1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt đền trần thương ở tỉnh hà nam hiện nay

123 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của di tích lịch sử trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập của đất nước, nhiều năm qua Đảng đã khẳng định giá trị và xác định rõ nhiệm vụ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ HOÀI THU

TUYÊN TRUYỀN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT -

- ĐỀN TRẦN THƯƠNG Ở TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY

Ngành : Chính trị học

Mã số : 60 31 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Đoàn Thị Minh Oanh

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2017

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS.TS Phạm Huy Kỳ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các số liệu và luận cứ nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn

Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hoài Thu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ 10

1.1 Giá trị văn hóa của di tích lịch sử và tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị của di tích 10

1.2 Các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử 20

1.3 Sự cần thiết phải tăng cường tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử 29

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG TUYÊN TRUYỀN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA DI TÍCH ĐỀN TRẦN THƯƠNG Ở TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY 35

2.1 Đền Trần Thương tỉnh Hà Nam và các yếu tố ảnh hưởng đến tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của Đền 35

2.2 Thực trạng tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích Đền Trần Thương ở tỉnh Hà Nam 49

2.3 Một số bất cập trong tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích Đền Trần Thương hiện nay 74

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TUYÊN TRUYỀN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA DI TÍCH ĐỀN TRẦN THƯƠNG TỈNH HÀ NAM ĐẾN NĂM 2025 79

3.1 Phương hướng tăng cường tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích đền Trần Thương tỉnh Hà Nam hiện nay 79

3.2 Giải pháp tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích Đền Trần Thương tỉnh Hà Nam đến năm 2025 83

KẾT LUẬN 97

PHỤ LỤC 103

TÓM TẮT LUẬN VĂN 117

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ

mọi người chưa?

57

truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa di tích lịch

sử

62

truyên truyền trong bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa di tích lịch sử quốc gia đặc biệt đền Trần Thương không đạt hiệu quả mong muốn

71

Biểu đồ 2.1 Những nội dung tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa của văn hóa di tích lịch sử quốc gia đặc biệt đền Trần Thương cho người dân từ đâu

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCV Báo cáo viên

CNH - HDH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

DSVH Di sản văn hóa DTLSVH Di tích lịch sử văn hóa KT- XH Kinh tế - xã hội

LSVH Lịch sử văn hóa TTV Tuyên truyền viên

UBND Ủy ban nhân dân VH-TT Văn hóa – tư tưởng

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam, mảnh đất của di tích, từ miền núi, đồng bằng tới hải đảo đâu đâu cũng có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã

khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân

tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”

Nhận thức được tầm quan trọng của di tích lịch sử trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập của đất nước, nhiều năm qua Đảng đã khẳng định giá trị và xác định rõ nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa:

“Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản

sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông

để lại” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng

khóa VIII) Hà Nam nằm về phía Tây Nam châu thổ sông Hồng, là mảnh đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng, có bề dày lịch sử - được tái lập năm

1997 sau 32 năm hợp nhất với tỉnh Nam Định, Ninh Bình Nguyên đất Hà Nam thời các vua Hùng nằm trong quận Vũ Bình thuộc bộ Giao Chỉ, sau được đổi thành châu Lý Nhân thuộc lộ Đông Đô thời nhà Trần Trong các triều đại, nhà Trần là triều đại hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, mà còn được biết đến bởi kho tàng quý giá gồm 1655 di lích lịch sử văn hóa, nhiều

lễ hội truyền thống đặc sắc còn được gìn giữa đến hiện nay

Trang 8

Trong hệ thống di tích, Đền Trần Thương nằm ở thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam là nơi được Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn chọn làm sinh phần (tức gửi gắm phần mộ khi còn sống) sau khi đánh thắng quân Nguyên - Mông xâm lược lần thứ 2 (năm 1285) Vị trí của đền Trần Thương thuận tiện cho việc giao lưu, từ đây theo sông Hồng lên Kinh thành Thăng Long xưa (Thủ đô Hà Nội ngày nay), hoặc xuôi dòng ra biển, theo các tuyến đường bộ sang các tỉnh lân cận và các địa phương trong tỉnh Tuy nhiên, thực tế cho thấy do ảnh hưởng của thời gian, khí hậu, với công việc phát triển du lịch chưa khoa học, ý thức của người dân chưa cao khi du lịch đã làm di tích bị xuống cấp Vì vậy, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích thật sự là bài toán không dễ giải quyết

Thời gian qua, do nhận thức được vai trò cũng như tầm quan trọng của của

di tích và công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích, Đảng bộ, chính quyền và nhiều ban ngành, đoàn thể ở tỉnh Hà Nam đã tích cực triển khai sâu rộng tuyên truyền với nhiều nội dung, hình thức, phương pháp khác nhau và thu được một số thành tựu đáng kể Tuy nhiên, do các nguyên nhân chủ quan, khách quan

mà công tác tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích đền Trần Thương tỉnh Hà Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập và hiệu quả chưa cao Phát huy hơn nữa các điều kiện thuận lợi và những thành tựu đạt được, đồng thời khắc phục những hạn chế, thiếu sót để tăng cường hiệu quả tuyên truyền thực sự là một yêu cầu quan trọng nhằm phục vụ cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích đền Trần Thương tỉnh Hà Nam Do vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề

“Tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt - Đền Trần Thương ở tỉnh Hà Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ chính trị

học, chuyên ngành Quản lý hoạt động tư tưởng – văn hóa

2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài

Trong thời gian đã qua có một số đề tài, bài viết nghiên cứu về công tác tư

di tích đặc biệt quốc gia với quy mô, góc độ, phạm vi, thời gian khác nhau

Trang 9

* Nhóm tài liệu nghiên cứu cơ bản về công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền

Từ góc độ công tác tư tưởng có thể khẳng định công tác tuyên truyền là hoạt động trọng yếu trong công tác Đảng trên mặt trận tư tưởng văn hóa, do vậy

đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhất là cán bộ tư tưởng Đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về công tác tuyên truyền được xuất bản thành sách và công bố trên nhiều tạp chí, báo khác nhau

Có thể kể ra như sau:

- PGS.TS Lương Khắc Hiếu (chủ biên), giáo trình Nguyên lý Công tác tư

tưởng, Nxb Chính trị quốc gia, 2008 Giáo trình gồm 2 tập, trong đó tập 1 đã

làm rõ các vấn đề thuộc về bản chất, chức năng, nguyên tắc, phương châm của công tác tư tưởng, vai trò của nó trong sự nghiệp đổi mới đất nước và những nội dung cơ bản của công tác giáo dục tư tưởng; tập 2 đã trình bày những vấn đề thuộc về phương pháp, hình thức, phương tiện công tác tư tưởng và trình bày các vấn đề thuộc về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng Đây là tài liệu tham khảo hữu hiệu cho tác giả cũng như các cán bộ hoạt động thực tiễn trong ngành tư tưởng - văn hóa

- Giáo trình Nguyên lý tuyên truyền của khoa Tuyên truyền, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền biên soạn đề cập tới những vấn đề cơ bản nhất của công tác tuyên truyền, là tài liệu nghiên cứu quan trọng cung cấp kiến thức nền cho tác giả khi nghiên cứu đề tài luận văn này

- Bùi Phương Dung (Trung Quốc): Công tác tuyên truyền tư tưởng trong

thời kỳ đổi mới, Trần Khang và Lệ Cự Lộc dịch, Nxb Chính trị quốc gia, 2005

Cuốn sách chủ yếu phân tích khái niệm công tác tư tưởng và phương thức, phương pháp, loại hình cơ bản của công tác điều tra, nghiên cứu thông tin và xây dựng đội ngũ những người làm công tác tuyên truyền tư tưởng

