1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung, phương thức cầm quyền của đảng ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện phù cừ, tỉnh hưng yên

137 10 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 848,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì cũng bộc lộ những hạn chế, tồn tại, yếu kém trong nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, đó là: Một số

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Trương Ngọc Nam

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2017

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS.TS Lưu Văn An

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận văn thạc sỹ Xây dựng Đảng và Chính quyền

nhà nước với đề tài “Nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, tư liệu, tài liệu trích dẫn là có cơ sở, trung thực, có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng

Tác giả luận văn

NGUYỄN HỮU VỲ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG ỦY ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ 9

1.1 Lý luận về nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng đối với nhà nước 9

1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Đảng ủy xã và chính quyền cấp xã 33

1.3 Một số nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã 40

Chương 2: THỰC TRẠNG NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG ỦY XÃ ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 52

2.1 Những yếu tố tác động đến nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy xã đối với chính quyền xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên 52

2.2 Thực trạng Đảng ủy xã cầm quyền đối với chính quyền xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên 62

2.3 Những vấn đề đặt ra 96

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG ỦY ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN TRONG THỜI GIAN TỚI 102

3.1 Phương hướng đổi mới nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới 102

3.2 Giải pháp đổi mới nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên trong tình thời gian tới 105

KẾT LUẬN 125

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

TÓM TẮT LUẬN VĂN 131

Trang 6

9 UBND : Ủy ban nhân dân

10 UBTVQH : Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, là một đội ngũ thống nhất về chính trị, tư tưởng trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác-Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy”

Trong suốt chặng đường 87 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và hơn

70 năm giành được chính quyền, Đảng ta luôn khẳng định và giữ vị trí, vai trò lãnh đạo và cầm quyền đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, kể

cả khi chưa giành được chính quyền, cũng như giành được chính quyền cách mạng về tay nhân dân là một tất yếu khách quan, không thể phủ nhận Do đó, nghiên cứu về bản chất, phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội là một trong những vấn đề chủ yếu nghiên cứu và tổng kết lý luận, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

Sau hơn 30 mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, nhất là những năm gần đây, cùng với cả nước, các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân huyện Phù Cừ đã đoàn kết, thống nhất, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua thử thách, tranh thủ thuận lợi, thời cơ, đã vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước bằng các chương trình hành động phù hợp, sát với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị; tăng cường và đổi mới nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng đối với chính quyền, MTTQ và các đoàn

Trang 8

thể chính trị - xã hội ở địa phương; nâng cao hiệu lực, hiệu quả, quản lý điều hành của chính quyền và hoạt động của hệ thống chính trị ở địa phương trên các lĩnh vực đời sống, nhất là trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Tình hình an ninh- chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố; tạo nên diện mạo bức tranh nông thôn Phù Cừ ngày càng đổi mới và phát triển

Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì cũng bộc lộ những hạn chế, tồn tại, yếu kém trong nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, đó là: Một số đảng bộ xã, thị trấn còn bao biện, làm thay, thậm chí “lấn sân” can thiệp sâu vào chức năng của chính quyền; có nơi thì không phát huy được vai trò cầm quyền của Đảng, buông lỏng sự lãnh đạo, quản lý đối với hoạt động của chính quyền và hệ thống chính trị; chưa thực sự phát huy dân chủ trong Ban chấp hành, Ban Thường

vụ cấp ủy, còn tính độc đoán, chuyên quyền; kiến thức, trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo quản lý, điều hành của một số cán

bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu công việc; phong cách, lề lối làm việc thiếu khoa học; ngại va chạm, đùn đẩy, né tránh, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, một số cán bộ đảng viên, công chức, viên chức vi phạm pháp luật,

Đồng thời, hiện nay có những ý kiến nghi hoặc, nghi ngờ về “vai trò lãnh đạo của Đảng ta có thể bị lu mờ”, hay “Phát triển đất nước theo chế độ đơn đảng hay đa đảng”; “là một đảng duy nhất cầm quyền có thể dẫn đến độc quyền”,…Bên cạnh đó, các thế lực thù địch phản động luôn thực hiện âm mưu “ Diễn biến hòa bình”, tìm cách chia rẽ sự đoàn kết dân tộc, xuyên tạc, nói sấu Đảng, nói sấu cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao của Đảng và Nhà nước

ta, làm ảnh hưởng đến thanh danh, uy tín của Đảng, giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta

Trang 9

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó tôi chọn đề tài “ Nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên ” làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là nguyên tắc chủ đạo thể hiện ở nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng đối với nhà nước nói chung, nội dung, phương thức của Đảng đối với chính quyền cấp xã nói riêng là những đề tài lớn, từ lâu đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà khoa học, những người làm công tác nghiên cứu lý luận ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, đặc biệt trong điều kiện nước ta chỉ có một Đảng duy nhất(đơn nhất) cầm quyền Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu

về vấn đề này của các cá nhân, tập thể được công bố, như:

- Đảng Cộng sản cầm quyền, nội dung và phương thức cầm quyền của

Đảng, của GS, TS Nguyễn Văn Huyên (Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,

Hà nội(2010) Tác giả đã làm rõ những luận cứ khoa học về Đảng Cộng sản cầm quyền, về nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng trong bối cảnh hiện nay trong đó chú trọng đến quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thực trạng sự cầm quyền của Đảng… Đồng thời đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vì công cuộc đổi mới của PGS.TS

Tô Huy Rứa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội(2012) Cuốn sách đã tập hợp các bài nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của tác giả, từ những vấn đề

lý luận chung đến phân tích các vấn đề cụ thể của công tác tư tưởng – lý luận Đặc biệt trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “ Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng

Trang 10

hiện nay”, Tuy nhiên, cũng chưa đề cập một cách cụ thể, riêng biệt về nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng đối với chính quyền cấp xã

- Thể chế Đảng cầm quyền – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn do Đặng Đình Tuân(chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội(2005) Cuốn sách

Thể chế đảng cầm quyền – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, các tác giả đã

đi sâu phân tích và chứng minh những vấn đề cơ bản về thể chế của đảng cầm quyền trong xã hội Định hướng và những giải pháp cơ bản tiếp tục đổi mới thể chế Đảng lãnh đạo Nhà nước ở Việt Nam

- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân của

Phạm Ngọc Quang(chủ nhiệm) Các nhà khoa học đã luận chứng rõ hơn về vấn đề lý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền; nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng và các yếu tố liên quan như tổ chức bộ máy, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội,

- Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền qua 30 năm đổi mới của Việt Nam, do GS.TS Phùng Hữu Phú, GS.TS

