Tiếp đến Đại hội VII, tư duy về hội nhập quốc tế tiếp tục được Đảng ta khẳng định, đó là, “cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRỊNH XUÂN TRƯỜNG
HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
TỪ ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ IX ĐẾN NAY
Trang 2Hà Nội, Ngày 12 tháng 01 năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS Lưu Văn An
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Huy Kỳ Các số liệu, thông tin trong luận văn là khoa học và đáng tin cậy Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trịnh Xuân Trường
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 9
1.1 Một số vấn đề lý luận 9
1.2 Một số vấn đề thực tiễn 22
Chương 2: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TỪ ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ IX ĐẾN NAY (2017) 41
2.1 Những thành tựu và nguyên nhân 41
2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 74
Chương 3: DỰ BÁO TRIỂN VỌNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 87
3.1 Dự báo, triển vọng về hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới 87
3.2 Một số kiến nghị 96
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chặng đường gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ
1986 đến nay là một quá trình đồng hành đầy thử thách, khó khăn Những thành công đạt được có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề và động lực để Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn Ngày nay, quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn dưới sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó kinh tế thị trường và sự phát triển của khoa học công nghệ là động lực hàng đầu Hội nhập quốc tế đã, đang là một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia
Đại hội VI (1986) của Đảng đã mở đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước Cũng chính từ Đại hội VI, bước đầu nhận thức về hội nhập quốc tế
của Đảng ta được hình thành Đảng cho rằng, “muốn kết hợp sức mạnh với
dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế” và “quá trình quốc tế hóa các lực lượng sản xuất” [1, tr.81]
Tiếp đến Đại hội VII, tư duy về hội nhập quốc tế tiếp tục được Đảng ta khẳng
định, đó là, “cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức
tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp”[2, tr.88]
Tại Đại hội VIII (1996), lần đầu tiên thuật ngữ “Hội nhập” chính thức
được đề cập trong Văn kiện của Đảng, đó là: “Xây dựng một nền kinh tế mở,
hội nhập với khu vực và thế giới”[3, tr84-85] Tiếp theo đến Đại hội IX, tư
duy về hội nhập được Đảng chỉ rõ và nhấn mạnh hơn “Gắn chặt việc xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”[4,
tr.166] Đến Đại hội X, tinh thần hội nhập từ “Chủ động” được Đảng ta phát
triển và nâng lên một bước cao hơn, đó là “Chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”[6,
Trang 6tr.112] Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tư duy nhận thức của Đảng
về hội nhập đã có một bước phát triển toàn diện hơn, đó là từ “Hội nhập kinh
tế quốc tế” trong các kỳ Đại hội trước chuyển thành “Hội nhập quốc tế” Khẳng định và làm sâu sắc hơn tinh thần này, ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW “Về hội nhập quốc tế”, qua Nghị quyết cho thấy nhận thức của Đảng và hội nhập quốc tế đã có một quá trình phát triển ngày một sâu sắc, toàn diện hơn Với tầm quan trọng của hội nhập quốc tế, vấn đề này cũng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp (năm 2013) của Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn bao giờ hết Tuy nhiên, tình hình thế giới lại đang ngày càng chuyển biến hết sức nhanh chóng, phức tạp; quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tạo ra cả những cơ hội và thách thức mới; các thế lực chống đối ra sức thông qua hoạt động đối ngoại để can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước ta Trước tình hình và nhiệm vụ đối ngoại của giai đoạn mới, chúng ta cần tiếp tục đổi mới, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế của mỗi cơ quan, tổ chức và mỗi người dân trong công tác này Đồng thời, việc xác định đúng ý nghĩa, bản chất, nội hàm, xu hướng vận động cũng như hệ lụy của hội nhập quốc tế là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, chính sách và các biện pháp cụ thể của nước ta trong quá trình hội nhập
để tiếp tục chủ động, tích cực, đạt được những thành tực mới, vững chắc hơn trong thời gian tới
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi lựa chọn vấn đề “Hội nhập quốc tế
của Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đến nay” làm đề tài
cho luận văn Thạc sĩ Chính trị học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế của Việt Nam, bắt đầu từ thời
kỳ đổi mới đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều học giả thông
Trang 7qua nhiều công trình được đăng tải trên sách báo, các tạp chí chuyên ngành… Nhìn chung, với số lượng lớn và nội dung phong phú, tất cả các công trình, bài viết đã phác họa được một cách tổng quát chính sách đối ngoại và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ năm 1986 dến nay Đây thực sự là những tài liệu hết sức quan trọng, hữu ích để tác giả có thể khai thác, kế thừa
và tham khảo trong quá trình nghiên cứu về nội dung của đề tài Tựu trung nổi lên 3 vấn đề nghiên cứu:
Nhóm vấn đề thứ nhất, gồm những bài viết về toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã luận giải những quan điểm tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta về các vấn đề này: “Toàn cầu hóa với độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội” của tác giả Nguyễn Đức Bình (Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 1/2001);
“Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Phú Trọng (Tạp chí Cộng sản, số 2/2001); “Toàn cầu hóa
và chủ nghĩa dân tộc kinh tế” của tác giả Đỗ Trọng Bá (Tạp chí Cộng sản, số
39/2003); “Quá trình hình thành quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền
kinh tế độc lập, tự chủ” của tác giả Nguyễn Thùy Anh (Tạp chí Cộng sản, số
42/2003); “Về mối quan hệ giữa toàn cầu hóa, nhà nước, dân tộc và chủ
quyền quốc gia” của tác giả Phạm Thái Việt (Tạp chí Thông tin khoa học xã
hội, số 6/2006); “Vấn đề chiến tranh và hòa bình trong quá trình hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế” của tác giả Nguyễn Đình Luân (Tạp chí Nghiên cứu
quốc tế, số 86 - 9/2011); “Độc lập tự chủ về đối ngoại của Việt Nam trong hội
nhập quốc tế hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Quang (Tạp chí Nghiên cứu
Châu Âu, số 4/2012); “Bàn thêm về khái niệm và nội hàm hội nhập quốc tế
của Việt Nam trong giai đoạn mới” của tác giả Đặng Đình Quý (Tạp chí
Nghiên cứu quốc tế, số 91 - 12/2012);…
Ở nước ngoài là các công trình: Toàn cầu hóa với thế giới thứ ba của
tác giả Lý Thận Minh (2000); Chiếc Lexus và Cây ôliu của Nhà báo nổi tiếng người Mỹ Thomas Friedman (2005);
Trang 8Hầu hết các công trình nghiên cứu đó đã cung cấp những cái nhìn đa chiều về toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Về mặt định nghĩa có thể chưa tương đồng nhưng các tác giả lại tương đối nhất quán trong quan niệm về các đặc trưng, nguồn gốc và nội dung của quá trình này Các tác giả đều thừa nhận toàn cầu hóa mà hạt nhân là toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế, trong đó đề cập hội nhập kinh tế quốc tế là cơ bản nhất, đã trở thành xu thế chung của thời đại, đang tác động mạnh mẽ và làm biến đổi căn bản đời sống của các quốc gia
Nhóm vấn đề thứ hai: Các luận án tiến sĩ, các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo liên quan đến hội nhập quốc tế như: Bộ
Ngoại giao - Vụ Hợp tác kinh tế đa phương xuất bản cuốn “Việt Nam hội
nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp” (Nxb Chính trị
quốc gia, H.2002); Phí Như Chanh, Phạm Xuân Thâu, Phạm Văn Linh (Chủ
biên) cuốn “Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới” (Nxb Chính trị quốc gia, H.2005); Nguyễn Chí Bền (Chủ biên) cuốn “Văn hóa Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (Nxb Chính trị quốc gia, H.2010); Nguyễn
Phú Trọng (Chủ biên) cuốn “Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt
trong quá trình đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” (Nxb Chính trị
quốc gia, H.2011);… Đây là những công trình có hệ thống, hàm chứa những kiến thức lý luận, thực tiễn mang tính tổng kết sâu sắc