- PGS.TS Hoàng Quốc Bảo với cuốn sách Học tập phương pháp tuyên

truyền cách mạng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, 2008 Sinh thời Chủ

tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác tư tưởng vì thế những quan điểm

Trang 10

của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền đã trở thành hành trang, phương pháp luận quý báu để Đảng ta, đội ngũ làm công tác tuyên truyền nâng cao chất lượng công tác này lên một tầm cao mới Vì thế, cuốn sách là tài liệu tham khảo nghiên cứu tốt cho đề tài

Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học khác

Có thể nói, các nghiên cứu này đã xây dựng một hệ thống lý thuyết khá hoàn chỉnh về công tác tuyên truyền Tuy nhiên, những bài viết, những công trình nghiên cứu về một vấn đề cụ thể như đề tài tác giả chọn thì chưa nhiều

* Nhóm tài liệu về đề tài lịch sử và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa

Các di tích văn hóa là tài sản của dân tộc và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích là một hoạt động quan trọng nhằm góp phần xây dựng “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”, do vậy có rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã quan tâm về vấn đề này Một số tác giả và công trình tiêu biểu như:

- GS.TS Hoàng Vinh, Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn

hoá dân tộc, năm 1997 Trên cơ sở những quan niệm DSVH của quốc tế và

Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về DSVH, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu DSVH nước ta Năm 2002, Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành được coi là văn bản pháp quy về DSVH

- PGS.TS Phạm Duy Đức (chủ biên), Phát triển văn hóa Việt Nam giai

đoạn 2011-2020 - Những vấn đề phương pháp luận, Nxb Chính trị Quốc gia,

2009, nghiên cứu vấn đề phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 trên

cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nội dung quan trọng nhằm phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa Việt Nam và thực trạng lãnh đạo, quản lý văn hóa của Đảng và Nhà nước; chỉ rõ các mối quan hệ giữa văn hóa và các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng văn hóa chính trị; đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp có tính chất đột phá để phát triển nên văn hoá dân tộc trong thập kỷ tới Do vấn đề nghiên cứu có tính chất dự báo, mang tầm chiến lược, góp phần vào việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển văn

Trang 11

hóa của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn 2011 - 2020 nên đã tiếp cận văn hóa từ bình diện lý luận - chính trị; quán triệt sâu sắc quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển văn hóa;

kế thừa và phát huy một cách sáng tạo quan điểm, đường lốì, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước ta; tiến hành tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam (từ năm 1986 đến nay), đánh giá những mặt mạnh và hạn chế, chỉ rõ những nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan của các thành tựu và hạn chế đó Qua đó, xây dựng được tầm nhìn có ý nghĩa chiến lược mang tính hệ thống và toàn diện về phát triển văn hóa, dự báo xu thế, xác định mục tiêu, quan điểm, định huống, nội dung, nhiệm vụ và những giải pháp

có tính đột phá để xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; đề xuất các kiến nghị cụ thể về nội dung cần bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và nội dung của Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng

Quản lý văn hóa, nghệ thuật, Trường đại học văn hóa Hà Nội, 2014) Trong tài liệu này có đề cập tới tổng quan hệ thống về di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương (xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Qua đó làm nổi bật giá trị lịch sử văn hóa của đền Trần Thương và chỉ rõ ảnh hưởng của nó đối với đời sống nhân dân trong vùng Đây là tài liệu tham khảo trực tiếp đối với đề tài

- Tam Mai với bài viết Đền Trần thương bảo tồn và phát huy giá trị (Tạp

chí Văn hóa, thể thao và du lịch Hà Nam số 2/2016) Bài viết là một trong số ít những tài liệu có liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị, cung cấp cho đề tài những tri thức bổ ích về thực trạng di tích lịch sử đền Trần Thương trong thời gian gần đây

- Mai Khánh với bài viết Đền Trần Thương – Lịch sử và lễ hội (Tạp chí

Văn hóa, thể thao và du lịch Hà Nam số 1/2016) Thông qua bài viết có thể giúp tác giả nhận diện một số vấn đề lý luận về di tích và giá trị văn hóa các di tích

Trang 12

- Thu Hằng với bài viết Hà Nội thiết thực kỷ niệm Ngày Di sản văn hóa

Việt Nam (www Tuyên Giáo, ngày 16/11/2016) Thông qua bài viết có thể giúp

tác giả một số lý luận về Luật Di sản văn hóa trong thời gian gần đây

* Nhóm tài liệu tuyên truyền về văn hóa

Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Qua đó có rất nhiều nghiên cứu và bài viết đề cập và tuyên truyền về các giá trị văn hóa khác nhau

- Nguyễn Thị Hải Yến với bài viết Suy nghĩ về công tác tuyên truyền,

giáo dục lối sống văn hóa cho thanh niên Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay

(www.Tuyên Giáo, ngày 26/10/2011)

- Nguyễn Bá Thắng với đề tài Hiệu quả công tác tuyên truyền bảo tồn,

phát huy di sản văn hóa ở Bắc Ninh hiện nay (Luận văn thạc sĩ công tác tư

tưởng, Học viện báo chí – tuyên truyền, 2011)

- Trần Thanh Loan với đề tài Tuyên truyền giá trị của di tích lịch sử căn

cứ địa ATK Định Hóa cho thanh niên tỉnh Thái Nguyên hiện nay (Luận văn thạc

sĩ chính trị học, Học viện Báo chí – Tuyên truyền, 2015)

- Vũ Thanh Thảo với đề tài Công tác tuyên truyền bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa các làng nghề truyền thống của tỉnh Nam Định hiện nay (Luận

văn thạc sĩ chính trị học, Học viện Báo chí – Tuyên truyền, 2015)

- Khánh Huyền với bài viết Tuyên truyền văn hóa giao thông bằng các

loại hình nghệ thuật (www Quân đội nhân dân online, ngày 29/08/2016)

Các nghiên cứu trên đều đi sâu tìm hiểu công tác tuyên truyền về văn hóa, về di tích, về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trở thành nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho tác giả khi nghiên cứu đề tài: tuyên truyền bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa di tích đặc biệt quốc gia Đền Trần Thương tỉnh

Hà Nam Đề tài này khá mới mẻ và không trùng lặp với những nghiên cứu trước đây

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử; luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương, tỉnh Hà Nam trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

Để triển khai đề tài, luận văn cần giải quyết một số nhiệm vụ đó là:

- Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

- Khảo sát, đánh giá thực trạng tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương – tỉnh Hà Nam thời gian vừa qua

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương – tỉnh Hà Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương – tỉnh Hà Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung vào khảo sát thực trạng tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương – tỉnh Hà Nam từ năm 2010 đến nay

- Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương – tỉnh

Hà Nam có giá trị tham khảo đến năm 2025

Trang 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của

di tích; đồng thời có sự kế thừa, vận dụng một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã được công bố ở nước ta

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật, đồng thời sử dụng một số phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng như: phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học …và các phương pháp liên ngành khác

6 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận về tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương – tỉnh Hà Nam

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cấp, các ngành đặc biệt là ngành tư tưởng - văn hóa, du lịch tỉnh

Hà Nam và cán bộ tuyên giáo tỉnh Hà Nam

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Về mặt lý luận

Luận văn góp phần làm sáng tỏ các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích, vai trò của công tác tuyên truyền trong việc thực hiện việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích

7.2 Về mặt thực tiễn

Trong khả năng của mình, tác giả cố gắng phân tích, khái quát và đánh giá công tác tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương tỉnh Hà Nam hiện nay