Lê Hữu Nghĩa, GS.TS Vũ Văn Hiền, PGS.TS Nguyễn Viết Thông (Đồng chủ biên) đã trình bày những vấn đề cơ bản nhất của quá trình đổi mới và phát triển ở nước ta trên bốn nhóm vấn đề, lĩnh vực chủ yếu: chính trị và xây dựng Đảng; kinh tế; văn hóa, xã hội, con người; quốc phòng, an ninh, đối ngoại, qua đó gợi

mở về những phương hướng, giải pháp cần thiết cho việc tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ cho công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu, được các tác giả biên soạn trên cơ sở chắt lọc nội dung của 31 đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước thuộc chương trình

"Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011-2015"

- Đổi mới và tiếp tục hoàn thiện phương thước lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu phát triển đất nước của Trương Tấn Sang (Tạp chí Cộng sản số

24 tháng 12 năm 2006)

Trang 11

- Đảng lãnh đạo nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn của PGS.TS

Nguyễn Văn Vĩnh(2007)

- Phương thức lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

của Nguyễn Sỹ Nồng, Nxb Chính trị quốc gia (2007)

- Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước của GS Trần Đình Huỳnh,

luật của thạc sỹ Cao Thị Thu Hiền (2007)

Ngoài ra còn nhiều bài nghiên cứu, bài viết đăng trên các báo, tạp chí khoa học, các đề tài đã được nghiệm thu, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ,

về vị trí, vai trò, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền đối với Nhà nước và hệ thống chính trị ở nước ta

Các công trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu nghiên cứu việc thực hiện

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, nội dung, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, gắn với với việc tăng cường củng cố, hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở Các tác giả cũng đã chỉ

ra phương hướng và giải pháp nhất định nhằm bảo đảm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước cho phù hợp Đó là những tư liệu quý để tác giả tham khảo, phát triển, bổ sung phục vụ cho đề tài nghiên cứu luận văn của mình Tuy nhiên, các đề tài này mới chỉ đưa ra ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, chưa đề cập cụ thể, chi tiết về nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã

Trang 12

Dưới góc độ của chuyên ngành lý luận về xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, đề tài: “Nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” là đề tài mới và khó chưa được đề cập một cách riêng biệt Luận văn này dựa trên cơ sở lý luận

chung về Đảng cầm quyền và Đảng Cộng sản cầm quyền, nội dung, phương

thức cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội để nghiên cứu nội dung

và phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã

- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện vai trò cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2010-2017, đề xuất giải pháp trong thời gian tới

- Đề xuất những phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục đối mới nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy xã đối với chính quyền

xã, nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm và vị thế, năng lực cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới

Trang 13

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu về nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng

ủy đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong giới hạn của phạm vi nghiên cứu, đề tài luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã của 14 xã, thị trấn ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng yên, giai đoạn 2010-2017, phương hướng và giải pháp đề xuất trong thời gian tới

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng các phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và

chủ nghĩa duy vật lịch sử cảu chủ nghĩa Mác – Leenin để xác định, vị trí, vai trò của Đảng cầm quyền(sử dụng chủ yếu ở chương 1); các phương pháp nghiên cứu cụ thể: kết hợp giữa phương pháp lôgíc và lịch sử; lý luận và thực

Trang 14

tiễn; phân tích, tổng hợp và so sánh, đồng thời sử dụng phương pháp tổng kết thực tiễn để thực hiện luận văn(sử dụng chủ yếu ở chương 2)

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn đã khái quát làm rõ những luận cứ khoa học về Đảng Cộng sản cầm quyền, thực trạng sự cầm quyền của Đảng ủy xã đối với chính quyền

xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; Đánh giá những kết quả đạt được từ năm

2010 - 2017; những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong công tác lãnh đạo giữa Đảng với chính quyền; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, góp phần đẩy mạnh vai trò, vị thế

và năng lực cầm quyền của Đảng đối với chính quyền cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên một cách hiệu quả hơn

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn đã khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản cầm quyền, đồng thời giúp cho Đảng bộ, chính quyền của huyện Phù Cừ có điều kiện tiếp cận đầy đủ cơ sở lý luận và tính khoa học, tính thực tiễn trong thay đổi nhận thức, tư duy về nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng ủy đối với chính quyền cấp xã và sự vận dụng, sáng tạo vào trong thực tiễn, trong công việc một cách có hiệu quả, để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; đồng thời nâng cao cả năng lực và bản lĩnh cầm quyền của Đảng trong điều kiện, nhiệm vụ mới với những yêu cầu mới, với những thách thức và vấn đề mới đặt ra

8 Kết cấu luận văn:

Gồm phần mở đầu; phần nội dung gồm 3 chương, 8 tiết; phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG ỦY ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ

1.1 Lý luận về nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng đối với nhà nước

1.1.1 Khái niệm Đảng cầm quyền

Đảng cầm quyền là khái niệm chỉ thời kỳ Đảng đã nắm được chính quyền, bằng chính quyền và thông qua chính quyền để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, theo mục tiêu lý tưởng của Đảng Có nghĩa là đảng cầm quyền là đảng lãnh đạo chính quyền khi giành được chính quyền Nội dung lãnh đạo, phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền khác với khi chưa giành được chính quyền Khi chưa có chính quyền tổ chức đảng

và đảng viên phải trực tiếp vận động, tổ chức nhân dân đứng lên giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ Khi đã có chính quyền, thì chính quyền là công cụ mạnh mẽ, sắc bén nhất để thể chế hóa quan điểm của đảng thành luật pháp

nhà nước, đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Khái niệm Đảng cầm quyền có nội hàm riêng Khái niệm đảng cầm quyền vốn được sử dụng đầu tiên ở các nước phương Tây có chế độ đa đảng, dùng để chỉ những đảng giành được đa số ghế trong nghị viện Tuy nhiên, khái niệm này hiện nay cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, vì ở một số nước có thể chế quốc hội lưỡng viện, có thời kỳ đảng này chiếm đa số ở hạ viện, nhưng đảng khác lại chiếm đa số ở thượng viện; ở những nước có thể chế cộng hòa tổng thống, có thời kỳ đảng này chiếm đa số trong quốc hội, nhưng tổng thống lại là người thuộc đảng khác

* Khái niệm Đảng Cộng sản cầm quyền: Đảng Cộng sản cầm quyền là

khái niệm chỉ thời kỳ Đảng đã giành được chính quyền, thiết lập hệ thống

Trang 16

chính trị mới, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội

Theo Mác và Ăng ghen: Vấn đề đảng cầm quyền nói chung chưa được Mác và Ăng ghen bàn đến nhiều, vì thời kỳ hoạt động của các ông, giai cấp

vô sản chưa giành được chính quyền, các ông mới chỉ bàn nhiều vấn đề đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến sự ra đời của các chính đảng

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, trong cuộc đấu tranh của mình, giai cấp công nhân muốn giành được thắng lợi và "thủ tiêu các giai cấp nói chung”[45, t.4, tr.628] thì nhất thiết phải thành lập chính đảng là Đảng Cộng sản, đội ngũ tiên phong đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đảng Cộng sản là bộ phận lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo nhà nước và xã hội bằng việc đề ra chủ trương, đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược trên nền tảng của chủ nghĩa Mác; bằng công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận và chuẩn bị đội ngũ cán bộ cho

hệ thống chính trị Về mặt lý luận và thực tiễn, yêu cầu giải quyết những vấn

đề có liên quan đến Đảng Cộng sản cầm quyền xuất hiện ngay từ khi Đảng bắt đầu lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền

Kế thừa những quan điểm của Mác và Ăngghen, bằng thực tiễn của cách mạng Nga, Lênin cho rằng: đảng cầm quyền có nghĩa là đảng lãnh đạo nhà nước khi đã cầm quyền, khi trở thành đảng cầm quyền, nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng Cộng sản sẽ thay đổi về cơ bản, đó là xây dựng đất nước về kinh tế Bởi, khi đó, chủ nghĩa cộng sản không còn là một cương lĩnh, không còn là một học thuyết, mà đã trở thành nhiệm vụ xây dựng kinh tế hàng ngày Thắng lợi trên lĩnh vực kinh tế không thể đạt được bằng những cuộc tấn công của các lực lượng xích vệ, mà phải bằng tổ chức được tiến hành một cách khoa học Người xem đó là vũ khí duy nhất để giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến tới mục tiêu căn bản của mình: xây dựng thành công CNXH và

Trang 17

tiến lên chủ nghĩa cộng sản; mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tổ chức - quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế được xem là trọng tâm của thời kỳ đảng cầm quyền Vì vậy, việc hình thành phương thức lãnh đạo hiệu quả của Đảng đối với chính quyền nhà nước là một trong những nhân tố bảo đảm thắng lợi việc xây dựng chế độ mới

Lê nin đề cập đến mối quan hệ giữa đảng, nhà nước và xã hội trên lĩnh vực công tác của cán bộ nhà nước, đặc biệt là những chức vụ chủ chốt, Lênin nhấn mạnh quyền quyết định của Đảng, Người viết: “Chừng nào một đảng cầm quyền còn quản lý, chừng nào đảng ấy còn phải giải quyết tất cả mọi vấn

đề về những sự bổ nhiệm khác nhau, thì anh không thể để có tình trạng là việc

bổ nhiệm các chức vụ nhà nước quan trọng nhất lại do một đảng không lãnh đạo tiến hành”[47,t.42, tr.204-205]

Giải quyết mối quan hệ giữa vai trò, chức năng lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và chức năng quản lý của Nhà nước sao cho Đảng thực sự là cơ quan lãnh đạo ở tầm chiến lược và Nhà nước là cơ quan quyền lực của nhân

dân, có thực quyền, đủ sức mạnh để điều hành mọi hoạt động quản lý Vấn đề

này đã được Lênin nêu ra từ trước khi Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga

giành được chính quyền, cụ thể là trong tác phẩm Những nhiệm vụ của chúng

ta và Xô viết đại biểu công nhân viết tháng 11 - 1905, Lênin đã viết: “Xô viết

đại biểu công nhân hay là Đảng? Theo tôi, không thể đặt vấn đề như vậy, và

giải quyết vấn đề đó nhất thiết chỉ có thể là: vừa cần có Xô viết đại biểu công nhân, vừa cần có Đảng Vấn đề - và là vấn đề hết sức quan trọng - chỉ là ở chỗ

làm thế nào phân rõ và kết hợp những nhiệm vụ của Xô viết và những nhiệm

vụ của Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga”[48,t.12, tr.73-74.]

Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam có vị trí, vai trò đặc biệt là người

tổ chức và lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, là hạt nhân chính trị cuả hệ

Trang 18

thống chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động cuả hệ thống chính trị Sự lãnh đạo chính trị cuả Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện thông qua quyền quyết định đường lối chính trị và quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và phát triển cuả đất nước Trong mối quan hệ với Nhà nước, quyền lực cuả Đảng luôn là quyền lực chính trị

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã giành được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trở thành nhân tố chủ yếu đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Từ ngày thành lập nước (1945) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội Điều đó đã được khẳng định cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn cách mạng nước ta

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, nên Đảng trực tiếp nắm bộ máy chính quyền nhà nước và trực tiếp lãnh đạo, xây dựng và mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua Cương lĩnh, đường lối, chiến lược định hướng cho mọi hoạt động đối nội và đối ngoại cuả nhà nước; Đảng giới thiệu những cán bộ ưu tú của Đảng cho bộ máy nhà nước; Đảng kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của nhà nước theo quan điểm, đường lối cuả Đảng, Đảng lãnh đạo thông qủa các tổ chức đảng và đảng viên trong bộ máy nhà nước

Đảng lãnh đạo nhà nước nhưng không bao biện, “ lấn sân”, làm thay nhà nước Nhà nước phát huy vai trò và quyền chủ động của mình Là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện quyền lãnh đạo về mặt chính trị, bảo đảm giữ vững định hướng chính trị của sự phát triển phù hợp với chế

độ chính trị- xã hội mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn

Khái niệm Đảng Cộng sản Việt nam cầm quyền, có hai nghĩa: nói rõ vị trí, vai trò của Đảng là Đảng cầm quyền, hơn nữa ở nước ta là Đảng duy nhất

Trang 19

cầm quyền; chỉ giai đoạn mới trong sự phát triển của Đảng - Đảng đã có chính quyền Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và một số văn kiện của Đảng: Đảng ta (Đảng Cộng sản Việt Nam) khẳng định Đảng ta là cầm quyền Khẳng định Đảng ta là Đảng cầm quyền để xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Đảng trong thời kỳ này trước nhân dân, đất nước, dân tộc; theo đó, Đảng phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện công cuộc xây dựng CNXH; các cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, giữ gìn phẩm chất đạo đức trong sạch, không lợi dụng chức quyền để vụ lợi… Trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”

Trong điều kiện là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước, Đảng phải thật sự tiên phong về trí tuệ, xây dựng Đảng luôn trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức và đạo đức; có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao; liên hệ mật thiết với nhân dân; Đảng Cộng sản Việt Nam phải luôn ý thức một cách tự giác và sâu sắc về vai trò cầm quyền, chú trọng và thường xuyên xây dựng nội dung, phương thức cầm quyền phù hợp nhằm lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước theo mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"

1.1.2 Nội dung cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước

1.2.1.1 Đảng xác định mục tiêu, quyết định những vấn đề chiến lược, chính sách lớn để định hướng hoạt động của nhà nước thực hiện có hiệu lực, hiệu quả

Trang 20

Gần chín thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho hành động và nhờ vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân, đế quốc thắng lợi, mang lại nền độc lập, tự do, hòa bình cho đất nước

Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới: Sau thắng lợi của Đại thắng mùa xuân

1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước độc lập thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đất nước ta vào giữa những năm 1980 với những khó khăn mới gay gắt

và phức tạp: Hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; mất cân đối lớn trong nền kinh

tế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất tinh thần chưa được đảm bảo Đứng trước thực trạng đó đòi hỏi Đảng ta phải có những quyết sách xoay chuyển tình hình, tạo ra một bước ngoặt cho sự phát triển của đát nước