Hầu hết các tác giả đều thống nhất với nhau khi cho rằng, toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế là các quá trình phức tạp đầy mâu thuẫn, mang đến cả cơ hội và thách thức cho các quốc gia, dân tộc Các tác giả đều khẳng định, các nước để khỏi bị gạt ra ngoài quỹ đạo của sự phát triển thì cần chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế Mỗi nước căn cứ theo khả năng, điều kiện thực tế và mục tiêu phát triển của mình mà đề ra chủ trương, chính sách hội nhập phù hợp nhằm tranh thủ các tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, chuyển hóa thách thức thành cơ hội, chuyển hóa cơ hội thành hiện thực
Trang 9Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập sâu và có hệ thống về những cơ hội và thách thức trong hội nhập quốc tế Về cơ bản tôi kế thừa và phát triển những kết luận của các công trình khi thực hiện luận văn
Nhóm vấn đề thứ ba: các công trình nghiên cứu liên quan đến nhà nước, vai trò nhà nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Các công trình nghiên cứu đã đề cập tương đối sâu sắc và toàn diện đến những tác động - chủ yếu là tiêu cực của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đến nhà nước, vai trò của nhà nước dân tộc Đó cũng là những thách thức của các nước, nhất là các nước đang phát triển phải đối mặt và giải quyết thấu đáo
Điển hình như: “Nhà nước với phát triển kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn
cầu hóa” của tác giả Nguyễn Thị Luyến (Chủ biên, 2005); “Vai trò của nhà nước đối với hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” của tác giả Mai Lan
Hương; “Toàn cầu hóa và sự tồn vong của nhà nước” của tác giả Nguyễn Vân Nam (2006); “Vai trò, chức năng và hiệu lực của Nhà nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Bùi Xuân Đức; “Toàn cầu hoá: Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn hóa” của tác giả Phạm Thái Việt (2008);
“Về xu thế toàn cầu hóa/khu vực hóa: Tiến trình phát triển, yếu tố quyết định
và cơ hội, thách thức” của tác giả Phạm Quốc Trụ, …
Về cơ bản, các tác giả đều khẳng định một số quyền lực nhà nước có thể bị xói mòn nhưng vai trò của nhà nước trong hội nhập quốc tế là không thể mất đi, và vai trò đó vẫn là yếu tố mang tính quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Trong bối cảnh của Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, vai trò của Nhà nước đã được phát huy mạnh mẽ, tạo ra sự đổi thay to lớn trong toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Tuy nhiên, các tác giả cũng cho rằng, dưới tác động đa chiều của hội nhập quốc tế, cần tăng cường hơn nữa vai trò tổ chức và quản lý của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về vai trò của Nhà nước Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hội nhập kinh tế quốc
Trang 10tế nói riêng nêu trên chủ yếu vẫn từ góc độ kinh tế học Hơn nữa các tác giả chưa đi sâu vào vai trò của Nhà nước trong giải quyết các cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế cũng như quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội đặt
ra trong quá trình này Đồng thời chưa đưa ra được các dự báo và xu thế, biến động của tình hình thế giới, chưa đặt ra được vấn đề ảnh hưởng, tác động đến quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Như vậy, từ tổng quan tình hình nghiên cứu về việc giải quyết cơ hội, thách thức của hội nhập quốc tế ở Việt Nam và những vấn đề liên quan, đã giúp tôi xác định những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu của luận văn, tập trung vào
nghiên cứu đề tài: “Hội nhập quốc tế của Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX đến nay” Đây là nội dung cho đến nay, chưa có tác giả hoặc công
trình nào nghiên cứu kỹ, nội dung được phát triển trên cơ sở lý luận và kết quả thực tiễn do Đảng ta lãnh đạo, đồng thời, nghiên cứu đưa ra được những dự báo
và triển vọng hội nhập quốc tế của Việt Nam trong tương lai
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn, khảo sát thực trạng hội nhập quốc tế của Việt Nam từ Đại hội IX đến nay tác giả dự báo tình hình triển vọng và đề xuất kiến nghị nhằm đẩy mạnh hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quan hệ quốc tế và hội nhập quốc tế, khẳng định vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo quá trình hội nhập quốc tế của đất nước
- Đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đến nay
- Dự báo tình hình thế giới và triển vọng hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hội nhập quốc tế của Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đến nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: từ năm 2001 đến nay (từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX)
- Không gian: Nghiên cứu về quan điểm, chính sách hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác hội nhập quốc tế, về toàn cầu hóa; những nguyên lý cơ bản của triết học Mác - Lênin về mối liên hệ phổ biến
và sự phát triển
Ngoài ra, Luận văn còn kế thừa kết quả của một số công trình nghiên cứu khoa học, các tác phẩm chuyên khảo về bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, v.v…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, sử dụng rộng rãi các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê; kết hợp chặt chẽ giữa lôgíc và lịch sử, lý luận và thực tiễn; coi trọng tổng kết thực tiễn và một số phương pháp khác để giải quyết những vấn đề khoa học đặt ra
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Một là, hệ thống hóa quan điểm, đường lối hội nhập quốc tế của Việt Nam và đưa ra dự báo, đánh giá tác động của tình hình thế giới đối với quá trình hội nhập tiếp theo của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Hai là, làm rõ thêm khái niệm Hội nhập quốc tế
Ba là, đánh giá thực trạng hội nhập quốc tế để từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng công tác hội nhập quốc tế trong tình hình mới
Trang 12Bốn là, nếu những giải pháp của luận văn này được áp dụng trong thực
tế, hoạt động hội nhập quốc tế của đất nước sẽ đạt thêm nhiều kết quả và góp phần tích cực vào công tác tổng kết, xây dựng đường lối đối ngoại của Đảng
và Nhà nước
Năm là, kết quả nghiên cứu còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo tốt cho các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý kinh tế, ngoại giao, các doanh nghiệp, trong việc nhận thức và giải quyết cơ hội và thách thức của thực tiễn hội nhập quốc tế nói chung và là nguồn tài liệu cho các lớp tập huấn nghiệp vụ trong lĩnh vực ngoại giao, thương mại, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đặc biệt là trên lĩnh vực chính trị
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc tiếp tục đổi mới tư duy hội nhập quốc tế của Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đến nay Những kiến nghị được đề xuất trong luận văn
sẽ góp phần nhất định vào thúc đẩy sự nghiệp đổi mới nói chung và hội nhập quốc tế nói riêng tiếp tục hoàn thiện, phát triển Luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo đối với những ai quan tâm tìm hiểu về hội nhập quốc tế của Việt Nam
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1.1 Một số vấn đề lý luận
1.1.1 Hội nhập quốc tế - khái niệm, điều kiện, nội dung
- Khái niệm hội nhập quốc tế:
“Hội nhập quốc tế” (International Integration) là một phát triển tất yếu,
do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là một trong những động lực thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế đang trở thành một xu thế lớn của thế giới ngày nay Hội nhập quốc tế là quá trình diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao
Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời vào khoảng thế kỷ XX ở châu
Âu Ở Việt Nam, thuật ngữ “hội nhập quốc tế” bắt đầu sử dụng từ khoảng giữa thập niên 90 của thế kỷ XX cùng với quá trình Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác Từ sau Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụm từ “hội nhập kinh tế quốc tế” được thay bằng
“hội nhập quốc tế” với hàm nghĩa rộng hơn
Trên cơ sở xem xét hội nhập như một quá trình xã hội có nội hàm toàn diện, và thường xuyên vận động hướng tới mục tiêu nhất định, một số học giả cho rằng: “Hội nhập quốc tế là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế” [39]
- Điều kiện hội nhập quốc tế:
Hội nhập quốc tế đang trở thành xu thế chủ đạo trong sự phát triển của thế giới ngay nay Hội nhập quốc tế đã, đang và sẽ chi phối, quyết định toàn
