Vận động thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam qua các giai đoạn cách CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA HỘI LIÊN HIỆ
Trang 1hội liên hiệp phụ nữ tỉnh phú thọ với việc vận
động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới hiện nay
luận văn thạc sỹ chính trị học
Trang 2hội liên hiệp phụ nữ tỉnh phú thọ với việc vận
động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới hiện nay
Trang 44
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung được trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi Các số liệu và trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng và chính xác Các kết quả nghiên cứu luận văn là trung thực, không trùng với bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Sơn Thị Bích Ngọc
Trang 51.2 Quan niệm, khái niệm công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng
1.3 Vận động thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam qua các giai đoạn cách
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA
HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH PHÚ THỌ
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ THỰC HIỆN BÌNH
ĐẲNG GIỚI CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH PHÚ THỌ
Trang 66
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- BTV : Ban thường vụ
- CCSK : Chăm sóc sức khỏe
- CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- HĐND : Hội đồng nhân dân
- KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
- KHHĐ : Kế hoạch hành động
- LHPN : Liên hiệp phụ nữ
- UBND : Ủy ban nhân dân
- UBQG : Ủy ban quốc gia
- VSTBPN : Vì sự tiến bộ phụ nữ
Trang 7đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ về bình đẳng giới
Trong xã hội Việt Nam hiện nay phụ nữ đóng góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động, với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, giáo dục, luật pháp, kinh tế…… Phụ nữ Việt Nam ngày nay ngoài những điểm tích cực, tiến bộ thì vẫn đang đối mặt với một số vấn đề hạn chế, tiêu cực trong xã hội đó là: Phân biệt đối xử trong xã hội, bất bình đẳng giới; Bạo hành gia đình Buôn bán phụ nữ…… Do vậy, giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam Phát huy sức mạnh, chăm lo phát triển về mọi mặt của phụ nữ là nhiệm
vụ thường xuyên của Đảng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động phụ nữ là yêu cầu quan trọng của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần; tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người
Trang 82
Thực hiện công tác vận động phụ nữ Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết 11-NQ/TW về công tác phụ nữ Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền bình đẳng giới, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt “Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ” Liên Hiệp Quốc xem Bình đẳng giữa hai giới là góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế- xã hội của Việt nam Tổ chức y tế thế giới(WHO) tại Việt Nam nhấn mạnh “ Việc tăng cường bình đẳng, công bằng giới và tạo điều kiện cho phụ nữ được tham gia quyết định các vấn đề sinh đẻ, tài chính và gia đình của mình cũng sẽ cải thiện sức khỏe, cuộc sống của phụ nữ và nam giới ở Việt Nam” Tuy nhiên trong thực tế, việc thực hiện pháp luật và bình đẳng giới chưa nghiêm, tình trạng bất bình đẳng giới đang tồn tại trên nhiều lĩnh vực, nhiều nơi nạn bạo lực gia đình còn xảy ra Một trong những nguyên nhân mà Việt Nam chưa thực hiện tốt bình đẳng giới đó là do công tác vận động phụ
nữ để thực hiện bình đẳng giới chưa đáp ứng yêu cầu
Phú thọ là một tỉnh trung du, miền núi phía bắc, kinh tế chậm phát triển, đời sống Nhân dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều, tư tưởng trọng nam, khinh nữ vẫn còn, đặc biệt các vùng dân tộc miền núi Từ thực tế công tác vận động phụ nữ ở tỉnh Phú thọ trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về công tác vận động phụ nữ nói chung, vận động phụ nữ thực hiện Bình đẳng giới nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về vận động phụ nữ thực hiện Bình đẳng giới chưa nhiều, đặc biệt địa bàn Phú thọ với những đặc điểm tự nhiên, lịch sử, kinh tế- xã hội đặc thù, vấn đề Bình đẳng giới đang đặt ra cấp thiết nhưng chưa có nghiên cứu nào có tính hệ thống, vì vậy tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Phú Thọ với việc vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ với mong muốn góp phần đổi mới và nâng cao hơn nữa chất lượng
Trang 93
công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ tỉnh Phú Thọ nói riêng
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Vấn đề Bình đẳng giới đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất nhiều các nhà khoa học, những người làm công tác nghiên cứu ở những khía cạnh và góc độ khác nhau Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác dân vận và bình đẳng giới của các cá nhân và tập thể đã được công bố:
- Ban Dân vận Trung ương (2003), Công tác dân vận của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb CTQG, H
- Hoàng Chí Bảo (2000), Hồ Chí Minh với quan điểm thực tiễn và phương pháp khoa học về dân vận, Tạp chí Dân vận
- Đỗ Quang Tuấn (2005) Từ tư tưởng dân vận của Bác Hồ, nghĩ về công tác dân vận hiện nay, Tập chí Dân vận, số 10
- Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (2000) Xã hội học về giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội
- Dương Thị Minh( 2004) Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ
nữ trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,H
- Nguyễn Đức Hạt ( chủ biên) ( 2007) Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị, CTQG,H
- Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh – Viện Friedrich Fbert Stiftung (2008), Khoa học giới, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CT-HC,H
- Đỗ Thị Thạch (2005) Nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH, CTQG,H
- Trịnh Quốc Tuấn, Đỗ Thị Thạch (đồng chủ biên-2008), Khoa học về giới, những vấn đề lý luận và thực tiễn, CT-HC,H
Trang 10- Chu Thị Thu Huyền (2011) Sự tham gia chính trị của phụ nữ Việt Nam từ 1945 đến nay, Luận văn Thạc sĩ, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,H
- UNDP (1995) Báo cáo phát triển con người: Giới và phát triển, Oxford University Press