Trang 15

Bước đầu đề xuất phương hướng, giải pháp góp phần tăng cường công tác tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương tỉnh Hà Nam trong thời gian từ nay đến 2025 Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo các cấp, nhất là lãnh đạo ngành tư tưởng - văn hóa Hà Nam và cán bộ tuyên giáo Hà Nam trong việc xây dựng kế hoạch nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Thương, góp phần làm phong phú, lành mạnh đời sống tinh thần của người dân và phát triển du lịch

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn có 3 chương, 8 tiết

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ

1.1 Giá trị văn hóa của di tích lịch sử và tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị của di tích

1.1.1 Giá trị văn hóa của di tích và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa

di tích

- Văn hóa

Văn hóa là thuật ngữ đa nghĩa, thường được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau Theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của một xã hội, thể hiện trên các mặt vật chất, tinh thần, tri thức và tình cảm, biểu hiện phương thức sống và sự sáng tạo của một dân tộc Ngoài văn học nghệ thuật, văn hóa còn gồm hệ thống giá trị, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo,…

Theo nghĩa chung nhất, văn hóa là hoạt động phát huy những năng lực bẩm sinh và bản chất của con người Đó là năng lực của nhận thức, hiểu biết, sáng tạo Là năng lực tình cảm, cảm xúc, tưởng tượng hướng tới cái chân, thiện,

mỹ Văn hóa là hoạt động của con người, bằng lao động và tri thức, tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần, tạo ra các chuẩn mực của xã hội, được thực hiện qua nhiều hoạt động như giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật,…và trong các đạo đức, lối sống Theo nghĩa đó, văn hóa bao trùm mọi hoạt động của đời sống xã hội, cũng như của mọi cá nhân trong cộng đồng Nó vừa là sản phẩm tinh thần, vừa là sản phẩm vật chất do lao động của con người sáng tạo ra

Văn hóa được hình thành và phát triển trong mối quan hệ giữa con người

và thiên nhiên, giữa con người với con người Trải qua hàng ngàn năm thích nghi và cải tạo tự nhiên, xã hội, những kinh nghiệm mà con người tích lũy được

đã trở thành nền tảng cơ bản cho sự phát triển của văn hóa Như thế có nghĩa là hiểu văn hóa không chỉ bó hẹp trong quan hệ giữa cá nhân gia đình và cộng

Trang 17

đồng mà còn mở rộng trong mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới Văn hóa hình thành trong quá trình tiếp xúc, giao lưu, sàng lọc, cải biến giữa văn hóa bản địa với những nền văn hóa khác Do đó, văn hóa bao giờ cũng thể hiện sự đa dạng, phong phú giao thoa nhưng luôn mang những nét độc đáo của dân tộc, đồng thời bao hàm tiềm ẩn những giá trị chung của nhân loại

Năm 2002, trong Tuyên bố chung về tính đa dạng văn hóa, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:

Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [47]

Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng:

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [41, tr.27]

Từ năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của

nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [30, tr.431]

Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm

do con người sáng tạo ra, trong đó có văn hóa vật thể (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở…), có văn hóa phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật) Những sản phẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản

Trang 18

phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng những giá trị Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng

Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên Trong ý nghĩa rộng nhất:

Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngường: văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét

về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội [31]

- Di tích lịch sử và giá trị văn hóa của di tích

Di tích lịch sử Lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người là

lịch sử của quá trình chinh phục, khai phá tự nhiên, từ săn bắn, hái lượm đến sản xuất của cấp, các cuộc cách mạng xã hội, lập nên chế độ chính trị, dựng nước và giữ nước Xuyên suốt quá trình ấy, con người đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vô cùng phong phú ẩn chứa trong vô vàn những di sản văn hóa còn tồn tại đến ngày nay Trong kho tàng di sản văn hóa này, di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận quan trọng, nó chứa đựng những giá trị truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng của con người trong mỗi quốc gia, đồng thời cũng là minh chứng cho lịch sử đấu tranh của mỗi dân tộc

Di tích lịch sử bao gồm những công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch

sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước, gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước, gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại

Trang 19

Di tích lịch sử liên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp, ảnh hưởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc Đến với di tích lịch sử, khách tham quan như được đọc cuốn sử ghi chép về những con, những sự kiện tiêu biểu, được cảm nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không hề

dễ có được khi chỉ đọc những tư liệu ghi chép của đời sau

- Các tiêu chí đánh giá Di tích quốc gia đặc biệt:

Ðiều 29 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 có đề cập về Di tích quốc gia đặc biệt

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam ;

Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;

Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.”

Thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.”

Giá trị văn hóa của di tích: Giá trị (Value) là một khái niệm của nhiều bộ môn khoa học khác nhau như: toán học, xã hội học, triết học, nghệ thuât, văn hóa học do vậy, trong mỗi bộ môn khoa học, khái niệm này mang những hàm nghĩa khác nhau song có thể hiểu một cách chung nhất: Giá trị là các tư tưởng

Trang 20

bao quát được cùng nhau tin tưởng mạnh mẽ ở một nhóm người, một giai tầng, một dân tộc hoặc một thời đại về cái gì đúng, sai, thiện, ác, xấu, hợp lý, không hợp lý

Giá trị còn được hiểu theo nghĩa sau: Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, là yếu tố cốt lõi nhất của văn hóa Giá trị văn hóa là một hình thái phản ánh và kết tinh đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của con người Cho nên, những quan điểm cho rằng văn hóa hay giá trị văn hóa chỉ là lĩnh vực đời sống tinh thần thôi thì chưa thật thỏa đáng

Giá trị, trước nhất là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của

con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt,

là hay, là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân,

thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Do vậy, giá trị văn hóa

nói ở đây là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con người, sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội

Trong đó, giá trị văn hóa của di tích có thể hiểu là tổng hợp các giá trị

ẩn chứa các công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước, gắn với sự kiện tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến dước sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh Mỗi di tích có những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa lịch sử cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể

Giá trị văn hóa truyền thống: Di tích LSVH là nhịp cầu nối liền quá

khứ với hiện tại và tương lai, có ý nghĩa giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, là điểm tựa tinh thần vững chãi cho sự nghiệp xây dựng quê hương trong thời đại mới

Giá trị văn hóa lịch sử cách mạng: Di tích LSVH là minh chứng hùng

hồn, khẳng định giá trị tinh hoa văn hóa, đạo lý nhân văn, là niềm tự hào về trang sử truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của dân tộc

Trang 21

Giá trị tâm linh: Di tích LSVH dưới góc độ tâm linh thì nó là noi bày tỏ

tâm linh, tình cảm, nguyện vọng, ước nguyện, ước mong của con người Đồng thời nó còn là nơi thể hiện đạo lý biết ơn của con người đối với anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa

Giá trị văn hóa nghệ thuật: Nhiều di tích LSVH là những công trình có

kiến trúc nghệ thuật có giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

Giá trị về kinh tế: Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn (trị giá

nhiều ngàn tỷ đồng) nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà

là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn

có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển

Theo đó, hoạt động khai thác di tích LSVH trước hết phải phát huy được giá trị giáo dục truyền thống, phù hợp với nguyện vọng đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân Đó là nền tảng tinh thần rất cần thiết để con người vững tin hướng tới tương lai

- Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích

Văn hóa là một lĩnh vực rất rộng lớn và người ta thường gắn khái niệm

“bảo tồn văn hóa” với những đối tượng cụ thể như: bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn di sản văn hóa phật giáo, bảo tồn văn hóa nông thôn… Theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là gìn giữ, lưu lại những giá trị văn hóa