Trang 14bộ các quan hệ quốc tế và làm thay đổi cấu trúc toàn cầu, dù cho thế giới vẫn còn tồn tại những bất đồng và chia rẽ Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế Quá trình xã hội hóa và phân công lao động ở mức cao đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và được quốc tế hóa ngày càng sâu sắc thể hiện ở việc hợp tác ngày càng sâu sắc giữa các quốc gia theo hình thức song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu
Về bản chất, có thể coi hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế Hợp tác quốc tế là quá trình các nước giao lưu hoặc hành động cùng nhau để đạt được một mục tiêu, lợi ích nào đó Có thể chia hợp tác quốc tế thành ba mức độ cơ bản, là: 1- Trao đổi, tham vấn; 2- Phối hợp chính sách, triển khai hoạt động phối hợp và thực hiện các dự án chung; 3- Xây dựng, áp dụng luật lệ, chuẩn mực chung Mức độ thứ 3 là điểm trùng giữa hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế Nói rộng ra, hội nhập quốc tế bao hàm việc chấp nhận, tham gia xây dựng và thực hiện các chuẩn mực quốc
tế, bao gồm: các thể chế, luật lệ, tập quán, nguyên tắc và tiêu chuẩn chung được chấp nhận rộng rãi Các chuẩn mực này có thể được hình thành từ quá trình hợp tác quốc tế, thông qua những hiệp định, thỏa thuận giữa các nhà nước hoặc các chuẩn mực, tập quán được đặt ra bởi các tổ chức, hiệp hội phi chính phủ được những tổ chức, cá nhân trên thế giới chấp nhận rộng rãi
Về mục tiêu, hội nhập quốc tế cũng như các hình thức hợp tác quốc tế khác đều vì lợi ích quốc gia, dân tộc Các nước tham gia quá trình này cơ bản
vì thấy có lợi cho đất nước Do đó, việc tham gia phải dựa theo một số tiêu chí với mức độ và lộ trình phù hợp
Về hình thức, hội nhập quốc tế bao gồm các hoạt động: 1-Thúc đẩy quan hệ song phương dựa trên các chuẩn mực quốc tế chung; 2- Gia nhập các
tổ chức quốc tế, các cơ chế hợp tác quốc tế; 3- Xây dựng các luật lệ và chuẩn mực; 4- Thực hiện các luật lệ, chuẩn mực, các hoạt động chung ở phạm vi quốc tế và quốc gia
Trang 15Về lĩnh vực hội nhập, quá trình hội nhập diễn ra trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, đến các lĩnh vực khác Hội nhập trên các lĩnh vực này có mối liên hệ hữu cơ mật thiết, đan xen, tác động qua lại lẫn nhau Thông thường, kinh tế thường là lĩnh vực đi đầu và là cơ sở vững chắc cho hội nhập trong các lĩnh vực khác Đồng thời, hội nhập trong các lĩnh vực khác cũng tạo ra một môi trường thuận lợi cho hội nhập kinh tế
Về chủ thể, cả nhà nước và các chủ thể phi nhà nước đều tham gia quá trình hội nhập, tạo nên một sự đan xen nhiều cấp độ, tầng nấc trong hội nhập quốc tế Trong các lĩnh vực chính trị và quốc phòng - an ninh, chủ thể chính
là nhà nước và các lực lượng chính trị Tuy nhiên, trong kinh tế, văn hóa, xã hội và nhiều lĩnh vực khác, vai trò của các chủ thể phi nhà nước, như doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, đoàn thể và người dân là rất quan trọng
- Nội dung hội nhập quốc tế:
Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, an ninh-quốc phòng, văn hóa, giáo dục, xã hội, v.v.), nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất , phạm vi và hình thức rất khác nhau
* Hội nhập kinh tế quốc tế:
Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ Tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình
cơ bản từ thấp đến cao như sau:
- Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế
về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức
độ cắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại
Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất
Trang 16- Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Những năm gần đây, phần lớn các hiệp định FTA mới có phạm vi lĩnh vực điều tiết rộng hơn nhiều Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này còn có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Ví dụ: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP- đang đàm phán)
- Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại
bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan
- Thị trường chung (hay thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trước khi trở thành một liên minh kinh tế
- Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối) Ví dụ: EU hiện nay
Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra
Trang 17trong những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh
tế châu Âu đã đồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60-70) Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
Ở giai đoạn thấp của hội nhập chính trị, liên kết giữa các thành viên còn hạn chế và các thành viên vẫn cơ bản giữ thẩm quyền định đoạt chính sách riêng ASEAN hiện nay vẫn đang trong giai đoạn đầu quá trình hội nhập chính trị, nên vẫn còn tồn tại nhiều sự khác biệt và độ tin cậy giữa các thành viên còn hạn chế Về mặt tổ chức quyền lực, ASEAN là một khuôn khổ liên chính phủ Hoàn tất xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột (Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội)
sẽ giúp tăng cường quá trình hội nhập chính trị trong ASEAN, tạo điều kiện
để ASEAN bước tới một giai đoạn hội nhập cao hơn nữa
Giai đoạn hội nhập chính trị cao đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị và độ tin cậy hoàn toàn của các thành viên Về mặt tổ chức quyền lực, các
Trang 18thành viên chỉ giữ lại một số thẩm quyền nhất định ở cấp quốc gia và trao các quyền lực còn lại cho một cơ cấu siêu quốc gia EU hiện nay là một mô hình hội nhập chính trị cao
Thông thường hội nhập chính trị là bước đi sau cùng trên cơ sở các nước liên quan đã đạt đến trình độ hội nhập kinh tế và văn hóa-xã hội rất cao
Sự hình thành Liên bang Hoa Kỳ, Liên bang Canađa trước đây và EU hiện nay cơ bản theo phương thức này Tuy nhiên, trong những bối cảnh nhất định, hội nhập trong lĩnh vực chính trị có thể đi trước một bước để mở đường thúc đẩy hội nhập trong các lĩnh vực khác Trường hợp ASEAN thể hiện khá đặc biệt sự kết hợp nhiều tiến trình hội nhập Trong suốt hơn 2 thập kỷ đầu tồn tại, ASEAN chủ yếu là một cơ chế hợp tác khu vực về chính trị-ngoại giao nhằm đối phó với những thách thức đối với an ninh quốc gia của các thành viên Một số học giả nhìn nhận ASEAN như là một định chế/chế độ quốc tế (international regime) về chính trị-an ninh ở khu vực Đông Nam Á Nói một cách khác, đây là dạng thức ban đầu của hội nhập chính trị-an ninh Sau giai đoạn khởi đầu chủ yếu bằng hội nhập sơ khai về chính trị-an ninh, từ cuối thập niên 1970 trở đi, ASEAN mới bắt đầu triển khai hợp tác về kinh tế và chỉ
từ gần giữa thập niên 1990, ASEAN mới thực sự bắt đầu tiến trình hội nhập kinh tế Hội nhập văn hóa-xã hội phải đợi đến khi ASEAN thông qua Hiến chương năm 2008 mới được triển khai
* Hội nhập an ninh-quốc phòng:
Hội nhập về an ninh-quốc phòng là sự tham gia của quốc gia vào quá trình gắn kết họ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh Điều này đòi hỏi các nước hội nhập phải tham gia vào các thỏa thuận song phương hay đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia
sẻ và liên kết: mục tiêu chung, đối tượng/kẻ thù chung, tiến hành các hoạt động chung về đảm bảo an ninh-quốc phòng
Có nhiều kiểu liên kết an ninh-quốc phòng khác nhau, trong đó nổi lên những hình thức chủ yếu được nhiều nước sử dụng như sau:
Trang 19- Hiệp ước phòng thủ chung: Đây là hình thức khá phổ biến trong thời
kỳ Chiến tranh lạnh khi mà thế giới được cơ bản chia thành hai hệ thống (gọi
là hệ thống hai cực) giữa một bên là các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo và bên kia là các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu Hàng loạt
tổ chức phòng thủ chung đã được hai phe lập ra để thực hiện các mục tiêu chính trị và an ninh-quốc phòng, chẳng hạn như Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, Tổ chức Hiệp ước Trung tâm, Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, Hiệp ước Liên minh Úc-Niudilân-Mỹ, Tổ chức Hiệp ước Vác-xô-vi[16] Nguyên tắc của các tổ chức phòng thủ chung là: (i) các nước tham gia phải có chung kẻ thù bên ngoài, khi một nước nào đó tấn công một thành viên của khối thì nước đó được coi là kẻ thù của cả khối và tất cả các thành viên cùng hành động chống lại kẻ thù đó; (ii) các thành viên có chính sách phòng thủ chung; (iii) các thành viên cùng đóng góp lực lượng vũ trang tham gia vào lực lượng chung của khối đặt dưới một bộ chỉ huy chung