Đại hội V năm 1982, Đảng đã có nhiều chủ trương mới cả trong chiến lược phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất, điều mới và quan trọng là Đảng đã xác định cụ thể nội dung và hình thức công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên Đó là "tập trung phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên xã hội chủ nghĩa "[2, tr 62]

Một bước tiến mới trong việc xây dựng và củng cố hợp tác xã là Đảng chủ trương "áp dụng rộng rãi khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm lao động

và người lao động"[2,tr.66] Chỉ thị 10 của Bộ Chính trị, đã xoá bỏ cơ chế hành chính bao cấp; xác định dứt khoát vị trí kinh tế hộ nông dân là chủ thể sản xuất hàng hoá ở nông thôn; tạo ra môi trường thuận lợi cho sự di chuyển lao động và vốn đầu tư vào các ngành nghề khác nhau ở nông thôn, vì nó đã bước đầu thừa nhận quyền tự chủ của hộ nông dân Có thể, coi đây là khâu

Trang 21

đột phá đầu tiên trong tiến trình đổi mới, là một tiền đề quan trọng để tiến tới

sự đổi mới toàn diện và sâu sắc nền kinh tế xã hội

Trong suốt thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm 1981-1985, phương thức khoán sản phẩm này đã góp một phần quan trọng tạo nên một bước phát triển của nền sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,9% so với 1,9% hàng năm của thời kỳ 1976-1980 Sản xuất lương thực có bước phát triển quan trọng, mức bình quân hàng năm từ 13,4 triệu tấn trong thời kỳ 1976-1980 đã tăng lên 17 triệu tấn trong thời kỳ 1981-1985[3, tr.14] Tuy vậy, với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý này, Đảng đã đề ra được một phương hướng quản lý mới có tính khả thi, thể hiện một sự chuyển biến đúng hướng trong quan hệ sản xuất nói chung và trong việc tổ chức và quản lý sản xuất nói riêng Đây tiếp tục là một khâu đột phá mới để tiến tới sự đổi mới toàn diện và sâu sắc về kinh tế-xã hội

Giai đoạn thực hiện thời kỳ đổi mới: Nền kinh tế nước ta rơi vào tình

trạng sa sút nghiêm trọng trong thời điểm diễn ra Đại hội VI năm 1986 Đảng nghiêm khắc đánh giá những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, đặc biệt là những nguyên nhân chủ quan, duy ý chí, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật khách quan Một bài học sâu sắc được Đảng rút ra tại văn kiện Đại hội VI là: "Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo những quy luật khách quan Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, con người mới xã hội chủ nghĩa ngày càng hình thành rõ nét, xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ xã hội chủ nghĩa được củng cố"[3, tr.30] Đảng nhận thấy rõ nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời gian qua (trước Đại hội VI) là do những sai lầm, thiếu sót trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong cơ chế quản lý kinh tế

Trang 22

Thực tiễn đó đã minh chứng một điều là cần phải mở ra một phương hướng mới để đi lên chủ nghĩa xã hội Thực tiễn đó cũng đã chứng minh việc tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là một quá trình lâu dài, phức tạp và phải trải qua nhiều bước đường khác nhau Đó là cả một quá trình tìm tòi, sáng tạo, cần phải rút kinh nghiệm từ thực tiễn để vạch ra những bước đi tiếp theo, phải tránh sự dập khuân, máy móc Lênin đã chỉ ra rằng "chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà người xã hội chủ nghĩa phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu

họ không muốn trở thành lạc hậu với cuộc sống”[45, t.4, tr.232]

Trên tinh thần đó, và xuất phát từ tình hình thực tiễn đất nước, tại Đại hội VI Đảng đã đề ra chủ trương thực hiện đường lối đổi mới đất nước, trước hết là đổi mới tư duy Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính là bổ sung và phát triển những thành tựu ấy"

Đến Đại hội VII năm 1991, Đảng chủ trương tiếp tục đổi mới toàn diện

và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc Trong lĩnh vực quan hệ sản xuất, Đảng chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh

tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế Trong giai đoạn

1991 - 1995, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm thời kỳ 1991 - 1995 đạt 8,2%, lạm phát bị đẩy lùi từ 774,7% năm 1986 còn 67,1% năm 1991, 12,7% năm 1995 Lương thực không những đủ ăn mà còn xuất khẩu được 2 triệu tấn gạo mỗi năm Đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân được cải thiện Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nân dân khá hơn trước Nhiệm vụ đề ra cho 5 năm 1991 -

Trang 23

1995 đã hoàn thành về cơ bản Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm[5, tr.10-12]

Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người đạt 1.168 USD Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện Các lĩnh vực văn hoá, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, nhất là xóa đói, giảm nghèo Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Đại hội XII của Đảng đã tổng kết đánh giá qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới là một chặng đường lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Đó là những quan điểm, những nguyên tắc, những tư tưởng lãnh đạo trên các lĩnh vực hoạt động của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, để Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị vận dụng, thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công tác và tổ chức thực hiện phù hợp với chức năng của từng tổ chức

1.2.1.2 Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự

là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong sạch vững mạnh

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã thấy rõ sự cần thiết phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (năm 1994), lần đầu tiên, trong văn bản chính

Trang 24

thức của mình, Đảng khẳng định chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước mà mọi quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan nhà nước do mình trực tiếp bầu ra; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước

mà ở đó các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thống nhất và có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền đó; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước

do một đảng duy nhất lãnh đạo - Đảng Cộng sản Việt Nam Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định: “ Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” [9, tr.175] Sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân phải bao quát toàn bộ tổ chức, hoạt động của Nhà nước và được thể hiện một số nội dung cơ bản sau:

Một là, đường lối, chính sách của Đảng là định hướng chính trị và nội dung hoạt động của Nhà nước

Hai là, Đảng xác định những quan điểm, phương hướng, nội dung cơ bản nhằm xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Nhà nước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn

Ba là, Đảng lãnh đạo hoạt động bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc lựa chọn các đại biểu xứng đáng vào các cơ quan này

Trang 25

Bốn là, Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Năm là, Đảng lãnh đạo hoạt động xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật, tăng cường pháp chế trong đời sống xã hội và hoạt động của nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước

Sáu là, Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân

Thời gian qua, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Bên cạnh những thuận lợi của một Đảng duy nhất cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được những nguy cơ tiềm ẩn do thực hiện không đầy đủ hoặc vi phạm dân chủ trong chế độ một Đảng cầm quyền Đó là các nguy cơ chủ quan, duy ý chí và quan liêu trong xây dựng chủ trương, chính sách; cơ quan, tổ chức đảng dễ áp đặt ý kiến của mình đối với cơ quan nhà nước; tự đặt Đảng lên trên Nhà nước và pháp luật; Đảng bao biện, làm thay công việc của Nhà nước mà khong chịu trách nhiệm pháp lý về các quyết định của mình,…