Bảo tồn văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa,

mà trong một chừng mực nào đó còn là cơ sở cho sự phát triển văn hóa theo đúng hướng Bản thân quá trình phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan Sẽ là sai lầm khi coi bảo tồn văn hóa triệt tiêu sự phát triển văn hóa ngược lại phát triển văn hóa sẽ triệt tiêu bảo tồn văn hóa Bảo tồn và phát triển văn hóa có thể được coi là thúc

Trang 22

đẩy nhau; bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa Bên cạnh đó, thông qua phát triển văn hóa, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn văn hóa nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình Cũng bởi tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa mà trong quá trình phát triển chứa đựng sự đánh giá, xác lập vị thế của yếu tố văn hóa mới dựa trên nền tảng giá trị đã được bảo tồn

Di tích lịch sử văn hóa chứa đựng trong mình những yếu tố nhân văn và những giá trị văn hóa truyền thống quý giá Vì vậy ngoài các yếu tố kinh tế cần được nghiên cứu phát triển thì di tích còn là một đối tượng quan trọng để bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”

Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn

có của nó Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay

biến thái” Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải

được nhìn là tinh hóa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn

Trong nghiên cứu, cũng như trong hoạt động bảo tồn thường bắt gặp ba

từ: bảo quản, bảo vệ và bảo tồn Bảo quản mang nghĩa sử dụng những biện

pháp kỹ thuật để gìn giữ, chăm sóc đối tượng được nguyên vẹn tồn tại lâu dài [21,

tr.21] Bảo vệ chứa đựng nội dung thực hành các hoạt động mang tính chất pháp lý

hay nói cách khác bảo vệ là “giữ để không cho bị xâm phạm” [42, tr.589]

Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn, là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi

sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu

đó Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của giá trị văn hóa của di tích lịch sử nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài về vật chất cho các giá trị đó và khi cần đến phải đảm bảo việc

Trang 23

giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội Công tác bảo tồn giá trị văn hóa của di tích có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động như: bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, phục hồi, tái tạo - làm lại, quy hoạch bảo tồn

Bản thân các giá trị văn hóa của di tích được coi là một loại di sản văn hóa, vì thế khi tiến hành công tác bảo tồn cần tuân thủ theo các phương pháp đặc thù dành riêng cho loại di sản này

Hoạt động bảo tồn theo cơ sở khoa học trải qua nhiều thay đổi, có thể hiểu bảo tồn giá trị văn hóa của di tích không có nghĩa là cố gắng giữ lại được càng nhiều càng tốt những gì thuộc về quá khứ hoặc giữ nguyên trạng một cách cứng nhắc làm cho các giá trị đó đóng băng và lâu dài sẽ đưa đến sự xuống cấp, hủy hoại chúng Cũng không có nghĩa bảo tồn giá trị văn hóa của di tích là được phép tự ý sửa chữa theo ý muốn chủ quan của một cá nhân hay tập thể nào để dẫn đến tình trạng tự hủy hoại, làm mất đi bản sắc riêng của mỗi giá trị văn hóa

đó Bảo tồn là việc bảo vệ, gìn giữ những giá trị liên quan từ quá khứ đến hiện tại làm cho giá trị văn hóa của di tích đó lớn mạnh hơn, giàu có hơn và tất yếu cái được bảo tồn phải phù hợp với thời đại để nó có thể tiếp tục song hành cùng

xu hướng đi lên của cuộc sống Hoạt động bảo tồn phải tuân thủ những nguyên tắc nghiêm ngặt mang tính thông lệ đã được quy định

Tuy nhiên ngày nay, nhiều giá trị văn hóa của di tích đã bị tác động của thiên nhiên, con người Những ý nghĩa văn hóa truyền thống của di tích được các thế hệ sau tiếp thu và phát huy một cách không đúng mực dẫn đến mất bản sắc di tích Thậm chí còn có xu hướng thương mại hóa, chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm cho giá trị văn hóa của di tích bị suy giảm Vì thế hoạt động bảo tồn giá trị văn hóa này chỉ có thể đạt hiệu quả khi giải quyết vấn đề hài hòa giữa bảo tồn và phát triển bởi mỗi giá trị văn hóa đó không chỉ chứa đựng những yếu

tố văn hóa truyền thống, tiếp thu những tinh hoa của cha ông mà còn đáp ứng được những yêu cầu của văn hóa xã hội đương đại

Phát huy giá trị văn hóa của di tích

Trang 24

Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Nói một cách đơn giản, phát huy chính là việc khai thác,

sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế Phát huy giá trị văn hóa của di tích là tiêu chí chung, mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, cho việc phát triển du lịch bền vững và góp phần quan trọng trong việc giữ gìn truyền thống giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời là nhịp cầu nối với các nước trên thế giới Cách thức phát huy của mỗi giá trị, mỗi thời điểm có khác nhau, điều đó tùy thuộc vào văn hóa của mỗi vùng, vào nhận thức của từng người Nhưng tất thảy các hoạt động này đều phải dựa vào giá trị sẵn có tại di tích, làm tôn vinh vẻ đẹp và phát triển các giá trị văn hóa đó Hình thức chủ đạo của phát huy là quảng bá hình ảnh, giá trị của di tích trên mọi phương tiện nhằm khai thác, thu hút sự chú ý, sự đầu tư Từ đó giúp việc giữ gìn, phục hồi tối đa các giá trị văn hóa của di tích, tạo cơ hội mở rộng giao lưu, phát triển

Như vậy, những giá trị văn hóa của di tích đang giữ vai trò quan trọng, là nguồn tài nguyên vô hạn, mang giá trị đặc trưng, làm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch và đem lại nguồn tài chính đáng kể, góp phần làm tốt công tác bảo tồn Hơn nữa, việc phát huy giá trị văn hóa của di tích mang về mặt tinh thần, bởi thông qua việc hiểu biết về giá trị văn hóa của di tích sẽ có tác động trực tiếp tới phương diện giáo dục, giúp vun đắp tình cảm cho mỗi cá nhân và cộng đồng

Bảo tồn và phát huy luôn gắn liền với nhau như một cặp phạm trù trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Bởi lẽ, văn hóa là cái thể hiện sức sống của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chỉ bảo tồn để tồn tại, không đem ra sử dụng thì không phát huy được giá trị ẩn chứa trong đó, rồi thời gian sẽ làm những giá trị đó phai mờ và nhanh chóng bị chìm vào quên lãng Chỉ khi các giá trị văn hóa này được phát huy thì mới có cơ sở, có căn cứ để

Trang 25

bảo tồn Do vậy, phát huy sẽ tạo ra hướng tiếp nhận, ảnh hưởng mới làm cho các giá trị văn hóa cuả di tích không bị lãng quên mà còn lan rộng và giữ vững được bản sắc của mình Bảo tồn là căn bản, làm cơ sở cho sáng tạo, phục vụ phát huy và ngược lại phát huy giúp cho bảo tồn giá trị văn hóa làng nghề được tốt hơn, tỏa sáng hơn Vì vậy, cần xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy, để bảo tồn không cản trở sự phát triển, trái lại còn tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững

1.1.2 Tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

- Tuyên truyền Thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng để biểu đạt các

hoạt động nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của người khác và định hướng hành động của họ theo một khuynh hướng nhất định Theo Đại từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền có hai nghĩa Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật…nhằm biến những quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích thế giới quan ấy Với quan điểm này, tuyên truyền theo nghĩa hẹp chính là tuyên truyền chính trị, tuyên truyền tư tưởng mà mục đích của nó là hình thành ở đối tượng tuyên truyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũ tính tích cực

xã hội của con người

Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm” [31,tr.162] Trong “Từ điển tiếng Việt” do Viện ngôn ngữ học, do GS.Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa: “tuyên truyền là giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo”