- Trần Thị Hải Yến (2014) Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới của tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ, Viện Nhà nước pháp luật, Học viện Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh,H
Ngoài ra còn rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các đề án, đề tài, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ viết về vấn đề giới, vận động phụ nữ thực hiện Bình đẳng giới Các công trình khoa học trên, nghiên cứu một cách sâu sắc vấn đề về thực hiện Bình đẳng giới đó là những tài liệu quí,
có giá trị để tham khảo Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chỉ mới đề cập đến một khía cạnh cụ thể liên quan đến Bình đẳng giới và quyền của phụ
nữ, cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề vận động phụ nữ thực hiện Bình đẳng giới của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú thọ Vì vậy, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú thọ với việc vận động phụ nữ thực hiện Bình đẳng giới” làm luận văn thạc sĩ là cần thiết
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về Hội Liên hiệp phụ
nữ vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới
Thứ hai, đánh giá thực trạng vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới
của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú Thọ hiện nay
Thứ ba, luận chứng và đề xuất những phương hướng, giải pháp đổi
mới, tăng tính hiệu quả công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về công tác vận động thực hiện bình đẳng giới ở Phú thọ hiện nay trên các đối tượng là phụ nữ công nhân, nông dân, thanh niên, trí thức và phụ nữ là người lao động khác
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi luận văn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Nghiên cứu thực trạng từ năm 2010 đến nay (từ khi có Chiến lược thực
hiện bình đẳng giới ở Việt Nam)
Trong khuôn khổ cho phép luận văn đi sâu nghiên cứu chủ yếu trong lĩnh vực chính trị, chính trị-xã hội
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: Lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, thống kê, định tính, định lượng, phương pháp định chuẩn, so sánh
Các phương pháp nghiên cứu trên được luận văn sử dụng cụ thể như sau: Chương 1, chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để nghiên cứu những vấn đề về lý luận
Chương 2, sử dụng phương pháp lịch sử, khoa học thống kê, định tính,
định lượng, định chuẩn để đảm bảo khách quan, toàn diện trong các đánh giá
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú thọ vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới, luận văn góp phần hệ thống hóa và phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận về công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới; Làm rõ các khái niệm về “giới” “bình đẳng giới” “Nội dung bình đẳng giới”
Đánh giá thực trạng vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú thọ, chỉ ra kết quả, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng, giải pháp đổi mới công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú thọ
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới ở địa phương, kết quả nghiên cứu của luận
Trang 137
văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan, tổ chức, các đoàn thể tham khảo trong công tác dân vận, công tác vận động Nhân dân đặc biệt công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới; có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy về công tác dân vận
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương và 10 tiết
Chương 1: Hội Liên hiệp phụ nữ với việc vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Phương hướng, giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú Thọ
Trang 14
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Hội phấn đấu vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ Hội là bộ phận của hệ thống chính trị, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là thành viên của Liên đoàn phụ nữ dân chủ Quốc tế
và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN
Từ những tổ chức tiền thân cho đến Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội đoàn kết vận động các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, tài năng, trí tuệ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Hội có chức năng đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản
lý Nhà nước, ngoài ra Hội còn đoàn kết vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, vận động xã hội
thực hiện Bình đẳng giới
Hội làm nhiệm vụ: Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống, vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động tích cực thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế- xã hội
Trang 159
dựng gia đình hạnh phúc Chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em; Xây dựng và phát triển tổ chức Hội vững mạnh; Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức cá nhân tiến bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình
1.1.1 Quan điểm về công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới
1.1.1.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác- lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về công tác vận động phụ nữ
* Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về công tác vận động phụ nữ
Ngay từ thế kỷ thứ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen, các lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản đã chỉ rõ: “ Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch
sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần, người vợ trở thành người đày tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội” “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan
hệ xã hội trước kia để lại, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế” Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”[32,tr.116]
V.I.Lênin đã chỉ ra tình cảnh khốn khổ của nữ công nhân lao động trong các nhà máy, công xưởng Ông chủ trương: “ Phụ nữ được bình quyền
Trang 16vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ ”[32,tr.29]
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động phụ nữ
Tiếp thu quan điểm của Chủ nghĩa Mác- LêNin, Chủ tịch Hồ Chí Minh
từ lâu đã thấu hiểu nỗi khổ nhục, bất công của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến Người khẳng định: “ Dưới chế độ thực dân và phong kiến Nhân dân ta bị áp bức bóc lột, thì người phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn Ngay từ đầu Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông” Người chỉ rõ: “Cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng
vì đàn bà, con gái hết sức giùm vào” hơn một tháng sau ngày cách mạng tháng Tám thành công Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (02/9/1945) trong lời kêu gọi chống thất học ( tháng 10/1945) Người chỉ ra:
“Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử” Khi Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 Chủ Tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “ Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng mọi quyền công dân” Năm 1959, khi Luật Hôn nhân và gia đình
Trang 1711
lần đầu tiên được Quốc hội thông qua , Người nói: “Luật Hôn nhân và gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta Đạo luật ấy làm cho trai, gái thật sự bình đẳng, gia đình hạnh phúc” Người nhấn mạnh vai trò của phụ nữ Việt Nam: “ Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân Cho đến nay, mỗi khi nước nhà gặp nguy nan thì chị em phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc”[27,tr.148] Người căn dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ ta đảm đang
đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” [28, tr.504]
* Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động phụ nữ
Ngay từ năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ: Về phương diện xã hội thì thực hiện “nam, nữ bình quyền” Luận cương chính trị của Đảng cũng ghi: “Một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là nam, nữ bình quyền” Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị ( tháng 10/1930) khi nói về phụ nữ vận động, Đảng ta đã nhận rõ:
“Lực lượng cách mạng của phụ nữ là một cái lực lượng rất trọng yếu Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được…Đảng đặt ra yêu cầu đòi bình quyền cho phụ nữ Đàn bà, đàn ông thanh niên làm việc ngang nhau, thì tiền công cũng phải ngang nhau Công nhân đàn bà trước và sau khi sanh đẻ phải nghỉ tám tuần lễ có lương; Không được bắt đàn bà, trẻ con làm những việc nặng nề và nguy hiểm ” Đảng đề ra các yêu cầu cho phụ nữ đấu tranh đòi quyền lợi của mình: “Đảng Cộng sản thảo ra cho các chị em công nhân và
Trang 1812
nông dân những điều yêu cầu bình đẳng với đàn ông ….phụ thêm cho chị em những yêu cầu sau này: Bỏ hết các pháp luật và tục lệ hủ bại làm cho đàn bà không được bình đẳng với đàn ông Bỏ cái chế độ áp bức của cha mẹ đối với con gái, của chồng đối với vợ Cấm tục năm thê, bảy thiếp, vợ hầu vợ lẽ Quyền đàn bà được giữ con mình lúc ly dị ”
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết lãnh đạo công tác phụ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ
nữ Nghị quyết số 04- NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về đổi mới
và tăng cường công tác phụ nữ trong tình hình mới nhấn mạnh: “Xây dựng và sửa đổi, hoàn chỉnh các pháp luật, chính sách xã hội có liên quan đến phụ nữ
và lao động nữ … có chủ trương, chính sách phù hợp đối với phụ nữ dân tộc
ít người, phụ nữ tôn giáo, phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật”[1] Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng
….Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác khoa học- kỹ thuật, kinh tế, pháp luật, hành chính, quản lý Nhà nước ….cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa Các trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể khi chiêu sinh cần có qui định tỷ lệ nữ một cách thỏa đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến thức về giới… ”[8]; “Đối với phụ nữ xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển
vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 Đặc biệt coi trọng việc đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ chị em có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Quan tâm phát triển Đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ; Tăng tỉ lệ nữ trong cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành… Xây dựng gia đình no ấm bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế
Trang 19nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”[16,tr.163]
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng có ghi:
“ Nâng cao trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà
mẹ và trẻ em Bổ xung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm của phụ nữ ”[17,tr.120]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định:
“Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp và chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện và cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và ngoài xã hội Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội
và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ”[18,tr.163]
Trang 2014
1.1.1.2 Hội phụ nữ và công tác vận động phụ nữ
* Hệ thống tổ chức của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam gồm bốn cấp
Trung ương; Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương ( gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
và tương đương ( gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn và tương đương ( gọi chung là cấp cơ sở)
Cơ quan chuyên trách Hội cấp Trung ương, tỉnh, huyện là cơ quan tham mưu giúp việc cho Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch hoặc Ban Thường
vụ cùng cấp
Cơ quan lãnh đạo các cấp: Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc; Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là Đại hội đại biểu hoặc Đại hội toàn thể hội viên của cấp đó; Đại hội đại biểu phụ nữ các cấp được tổ chức 5 năm một lần Trường hợp đặc biệt do Hội Liên hiệp phụ
nữ cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định Đại hội chỉ hợp lệ khi có ít nhất 2/3
số đại biểu được triệu tập tham dự Thành phần, số lượng đại biểu đại hội cấp nào do Ban Chấp hành cấp đó quyết định và triệu tập Thành phần đại biểu chính thức của đại hội mỗi cấp gồm: Uỷ viên Ban Chấp hành đương nhiệm; đại biểu bầu từ dưới lên; đại biểu chỉ định ( không quá 10%)
Cơ quan lãnh đạo giữa hai nhiệm kỳ đại hội của mỗi cấp là Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp đó, do Đại hội bàn bạc dân chủ, thương lượng, giới thiệu bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Hội bầu ra Đoàn Chủ tịch, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Ban Chấp hành các cấp (tỉnh, huyện, xã) bầu ra Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch.[19]
* Công tác vận động phụ nữ:
Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị đã nêu ra các quan điểm về công tác vận động phụ nữ cụ thể như sau:
Trang 2115
Thứ nhất, phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội là một trong những mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam
Thứ hai, công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng miền,
phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước, đồng thời chăm lo cho phụ nữ tiến bộ
về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng để phụ nữ
có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người
Thứ ba, xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng
với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng
Thứ tư, công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của
toàn xã hội và từng gia đình Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là các cấp ủy đảng, trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu là cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ, nòng cốt là các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.[2]
1.1.1.3 Nội dung, phương thức, tiêu chí đánh giá thực hiện công tác vận động phụ nữ
* Nội dung công tác vận động phụ nữ
Một là, Nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới:
Quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu công tác phụ nữ trong tình hình mới nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, tạo bước chuyển biến rõ rệt về hiệu quả công tác phụ nữ ở từng ngành, địa phương, đơn vị; Các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội, cơ quan thông tin đại chúng
Trang 2216
tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giới và ý thức trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân, lên án đấu tranh chống tư tưởng coi thường phụ nữ, các hành vi phân biệt đối
xử, xâm hại, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ, đưa nội dung giáo dục về giới, Luật Bình đẳng giới vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong các trường Chính trị và các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam, Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam phấn đấu làm tốt vai trò nòng cốt tham mưu và thực hiện các giải pháp cần thiết để nâng cao nhận thức cho phụ nữ về bình đẳng giới
Hai là, Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật pháp, chính
sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ: Triển khai
thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới Xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách, bảo đảm tốt hơn quyền lợi chính đáng của phụ
nữ, đặc biệt trong các lĩnh vực lao động- việc làm, giáo dục- đào tạo, dạy nghề, doanh nghiệp, quan hệ dân sự, đất đai, môi trường, bảo hiểm xã hội, hôn nhân- gia đình, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ bà mẹ- trẻ em Quốc hội, cơ quan Nhà nước các cấp có cơ chế để Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban
Vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp chủ động tham gia vào quá trình xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật, chiến lược, chương trình, dự án phát triển của quốc gia, bộ, ngành, địa phương; Chính phủ và các ngành chức năng nghiên cứu, ban hành một số chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ; Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới Phát huy vai trò của Quốc hội, Mặt trận, các đoàn thể, các tổ chức
xã hội, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ trong kiểm tra, giám sát
Trang 2317
việc thực hiện luật pháp, chính sách đối với phụ nữ và lao động nữ trong các thành phần kinh tế
Ba là, Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc Xây
dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa có lòng nhân hậu: Tăng cường giáo
dục đạo đức, lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với gia đình, xã hội; đấu tranh xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống có hiệu quả tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, bạo lực gia đình, ngăn ngừa tình trạng lấy chồng nước ngoài bất hợp pháp vì vụ lợi; Coi trọng công tác tư vấn, hòa giải về hôn nhân và gia đình Xây dựng hệ thống, chính sách cơ bản nhằm phát triển gia đình Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH theo tiêu chí “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”
Bốn là, Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ
lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH
Qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ, các cấp ủy
đảng có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng qui hoạch cán bộ nữ trong qui hoạch tổng thể về cán bộ của Đảng ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương Đối với cán bộ nữ, phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng để chủ động về nhân sự; đề bạt, bổ nhiệm cần đảm bảo tiêu chuẩn của từng chức danh, có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ, phát huy được thế mạnh, ưu điểm của cán bộ nữ Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong qui hoạch, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm
Cần đảm bảo tỉ lệ nữ tham gia các khóa đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý hành chính Nhà nước từ 30% trở lên.Thực hiện cử tuyển, đào tạo cán bộ nữ trong các dân tộc thiểu số, tôn giáo và trong lĩnh vực có tỉ
lệ nữ quá thấp, phổ cập tin học cho cán bộ nữ các cấp; Phấn đấu đến năm
2020 cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên Nữ đại biểu
Trang 2418
Quốc hội và HĐND các cấp từ 35% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ trong các cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới [2]
Chính sách phát triển đội ngũ cán bộ nữ: Xây dựng, sửa đổi, bổ sung
và tổ chức thực hiện tốt các chính sách nhằm phát triển cán bộ nữ trong nghiên cứu khoa học, trong lãnh đạo, quản lý Có chính sách cụ thể về qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, luân chuyển đối với cán bộ nữ, đặc biệt quan tâm đến cán bộ nữ là trí thức, công nhân, người dân tộc thiểu số, tôn giáo Có chính sách đặc thù đối với cán bộ nữ công tác ở vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo, là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ đi học có con nhỏ; Công tác tạo nguồn cán bộ nữ cần được đặt trong chiến lược phát triển nguồn
nhân lực của quốc gia
Năm là, Xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực sự
vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ
Các cấp ủy đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc xây dựng, củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Phân công cấp ủy viên có năng lực, phẩm chất tốt, có uy tín, trực tiếp phụ trách công tác Hội và ứng cử tham gia lãnh đạo tổ chức Hội Liên hiệp phụ nữ đồng cấp Các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cần đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng “hành chính hóa”, hướng mạnh hoạt động về cơ sở, khu dân cư, chăm lo thiết thực quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp cho hội viên Hội cần mở rộng tính liên hiệp, tập hợp rộng rãi các đối tượng là phụ nữ trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện; đa dạng hóa các hình thức tập hợp để phát triển Hội viên trong các lĩnh vực Có hình thức phù hợp động viên phụ nữ Việt Nam định cư
ở nước ngoài đoàn kết, phát triển, hướng về Tổ quốc Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất chính trị, phương
Trang 25Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc
tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hành động; cơ quan lãnh đạo các cấp Hội thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Ban Chấp hành các cấp Hội đều do dân chủ, bàn bạc, thương lượng bầu ra, bầu bằng hình thức nào do Đại hội cấp đó quyết định
Đại hội phụ nữ toàn quốc có nhiệm vụ đánh giá phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong nhiệm kỳ qua, đề ra phương hướng nhiệm vụ công tác Hội trong nhiệm kỳ tới Bổ sung, sửa đổi, thông qua Điều lệ Hội, quyết định cơ cấu, số lượng, hình thức bầu và bầu Ban Chấp hành mới, biểu dương, khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong phong trào phụ nữ và các hoạt động của Hội
Ban Chấp hành Trung ương Hội có các nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc, đánh giá tổng kết phong trào phụ nữ theo định kỳ; tham gia xây dựng và kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật pháp, chế độ chính sách Nhà nước có liên quan đến phụ nữ và trẻ em; Đại diện tổ chức Hội trong các hoạt động với các ngành, đoàn thể tổ chức xã hội trong nước và quốc tế
* Tiêu chí đánh giá về công tác vận động phụ nữ
- Các cấp Hội thực hiện có kết quả chức năng đại diện và vai trò nòng cốt nhằm bảo vệ và chăm lo tốt hơn quyền lợi của phụ nữ; nâng cao chất lượng cuộc sống của phụ nữ, huy động các tầng lớp phụ nữ tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ
Trang 2620
- Vận động xã hội thực hiện công tác phụ nữ và bình đẳng giới
- Củng cố phát triển tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động Hội trong
đó tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các cấp Hội
- Kiện toàn bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp
1.1.2 Bình đẳng giới và vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu lý thuyết nữ quyền, lý thuyết giới chỉ mới xuất hiện những năm gần đây Khoa học về phụ nữ và giới chính là sản phẩm phong trào đấu tranh của phụ nữ Nó ra đời kế thừa những di sản văn hoá, tinh thần tiến bộ của loài người và đến lượt mình, nó lại tạo cơ sở lý luận và làm phong phú thêm cho chính phong trào của phụ nữ cũng như cho chính kho
tàng kiến thức của nhân loại
1.1.2.1 Khái niệm giới
Giới là một khoa học nghiên cứu sự khác biệt về sinh học và mối quan
hệ xã hội giữa nam và nữ; những nguyên nhân đưa đến sự thay đổi của mối quan hệ đó trong từng nền văn hoá, từng thời đại lịch sử; những điều kiện xã hội tạo nên, duy trì lâu dài sự bất bình đẳng nam nữ và những giải pháp để xoá bỏ sự bất bình đẳng đó
Theo quan niệm của nhiều nhà khoa học, giới và giới tính là hai khái niệm cặp đôi, có liên quan chặt chẽ với nhau Vì vậy, để hiểu được khái niệm giới, trước hết, phải tìm hiểu khái niệm giới tính
Giới tính là một khái niệm ra đời từ môn sinh vật học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người, di truyền nòi giống
Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính Ví dụ như chỉ
nữ giới mới có khả năng mang thai và sinh con hoặc chỉ nam giới mới có khả năng sản xuất tinh trùng cho quá trình thụ thai Về mặt sinh học, những đặc điểm về giới tính là bẩm sinh và không thể thay đổi được để phân biệt
Trang 2721
người nam giới và người nữ giới Những đặc điểm này là chung cho mọi người nam giới và nữ giới thuộc bất kỳ dân tộc nào, chủng tộc nào, sinh sống bất kỳ nơi nào trên trái đất này ở mọi nền văn hoá, mọi chế độ chính trị và ở mọi thời đại
Giới là khái niệm ra đời từ môn xã hội học Năm 2006, lần đầu tiên, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xem xét, thông qua Luật Bình đẳng giới trên cơ sở ý kiến của các nhà khoa học, chuyên gia, các
cơ quan, tổ chức hữu quan và đóng góp của Nhân dân Luật đã quy định tại
Điều 5, giới được giải thích là khái niệm “chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam
và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”
Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam giới và phụ nữ Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động , phân chia các nguồn của cải, vật chất, tinh thần tức là cách thức đáp ứng nhu cầu của nam
và nữ trong xã hội
Như vậy, khi nói khái niệm giới tính là nói đến đặc điểm của con người
do tự nhiên quy định Nó hầu như bất biến đối với nam và nữ, xét cả về không gian và thời gian Còn nói đến khái niệm giới là nói đến địa vị xã hội, hành vi ứng xử của nam giới và nữ giới do điều kiện xã hội tạo nên Mặc dù, có nội hàm khác nhau nhưng giới tính và giới có mối liên quan với nhau
1.1.2.2 Khái niệm bình đẳng giới
Bình đẳng là một khái niệm được tiếp cận từ nhiều ngành khoa học khác nhau Trong khoa học pháp lý, bình đẳng được quan niệm là một trạng thái pháp lý được pháp luật xác lập, giữa các chủ thể có sự ngang bằng về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm mà không phụ thuộc vào sự khác biệt của các chủ thể đó Một trong các quyền bình đẳng quan trọng nhất là quyền bình đẳng giữa nam và nữ
Trang 2822
Bình đẳng nam –nữ là vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm sâu sắc của các quốc gia và của cộng đồng quốc tế Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy, tiến bộ xã hội sẽ chậm lại nếu trong xã hội có một bộ phận đông người