Để ngăn chặn và loại trừ các nguy cơ ấy và thực hiện tốt vai trò xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Đảng đã thường xuyên tự chỉnh đốn, đổi mới, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ trong Đảng và trong xã hội Mặt khác, phải xây dựng quy chế phối hợp làm việc giữa cơ quan, tổ chức đảng và cơ quan,

tổ chức nhà nước; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; trong hoạt động của mình, các cơ quan, tổ chức của đảng và mọi cán bộ, đảng viên phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng thể chế của cơ quan nhà nước

Trang 26

1.2.1.3 Đảng cầm quyền thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan, tổ chức của Nhà nước

Vì cơ sở nền tảng của Nhà nước ta là Công – Nông – Trí thức, là đại đoàn kết toàn dân tộc, vì vậy để Đảng cầm quyền vững chắc phải tự mình chăm lo, xây dựng nền tảng đó Thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan, tổ chức của Nhà nước để lãnh đạo các tổ chức thực hiện nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội, để phát huy vai trò là chủ của nhân dân; kiểm tra, giám sát Nhà nước thực hiện bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh và kiểm tra, giám sát

tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng

Thực hiện chủ trương “nhất thể hóa” bí thư chi bộ đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị (trừ trường hợp đặc biệt cấp phó có thể giữ chức bí thư chi bộ) Thực hiện mô hình đó nhằm đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu đối với công tác xây dựng Đảng, tạo được sự thống nhất cao trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai các chủ trương, chính sách, đủ sức thực hiện chức năng, nhiệm vụ, vừa phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng và Đảng viên trong các cơ quan nhà nước, góp phần đưa các mục tiêu, nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn vị thành kết quả cụ thể, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch vững mạnh

Việc thể chế hóa các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và việc đề ra chủ trương, nghị quyết lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong các cơ quan nhà nước đã chủ động xây dựng thành chương trình hành động và triển khai tổ chức thực hiện như: Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nghị quyết Trung ương

4 (khóa XI) về “ Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị 03 và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,…

Trang 27

Các tổ chức đảng (chi bộ) duy trì sinh hoạt thường xuyên hàng tháng theo quy định, thực hiện tốt việc phân công và kiểm tra công tác của đảng viên Đảng viên đang công tác ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp phải thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy nơi cư trú theo Quy định số 76 của Bộ Chính trị và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú Hàng năm, đều tổ chức phân tích đáng giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên đảm bảo đúng nguyên tắc, quy định Phát huy tốt vai trò của cấp uỷ trong tham gia với lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trong công tác quản lý, nhận xét, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, thực hiện chính sách đối với cán bộ theo phân cấp quản lý và khi được cơ quan có thẩm quyền lấy ý kiến Đặc biệt, là trong việc thẩm tra, xác minh, kết luận để sử dụng, bố trí, quản lý cán

bộ, đảng viên có vấn đề về lịch sử chính trị Khuyến khích và tạo điều kiện cho các đoàn thể, nhất là tổ chức đoàn hoạt động, giới thiệu đoàn viên ưu tú, bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển đảng viên mới

Mỗi cán bộ, đảng viên đều nêu cao ý thức học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, nằm trong diện quy hoạch cán

bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; thường xuyên trau dồi kiến thức, kinh nghiệm, năng lực trình độ, công tác thực tiễn; chủ động nắm bắt, đánh giá, tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để có biện pháp khắc phục kịp thời

Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng, nhằm chủ động phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời tổ chức đảng, đảng viên

có biểu hiện vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị

Tuy nhiên, vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng chưa thực sự được đảm bảo; hiệu lực lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ quan đối với lãnh đạo chuyên môn còn thấp (phần lớn là thiên về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, ít dành

Trang 28

thời gian đầu tư cho công tác Đảng), chưa có tác dụng ngăn chặn các tiêu cực Vai trò, trách nhiệm của những đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong thực hiện sự lãnh đạo của Đảng còn chưa được thể hiện rõ, có nơi bị chi phối bởi “lợi ích nhóm,” “tư duy nhiệm kỳ.” Kết quả là nhiều chủ trương, chính sách không phù hợp chậm được thay đổi Nhiều chủ trương, chính sách mới ban hành thiếu đồng bộ, không có các biện pháp, chế tài kiểm soát quyền lực, tạo kẽ hở nảy sinh tham nhũng, tiêu cực,…

1.2.1.4 Đảng thực hiện kiểm tra, giám sát đối với Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị

Công tác kiểm tra của Đảng là hoạt động của Đảng, được tiến hành đối với tổ chức đảng và đảng viên, nhằm nắm vững tình hình, nhận xét, đánh giá việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng; xác định sự đúng đắn hay vi phạm của các hành vi có liên quan đến kỷ cương, kỷ luật của Đảng

Công tác kiểm tra có ý nghĩa và vai trò rất to lớn, là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng; một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng Đồng thời là một khâu quan trọng trong quy trình lãnh đạo của Đảng, bao gồm các khâu ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra sự thực hiện

Do đó, muốn đạt hiệu quả cao trong công tác lãnh đạo, Đảng phải ường xuyên tiến hành tốt công tác kiểm tra, giám sát

th-Trước hết, cần nâng cao nhận thức trong nội bộ Đảng, mà trực tiếp là người đứng đầu cấp ủy, các tổ chức, cơ quan, đơn vị về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tác dụng và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát; vai trò của cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong tình hình mới Để kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị cũng như kiểm tra, giám sát các công việc của đảng viên và tổ chức đảng, hoạt

Trang 29

động kiểm tra của cấp ủy phải phối hợp chặt chẽ với hoạt động thanh tra của chính quyền

Thứ hai, các cấp ủy đảng cần có chương trình, kế hoạch kiểm tra định

kỳ theo thời gian hoặc theo thời vụ hoặc giám sát theo chuyên đề Khi có tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm, bị tố cáo hoặc khi có yêu cầu kiểm tra của đảng cấp trên thì có kế hoạch tiến hành kiểm tra theo đúng mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình, thủ tục

Đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên; phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát Các tổ chức đảng có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, của cấp ủy cấp trên, của cấp mình và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây là chính Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải kiên quyết xử lý nghiêm minh để răn đe và giáo dục

Thứ ba, phương pháp cơ bản tiến hành kiểm tra, giám sát của Đảng đối với Nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội, đó là: dựa vào tổ chức đảng, phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên, phát huy trách hiệm xây dựng Đảng của quần chúng nhân dân; làm tốt công tác thẩm tra xác minh đối với công tác kiểm tra; phối hợp chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng với công tác thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội Kiểm tra, giám sát là nội dung rất quan trọng trong quá trình lãnh đạo của Đảng, là chức năng lãnh đạo, nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, tr-ước hết là nhiệm vụ của cấp uỷ và người đứng đầu cấp uỷ, do cấp uỷ trực tiếp tiến hành Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành công khai, dân