Đây là phương thức liên kết quân sự rất cao, đòi hỏi các thành viên phải đồng về ý thức hệ và cùng chia sẻ cao về quan điểm, chính sách an ninh-quốc phòng, chiến lược quân sự và có trình độ phát triển kỹ thuật quân sự cũng như năng lực tác chiến không quá chênh lệch Phương thức liên kết này cũng đòi hỏi các thành viên phải chấp nhận chịu sự hạn chế về chủ quyền quốc gia và trao một phần thẩm quyền quốc gia cho một cơ chế chung siêu quốc gia
- Hiệp ước liên minh quân sự song phương: Đây là hình thức cổ điển rất phổ biến trong lịch sử quan hệ quốc tế xưa và nay Phần lớn, nếu như không nói là hầu hết, các nước đều có hiệp ước liên minh với một hoặc một
số nước khác, trong đó có quy định về trợ giúp quân sự trong những tình huống cần thiết Mỹ có hiệp ước liên minh quân sự song phương với Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Philipin Việt Nam cũng đã có Hiệp ước liên minh với Liên Xô cũ, Lào và Campuchia
- Các dàn xếp an ninh tập thể: Đây là hình thức liên kết an ninh dựa trên nguyên tắc các thành viên cam kết không tấn công nhau, nếu có một
Trang 20thành viên vi phạm, sẽ dùng sức mạnh hợp tác của cả khối để ngăn chặn và giúp giải quyết xung đột Hội quốc liên và sau này là Liên Hiệp quốc, Liên đoàn Ả-rập, Tổ chức thống nhất châu Mỹ (OAS), Tổ chức Thống nhất châu phi (AU), Cộng đồng chính trị-an ninh mà ASEAN đang xây dựng là những
mô hình cụ thể của phương thức liên kết an ninh tập thể
Các dàn xếp về an ninh hợp tác là phương thức liên kết an ninh-quốc phòng lỏng lẻo hơn cả, dựa trên nguyên tắc lấy hợp tác trên các lĩnh vực, từ
dễ đến khó, với các hình thức đa dạng như đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa… để xây dựng thói quen hợp tác và sự phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, từ đó có thể hạn chế khả năng xảy ra xung đột giữa các thành viên ASEAN và một loạt cơ chế khu vực liên quan như Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao (PMC), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị cấo cao Đông Á (EAS)… là những
mô hình cụ thể về dạng thức liên kết này
Nhìn chung, hội nhập trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng là tiến trình khó khăn hơn cả, vì nó liên quan trực tiếp tới những vấn đề nhạy cảm nhất- cốt lõi tồn tại của quốc gia, đó là hòa bình, độc lập và chủ quyền
* Hội nhập về khoa học - công nghệ, văn hóa-xã hội:
Các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, có khả năng tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới sẽ góp phần nâng cao năng lực, trình
độ của đội ngũ những người làm khoa học hiện có và phát triển đội ngũ các nhà khoa học công nghệ trẻ kế tục sự nghiệp phát triển nền khoa học và công nghệ quốc gia ngày càng hiện đại hơn
Hội nhập về văn hóa-xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa-giáo dục và xã
Trang 21hội khu vực và hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóa-xã hội rộng lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham gia Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác-phát triển văn hóa-giáo dục-
xã hội với các nước
Hội nhập văn hóa-xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sâu sắc quá trình hội nhập, thực sự gắn kết các nước với nhau bằng chất keo bền vững hơn cả Quá trình này giúp các dân tộc ở các quốc gia khác nhau ngày càng gần gũi và chia sẻ với nhau nhiều hơn về các giá trị, phương thức tư duy
và hành động; tạo ra sự hài hòa và thống nhất ngày càng cao hơn giữa các chính sách xã hội của các nước thành viên; đồng thời tạo điều kiện để người dân mỗi nước được thụ hưởng tốt hơn các giá trị văn hóa của nhân loại, các phúc lợi xã hội đa dạng; đặc biệt, hình thành và củng cố tình cảm gắn bó thuộc về một cộng đồng chung rộng lớn hơn quốc gia của riêng mình (ý thức công dân khu vực/toàn cầu)
1.1.2 Quan điểm của Đảng về hội nhập quốc tế
Ngay từ rất sớm, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm đưa
sự nghiệp phát triển đất nước hoà vào trào lưu phát triển chung của thế giới Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong đường lối quốc tế của mình Cũng chính vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau đã luôn giành được sự đồng tình, ủng hộ, sự giúp đỡ rộng rãi của nhân dân tiến bộ trên thế giới
Tư tưởng mở cửa đối ngoại, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới của Đảng đã được thể hiện rõ nét trong các văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi Tổng Thư ký Liên Hợp quốc (12/1946), đã long trọng tuyên bố: “Việt Nam
Trang 22sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực” Đồng thời, Người tuyên bố “Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam”, “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước dân chủ, không gây thù oán với ai” Để đảm bảo thực thi điều đó, Người khẳng định: “Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp quốc” [12, tr.523] Đây là những tư tưởng quan trọng đặt cơ sở cho sự hình thành chủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung của nước ta sau này Song, trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam đã không thể thực hiện một cách đầy đủ công cuộc hội nhập quốc tế theo những tư tưởng nêu trên
Sau khi thống nhất đất nước, Đại hội IV của Đảng ta (1976) đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội Đại hội khẳng định phải kết hợp phát triển kinh tế trong nước với
mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài Theo đó, Việt Nam đã tích cực phát triển quan hệ và tham gia vào các cơ chế hợp tác của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế Sự phát triển quan hệ hợp tác kinh tế với các nước XHCN mặc dù còn mang nặng tính bao cấp nhưng đã góp phần rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Mặt khác, Việt Nam cũng từng bước cải thiện quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi Tuy nhiên, quá trình hợp tác quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh lạnh do chịu sự chi phối của cuộc đối đầu Đông - Tây, đặc biệt là nhân tố ý thức hệ tư tưởng, nên còn những hạn chế nhất định, chưa đạt tới hiệu quả như mong muốn
Trang 23Bước vào thời kỳ đổi mới, đứng trước yêu cầu cấp bách phải nhanh chóng vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, phá thế bao vây cấm vận của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực thù địch, đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, trước hết trong lĩnh vực kinh tế ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, đồng thời được thực hiện tích cực hơn
Đại hội VI của Đảng (1986) mở ra bước ngoặt trong tư duy và thực tiễn hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta Đại hội chỉ rõ: “Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết và chủ yếu là với Liên Xô, Lào và Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi” Nghị quyết Đại hội cũng xác định nội dung chính của chính sách kinh tế đối ngoại trước hết bao gồm: đẩy mạnh xuất nhập khẩu, tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn, khuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài Theo hướng này, Luật Đầu tư nước ngoài được thông qua (1987), tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, phục vụ phát triển kinh tế, khai thác những tiềm năng nội lực của đất nước
Đại hội VII của Đảng (1991) tuyên bố đường lối đối ngoại rộng mở:
“Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, mở ra bước đột phá trong quá trình hội nhập quốc tế Đại hội xác định nguyên tắc cơ bản trong hội nhập kinh tế quốc
tế là: “mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi” [2]
Chủ trương hội nhập quốc tế trước hết về kinh tế của Đảng tiếp tục được Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị bổ sung, làm rõ và cụ thể hơn Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Ba (khoá VII) ngày 29/6/1992 nhấn mạnh chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, trong đó “cố
Trang 24gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB), mở rộng quan hệ với các tổ chức hợp tác khu vực, trước hết ở châu
Á - Thái Bình Dương” Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 1005 CV/VPTW (22/11/1994) giao cho Chính phủ soạn thảo và gửi đơn xin gia nhập WTO Theo Quyết định của Bộ Chính trị (số 493 CV/VPTW ngày 14/6/1996), Việt Nam đã gửi đơn xin gia nhập Diễn đàn APEC