có quyền bị hạn chế hoặc loại trừ.Tác động tiêu cực đối với bộ phận đó sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến toàn xã hội Như vậy, việc đối xử không bình đẳng đối với phụ nữ không chỉ làm giảm thiểu sự đóng góp của phụ nữ vào sự phát triển của xã hội mà còn ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống gia đình cũng như việc chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển của thế hệ sau
Có thể nói, quyền bình đẳng nam- nữ từ lâu đã được các nhà khoa học, các nhà hoạt động chính trị- xã hội nghiên cứu; được các tổ chức quốc tế thừa nhận trong các văn kiện quan trọng ngay khi mới thành lập Cùng với sự phát triển theo thời gian, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được xác định trong nội hàm của khái niệm “bình đẳng giới”
Luật bình đẳng giới đưa ra khái niệm về bình đẳng giới: “ Bình đẳng
giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”[47.tr.6]
Nội dung bình đẳng giới được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, bình đẳng về vị trí, vai trò của nữ giới và nam giới trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Thứ hai, bình đẳng về cơ hội phát huy năng lực
Thứ ba, bình đẳng trong việc ra quyết định
Thứ tư, bình đẳng trong thụ hưởng lợi ích của sự phát triển
Ý nghĩa sâu xa của bình đẳng giới không chỉ là tạo cơ hội cho phụ nữ được hội nhập đầy đủ vào đời sống xã hội vì lợi ích của bản thân họ mà còn là điều kiện cho sự phát triển hài hoà của gia đình, sự công bằng, tiến bộ của xã hội và sự đi lên của đất nước Vì vậy, thực hiện tốt quyền phụ nữ và nâng cao
Trang 2923
bình đẳng giới là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia
1.1.2.3 Nội dung bình đẳng giới
Bình đẳng giới là một trong những nội dung quan trọng nhất của mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội Vì vậy, bình đẳng giới đã trở thành một chế định quan trọng và là nguyên tắc Hiến định trong hệ thống pháp luật nước ta;
là cơ sở để thể chế hoá trong các văn bản pháp luật khác nhau, từ cao nhất là Hiến pháp đến các luật chuyên ngành Trong các bản Hiến pháp nước ta qua các thời kỳ lịch sử.[35;36;37;38;39;40] nội dung bình đẳng giới ngày càng được mở rộng một cách toàn diện hơn và được cụ thể hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật dưới Hiến pháp như: Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, luật Bình đẳng giới và hàng trăm văn bản khác Vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa quan trọng khi nước ta đang bước vào quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp hệ thống các quy phạm pháp luật bình đẳng giới thì pháp luật bình đẳng giới gồm những nội dung sau
* Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị- xã hội
Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước…”; “ Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, công khai minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân ( điều 28 Hiến pháp năm 2013) “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” ( theo Điều 28 Hiến pháp năm 2013)[41]
Trang 3024
Nội dung này được cụ thể hoá tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 11- Luật Bình đẳng giới: Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý Nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng
cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp; nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của
cơ quan, tổ chức Khoản 5- Điều 11 cũng nêu ra 2 biện pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: (a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng
nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; (b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan Nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
Pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị còn được quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 1997
và 2001)[42]; Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2003; Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (nay là luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010) và các văn bản pháp luật khác…
Pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị có một số điểm mới đáng chú ý : Thứ nhất là, quy định rõ cơ cấu nữ đại biểu dân cử trong luật:
“ Số đại biểu Quốc hội là phụ nữ do UBTVQH dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch BCHTW Hội LHPN Việt nam, bảo đảm để phụ nữ có
số đại biểu thích đáng”; “ Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu HĐND được bầu… trong đó bảo đảm số lượng thích đáng đại biểu HĐND là phụ nữ” Thứ hai là, quy định rõ nguyên tắc “ thực hiện bình đẳng giới”, không phân biệt đối xử trong công tác sử
Trang 3125
dụng và quản lý cán bộ Thứ ba là, quy định rõ các hành vi, vi phạm pháp luật
về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị: Cản trở việc nam hoặc nữ tự ứng
cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, vào các cơ quan tổ chức vì định kiến giới; không thực hiện hoặc cản trở việc bổ nhiệm nam, nữ vào cương vị lãnh đạo, quản lý hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới; đặt ra và thực hiện quy định có sự phân biệt đối xử về giới trong các hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc trong quy định quy chế của cơ quan, tổ chức
* Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế
Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (điều 33 Hiến pháp năm 2013); Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế được cụ thể hoá ở nhiều văn bản pháp luật có liên quan Điều 12- Luật Bình đẳng giới nêu rõ: “Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động”[41] Khoản 2 điều này nêu ra hai biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm: (a) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật; (b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật
* Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động
Nguyên tắc bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động được thể hiện cụ thể trong Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới và Bộ luật Lao động
Điều 26 - Hiến pháp 2013 quy định: “Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản, phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ
Trang 3226
trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ về mọi mặt thực hiện tất cả các thiên chức, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội Nhà nước chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ
và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ”[41]
Luật Bình đẳng giới tại Điều 13 cũng nêu rõ: “ Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc
về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác; nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh”[47] Điều này cũng đề cập đến ba biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động gồm: (a) quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động; (b) đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ; (c) người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề độc hại, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại
Bộ luật Lao động dành riêng chương X: “ Những quy định riêng đối với lao động nữ” nhằm bảo vệ người lao động nữ
Những quy định của pháp luật về bình đẳng nam, nữ trong lĩnh vực lao động có một số điểm đáng chú ý: quy định cụ thể quyền của lao động nữ kể
cả đối với nữ cán bộ, công chức( như quyền được hưởng chế độ thai sản, được nghỉ trước và sau khi sinh con…) nhằm bảo vệ thiên chức làm mẹ của người phụ nữ; quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước ( như bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới; các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm mở nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ
Trang 3327
phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ…); quy định rõ các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, ví dụ như từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ…
* Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá- xã hội
Quyền bình đẳng của nữ giới trong lĩnh vực văn hoá- xã hội bao gồm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao và lĩnh vực y tế Quyền được học tập, được nghiên cứu khoa học, được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ và quyền bình đẳng trước pháp luật là những quyền cơ bản của công dân được xác định
rõ trong Hiến pháp; các văn bản pháp luật chuyên ngành như: Luật Bình đẳng giới, Luật Giáo dục năm 1998 ( sửa đổi, bổ sung năm 2005), Luật Khoa học
và công nghệ năm 2000, Luật Di sản văn hoá năm 2001, Luật Thể dục thể thao năm 2006, Luật Dược năm 2005, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009
và trong nhiều VBQPPL khác…
Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập( Điều 39)[41] mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó( Điều 40)” Hiến pháp 2013 đã xác định chỉ có “ Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí” và “ Công dân có quyền học văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức ” ngoài việc học nghề và học văn hóa ở các trường Nhà nước, công dân có thể học văn hóa, học nghề ở các trường Dân lập, các trường bán công…Trong lĩnh vực y tế, Hiến pháp năm 2013 qui định: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các qui định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh ( Điều 38)”
Trang 3428
Những quy định về vấn đề bình đẳng giới trên lĩnh vực văn hoá- xã hội
đã được cụ thể hoá ở các VBQPPL, đặc biệt ở Luật Bình đẳng giới Luật Bình đẳng giới khẳng định: “ Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng; nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo; nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ” (Điều 14); “Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ; nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế” (Điều 15)
“Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao; nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin” (Điều 16); “ Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và
sử dụng các dịch vụ y tế” (Điều 17)
Những quy định trên của pháp luật đã tạo điều kiện, cơ hội cho phụ nữ được học tập nâng cao trình độ, được nghiên cứu và tiếp cận các thành tựu khoa học hiện đại, được hưởng thụ các giá trị văn hoá, được bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
* Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình
Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Nhà nước bảo hộ chế độ hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng… Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con” (Điều 26)[41]Cụ thể hoá quy định này, Điều 18- Luật Bình đẳng giới nêu rõ:
“ Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình; vợ,
Trang 3529
chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp, sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật; con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển”[47]
Những quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình có nhiều điểm mới như: Quy định rõ những nguyên tắc cơ bản của chế
độ hôn nhân và gia đình ( hôn nhân tự nguyện, một vợ một chồng, không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái…); quy định quyền bình đẳng của vợ, chồng ( vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình…)
Như vậy, vấn đề bình đẳng giới có cơ sở pháp lý khá đầy đủ và toàn diện, từ việc xác lập, ghi nhận đến việc bảo vệ, bảo đảm bằng pháp luật có thể nói, pháp luật Việt Nam có những quy định riêng nhưng đồng thời cũng rất hài hoà với pháp luật quốc tế trong việc khẳng định quyền bình đẳng của phụ nữ; đây là quyền quan trọng cần được bảo vệ trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử với trách nhiệm tích cực của quốc gia và cả cộng đồng quốc
tế vì dân chủ và sự tiến bộ của phụ nữ
1.2 Quan niệm, khái niệm công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
1.2.1 Chủ thể, đối tượng, nội dung vận động
Chủ thể làm công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới phong phú và đa dạng, bao gồm: Cơ quan Đảng, cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị
vũ trang nhân dân, gia đình và công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài
cư trú tại Việt Nam cũng là chủ thể vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới
Trang 3630
( gọi chung là cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân) Mỗi chủ thể có trách nhiệm riêng trong việc vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới, cụ thể là:
* Chủ thể là cơ quan Nhà nước:Có trách nhiệm là người thiết lập, tổ
chức thực hiện và bảo hộ các quyền bình đẳng của nam, nữ theo nguyên tắc bình đẳng giới
* Chủ thể là các tổ chức: Có trách nhiệm tham gia xây dựng chính
sách, pháp luật và tham gia quản lý Nhà nước về bình đẳng giới theo quy định của pháp luật; bảo đảm bình đẳng giới trong nội bộ tổ chức; tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới; tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên tổ chức mình thực hiện bình đẳng giới