Trang 30

chủ, khách quan, thận trọng và chặt chẽ theo đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng

Công tác giám sát, kiểm tra có vai trò cực kỳ quan trọng trong lãnh đạo, quản lý, nếu không giám sát, kiểm tra thì có thể coi như không có sự lãnh đạo, quản lý Để nâng cao chất lượng công tác giám sát, kiểm tra của đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý đối với việc thực hiện các thể chế, chế độ chính sách, cũng như các chương trình, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, trên thực tế, cần phải nâng cao trình độ, năng lực giám sát, kiểm tra của bản thân đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý Muốn vậy phải có chuyên môn nghiệp vụ, phải am hiểu và nắm chắc các quy định

1.1.3 Phương thức cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước

1.1.3.1 Định hướng xây dựng Nhà nước để tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước thông qua Cương lĩnh, đường lối chính trị, các nghị quyết, chủ trương, chính sách lớn của Đảng đối với Nhà nước

Theo Điều 4 Hiến pháp 2013 nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt

động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh chính trị, chiến lược, chính sách, chủ trương, bằng công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát Các đảng viên của Đảng, nhất là đảng viên giữ cương vị lãnh đạo đưa Cương lĩnh, chiến lược, chính sách, chủ trương vào thực hiện trong quá trình công tác của mình Bằng cách đó, đường lối chủ trương của Đảng đi vào đời sống xã hội

Trang 31

Sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội và cách mạng Việt Nam là vấn đề có tính nguyên tắc Đây là quy luật khách quan, không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được Bởi lẽ, sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam đã được nhân dân thừa nhận

từ sự kiểm nghiệm của thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân

Để Đảng ta hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đáp ứng

sự kỳ vọng, mong muốn của nhân dân, Đảng phải “đoàn kết, đổi mới, dân chủ, trí tuệ, kỷ cương”, có đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt; có biện pháp nhân lên sức mạnh nội sinh, phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thời đại; tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân làm chủ xã hội và phát huy tốt vai trò quản lý của Nhà nước ngay từng địa phương, cơ sở

Chủ trương của cấp ủy là sự cụ thể hóa, dựa vào chủ trương của cấp trên và thực tiễn địa phương nhưng phải tạo tính chủ động cho chính quyền, tránh lặp lại Nghị quyết của Trung ương, của tỉnh, huyện Đối với các lĩnh vực kinh tế- xã hội, cấp uỷ cần lựa chọn vấn đề thật cần thiết mới ban hành Vấn đề cần thiết là những vấn đề đang và sẽ là nhu cầu cơ bản, bức bách của nhân dân và trong tổ chức đảng còn có ý kiến khác nhau, đòi hỏi phải có tiếng nói chung, hành động thống nhất Trong tình hình hiện nay, nhiều địa phương đang đứng trước các vấn đề “nan giải" như chuyển dịch cơ cấu kinh tế sai mục đích, chất lượng cán bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng, công tác vận động quần chúng, quy chế dân chủ,…cần được lựa chọn để “đột phá" Những vấn

đề thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội trở thành nhiệm vụ thường xuyên thì không cần phải ban hành văn bản chỉ đạo Nếu thấy có yêu cầu, Đảng chỉ đạo chính

Trang 32

quyền tiến hành họp, xác định vấn đề cần tập trung cho một giai đoạn, hết sức tránh việc nêu chung chung, tràn lan

Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII

đã từng lưu ý: "cấp ủy và tổ chức đảng chỉ ra nghị quyết khi thấy thật cần thiết và lựa chọn đúng vấn đề Những điều đã nói nhiều, đã quyết định chỉ cần chỉ đạo thực hiện cho bằng được"

Nhân tố đầu tiên đảm bảo các quyết định lãnh đạo của Đảng đúng đắn

là các quyết định đó phải được ban hành theo đúng nguyên tắc tổ chức của Đảng Những nội dung chủ yếu là: thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội Đảng, cấp ủy chịu trách nhiệm

về hoạt động của mình trước đại hội Đảng, trước cấp trên và cấp dưới; phải chấp hành nghị quyết của Đảng, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương…

Với vai trò là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở và là tổ chức thành viên trong hệ thống tổ chức của Đảng, các quyết định lãnh đạo của Đảng nhất định phải thể hiện được mục tiêu nhằm lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn mà cấp ủy có nhiệm vụ lãnh đạo Cấp ủy đảng có quyền quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình nhưng không trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của tổ chức Đảng cấp trên

Quyết định lãnh đạo của Đảng đòi hỏi phản ánh đúng tình hình thực tiễn của địa phương, đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng chính đáng của các đối tượng của sự lãnh đạo, phải tính đến các điều kiện về vật chất, về nguồn lực để thể hiện được các quyết định; đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng và phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân,… Đây là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thực hiện vai trò và chức năng lãnh đạo của tổ chức

Trang 33

Đảng, cấp uỷ Đảng, là một yêu cầu cơ bản trong việc thực hiện nguyên tắc tổ chức, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Với vai trò của một đảng cầm quyền, các quyết định của Đảng tác động đến mọi lĩnh vực hoạt động của chính quyền nhà nước và toàn xã hội Ở cơ sở, mỗi quyết định lãnh đạo của Đảng

ủy tác động đến mọi hoạt động của chính quyền cấp cơ sở và mọi lĩnh vực hoạt động trên địa bàn cơ sở

Đối với tất cả các lĩnh vực hoạt động trên địa bàn, Đảng là chủ thể ra quyết định lãnh đạo Đối tượng thực hiện quyết định lãnh đạo của Đảng là đội ngũ đảng viên trong toàn đảng bộ; cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị cơ sở

Khi các quyết định lãnh đạo của Đảng được ban hành, mọi cán bộ đảng viên thuộc đảng bộ và các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị cơ sở có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện Căn cứ quy định của pháp luật, chính quyền cấp cơ

sở có trách nhiệm ban hành các quyết định, quy định về việc thực hiên các mục tiêu nhiệm vụ đã được Đảng quyết định

1.2.2.2 Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền

Thực hiện quyết định số 217, 218 của Bộ Chính trị, công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của Mặt trận

Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam đã thể hiện sự đổi mới và trở thành điểm nhấn quan trọng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam và các

tổ chức chính trị, xã hội, góp phần quan trọng vào việc xây dựng Đảng, nhà nước, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tham mưu cho Đảng, phối hợp với chính quyền xử lý nhiều vấn đề bức xúc trong

Trang 34

nhân dân như: giám sát thực hiện chính sách người có công với cách mạng, giám sát việc thực hiện luật lao động, luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hỗ trợ tái định cư, giải phóng mặt bằng, các khoản đóng góp của nhân dân, các công trình đầu tư cộng đồng, công trình phúc lợi, hệ thống giao thông nông thôn, đường dân sinh, thủy lợi, nội đồng trong xây dựng nông thôn mới,… Về công tác phản biện đã góp phần bổ sung, điều chỉnh dự thảo chủ trương đường lối, đề án chính sách pháp luật của nhà nước kịp thời