Tuyên truyền có quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử nhân loại Xã hội loài người được hình thành thì cũng đồng thời xuất hiện hoạt động tuyên truyền Tuyên truyền gắn liền với các hình thái KT-XH khác nhau

Trang 26

Ngôn ngữ chính là phương tiện truyền đạt thông tin sơ khai nhưng quan trọng bậc nhất của con người Qua những tín hiệu âm thanh giản đơn, con người có sự trao đổi tình cảm, tạo sự giao tiếp trong sinh hoạt, lao động sản xuất Hoạt động tuyên truyền chính là hoạt động của con người tác động đến con người, vì vậy

nó là hoạt động xã hội đặc biệt, bởi chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền đều là con người

- Tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích

Tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích là hoạt động cảu các chủ thể tuyên truyền nhằm truyền bá, phổ biến những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về các giá trị văn hóa của

di tích trong quần chúng nhân dân nhằm nâng cao nhận thức, thúc đẩy các tầng lớp nhân dân có những hành động tích cực, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích Phục vụ cho việc xây dựng đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh và góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc Tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích là một nội dung của hoạt động tuyên truyền văn hóa và là một bộ phận của công tác tuyên truyền của Đảng

và Nhà nước ta nhằm tạo ra sự đồng thuận trong toàn xã hội, huy động được sự tham gia của nhiều ngành, nhiều lực lượng khác nhau trong xã hội vào công tác bảo tồn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

1.2 Các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

1.2.1 Chủ thể, đối tượng của tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa

- Chủ thể tuyên truyền

Chủ thể công tác tuyên truyền là những giai cấp, những tổ chức, những cộng đồng xã hội mà lợi ích của họ gắn với các hoạt động tuyên truyền Nó bao gồm chủ thể hệ tư tưởng (một giai cấp, một chính đảng); các cơ quan và thiết chế được chủ thể tuyên truyền tổ chức ra, có chức năng sáng tạo, bảo quả, lưu giữ, truyền bá (thưởng đồng nhất với hệ thống chính trị của giai cấp cầm quyền)

và các nhà tư tưởng

Trang 27

Trong xã hội ta, chủ thể tuyên truyền là toàn Đảng (bao gồm toàn thể đảng viên trên các vị trí công tác), toàn bộ hệ thống chính trị Trong đó, ban Tuyên giáo các cấp là một trong những lực lượng chuyên trách làm tuyên truyền

Công tác tuyên truyền gìn giữ, phát huy giá trị văn hoá của di tích có ý nghĩ quan trọng trong tiến trình phát triển văn hóa của đất nước, nó đòi hỏi phải

có cách làm mới kể cả vê quy mô và nghệ thuật thuật tuyên truyền Chính vì vậy tuyên truyền được thực hiện dưới sự quản lý của cơ quan ban ngành, sao cho phù hợp với yêu cầu pháp luật cũng nhưng phù hợp với mục tiêu đề ra

+ Đảng và Nhà nước là chủ thể cao nhất, đã đề ra các chủ trương, chính sách, phương hướng, chiến lược của công tác tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử ở mỗi dân tộc Công tác này được thực hiện tốt hay chưa tốt phụ thuộc vào sự quan tâm và khả năng lãnh đạo, quản lý của từng cấp ủy, chính quyền Điều này được thể hiện ở các mặt sau:

+ Các cấp ủy Đảng, các đảng viên đều phải có trách nhiệm làm nhiệm vụ tuyên truyền Các cấp ủy địa phương, đơn vị phải nhận thức đầy đủ về vai trò,

vị trí, tầm quan trọng của tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các của

di tích lịch sử; có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng, quản lý và chỉ đạo hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác tuyên truyền trên mặt trận tư tưởng - văn hóa

+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan thường trực, tham mưu cho

Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo cho Sở, ban, ngành, các đoàn thể chính trị xã hội, các tổ chức tôn giáo, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh trong quá trình thực hiện tuyên truyền

+ Các hoạt động tuyên truyền gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được thực hiện trực tiếp bởi các ban ngành, chính quyền, trên cơ sở sau khi có

vị thực hiện tuyên truyền phải thực hiện theo đúng hướng dẫn để phù hợp với Quy hoạch tuyên truyền và cổ động của tỉnh và pháp luật liên quan

Trang 28

+ Sau khi được phê duyệt của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, các tổ chức, đơn vị thực hiện tuyên truyền phải thực hiện theo đúng hướng dẫn để cho cán bộ tuyên truyền thực hiện tốt nhiệm vụ cũng như đảm bảo chất lượng hoạt động của mình thì tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch

sử mới được triển khai sâu rộng và hiệu quả

+ Chủ thể công chúng đó là nhân dân sở tại, khách thập phương là chủ thể tác chiến, tự tuyên truyền, giới thiệu cho nhau về di tích

- Đối tượng tuyên truyền

Sự tham gia của quần chúng nhân dân tại khu di tích vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của công tác này Vì vậy, việc xác định quần chúng nhân dân là đối tượng của tuyên truyền đã đặt ra cho các cấp, các ngành phải tập trung đẩy mạnh tuyên truyền trong nhân dân có nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn mục đích, ý nghĩa của công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cuả

di tích lịch sử Tuy nhiên, đối với cán bộ, đảng viên, vừa là chủ thể của tuyên truyền vừa là đối tượng của công tác tuyên truyền, nên việc xác định đối tượng trong tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cảu di tích lịch sử cần phải chú ý tới yếu tố này

Trong quá trình tuyên truyền người dân trực tiếp tham gia trực tiếp, đồng thời họ cũng là những người lưu giữ lại bản sắc văn hóa; là nhân tố quan trọng góp phần bảo tồn cũng như phát huy các giá trị đó Vì vậy, khi nào người dân hiểu đúng, hiểu rõ mục đích, yêu cầu và nội dung của tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử, mới tạo được tính chủ động, tự giác tham gia một cách sáng tạo thì tuyên truyền mới thành công

Tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử không chỉ góp phần lưu giữ những nét văn hóa quý giá, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc mà còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển về văn hóa, kinh tế Để công tác này mang lại kết quả như mong muốn, thì cả hệ thống chính trị và đặc biệt là các tầng lớp nhân dân phải hiểu rõ mục đích, yêu

Trang 29

cầu của tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử Như vậy, đối tượng tuyên truyền ở đây cụ thể là quần chúng nhân dân tại địa phương

và mở rộng ra hơn nữa là toàn thể nhân dân, cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị

1.2.2 Mục đích, nội dung, phương thức và phương tiện tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa

- Mục đích tuyên truyền: Trong tuyên truyền, mục đích là yếu tố cơ bản,

có tính quyết định trong việc định hướng, lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện Mục đích của tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức, doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử Nâng cao vai trò, trách nhiệm, tạo được sự đồng thuận cao trong nhận thức và hành động, thực hiện tốt nhiệm vụ của tuyên truyền Kết hợp hình thức tuyên truyền truyền thống với ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tuyên truyền nhằm mang lại hiệu quả cao Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí, trong việc giới thiệu và quảng bá hình ảnh của di tích

Làm cho mọi người dân, nhất là tại di tích nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc, xác định rõ hơn trách nhiệm với vai trò là chủ thể trực tiếp thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích để họ tích cực tham gia, hưởng ứng

Cổ vũ, động viên các cá nhân, tập thể có những hành động thiết thực giúp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

- Nội dung tuyên truyền: Công tác tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị

văn hóa của di tích lịch sử có những nội dung cơ bản sau:

+ Truyền bá, phổ biến những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước về gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa của di tích đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân

+ Giới thiệu các giá trị của di tích lịch sử nhằm khơi dậy lòng tự hào, ý thức trách nhiệm của mỗi người trước hết là quần chúng nhân dân ngay tại địa phương trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đó

Trang 30

+ Hướng dẫn quần chúng hành động một cách tích cực để tham gia vào công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

+ Tuyên truyền, quảng bá các lễ hội truyền thống; giới thiệu, quảng bá hình ảnh của của di tích lịch sử

+ Nêu gương những điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa cuả di tích lịch sử để khích lệ, cổ vũ và động viên mọi người noi theo

+ Phê phán, đấu tranh với những hành vi có tính chất phá hoại hoặc xâm hại, làm mai một đi các giá trị văn hóa hiện có tại di tích lịch sử để kịp thời ngăn chặn các hành vi đó, đóng góp vào công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

- Hình thức tuyên truyền

Trong tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử, với mục đích chủ yếu là nhằm truyền bá những giá trị văn hóa của di tích, cung cấp thông tin đến từng đối tượng sao cho đạt hiệu quả nhanh nhất, chính xác nhất, đông đảo nhất Đồng thời đây là một tuyên truyền với quy mô rộng, đòi hỏi phương pháp, phương tiện đa dạng, phong phú vì vậy đòi hỏi hình thức

tuyên truyền cũng phong phú, đa dạng

Tuyên truyền trực tiếp: Tuyên truyền trực tiếp là hình thức tuyên truyền

nhằm vào một hay một số đối tượng cụ thể, có mối quan hệ trực tiếp giữa người tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền

Hình thức trực tiếp của tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử như sau:

Hoạt động tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của cấp ủy, các đoàn thể chính trị - xã hội

Thông qua các phường, hội nghề, thôn làng tổ chức tuyên truyền vận động, cổ vũ nhân dân tích cực tham gia vào hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích

Trang 31

Thông qua tổ chức các hội nghị, tọa đàm, diễn thuyết, thảo luận về nội dung tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cảu di tích lịch sử để tuyên truyền

Tuyên truyền gián tiếp: Tuyên truyền gián tiếp là hình thức tuyên truyền

cũng nhằm vào đối tượng cụ thể nhưng phạm vi rộng lớn hơn, không tồn tại quan hệ trực tiếp giữa người tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền

Hình thức tuyên truyền gián tiếp trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cảu di tích lịch sử thể hiện qua các kênh sau:

Thông qua hoạt động phát thanh, truyền hình, internet

Thông qua hệ thống xuất bản và phát hành các ấn phẩm: báo, tạp chí với nội dung phong phú về văn hóa cũng như giá trị văn hóa của di tích

Thông qua các hình thức cổ động như: panô, áp phích, tờ rơi,…

Thông qua các lễ hội, hội làng với các nghi thức, nội dung phong phú, đa dạng, khẳng định những giá trị quý báu của ông cha đã để lại

Cả hình thức tuyên truyền trực tiếp và gián tiếp đều có vai trò quan trọng, chúng bổ sung, hỗ trợ nhau Vì vậy, trong hoạt động tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử, chủ thể phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương và đặc điểm của đối tượng tuyên truyền để tiến hành hình thức tuyên truyền cho phù hợp

- Phương pháp tuyên truyền: Trong tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa của di tích lịch sử, phương pháp tuyên truyền cơ bản đó là phương pháp của chính quần chúng nhân dân Tức là ngay tại những địa phương có di tích, quần chúng nhân dân từ chỗ không chỉ là đối tượng mà còn là chủ thể tuyên truyền, là lấy nhân dân tuyên truyền cho nhân dân Không ai có thể hiểu hết những giá trị truyền thống của di tích hơn những người sinh ra và lớn lên tại

đó Vì thế để tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử đạt hiệu quả phải sử dụng các phương pháp tuyên truyền mang tính dân chủ như tuyên truyền miệng, giao tiếp, đối thoại, tọa đàm, nêu gương…

Trang 32

- Giao tiếp có ba loại: giao tiếp thông qua hành động với tập thể, tức thông qua hoạt động có đối tượng; giao tiếp bằng ngôn ngữ, bao gồm tiếng nói

và chữ viết; giao tiếp bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt điệu bộ (phi ngôn ngữ)

- Trong hoạt động tuyên truyền miệng, ngôn ngữ nói là công cụ chủ yếu của người tuyên truyền, được sử dụng dưới hai hình thức: độc thoại và đối thoại

+ Ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ một người nói cho một hoặc nhiều người khác nghe Báo cáo viên phải có ngôn ngữ trong sáng, chính xác, dễ hiểu

và có khả năng tuyền cảm Ngôn ngữ độc thoại được sử dụng chủ yếu trong thuyết trình

+ Ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ dùng để trao đổi thông tin giữa báo cáo viên với một hoặc nhiều người Ngôn ngữ đối thoại có tính chất tình huống, liên quan chặt chẽ đến hoàn cảnh đối thoại, thường không chặt chẽ, câu thường rút gọn, có sự hỗ trợ của giao tiếp phi ngôn ngữ

- Trong tuyên truyền miệng, cần vận dụng một số phương pháp dạy học

để thực hiện thuyết trình một cách có hệ thống đảm bảo tính khoa học, tính giáo dục, tính thực tiễn của nội dung tuyên truyền Đó là các phương pháp nêu vấn

đề, đặt câu hỏi và trả lời, giả định, phản đề, thuận đề, sử dụng bảng biểu Trong điều kiện thuận lợi có thể sử dụng các giáo cụ trực quan, phim ảnh, đèn chiếu và vi tính hóa hoạt động tuyên truyền

- Phương tiện tuyên truyền: Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ tuyên

truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử là toàn bộ hệ thống

cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và các phương tiện khác phục vụ trực tiếp cho quá trình tuyên truyền tiến hành được thuận lợi và hiệu quả cao Đó là các phương tiện kỹ thuật của hệ thống đài phát thanh - truyền hình tỉnh, các đài truyền thanh huyện, thị xã, thành phố; báo in của tỉnh, các đơn vị trực tiếp tham gia làm nhiệm vụ tuyên truyền thuộc ngành Văn hóa - Thể thao - Du lịch, ngành Thông tin và Truyền thông; các cơ sở in ấn, xuất bản và hệ thống các thiết chế văn hóa cơ sở như trụ sở làm việc, nhà sinh hoạt cộng đồng, thư viện, nhà

truyền thống, bảng tin, đội thông tin cổ động…

Trang 33

Trong công tác tuyên truyền nói chung của Đảng ta, để đạt hiệu quả cao nhất, bao giờ cũng cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa ba yếu tố phương pháp, hình thức, phương tiện tuyên truyền đồng thời là sự kết hợp của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong cơ quan tuyên giáo, của cán bộ,

cơ quan ngành VH-TT, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình,… Sự phối hợp này lại càng thể hiện rõ nét trong công tác tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có vai trò to lớn trong việc truyền đạt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa; đội ngũ cán bộ VH-TT cụ thể hóa các chủ trương, chính sách

ấy để làm tốt công tác quản lý; các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình giúp đăng tải thông tin rộng rãi, quảng bá hình ảnh của di tích lịch sử một cách hiệu quả và tích cực Cả ba khâu trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu được phối hợp nhịp nhàng thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả to lớn cho tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