Đại hội VIII của Đảng (1996) trong khi nêu rõ đường lối đối ngoại:
“Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển” đã đưa ra chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Đại hội nhấn mạnh phải mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi Tiếp đó, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 01/NQ-TƯ (18/11/1996,) “Về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5 năm 1996 - 2000”, xác định nhiệm vụ, phương hướng, giải pháp, cơ chế, chính sách chủ yếu để phát triển kinh tế đối ngoại
Bước vào thế kỷ mới, Đại hội IX (4/2001) của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [4] Đại hội xác định độc lập tự chủ là cơ sở để thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, không chỉ “sẵn sàng là bạn” mà còn sẵn sàng “là đối tác tin cậy của các nước”
và “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Đây là sự phản ánh một nấc thang cao hơn trong nhận thức và tư duy về đối ngoại nói chung và về hội nhập quốc tế nói riêng của Đảng trong thời kỳ đổi mới Nhằm cụ thể hoá đường lối
“Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết
Trang 2507-NQ/TW (27/11/2001) về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó làm rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nội dung và nhiệm vụ cụ thể của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế [5]
Chủ trương hội nhập quốc tế tiếp tục được hoàn thiện thêm tại Đại hội
X của Đảng (4/2006) Cùng với việc nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, Đại hội khẳng định quan điểm: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội nêu 5 bài học lớn, trong đó bài học thứ 3 là bài học về hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Theo đó, hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu khách quan; phải chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vững chắc, không do dự chần chừ, nhưng cũng không được nóng vội, giản đơn
Đại hội XI của Đảng (01/2011) đánh dấu bước phát triển mới trong chủ trương hội nhập quốc tế với sự khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” [7] Chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” được Đại hội nêu ra thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng Từ “hội nhập kinh tế quốc tế” của các kỳ Đại hội trước, chuyển sang
“hội nhập quốc tế” một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta tại Đại hội XI Đây không chỉ là sự chủ động, tích cực hội nhập riêng ở lĩnh vực kinh tế và một số lĩnh vực khác, mà là sự tích cực
mở rộng hội nhập với quy mô toàn diện, trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh Bước phát triển này trong nhận thức
và tư duy đối ngoại của Đảng, phản ánh những nhu cầu cấp thiết đối với sự
Trang 26nghiệp cách mạng nước ta trong bối cảnh quốc tế mới Trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, của toàn xã hội Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa
có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể Cần kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước
Ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW
về hội nhập quốc tế Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm
rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (01/2016), Đảng ta đã định ra đường lối mới, kế thừa những nội dung cơ bản của đường lối đối ngoại được thông qua tại các kỳ đại hội trước, đặc biệt là Đại hội XI, và có những bổ sung, phát triển mới, đặc biệt trong việc làm rõ hơn và phát triển mục tiêu đối ngoại từ “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” thành “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”
1.2 Một số vấn đề thực tiễn
1.2.1 Thực tiễn hội nhập quốc tế của Việt Nam trước năm 2001
Hiện nay Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc
và toàn diện hơn bao giờ hết Tính đến năm 2011, chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với 179 quốc gia, có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn
220 quốc gia và vùng lãnh thổ Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã đưa quá trình hội nhập của đất nước từ cấp độ khu vực (ASEAN năm 1995) và liên khu vực (ASEM năm 1996, APEC năm
Trang 271998) lên đến cấp độ toàn cầu Việt Nam đã đảm nhận thành công vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an, cơ quan quyền lực hàng đầu của Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2008 - 2009 Việt Nam cũng đảm nhận thành công vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm ASEAN 2010 Chặng đường hơn 25 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là một quá trình nỗ lực bền bỉ của đất nước
Mười năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam phải đối mặt trước những khó khăn thử thách hết sức nghiêm trọng: nền kinh tế - xã hội lâm vào khủng hoảng gay gắt, an ninh quốc gia bị đe dọa bởi tình trạng vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, các thế lực đế quốc thù địch xiết chặt bao vây cấm vận, quan hệ đối ngoại bị thu hẹp Bởi vậy, bước vào thời kỳ đổi mới (1986), Việt Nam đứng trước đòi hỏi cấp bách mang ý nghĩa sinh tử là phải tìm cách thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá được thế bị bao vây cô lập
về đối ngoại, tiếp tục phát triển đất nước theo con đường đã lựa chọn
Trong bối cảnh đó, trên phương diện đối ngoại Đảng và Nhà nước Việt Nam nỗ lực đổi mới tư duy, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh về”thêm bạn, bớt thù”, mở rộng và đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, tìm ra khâu đột phá để thoát vòng bao vây cô lập của các thế lực chống đối Sau Đại hội VI, đặc biệt là sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa VI (1989), Việt Nam đã
có những điều chỉnh cơ bản về chính sách đối ngoại Theo đó, cùng với chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, Việt Nam coi trọng cải thiện quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á, tạo môi trường quốc
tế hoà bình, ổn định ở khu vực, thuận lợi cho phát triển đất nước
Nhằm thúc đẩy tiến trình mở rộng quan hệ đối ngoại, Đại hội VI của Đảng nêu chủ trương chiến lược: “mở rộng sự hợp tác và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế”[1] Trên cơ sở đó và trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế sau sự tan rã của Liên Xô, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) chính thức xác định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế
Trang 28Chủ trương chiến lược của Đại hội VII tiếp tục được Đại hội VIII khẳng định, bổ sung và đến Đại hội IX phát triển thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển” Như vậy, quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng đã đưa đến việc xác lập những nội dung, tính chất cơ bản trong đường lối đối ngoại từ “rộng mở”, “là bạn” đến “đa dạng hóa, đa phương hoá quan
hệ quốc tế” và “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy” Đây là sự thể hiện tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược, gắn kết mục tiêu cách mạng và định hướng phát triển đất nước vào những xu thế phát triển của thời đại Với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại như đã nêu, Việt Nam đã từng bước phá được thế bị bao vây cấm vận, hóa giải tương đối thành công những khó khăn, bất cập trong quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, hội nhập ngày càng chủ động, tích cực và sâu rộng với khu vực và thế giới
Củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa ba nước Đông Dương luôn là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung và trong quá trình hội nhập quốc tế nói riêng Với Lào, tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện tiếp tục được củng cố và có nhiều bước phát triển quan trọng Việt Nam triển khai hợp tác một cách toàn diện, giúp bạn phát triển kinh tế - xã hội với hàng loạt các hạng mục kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục - đào tạo góp phần duy trì ổn định chính trị - xã hội, an ninh của Lào Việt Nam một mặt lấy mối quan hệ mật thiết giữa hai đảng làm nòng cốt, mặt khác không ngừng mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế, coi đó là tiền đề vật chất gắn kết hai nước trên cơ sở lâu dài, bền vững Mối quan hệ hợp tác ngày càng tiến triển theo hướng thực chất hơn, phát huy thế mạnh và tiềm năng của mỗi nước, bình đẳng, cùng có lợi, dành sự ưu tiên ưu đãi hợp lý cho nhau, phù hợp với tính chất của quan hệ đặc biệt giữa hai nước Việt Nam là một trong những nước đứng đầu về đầu