Ngoài ra, MTTQ đã triển khai kế hoạch các cuộc giám sát theo chuyên

đề Nội dung giám sát tập trung vào việc thực hiện chế độ, chính sách bồi thường, giải tỏa; việc bố trí tái định cư cho người dân có nhà, đất bị thu hồi; việc quy hoạch, dự án còn để kéo dài nhiều năm; về an toàn vệ sinh thực phẩm; về công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân…

Thực hiện Nghị quyết liên tịch số 05 về thực hiện quy chế “MTTQ Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư” trên phạm vi cả nước, qua đó điều chỉnh nội dung giám sát theo hướng chỉ giám sát đối với hành vi vi phạm đạo đức, phẩm chất, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở khu dân

cư nhằm phát huy vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống mặt trận ở cơ sở

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XII) được ban hành tại Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa VIII, trong đó việc tổ chức để nhân dân thực hiện giám sát và đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội các cấp thực hiện nghiêm túc

Trang 35

định kỳ và đột xuất tổ chức việc tiếp nhận, tổng hợp thông tin, ý kiến của nhân dân phản ánh, kiến nghị về những nội dung liên quan đến suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên để kiến nghị các cơ quan chức năng xử lý và báo cáo kết quả thực hiện cho nhân dân biết

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cũng phối hợp tốt với chính quyền cùng cấp xây dựng kế hoạch, lịch cụ thể để tổ chức các hội nghị tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Qua đó nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân đã được kịp thời giải quyết, góp phần giảm các

vụ khiếu nại, tố cáo trong nhân dân, tạo đồng thuận trong xã hội, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương Cùng với đó, hoạt động giám sát, phản biện được chú trọng, trong đó MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã lựa chọn những nội dung trọng tâm để xây dựng chương trình giám sát

và phản biện xã hội theo Quyết định số 217 và 218 của Trung ương quy định Nội dung các cuộc giám sát tập trung vào việc kết quả thực hiện nghị quyết Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, hoạt động của đại biểu HĐND, việc giải quyết các đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân, giám sát việc triển khai xây dựng các công trình do nhà nước, các tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho địa phương, các khoản đóng góp của nhân dân, việc thực hiện các chế độ chính sách,….Thông qua giám sát đã nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, hạn chế tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ngày càng vững mạnh

Sự giám sát của nhân dân đối với đảng viên là không thể thiếu Bản chất và bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn của mỗi đảng viên đều được thể hiện trong quá trình công tác, trong giải quyết các vấn đề cụ thể và trong sinh hoạt hằng ngày ở nơi cư trú Do vậy, để làm tốt công tác quản lý đảng viên ở cả nơi làm việc và nơi cư trú phải thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ

sở và Quy định số 76-QĐ/TW, ngày 15-6-2000, của Bộ Chính trị, về “Đảng

Trang 36

viên đang công tác ở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú” Chi bộ nơi đảng viên công tác phải thường xuyên giáo dục, kiểm tra đảng viên về đạo đức, lối sống, có trách nhiệm quản lý toàn diện đảng viên về lập trường, tư tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật và phong cách Chi

bộ nơi đảng viên công tác cần kịp thời nắm bắt các thông tin liên quan đến phẩm chất đạo đức của đảng viên thể hiện trong mối quan hệ giữa đảng viên với gia đình, với nhân dân nơi cư trú, với việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tại địa phương

Để thực hiện tốt vai trò giám sát của mình trong thực hiện Nghị quyết T.Ư

4 (khóa XII), trước hết các tổ chức, cấp ủy đảng và hệ thống chính trị phải làm cho nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và tính cấp bách của nhiệm vụ tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay; tính quyết liệt của việc ngăn chặn, đẩy lùi 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ theo quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XII) đã nêu

Muốn nhân dân tin vào Đảng và nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay thì cấp ủy, tổ chức đảng phải khắc phục cho được những suy thoái trong tổ chức, cấp ủy của mình đã được chỉ ra Các tổ chức, cấp ủy đảng cần thẳng thắn nhìn nhận những kết quả đạt được, rút ra những bài học trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4(khóa XI) về xây dựng Đảng để có biện pháp đúng đắn, khả thi trong triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); phải chỉ ra được những vấn đề, vụ việc cụ thể mà cá nhân, tập thể

đã vi phạm hoặc có biểu hiện vi phạm cùng với phương pháp xử lý, khắc phục, sửa chữa cụ thể, không đánh giá chung chung, mơ hồ, không rõ địa chỉ,

đã nói thì phải làm, đã làm thì làm đến nơi đến chốn

Trang 37

Cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị cần tạo cơ chế thật sự để nhân dân thực hiện quyền giám sát Xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật

để nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể của mình giám sát hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị

Thông qua sự giám sát của nhân dân, mỗi đảng viên có ý thức tu dưỡng, rèn luyện tác phong, nâng cao tinh thần trách nhiệm với công việc, giữ gìn lối sống lành mạnh, có văn hóa Thực tế ở nhiều nơi cho thấy, nơi nào Quy chế Dân chủ ở cơ sở được phát huy, công tác kiểm tra, giám sát của nhân dân được coi trọng thì nơi đó tổ chức Đảng, đảng viên lãnh đạo và hoạt động

có hiệu quả

1.2.2.3 Thông qua công tác tư tưởng- chính trị và sự nêu gương của cán bộ, đảng viên; tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia xây dựng và quản lý nhà nước

Đảng lãnh đạo bằng công tác tư tưởng - chính trị, bằng sự nêu gương của đảng viên, thông qua việc giáo dục nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, phong cách công tác, ý thức trách nhiệm, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời giáo dục nhân dân chấp hành pháp luật, thực hiện nghiêm các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước

Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Cấp

ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị các cấp cần phải thường xuyên coi trọng đổi mới hình thức, nội dung, phương pháp giáo dục chính trị

tư tưởng cho phù hợp với điều kiện thực tiễn, khắc phục bệnh giáo điều, sơ cứng, đơn điệu, lý luận không gắn liền với thực tiễn Trước hết, thông qua giáo dục làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc tính chất nguy hiểm, tác hại của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đối với công tác xây dựng Đảng, đây là vấn đề quyết định đến vận mệnh của dân tộc, sự tồn vong

Trang 38

của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; nhận thức sâu sắc việc “…đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng

cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng” và thấy được đây là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất trong 3 vấn đề lớn của công tác xây dựng Đảng hiện nay