Bên cạnh đó, tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử là một hoạt động có tính xã hội hóa, đây không phải là trách nhiệm riêng của các cán bộ và cơ quan ngành tư tưởng - văn hóa mà của cả hệ thống chính trị và cộng đồng Bởi lẽ, di tích lịch sử cùng với các giá trị đi kèm là tài sản vật chất và tinh thần của xã hội, bảo tồn và phát huy những giá trị ấy là trách nhiệm của mỗi người, là cách để mỗi chúng ta thể hiện tấm lòng với cha ông, với truyền thống dân tộc Sự tham gia của hệ thống chính trị, các đoàn thể chính trị

xã hội và quần chúng nhân dân là nhân tố quan trọng hàng đầu đến tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cảu di tích lịch sử

1.2.3 Hiệu quả tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lích sử

Tuyên truyền nói chung và tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử nói riêng là một hoạt động của con người mang tính mục đích rất cao, rất rõ ràng Cũng như mọi hoạt động có mục đích khác, tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cảu di tích lịch sử luôn cần thiết phải xem xét đến tính hiệu quả

Trang 34

Hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào cũng là sự tương quan giữa mục đích đặt ra và kết quả đạt được trong một điều kiện xã hội nhất định Kết quả và mục đích gắn liền với nhau Kết quả là biểu hiện thực tế của mục đích, là mục đích

đã được hiện thực hóa Còn mục đích lại chính là kết quả mà con người mong muốn đạt tới Tuy nhiên, mục đích và kết quả không phải bao giờ cũng tương đồng nhau Nói đến hiệu quả của một hoạt động, người ta thường đề cập đến các vấn đề sau: Thứ nhất, hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả trước và sau khi tiến hành một hoạt động, giữa kết quả đã có và kết quả sẽ có Thứ hai, hiệu quả

là sự so sánh giữa kết quả đạt được và mục đích, là sự ăn khớp một phần hay hoàn toàn của kết quả với mục đích và nhiệm vụ đặt ra từ trước Thứ ba, hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí về vật lực, tài lực…để đạt được kết quả đó

Tổng hợp các quan niệm trên đây về hiệu quả, có thể đưa ra khái niệm hiệu quả tuyên truyền như sau: Hiệu quả tuyên truyền là sự tương quan giữa kết quả đạt được do tác động tuyên truyền mang lại với mục đích của tuyên truyền được đặt ra

và với chi phí để đạt được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định

Từ khái niệm hiệu quả tuyên truyền, có thể hiểu: Hiệu quả tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử là sự tương quan giữa kết quả đạt được do tác động tuyên truyền mang lại với mục đích của tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử được đặt ra và với chi phí để đạt được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định

Như vậy, hiệu quả không phải là kết quả Kết quả là cái đạt được do hoạt động tư tưởng, hoạt động tuyên truyền mang lại, là sự thay đổi trong nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng sau một chu trình tác động của tuyên truyền nhưng chưa tính đến chi phí để có kết quả đó Còn hiệu quả là tương quan, là sự

so sánh của kết quả với mục đích và với chi phí trong tuyên truyền Nói cách khác, hiệu quả là sự so sánh giữa cái đạt được (kết quả) với các đặt ra (mục đích) và cái bỏ ra (chi phí) Không nên đồng nhất hiệu quả với kết quả trong tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

Trang 35

1.3 Sự cần thiết phải tăng cường tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

1.3.1 Xuất phát từ tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử trong chiến lược phát triển nền văn hóa Việt Nam

Di sản văn hóa, bản sắc văn hóa nói chung và giá trị văn hóa của di tích lịch sử nói riêng là sức mạnh nội sinh tiềm tàng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của một dân tộc Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử, do vậy, không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi thiết thực của mỗi con người

Đó là kết quả to lớn của quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước mang đậm nét đặc thù trong lịch sử Việt Nam Đó còn là kết quả của quá trình tiếp thu sáng tạo tinh hoa văn hóa của nhân loại “Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc Tuy vậy, có một thực tế hiện nay là không phải tất cả mọi người ngay cả người dân ở địa phương có di tích lịch sử cũng đều hiểu hết giá trị văn hóa của di tích ngay trên quê hương mình Trong tình hình đất nước đã và đang hối hả hội nhập, chuyển động theo cơ chế thị trường toàn cầu hóa, mỗi người vì lợi ích vật chất cá nhân của mình mà đôi khi xem nhẹ hoặc quên lãng những giá trị văn hóa, truyền thống, nhân văn của dân tộc Cá biệt có một số người còn lợi dụng, chà đạp lên những giá trị ấy để trục lợi, để mưu sinh, nguy cơ phân hóa giàu nghèo sâu sắc, sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa, nhân cách bị bào mòn, bản lĩnh dân tộc bị nhào nặn, bản sắc văn hóa dân tộc bị biến tướng, những mặt trái của lối sống ích kỷ, thực dụng, phi nhân tính hoành hành Trong khi các giá trị văn hóa truyền thống có biểu hiện mai một, nhạt nhòa thì các yếu tố văn hóa phương Tây như lối sống của nhiều bạn trẻ ngày nay thể hiện rất rõ những vấn đề tiêu cực trong quá trình tiếp thu văn hóa nước ngoài Đối với hôn nhân, truyền thống tốt đẹp của dân tộc là đề cao trinh tiết của người phụ nữ, cái tình đi đôi với cái nghĩa, tình có thể hết nhưng nghĩa thì bền chặt Còn bây giờ, giới trẻ đang dậy lên những trào lưu như “sống thử”, “sống gấp” Bên cạnh đó, thói quen tiêu xài hoang phí và theo đuổi những lợi ích vật chất,

Trang 36

lối sống thực dụng là nét không đặc trưng cho con người Việt Nam cần, kiệm Nhiều bạn trẻ lười học tập, lười lao động lại muốn mau chóng nổi tiếng nên tự tạo “xì-căng-đan” cho mình Tiêu chuẩn về vẻ đẹp của người phụ nữ phương Đông truyền thống là “công, dung, ngôn, hạnh” bị biến dạng, nhường chỗ cho

sự táo bạo, phô trương, thậm chí thác loạn Từ những biểu hiện cho rằng, một

số thanh, thiếu niên không nhận thức đầy đủ về văn hóa thẩm mỹ của dân tộc, dẫn đến thị hiếu sai lệch, lệch chuẩn về giá trị đạo đức, len lỏi vào đời sống tinh thần của người dân Việt Nam, nhất là trong tầng lớp thanh niên Một bộ phận giới trẻ của chúng ta đang bị dòng thác văn hóa hiện đại và lối sống thực dụng cuốn đi làm suy đồi đạo đức, quên đi những giá trị nhân bản, nhân văn của cha ông Để đất nước giàu mạnh một cách bền vững, hòa nhập nhưng không hòa tan, không đánh mất mình thì chúng ta phải làm sống dậy các giá trị tinh thần cốt lõi của dân tộc mà cha ông đã để lại Muốn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của

di tích lịch sử thì một việc quan trọng là phải giúp cho mỗi người dân hiểu được tầm quan trọng của các giá trị văn hóa truyền thống trong tiến trình hội nhập, phải giáo dục để mỗi người đều thấm nhuần tinh thần tự hào, tự tôn về giá trị văn hóa của di tích của cha ông và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng

Những giá trị văn hóa của di tích lịch sử là những bằng chứng có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về những giai đoạn phát triển không chỉ về kinh tế mà còn về văn hóa của dân tộc Từ đó giúp cho con người biết được truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hóa của từng vùng miền và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Di tích lịch sử

đã mang đến cho đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành Sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng; công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh mẽ Nhiều phong trào, hoạt động văn hóa đạt được những kết quả cụ thể, thiết thực; phát huy được truyền thống văn hóa gia đình, dòng