Trong các tổ chức, Hội LHPN Việt Nam với chức năng tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; có vai trò đặc biệt quan trọng trong tham mưu, đề xuất cũng như tổ chức, vận động, thuyết phục hội viên thực hiện bình đẳng giới, tham gia phản biện xã hội về bình đẳng giới Hội LHPN phải là nòng cốt, chủ động trong việc làm cho toàn xã hội có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của phụ nữ và quyền bình đẳng giới đặc biệt trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay ; trên cơ sở đó, mọi chủ thể thực hiện đúng và đầy đủ pháp luật về bình đẳng giới
* Chủ thể là mỗi gia đình: có trách nhiệm tích cực trong việc giáo dục,
nâng cao nhận thức và thực hiện bình đẳng giới cho các thành viên của gia đình ngay trong các mối quan hệ ( vợ- chồng, bố, mẹ-các con, ông, bà- các cháu, anh chị em ruột, họ hàng…)
*Chủ thể là cá nhân công dân: Có vai trò quyết định trong việc thực
hiện bình đẳng giới Để đạt được bình đẳng giới thực sự, một yếu tố rất quan trọng là bản thân người phụ nữ phải xoá bỏ tâm lý tự ti, an phận; nỗ lực học tập, làm việc; tự giác vươn lên, mạnh dạn tham gia các hoạt động của cộng
Trang 3731 đồng Chỉ khi nào người phụ nữ nhận thức đúng đắn và đầy đủ giá trị của mình trong gia đình và ngoài xã hội thì khi đó, bình đẳng giới mới được bảo đảm triệt để
1.2.2 Bộ máy công tác
Ngày 04 tháng 6 năm 2008 Chính phủ ban hành Nghị định số 70/2008/NĐ-CP qui định chi tiết một số điều của Luật bình đẳng giới về trách nhiệm quản lý Nhà nước về bình đẳng giới và phối hợp thực hiện quản lý Nhà nước về bình đẳng giới Trong đó yêu cầu phải xây dựng bộ máy, đội ngũ cán
bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ như sau:
- Bố trí cán bộ thực hiện công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; xây dựng, thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, cộng tác viên có đủ năng lực, điều kiện thực thi các hoạt động bình đẳng giới
và vì sự tiến bộ của phụ nữ
- Rà soát, đánh giá hoạt động của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ theo Chỉ thị
số 27/2004/CT-TTg ngày 15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; trên cơ sở đó nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị các giải pháp kiện toàn nhằm thực hiện có hiệu quả, thiết thực Nghị quyết 11- NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước và Luật Bình đẳng giới
- Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: xây dựng, tổ chức,
bố trí cán bộ cho ngành lao động- thương binh và xã hội đảm bảo đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về bình đẳng giới theo qui định tại Nghị định 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 2 năm 2008 của Chính phủ qui định
tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 2 năm 2008
Trang 3832
qui định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Thông tư số 10/2008/ TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 10 tháng 7 năm 2008 của Bộ Lao động- Thương binh
và xã hội, Bộ nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý Nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp xã về lao động, người
có công và xã hội
1.2.3 Nội dung công tác vận động phụ nữ thực hiện bình đẳng giới
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của các cấp ủy đảng, chính
quyền các cấp đối với công tác bình đẳng giới Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bình đẳng giới Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào dự thảo văn bản qui phạm pháp luật được xác định có nội dung liên quan đến bình đẳng giới hoặc có vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới Thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch hoạt động của các Bộ, ngành; Trong xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương Tăng cường kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện có hiệu quả công tác bình đẳng giới
- Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân
- Xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới hai giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020 nhằm hỗ trợ các Bộ, ngành, địa phương giải quyết những vấn đề trọng tâm của công tác bình đẳng giới
Trang 39- Tăng cường công tác nghiên cứu về bình đẳng giới trên các lĩnh vực Xây dựng cơ sở dữ liệu về bình đẳng giới phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách về bình đẳng giới Xây dựng Bộ chỉ số giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Luật bình đẳng giới
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế đa phương, song phương về bình đẳng giới
1.2.4 Phương thức công tác
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam thực hiện tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia quản lý Nhà nước về bình đẳng giới theo qui định của pháp luật; Đảm bảo bình đẳng giới trong tổ chức; Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới; Tuyên truyền, vận động Nhân dân, hội viên, đoàn viên thực hiện bình đẳng giới
Tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; Phụ nữ đủ tiêu chuẩn tham gia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị
Trang 4034
Thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái theo qui định của pháp luật; Thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách pháp luật về bình đẳng giới
1.2.5 Tiêu chí đánh giá công tác vận động thực hiện bình đẳng giới:
Đến năm 2020 đảm bảo bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội,
sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước
Các tiêu chí cụ thể:
1 Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị
2 Giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm;
Tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động
3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
4 Đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
5 Đảm bảo bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa thông tin
6 Đảm bảo bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới
7 Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bình đẳng giới
1.3 Vận động thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam qua các giai
đoạn cách mạng
1.3.1.Trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc
Việt Nam có lịch sử về Bình đẳng giới một phần là kết quả của truyền thống mẫu quyền cổ xưa Tuy nhiên do bị chế độ phong kiến Trung Quốc đô
hộ trong nhiều thế kỷ, đạo Khổng Tử được truyền bá vào Việt Nam, quyền