Lãnh đạo bằng công tác tư tưởng và thể chế cầm quyền trong lĩnh vực tư tưởng Nếu như trước đây, phương thức công tác tư tưởng của Đảng chủ yếu là tuyên truyền, cổ động…, thì hiện nay phải tăng cường giải đáp, đối thoại, thuyết phục; coi trọng việc giải đáp những vấn đề đặt ra từ thực tiễn; tăng cường đưa giáo dục pháp luật, giáo dục khoa học chính trị, giáo dục kỹ năng lãnh đạo, quản

lý hiện đại vào các chương trình đào tạo cán bộ chủ chốt của Đảng Bên cạnh

đó, Đảng cần tập trung giải quyết tốt những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc, vận mệnh của Đảng

Mặt khác, thông qua giáo dục chính trị tư tưởng nhằm bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên nắm vững, phát huy chủ nghĩa yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, nắm vững nội dung cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn

“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đang ra sức chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam; phê phán vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của các luận thuyết phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng,… ; đồng thời, Đảng cần phải giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, thông tin thời sự cho cán bộ, đảng viên

để họ luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi hoàn cảnh

Trang 39

1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Đảng ủy xã và chính quyền cấp xã

1.2.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Đảng ủy xã

* Chức năng: Theo quy định số 95-QĐ/TW, ngày 03/3/2004 của Ban

Bí thư quy định về chức năng, nhiệm vụ của đản bộ, chi bộ cơ sở xã “Đảng

bộ, chi bộ cơ sở xã là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng hệ thốngchính trị ở xã vững mạnh, nông thôn giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước”

* Nhiệm vụ: - Lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng

- Đối với Hội đồng nhân dân

- Đối với Ủy ban nhân dân

- Đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Ban Thường vụ Đảng ủy, trực tiếp là Bí thư Đảng ủy xã nhiệm kì mới

do Đại hội Đảng bộ bầu ra có trách nhiệm tổ chức xây dựng kế hoạch hoạt động lãnh đạo của Đảng ủy để đưa ra thảo luận và quyết định tại cuộc họp Đảng ủy

Việc thiết lập, kiện toàn bộ máy chính quyền xã là một trong những mối quan tâm hàng đầu của đảng ủy, Ban Thường vụ đảng uỷ về cơ cấu tổ

Trang 40

chức, nhân sự các thành viên UBND, lựa chọn các nhân sự chủ chốt của UBND Theo quy định trong Đảng, nhân sự ứng cử chủ tịch UBND xã phải

do Đảng ủy xem xét giới thiệu (Đảng uỷ phải báo cáo và có sự đồng ý của Ban Thường vụ Huyện ủy, thì mới chính thức giới thiệu đến HĐND) Đảng

uỷ giao cho Ban Thường vụ Đảng ủy xem xét giới thiệu một số Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng ủy và Đảng ủy viên ứng cử các chức danh Phó Chủ tịch và

Ủy viên UBND

Đảng ủy xã xây dựng mối quan hệ với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp là môi quan hệ giữa tổ chức có vai trò, chức năng lãnh đạo toàn diện ở cơ sở với cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương

Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng uỷ cơ sở với Uỷ ban nhân dân Đảng ủy cơ sở không làm thay các nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân

mà thực hiện vai trò lãnh đạo, thông qua công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra, giám sát để yêu cầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân thực hiện đúng các quy định của pháp luật, thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã Ngược lại, các thành viên cuả Uỷ ban nhân dân

xã không chỉ nắm vững và thực hiện đầy đủ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp mà phải nắm vững quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng nghị quyết, quyết định của Đảng ủy, thông qua hoạt động hàng ngày của Uỷ ban nhân dân biến các chủ trương, nghị quyết, quyết định của Đảng ủy và Hội đồng nhân dân cùng cấp đi vào cuộc sống và trở thành kết quả hiện thực

Đảng uỷ xã đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện: UBND cấp xã thì dưới sự chỉ đạo trực tiếp của UBND huyện Trong phạm vi xã, cấp uỷ đảng thực hiện lãnh đạo toàn diện các vấn đề kinh tế- xã hội, an ninh- quốc phòng và lãnh đạo cả hệ thống chính trị cơ sở; đồng thời, phải chịu trách nhiệm trước Huyện ủy trong việc lãnh đạo trực tiếp các tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy xã, nhằm đưa chủ trương, chính sách của Đảng

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng sản Việt Nam(1982), Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
3. Đảng Cộng sản Việt Nam(1987), Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
4. Đảng Cộng sản Việt Nam(1991), Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
5. Đảng Cộng sản Việt Nam(1996), Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Đảng Cộng sản Việt Nam(2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
8. Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
9. Đảng Cộng sản Việt Nam(2016), Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
10. Đảng Cộng sản Việt Nam(2016), Các nghị quyết của Trung ương Đảng– 2015, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghị quyết của Trung ương Đảng– 2015
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
11. Đảng Cộng sản Việt Nam(2016), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam,Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
14. Hội đồng lý luận Trung ƣơng(2015), Vai trò của Đảng trong cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội tại Cu Ba và đổi mới tại Việt Nam (lý luận và thực tiễn), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Đảng trong cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội tại Cu Ba và đổi mới tại Việt Nam (lý luận và thực tiễn)
Tác giả: Hội đồng lý luận Trung ƣơng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
15. Hội đồng chỉ đạo xuất bản sách xã, phường, thị trấn(2013), Đảng ủy cơ sở lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng ủy cơ sở lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Hội đồng chỉ đạo xuất bản sách xã, phường, thị trấn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
22. Hoàng Chí Bảo(2006), “Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đổi mới – Một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Cộng sản, (17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đổi mới – Một số vấn đề đặt ra”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2006
23. Nguyễn Thị Doan(2007), “Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, (777) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2007
24. TS. Đinh Thế Huynh – GS.TS. Phùng Hữu Phú – GS.TS. Lê Hữu Nghĩa – GS.TS. Vũ Văn Hiền – GS.TS. Nguyễn Viết Thông (2015), “30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam
Tác giả: TS. Đinh Thế Huynh – GS.TS. Phùng Hữu Phú – GS.TS. Lê Hữu Nghĩa – GS.TS. Vũ Văn Hiền – GS.TS. Nguyễn Viết Thông
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
25. Ths Lê Thị Hằng (2016), “ Quan điểm của V.I. Lênin về phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền”, Lý luận chính trị, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của V.I. Lênin về phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền”, "Lý luận chính trị
Tác giả: Ths Lê Thị Hằng
Năm: 2016
26. GS, TS. Nguyễn Văn Huyên (2011), Đảng Cộng sản cầm quyền nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản cầm quyền nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng
Tác giả: GS, TS. Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
32. Đỗ Hoài Nam (2008), Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới
Tác giả: Đỗ Hoài Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
33. Lê Nhị (2006), “Về sự cầm quyền của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự cầm quyền của Đảng”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Lê Nhị
Năm: 2006
34. Dương Xuân Ngọc (2005), “Vận dụng tư tưởng của Lênin về Đảng cầm quyền vào công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí lý luận chính trị, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng của Lênin về Đảng cầm quyền vào công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong thời kỳ đổi mới”, "Tạp chí lý luận chính trị
Tác giả: Dương Xuân Ngọc
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w