Trang 37

họ, cộng đồng Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc trong những năm sắp tới và nhiều chủ trương của Đảng

có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, vừa giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt vừa có tính định hướng lâu dài xây dựng và phát triển văn hóa của nước ta đến năm 2020 là nhằm thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng

về phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

1.3.2 Xuất phát từ yêu cầu xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử là một hoạt động phức tạp, lâu dài không chỉ riêng ngành văn hóa, của cấp ủy và chính quyền mà của cả toàn dân Tuy nhiên hiện nay, nhận thức của toàn xã hội về giá trị văn hóa của di tích lịch sử chưa thật sâu sắc và toàn diện, ý thức chưa cao, vì thế nhiều giá trị văn hóa bị mai một, bị xâm hại, bị mất dần theo thời gian Trước tình hình đó, ngày càng có nhiều cá nhân, tổ chức đã tham gia đóng góp cả về vật chất và tinh thần vào công tác bảo vệ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Nguồn lực của xã hội cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử còn rất lớn nhưng nguồn lực này chưa được quy tụ và định hướng vào những công việc thật sự cấp bách như bảo quản, lưu truyền,… Các chương trình,

dự án về di tích lịch sử vẫn thực hiện một cách độc lập, không có hoặc ít có sự gắn kết liên ngành và đặc biệt là còn thiếu sự tham gia một cách sâu rộng và bền bỉ của cộng đồng, dẫn đến hiệu quả chưa cao hoặc kém bền vững

Xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

là một giải pháp quan trọng nhằm huy động các nguồn lực trong xã hội tham gia vào bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của di tích Để đẩy mạnh xã hội

Trang 38

hóa công tác này, có thể dùng nhiều cách khác nhau trong đó có tuyên truyền Công tác tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử có vai trò to lớn trong việc nâng cao nhận thức, tạo ra sự đồng thuận sâu rộng trong xã hội, huy động sự đóng góp, tham gia của nhiều thành phần, lực lượng khác nhau trong hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử Công tác tuyên truyền càng được quan tâm, đẩy mạnh thì hoạt động xã hội hóa càng diễn ra nhanh chóng, rộng rãi và đi vào chiều sâu, huy động được nhiều ngành, nhiều lực lượng tham gia bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử

1.3.3 Xuất phát từ thực tiễn hoạt động tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử thời gian vừa qua

Khi xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta xác định di sản văn hóa có vị trí quan trọng góp phần tạo nên giá trị của

một nền văn hóa Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã khẳng định: “Di sản

văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” (1) Sau

15 năm triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa, các cấp, các ngành, các địa phương đã đạt được một số kết quả quan trọng Đó là:

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết của Đảng, văn bản quản lý của Nhà nước về di sản văn hóa được coi trọng Các cơ quan hữu quan đã từng bước hoàn thiện các văn bản pháp lý về bảo tồn, phát huy di sản Sau khi Luật Di sản văn hóa ra đời, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với các bộ, ban, ngành biên soạn tài liệu và chỉ đạo Sở Văn hóa - Thông tin các tỉnh, thành phố tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến về Luật này và các văn bản dưới luật với nhiều hình thức khác nhau, như: mở các lớp tập huấn, tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu trên sóng phát thanh, truyền hình, phát hành hàng vạn ấn phẩm Luật Di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành cho các địa phương, đơn vị trực tiếp thực hiện

Trang 39

Tuyên truyền ở bất kỳ giai đoạn nào cũng có nhiều mục đích khác nhau, ngoài mục đích thông tin, cung cấp tri thức; phổ biến và giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì hoạt động tuyên truyền còn có mục đích cao hơn là hình thành, nâng cao ý thức và từ đó tạo lập hành động tích cực trong quần chúng Xét cho cùng thì trong mọi lĩnh vực của đời sống con người, hành động mới là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả của một công việc nào đó chứ không phải là lời nói Muốn bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử thì yếu tố quan trọng tiên quyết là phải hình thành và nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người, của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân Công tác tuyên truyền nói chung và tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử nói riêng, thông qua việc sử dụng nhiều kênh, nhiều hình thức, phương pháp khác nhau có thể tác động đến đối tượng cả về lý trí và tình cảm, giúp thay đổi nhận thức, tạo lập ý thức mới và khơi dậy tinh thần trách nhiệm trong quần chúng Tuyên truyền một lần, hai lần mà đối tượng chưa có ý thức trách nhiệm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử thì có thể tiến hành tuyên truyền nhiều lần với tần suất, cường độ tăng dần Ưu điểm của tuyên tryền là có một binh chủng hùng hậu, có nhiều kênh, nhiều hình thức, phương pháp tác động khác nhau

và hơn thế lại có thể phối hợp với nhau rất nhuần nhuyễn, nhịp nhàng Chính vì thế, tuyên truyền bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử hoàn toàn có thể hình thành và nâng cao ý thức, trách nhiệm của quần chúng, của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị đó, tạo tiền đề cho những hành động tích cực, đúng đắn về sau

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1, tác giả đã tập trung nghiên cứu và khái quát hóa được những vấn đề chung về văn hóa và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa di tích lịch sử Trên cơ sở những quan niệm về văn hóa, giá trị văn hóa của di tích lịch sử cũng như tuyên truyền, tác giả luận văn đưa ra quan niệm về tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử Tác giả đã tìm hiểu những yếu tố cấu thành tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lích sử đó

Trang 40

là: chủ thể tuyên truyền, đối tượng tuyên truyền, mục đích tuyên truyền, nội dung tuyên truyền, hình thức tuyên truyền, phương pháp tuyên truyền, phương tiện tuyên truyền và hiệu quả tuyên truyền

Trong chương này, tác giả cũng trình bày về sự cần thiết phải tăng cường tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích lịch sử nhằm làm sáng tỏ tầm quan trọng của công tác này trong đời sống văn hóa của đất nước nói chung và trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của quần chúng nhân dân tại

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
26. Trần Huyền (2009), "Bảo toàn tính xác thực của di sản văn hóa phi vật thể trong hoạt động du lịch và tổ chức lễ hội", Tạp chí Xưa và Nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo toàn tính xác thực của di sản văn hóa phi vật thể trong hoạt động du lịch và tổ chức lễ hội
Tác giả: Trần Huyền
Năm: 2009
39. Ngô Đức Thịnh (2007), "Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể", Tạp chí Cộng sản, (15/135) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Năm: 2007
56. Website: http://www.bvhttdl.gov.vn 57. Website: http://www.dsvh.gov.vn 58. Website: http://dangcongsan.vn 59. Website: http://vi.wikipedia.org Link
1. Ác-nôn-đốp (1981): Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin, Nxb Văn hóa, Hà Nội Khác
2. Đặng Văn Bài, Nguyễn Hữu Toàn: Bảo tàng di sản văn hóa làng, Bộ Văn hóa thông tin, Cục di sản văn hóa Khác
3. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2004): Xây dựng môi trường văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Khác
4. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Nam (2010): Báo cáo tổng kết công tác tuyên giáo năm 2009 Khác
5. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Giáo dục lý luận chính trị (1994), Tìm hiểu về văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. PGS.TS Hoàng Quốc Bảo (2006):Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Bộ Văn hoá - Thông tin (2003), Quy định của Nhà nước về hoạt động và quản lý văn hoá thông tin, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Khác
8. Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch (2007), Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể 9. Cục Di sản văn hoá, Bộ Văn hoá Thông tin (2006), Một con đường tiếp cận di sản văn hoá, Tập 3, Hà Nội Khác
10. Cục Di sản văn hoá, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch (2007), Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Huy (2002), Giá trị truyền thống trong những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998): Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004): Các nghị quyết của Trung ương Đảng 2001-2004, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005): Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002): Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w