh truyền (C) là Báo in QK9, tới người nhận (R) là CCQN QK9
và qua các nội dung thông tin (M) dẫn đến phản hồi của CCQN (F) trở lại nguồn phát Chính yếu tố phản hồi (F) sẽ giúp cho nguồn phát (Báo QK9) biết được nội dung thông tin đến với CCQN đạt hiệu quả ra sao? CC có nhu cầu tiếp nhận thông tin như thế nào? Từ đó, Báo QK9 có thể điều chỉnh nội dung, hình thức tờ báo in cho phù hợp với nhóm CC mục tiêu của mình Tuy nhiên, quá trình truyền tải thông điệp đến với CCQN còn bị tác động bởi yếu tố nhiễu (N) Trong mô hình này, hiệu quả của thông tin trên Báo in QK9 có thể xem xét theo 2 hướng: hướng thứ nhất là cán bộ, chiến sĩ hiểu, tiếp nhận đúng, tin và học theo những thông tin mà tờ báo muốn chuyển tải, từ đó xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, luôn thể hiện ý chí quyết tâm, năng động, sáng tạo, phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống trong sạch lành mạnh, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ; hướng thứ hai là hạn chế, do nhiều nguyên nhân khách quan mà các thông tin đến với cán bộ, chiến sĩ chưa được rõ ràng, còn chung chung khiến CCQN hiểu chưa đầy đủ tùy theo cách thức mà Báo QK9 truyền gửi thông tin
Như vậy, nghiên cứu BC học về TTĐC là nghiên cứu về đối tượng và
cơ chế tác động của TTĐC; các chức năng xã hội cơ bản của TTĐC; các nguyên tắc cơ bản của hoạt động TTĐC; các phương tiện, kênh TTĐC; nghiên cứu về hiệu quả của TTĐC… Trong các lĩnh vực nghiên cứu kể trên, hướng nghiên cứu đối tượng tác động của TTĐC có ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết trong hoạt động của TTĐC
1.1.2.2 Lý thuyết xã hội học truyền ôn đại chúng
Trong lĩnh vực xã hội học, TTĐC được nghiên cứu như một quá trình
xã hội, các phương tiện TTĐC được khảo sát và phân tích dưới góc độ định chế xã hội Hay nói ngắn gọn như Alphons Silbermann, một trong những
Trang 39nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành xã hội học trong lĩnh vực này là tìm cách làm sáng tỏ mối hệ giữa TTĐC và xã hội (tác động của TTĐC với xã hội như thế nào và ngược lại) Và người ta không thể bắt tay vào việc này nếu không
có một lốì tiếp cận mang tính chất liên ngành
Lý luận xã hội học về TTĐC xem TTĐC diễn ra như một quá trình xã hội và các phương tiện TTĐC được khảo sát và phân tích dưới góc độ định chế xã hội [47, tr.34] Trong quá trình đó có sự tương tác giữa nguồn tin - thông điệp - công chúng Các quan điểm lý thuyết được vận dụng bao gồm: quan điểm lý thuyết cơ cấu - chức năng của R.Merton áp dụng vào nghiên cứu TTĐC; quan điểm về mô hình truyền thông; lý thuyết về cơ chế tác động giữa TTĐC và truyền thông liên cá nhân, lý thuyết về quan hệ giữa TTĐC và dư luận xã hội
Nghiên cứu xã hội học về TTĐC, người ta thường phân biệt mấy lĩnh vực nghiên cứu TTĐC chính như sau: nghiên cứu về CC của các phương tiện TTĐC (khảo sát về các đặc điểm và ứng xử của các giới độc giả và khán thính giả của BC, phát thanh, truyền hình); nghiên cứu về các tổ chức truyền thông
và về hoạt động của các nhà truyền thông; phân tích nội dung các thông điệp truyền thông (bao gồm hai phương pháp chính là phương pháp phân tích thực nghiệm, và phương pháp phân tích tín hiệu học); nghiên cứu về ảnh hưởng hay tác động xã hội của các phương tiện TTĐC
Trong số các lĩnh vực nghiên cứu đó, thì những công trình nghiên cứu
về CC của các phương tiện TTĐC thường luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu Trong lĩnh vực này, người ta thường nhắc tới mô hình chu kỳ truyền thông với dạng đường vòng tròn khép kín được nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson phác thảo một cách khá hoàn chỉnh Trong đó, quá trình truyền thông liên cá nhân bao gồm bốn giai đoạn chính như sau: phát tin (emission), truyền tin (transmission), nhận tin (reception), và phản hồi (feedback) Đặc điểm của mô hình truyền thông theo chu kỳ này quan niệm rằng: một thông điệp, sau khi được phát ra, luôn luôn gây ra một phần ứng nào đó về phía người nhận tin,
Trang 40và do đó, người nhận tin sẽ có một thông điệp phản hồi (gọi là feedback) gởi
về lại cho người phát tin ban đầu Lúc này, người nhận tin sẽ trở thành một người phát tin - điều này làm cho quá trình truyền thông trở thành một chu kỳ khép kín Như vậy, quá trình truyền thông liên cá nhân thực chất phải được hiểu như là một quá trình trao đổi thông tin giữa cá nhân này với cá nhân khác trong cuộc sống xã hội Và nghiên cứu công chúng sẽ chỉ ra cho nhà truyền thông cách thức, phương pháp, nội dung cần thiết để xây dựng và chuyển tải các thông điệp tới công chúng hiệu quả nhất
1.1.3 Vị trí, ý nghĩa và các vấn đề của nghiên cứu công chúng
Nghiên cứu CC là hoạt động vô cùng quan trọng mà nhiều cơ quan BC đã không thấy rõ vai trò của nó trong chiến lược phát triển của mình Đó là công cụ
hỗ trợ cho mỗi cơ quan BC hiểu rõ hơn độc giả, khán giả, thính giả của mình, trên cơ sở đó đặt ra chiến lược đúng đắn để phát triển các sản phẩm BC của mình Một khi cơ quan BC đã đi đúng hướng, thì hoạt động kinh doanh, marketing của nó cũng được đảm bảo hiệu quả Bởi một chương trình truyền hình, phát thanh hay tờ báo muốn tồn tại lại phải đem đến những thông tin mà độc giả, khán - thính giả cần chứ không phải đưa ra những gì mình có Chính vì thế, nghiên cứu công chúng BC luôn là yếu tố cần thiết để tạo nên sự thành công của bất cứ cơ quan BC nào