tư tại Lào Đến nay, vốn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào đạt
Trang 29trên 3,3 tỷ USD với 203 dự án, cao nhất trong số 55 quốc gia và vùng lãnh thổ được các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư Riêng 8 tháng đầu năm 2011, vốn đầu tư đăng ký của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào đạt 469 triệu USD, cao hơn cả năm 2010
Việt Nam đã kịp thời điều chỉnh quan hệ với Campuchia trên cơ sở mới phù hợp với tình hình đã thay đổi sau khi có giải pháp cho vấn đề Campuchia, phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện, thông qua thương lượng giải quyết những vấn đề còn tồn tại Đến nay, hai nước xác lập phương châm chỉ đạo quan hệ là “Hợp tác láng giềng tốt đẹp, đoàn kết hữu nghị truyền thống, ổn định lâu dài” Hai bên đã ký nhiều hiệp định hợp tác trong các lĩnh vực, trong đó đáng chú ý nhất và quan trọng nhất là việc Campuchia cam kết công nhận và tôn trọng các hiệp ước, hiệp định biên giới đã ký với Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX Hai bên đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, năng lượng - điện, y tế, giao thông vận tải Trao đổi thương mại tiến triển thuận lợi, kim ngạch nhập khẩu của Campuchia từ Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2011 tăng 43% so với cùng kỳ năm ngoái, lên
976 triệu USD Trong khi đó, xuất khẩu của nước này sang thị trường Việt Nam trong cùng kỳ tăng 116%, lên 105,2 triệu USD Việt Nam đứng hàng thứ hai sau Trung Quốc về đầu tư vào Campuchia, với số vốn 156,38 triệu USD, chỉ chiếm 5,2% tổng trị giá đầu tư ở nước này trong 6 tháng đầu năm 2011
Việt Nam đặc biệt coi trọng tiến trình bình thường hóa và phát triển quan hệ với Trung Quốc Sau Đại hội VI, Việt Nam đã xem xét lại toàn bộ mối quan hệ với Trung Quốc, khẳng định rõ Trung Quốc là một nước XHCN, nhân dân Trung Quốc là nhân dân cách mạng và có truyền thống hữu nghị lâu đời với nhân dân Việt Nam Trung Quốc trong tư cách vừa là một nước láng giềng, vừa là một nước lớn, vừa là một nước XHCN được Việt Nam nhận thức có vai trò rất quan trọng đối với hoà bình, ổn định của Việt Nam và của
cả Đông Nam Á, đồng thời cũng thấy rõ vị trí của Việt Nam trong chiến lược của Trung Quốc
Trang 30Với những nỗ lực của cả hai bên, nhất là sự chủ động của Việt Nam, tháng 10/1991 quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước chính thức bình thường hoá Việc bình thường hoá quan hệ Việt - Trung sau hơn mười năm quan hệ không bình thường là một sự kiện rất quan trọng về mặt đảm bảo an ninh quốc gia của Việt Nam cũng như tạo ra môi trường khu vực và quốc tế thuận lợi cho Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác[5] Kể từ sau bình thường hóa, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh và toàn diện Khuôn khổ quan hệ hai nước được chính thức xác định với 16 chữ:
“Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, tiếp đó được bổ sung thêm tinh thần 4 tốt: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” và gần đây là “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” Hai bên có nhận thức chung rộng rãi, chia sẻ sự tương đồng quan điểm đối với nhiều vấn đề quốc tế và khu vực Hợp tác kinh tế, thương mại Việt Nam - Trung Quốc tăng trưởng nhanh Năm 2010, kim ngạch thương mại song phương đạt trên 27 tỷ USD, tăng 28% so với năm 2009, chiếm khoảng 17,6% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam Tám tháng đầu năm 2011, kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước đã đạt gần 22 tỷ USD, tăng 31,52% so với cùng kỳ năm 2010
Hai nước đã ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền, Hiệp định về phân định vịnh Bắc Bộ, Hiệp định giải quyết vấn đề lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam đã quán triệt tốt phương châm vừa hợp tác vừa đấu tranh đối với những vấn đề còn bất đồng và tranh chấp thì kiên trì lập trường nguyên tắc và sự độc lập tự chủ của mình
Triển khai đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng xây dựng và phát triển quan hệ với các nước ASEAN Gia nhập ASEAN trở thành bước đột phá trong chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam, cho thấy rõ ưu tiên của Việt Nam đối với khu vực Từ sau sự kiện này, Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập
Trang 31khu vực mạnh mẽ, đồng thời cải thiện rõ rệt thế và quan hệ với các nước lớn Nói cách khác, nếu không là thành viên ASEAN, quan hệ của Việt Nam với các nước lớn khó có thể phát triển như thực tế đã diễn ra
Sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ mọi cam kết và trách nhiệm của một nước thành viên, chủ động đưa ra những sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực, hoàn thành nhiều trọng trách trước Hiệp hội Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ nhiều mặt, trên nhiều tầng nấc trong khuôn khổ đa phương và song phương, đóng góp thiết thực vào quá trình hợp tác liên kết ASEAN hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 với ba trụ cột chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội
Trong những năm qua, Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng cộng đồng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
và Hiến chương ASEAN, đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch Hội đồng liên nghị viện các nước Đông Nam Á (AIPA)
ASEAN là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam Năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đạt 8,9 tỷ USD, tương đương 15% tổng kim ngạch xuất khẩu Giá trị nhập khẩu từ ASEAN đạt 14 tỷ USD, chiếm 20% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước Tổng vốn đầu
tư trực tiếp đăng ký của ASEAN tại Việt Nam khoảng trên 60 tỷ USD Bên cạnh đó, Việt Nam còn tham gia với tinh thần trách nhiệm cao vào các cơ chế hợp tác đa phương của ASEAN với các đối tác bên ngoài như: ASEAN+1, ASEAN+3, Hợp tác Á-Âu (ASEM), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á
Bên cạnh việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, Việt Nam còn năng động cải thiện quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn
và các tổ chức quốc tế trong quá trình hội nhập
Bình thường hoá quan hệ với Mỹ là một hướng lớn trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam Quan hệ với Mỹ có ý nghĩa chiến lược đối với yêu cầu an ninh và phát triển của nước ta Cải thiện mối quan hệ hai nước góp phần củng cố vị thế quốc tế của Việt Nam, tác động tác động mạnh mẽ đến
Trang 32quan hệ của tất cả các nước khác, nhất là các nước phương Tây đối với Việt Nam, thúc đẩy quan hệ của Việt Nam với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc
tế, từng bước đi vào thị trường rộng lớn của Mỹ, tranh thủ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nguồn vốn đầu tư Năm 1994, chính quyền Mỹ huỷ bỏ cấm vận chống Việt Nam và tháng 11/7/1995 bình thường hoá quan hệ với Việt Nam Sau bình thường hóa, quan hệ Việt - Mỹ có nhiều tiến triển thuận lợi Quan hệ kinh tế - thương mại, khoa học - công nghệ được thúc đẩy Hai nước đã ký Hiệp định thương mại năm 2000 và năm 2006, chính quyền Mỹ chính thức ban hành đạo luật về thiết lập Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam, đánh dấu việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ song phương giữa hai nước, tạo thuận lợi cho Việt Nam gia nhập WTO Năm 2010, kim ngạch mậu dịch hai chiều vượt 18,3 tỉ USD Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ trong 8 tháng đầu năm 2011 đạt 11,3 tỷ USD, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2010 và xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam đạt 2,7 tỷ USD, tăng 21,5% Hiện Mỹ đang là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
Đối với Liên bang Nga, Việt Nam đã chủ động đề ra những biện pháp nhằm duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, kể cả an ninh quốc phòng Hai nước đã xác lập mối quan hệ đối tác chiến lược (2001), cùng với một loạt các hiệp định về hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học kỹ thuật, dầu khí, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, tổ hợp công nông nghiệp Kim ngạch buôn bán giữa hai nước và đầu tư của Nga vào Việt Nam có chiều hướng tăng Năm 2009 kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 1,83 tỷ USD và dự kiến sẽ nâng lên 3 tỷ USD vào năm 2012
Bên cạnh quan hệ chính trị tốt đẹp, hợp tác về kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Ấn Độ có bước phát triển thể hiện sự tin cậy lẫn nhau Hai nước ký Tuyên bố chung về Đối tác chiến lược mới (7/2007) Từ năm 2007, Ấn Độ đã lọt vào nhóm 10 nước có vốn đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng trở thành nước tiếp nhận FDI lớn nhất từ Ấn Độ ở Đông Nam Á Quan hệ thương mại Việt Nam -
Trang 33Ấn Độ tăng lên nhanh chóng, từ hơn 1 tỷ USD năm 2006 đã tăng lên 2,8 tỷ năm 2010 Riêng 8 tháng năm 2011, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 2,4 tỷ USD, tăng 43% so với cùng kỳ Hai nước phấn đấu nâng đưa kim ngạch thương mại song phương lên 7 tỷ USD vào năm 2015[8] Việt Nam tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác đầu tư và khuyến khích các tập đoàn Ấn Độ đầu tư vào Việt Nam
Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt với Nhật Bản, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển, văn hóa, du lịch, chuyển giao công nghệ Hiện nay Nhật Bản là bạn hàng lớn nhất,
là nước cung cấp viện trợ phát triển nhiều nhất và đầu tư lớn ở Việt Nam Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản hiện vẫn năng động tiến vững trên đường hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á
Với Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam đã ký với hầu hết các nước
EU Hiệp định khung về hợp tác, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần tạo cơ sở pháp lý cho xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài Phát triển quan hệ song phương đã góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - EU Việt Nam đang tích cực thực hiện “Đề án tổng thể về quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2010 và định hướng đến 2015” được đưa ra từ tháng 6/2005
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta Nước ta thực sự đẩy mạnh việc tham gia hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế từ khi tham gia ASEAN (1995) và các định chế kinh tế, tài chính thương mại của ASEAN như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực đầu tư ASEAN (AIA); ký Hiệp định khung với EU (1995); tham gia Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, Diễn đàn APEC năm 1998; ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ (2000) dựa trên những nguyên tắc cơ bản của WTO và năm 2007 đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO
Trang 34Nhìn tổng quát, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đã xúc tiến với bước đi khá vững chắc và đạt được kết quả bước đầu rất đáng khích
lệ Trước hết, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia và khu vực, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả hơn
Việt Nam đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do các đối tác truyền thống ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị thu hẹp đột ngột, và
do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực bắt đầu từ năm 1997 Một thành tựu nổi bật là đã thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài khá lớn, trước hết là FDI Số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam năm 2009 đạt 21,48 tỷ USD với 1.504 dự án FDI
Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 220 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được hơn 8.000 dự án FDI từ 80 nước và lãnh thổ với tổng số vốn đăng ký hơn 100 tỷ USD Nhiều nhà đầu tư lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia
đã và đang đặc biệt quan tâm đến Việt Nam Tại các Hội nghị tư vấn tài trợ cho Việt Nam, tổng cam kết tài trợ liên tục tăng, từ 4,4 tỷ USD năm 2006 đến hơn 7,9 tỷ USD năm 2010
Đây là sự thể hiện niềm tin và sự tín nhiệm của cộng đồng tài trợ quốc
tế đối với Việt Nam, đồng thời phản ánh quyết tâm cao độ của Việt Nam trên đường cải cách, phát triển Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có triển vọng thu hút đầu tư hấp dẫn nhất trên thế giới Bên cạnh các thị trường chủ lực là Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, hàng hóa Việt Nam đã vươn ra củng cố thế đứng trên nhiều thị trường khác như Nga, Trung Đông, Mỹ Latinh và châu Phi
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam ngày càng năng động tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh Đồng thời, từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, tạo
tư duy làm ăn mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 35Hoạt động ngoại giao đa phương có bước trưởng thành rõ rệt, góp phần nâng cao vai trò và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Tại các diễn đàn quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết, ASEAN, ARF, ASEM, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp Việt Nam đã phối hợp với nhiều nước, trước hết là các nước đang phát triển đấu tranh bảo vệ hòa bình, bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng chấp hành
Tổ chức Kinh tế - Xã hội, trở thành ủy viên hội đồng điều hành của nhiều tổ chức quan trọng trực thuộc Liên hợp quốc như UNDP, UNFPA, UNICEF, ủy ban giải trừ quân bị
Đặc biệt, thành tựu ấn tượng trên lĩnh vực ngoại giao đa phương là việc Việt Nam đã đảm nhiệm tốt vai trò Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc năm 2008 - 2009 Nếu việc tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) mở đầu sự hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế quốc tế, thì khi trở thành thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã bắt đầu hội nhập đầy đủ vào đời sống chính trị quốc tế Với vị thế và trọng trách này, Việt Nam không chỉ vươn lên tầm cao trong quan hệ đối ngoại ngoại, mà còn
có tiếng nói quan trọng tại Liên hợp quốc - diễn đàn quốc tế đa phương lớn nhất trên hành tinh Thông qua đó, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tham gia giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội, an ninh quốc tế có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, đồng thời đóng góp tích cực hơn và nhiều hơn trong nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định và phát triển trên thế giới
1.2.2 Đặc điểm tình hình thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ XX
- Đặc điểm tình hình thế giới:
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, bối cảnh thế giới đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc, ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống
xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam, nổi bật là:
Một là, cục diện thế giới và quan hệ quốc tế thay đổi một cách cơ bản
sau khi Liên xô ta rã và diễn biến ngày càng phức tạp
Trang 36Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào giai đoạn quá độ hình thành trật tự mới, ở đó do có sự phát triển không đều giữa các lực lượng, giữa các chủ thể quốc tế cho nên vai trò, vị trí của mỗi chủ thể quốc tế được sắp xếp lại
Là siêu cường thế giới duy nhất, chính quyền Mỹ cho rằng (nhất là giai đoạn hiện nay khi Donald Trump làm Tổng thống) với những ưu trội của mình trên nhiều mặt, Mỹ cần “chớp thời cơ” để có thể thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ “lãnh đạo”, Trong khi Nga, Trung Quốc và một số nước lớn khác đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực Càng về những năm gần đây, cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng “đơn cực” và “đa cực”, “đơn phương”
và “đa phương” diễn ra ngày càng gay gắt với ưu thế rõ nét của khuynh hướng “đa cực”, “đa phương” Diễn biến của tình hình thế giới cho thấy:
“Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển nhưng các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế.” [7, tr.183] Trong giai đoạn hiện nay, tính chất và nội dung giao lưu quốc tế thay đổi nhanh chóng với vị trí ưu tiên hàng đầu thuộc về yếu tố kinh
tế Phương thức tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế thay đổi mạnh, trở nên rất cơ động, linh hoạt, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh
Hai là, thế giới đang chịu tác động mạnh mẽ, sâu sắc từ cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ lần thứ 3 và đang nằm trong bước chuyển mình mạnh mẽ trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ, đạt được nhiều kỳ tích tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế đương đại Những thành tựu khoa học - công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Trong nền sản xuất hiện đại, sản phẩm đổi mới rất nhanh, giá thành giảm mạnh, nguyên vật liệu được sử dụng tiết kiệm, năng suất lao động rất cao
Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhảy vọt, đồng thời bản thân nó là lực lượng sản xuất mới, hiện đại “Chúng ta đang tiến tới một cuộc cách mạng công nghệ,
Trang 37công nghiệp làm thay đổi cơ bản lối sống, phong cách làm việc và cách thức giao tiếp Xét về phạm vi, mức độ và tính phức tạp, sự dịch chuyển này không giống với bất kỳ điều gì mà con người từng trải qua” [18] Hiện nay, thế giới đang trong giai đoạn bản lề của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (Cách mạng công nghiệp 4.0) với trung tâm là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, in-tơ-nét kết nối vạn vật, rô-bốt, công nghệ na-nô, công nghệ sinh học…
Ba là, toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày
càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh
Toàn cầu hóa là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đặc biệt là của công nghệ thông tin Toàn cầu hóa là một quá trình phức tạp đầy mâu thuẫn, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển và chậm phát triển chịu nhiều thách thức gay gắt hơn cả
Toàn cầu hóa có tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy xu thế hóa bình, hợp tác để phát triển Toàn cầu hóa tháo dỡ các rào cản đối với tự do thương mại, làm cho giao lưu kinh tế diễn ra mạnh mẽ nhanh chóng Toàn cầu hóa tạo môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt buộc các nước phải có tư duy năng động, có cơ chế quản lý, bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả Toàn cầu hóa và cách mạng thông tin tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tiếp cận nhanh chóng những thành tựu văn hóa, khoa học của loài người đồng thời có điều kiện đóng góp tích cực vào sự phát triển của văn minh nhân loại
Bên cạnh những tác dụng tích cực nói trên, toàn cầu hóa tạo ra những thách thức và nguy cơ không nhỏ đối với các nước, nhất là các nước đang phát triển Toàn cầu hóa làm tăng tính phụ thuộc của các nước đang phát triển vào bên ngoài về vốn, công nghệ và thị trường Toàn cầu hóa kinh tế có tác động trực tiếp đến lĩnh vực chính trị, đến an ninh quốc gia Nó tạo ra nguy cơ các nước đang phát triển bị lệ thuộc về kinh tế, từ đó sẽ dẫn đến lệ thuộc về chính trị gây nguy hại đến chủ quyền và an ninh quốc gia
Trang 38Bốn là, quan hệ giữa các nước lớn - nhân tố rất quan trọng tác động đến
sự phát triển thế giới Trong số hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ, một số cường quốc có sức chi phối lớn đối với chính trị, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đương đại Căn cứ vào sức mạnh tổng hợp, ảnh hưởng thực tế, những quốc gia được cộng đồng quốc tế xem là nước lớn tiêu biểu như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Anh, Nhật Bản, Pháp, Đức, Ấn Độ, Canada, Braxin, Nam Phi, Ý
Các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thế giới, 12 nước lớn chiếm hơn 1/3 lãnh thổ và quá nửa dân số thế giới, hơn 70% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của cả thế giới Đa số các nước lớn là những cường quốc hang đầu về kinh tế, khoa học, công nghệ, sức mạnh quân sự Có 5 nước lớn là Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc (Mỹ, Nga, Pháp, Anh, Trung Quốc) G7 là những nước tư bản phát triển nhất Các nước lớn không phải là một khối thống nhất
mà là một tập hợp đầy mâu thuẫn Quan hệ giữa các nước lớn gồm nhiều loại: đồng minh, liên kết, không liên kết, đối tác, đối thủ, đối thủ trực tiếp, đối thủ tiềm tàng… hết sức phức tạp
Năm là, cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc tiếp diễn ngày
càng tăng lên Xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo tiếp tục bùng phát với những diễn biến có nhiều nguy cơ khó lường
Sau sự kiện Liên Xô tan rã, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc ngày càng phức tạp, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trên thế giới không dịu đi mà tiếp tục diễn ra gay gắt dưới những hình thức mới Nhưng cuộc đấu tranh đó vẫn là động lực cho việc loại bỏ trật tự xã hội lỗi thời, bất công, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Độc lập dân tộc, bình đẳng dân tộc là vấn đề lớn nhất, bức xúc nhất của thời đại hiện nay Bóc lột dân tộc tiếp tục là điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản độc quyền Các dân tộc nhỏ yếu chậm phát triển không những bị bóc lột
mà còn có nguy cơ bị đẩy ra bên lề cuộc sống hiện tại Hố ngăn cách giữa
“khu vực trung tâm” và “khu vực ngoại vi” của thế giới tư bản ngày càng sâu rộng thêm Các chính sách đế quốc tiếp tục được áp dụng đối với các nước
Trang 39đang phát triển, trong đó có nguy hiểm nhất là chính sách xâm lược chia để trị, can thiệp trắng trợ vào nội bộ các nước Mỹ đang thi hành chính sách đế chế ngay thời đại văn minh
Sáu là, nhân loại đang đứng trước những vấn đề toàn cầu hết sức bức
xúc đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết
Chưa bao giờ nhân loại đang phải đối mặt với rất nhiều vấn nạn đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết “Nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người
Đó là giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế bùng bổ về dân
số, phòng ngừa và đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo… Việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc” [7, tr.69]
Những vấn nạn đã có từ lâu nhưng chưa bao giờ chúng trở thành vấn đề lớn, nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của các quốc gia, tương lai của loài người tùy thuộc một phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề này Đó
là khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị hủy hoại; tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp; tình trạng lan truyền các dịch bệnh hiểm nghèo như HIV/AIDS, SARS, cúm gia cầm…; các hoạt động tội phạm xuyên quốc gia… Bên cạnh đó, các tổ chức khủng bố cũng biết lợi dụng quá trình toàn cầu hóa để mở rộng tổ chức thành một mạng lưới toàn cầu; sử dụng các phương tiện hiện đại để tiến hành các hoạt động khủng bố Khủng bố đang trở thành một nguy cơ mới đe dọa ổn định và an ninh của các nước, làm xuất hiện một loại chiến tranh mới mà chính giới nhiều nước và nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới gọi là “chiến tranh phi truyền thống” hay “chiến tranh khủng bố” Đồng thời, Mỹ luôn lợi dụng sự hiện diện và hoạt động của các lực lượng khủng bố, dân tộc và tôn
Trang 40giáo cực đoan để đẩy mạnh việc gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ các nước… Giải quyết những vấn đề này phụ thuộc vào đường lối của mỗi quốc gia và do đó phong trào quần chúng đòi giải quyết các vấn đề toàn cầu là một bộ phận của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới [2, tr.23]
- Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam:
* Một số thành tựu nổi bật
Những năm đầu thế kỷ XXI, sức mạnh tổng hợp, vị thế quốc tế của Việt Nam ở khu vực và thế giới đã được nâng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong giai đoạn tới
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong nước cơ bản được giữ vững và ổn định; hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố; nhà nước pháp quyền tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện Nhưng những nguy cơ bất
ổn chính trị, xã hội như các vấn đề bức xúc, tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm, mất trật tự, an toàn xã hội, khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh, an toàn thông tin tiếp tục gia tăng, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin ngày càng phát triển nhanh Các vấn đề an ninh lãnh thổ, nhất là vấn đề Biển Đông có thể diễn biến phức tạp hơn, không loại trừ những đột biến, gây tác động tiêu cực tới an ninh, ổn định, phá vỡ môi trường hòa bình, thuận lợi cho phát triển của đất nước
Việt Nam đã mở rộng quan hệ đối ngoại, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia; đã phá được thế bị bao vây, cấm vận thời kỳ đầu đổi mới; bình thường hóa, thiết lập quan hệ ổn định, lâu dài với các nước; tạo lập và giữ được môi trường hòa bình, tranh thủ yếu tố thuận lợi của môi trường quốc tế
để phát triển; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ tiếp tục được giữ vững Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị; tiếp tục từng bước đưa quan hệ với các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định hơn Đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược