1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế làng nghề phát triển theo hướng bền vững ở huyện thạch thất, thành phố hà nội hiện nay

112 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ hàng trăm năm trước đây, trong xã hội phong kiến, các làng nghề Việt Nam đã có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp cho các hoạ

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN HOÀNG ANH

KINH TẾ LÀNG NGHỀ PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG

BỀN VỮNG Ở HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYÊN HOÀNG ANH

KINH TẾ LÀNG NGHỀ PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG

BỀN VỮNG Ở HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60 31 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Ngô Văn Lương

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

Hà Nội, ngày……tháng… năm 2017

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký và ghi rõ họ tên)

TS Đồng Văn Phường

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu, tư liệu được dựa trên nguồn tin cậy, có thực và dựa trên thực tế thu thập

và phân tích của tôi Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Học viên

Nguyễn Hoàng Anh

Trang 5

BVMT Bảo vệ môi trường

MỤC LỤC

Trang 6

NGHỀ PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 8

1.1.Những vấn đề chung về làng nghề và kinh tế làng nghề 8 1.2.Phát triển kinh tế làng nghề theo hướng bền vững 22 1.3.Kinh nghiệm phát triển kinh tế làng nghề bền vững ở một số địa phương 36

Chương 2: KINH TẾ LÀNG NGHỀ PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở HUYỆN THẠCH THẤT – HÀ NỘI 45 GIAI ĐOẠN 2010 – 2016 45

2.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến tính bền vững của kinh tế làng nghề ở huyện Thạch Thất – Hà Nội 45 2.2.Thực trạng kinh tế làng nghề bền vững ở huyện Thạch Thất – Hà Nội 53

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở HUYỀN THẠCH THẤT – HÀ NỘI 77

3.1 Định hướng phát triển kinh tế làng nghề bền vững ở huyện Thạch Thất - Hà Nội 77 3.2 Giải pháp phát triển kinh tế làng nghề theo hướng bền vững ở huyện Thạch Thất – Hà Nội 81

KẾT LUẬN 101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

Nội tính đến hết năm 2016 54 Bảng 2.2 Biến đổi GDP trong cơ cấu ngành nghề 59 Bảng 2.3 Biến đổi lao động trong cơ cấu ngành nghề 60 Bảng 2.4 Số lao động làm nghề ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội tính

đến hết năm 2016 61

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Việt Nam là một trong những nước ở châu Á có bề dày lịch sử về các làng nghề Từ hàng trăm năm trước đây, trong xã hội phong kiến, các làng nghề Việt Nam đã có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp cho các hoạt động của nền sản xuất nông nghiệp, cho bản thân các nghề thủ công nghiệp và cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của đông đảo cư dân nông thôn và các đô thị trong nước; thậm chí nhiều sản phẩm độc đáo về tơ lụa, đồ gốm, hàng thủ công chạm khắc tinh xảo… của các làng nghề Việt Nam đã được các nhà buôn lớn như Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước phương Tây thu gom với số lượng khá lớn nhằm mục đích sinh lợi

Do đó, phát triển các làng nghề ở một số địa phương là việc làm cần thiết nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại với sản phẩm mũi nhọn là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản và cũng là thực hiện mục tiêu “ly nông bất ly hương” ở nông thôn Phát triển làng nghề còn mang ý nghĩa giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc của các làng quê, đồng thời góp phần quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc giữa các vùng miền trong nước với nhau và với thế giới bên ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay

Thạch Thất là một huyện của Hà Nội, có vị trí địa lý thuận lợi, nơi hội

tụ nhiều tiềm năng về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và cũng là nơi tập trung nhiều làng nghề thủ công Với sự phát triển giao thông đi lại thuận tiện

về đường bộ, đường sông và đường sắt, Thạch Thất hiện đang là điểm hấp dẫn khách du lịch tham quan từ nhiều vùng miền trên cả nước và nước ngoài, trong đó nghiên cứu tham quan về sự phát triển các làng nghề truyền thống đã

Trang 9

trở thành một trong những điểm nhấn thu hút đáng chú ý nhất của khách du lịch Sự phát triển các làng nghề ở huyện Thạch Thất không những đóng góp giá trị về mặt kinh tế mà còn góp phần giữ gìn những giá trị truyền thống của dân gian, tạo nên nét đẹp văn hóa truyền thống, điểm nhấn quan trọng trong chuỗi du lịch khám phá Hà Nội nói chung và với làng nghề truyền thống của huyện Thạch Thất nói riêng

Thực tiễn cho thấy, trong những năm qua, làng nghề ở huyện Thạch Thất đã trở thành một bộ phận kinh tế hết sức quan trọng của huyện Thạch Thất nói riêng và với Hà Nội nói chung Kinh tế làng nghề Thạch Thất đã có

sự phát triển lớn mạnh không chỉ về quy mô , cơ cấu ngành nghề và sản phẩm

mà còn cả về trình độ và chất lượng Cùng với các lĩnh vực kinh tế khác, kinh

tế làng nghề Thạch Thất đã có những đóng góp tích cực cho việc tăng trưởng kinh tế của Huyện, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông thôn, tổ chức lại sản xuất trong nội bộ ngành

và giữa các ngành nghề với nhau, theo đó đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Huyện theo hướng tiến bộ, thay đổi bộ mặt nông thôn, cải thiện một bước đáng kể đời sống vật chất và tinh thần văn hóa của nông dân Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, kinh tế làng nghề Thạch Thất hiện nay cũng đang phải đối mặt với những khó khăn thách thức mới Đó là tình trạng phát triển tự phát, thiếu tính quy hoạch cơ bản của phát triển làng nghề;

là sự thụ động phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ trong nước và nước ngoài; sự thiếu tính kế hoạch hướng dẫn dài hạn và công tác dự báo thị trường hạn chế đang gây cho doanh nghiệp và người sản xuất làng nghề những khó khăn lúng túng trong tìm kiếm nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ đầu ra của sản phẩm Do thiếu những yếu tố thông tin thị trường và những bất cập về cơ chế chính sách

đã và đang tạo nên những lực cản cho sự phát triển làng nghề ở Thạch Thất hiện nay Những tồn tại và hạn chế nêu trên nếu không có những biện pháp và giải pháp tích cực có hiệu quả khắc phục thì sự phát triển làng nghề ở Thạch

Trang 10

Thất sẽ khó có thể đảm bảo bền vững và nguy cơ suy thoái kinh tế làng nghề

ở Thạch Thất sẽ là hiện thực không thể tránh khỏi

Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã chọn : “Kinh tế làng nghề

phát triển theo hướng bền vững ở Huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn cao học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Phát triển kinh tế làng nghề là một trong những vấn đề quan trọng đối với đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, vì thế chủ đề này đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đến nay đã có nhiều công trình khoa học được công bố Dưới đây là một số công trình ít nhiều có liên quan đến định hướng nghiên cứu của đề tài luận văn:

- Luận án Tiến sĩ: “Làng nghề truyền thống trong quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Trần Minh Yến, Nxb Khoa học Xã hội, năm 2004

Trong luận án, tác giả đã phân tích rõ vai trò của làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, đồng thời tác giả còn đưa ra những kinh nghiệm phát triển làng nghề của các nước trong khu vực châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, và một số nước trong khu vực ASEAN,… Đề tài còn nêu rõ thực trạng hiện nay của các làng nghề truyền thống ở Việt Nam từ đó chỉ ra xu hướng vận động và 8 nhóm giải pháp của làng nghề truyền thống dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, trong đề tài nghiên cứu tác giả còn chưa nêu ra được nguyên nhân dẫn đến những yếu kém, khó khăn của làng nghề truyền thống hiện nay

đó là công tác truyền nghề và năng lực quản lý của doanh nghiệp làng nghề trong quá trình tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, là một trong những khâu quan trọng trong việc phát triển kinh tế trong làng nghề truyền thống

- “Bảo tồn và phát triển làng nghề trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Hà

Trang 11

Nội, năm 2009 Công trình nghiên cứu khoa học này trước hết đã chỉ ra được vai trò có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước Làng nghề góp phần tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu, làm tăng kim ngạch xuất khẩu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu còn chỉ

ra vai trò của làng nghề trong việc bảo tồn, chấn hưng và phát triển làng nghề không chỉ phát triển kinh tế theo ý nghĩa thông thường, mà còn là phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc trong tăng trưởng kinh tế Với mục tiêu đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề, đề tài đã chỉ ra thực trạng phát triển của các làng nghề Việt Nam hiện nay; cơ hội lớn với các làng nghề hiện nay là việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từ đó tạo ra nhiều thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề, doanh nghiệp làng nghề cũng không bị phân biệt đối xử trong các vụ tranh chấp thương mại nhờ có cơ chế giải quyết tranh chấp chung; tuy nghiên đề tài cũng chỉ ra những khó khăn và yếu kém đang gặp phải: Về nguồn nhân lực, vốn sản xuất, mặt bằng sản xuất, nguồn nguyên liệu đầu vào, máy móc thiết bị sản xuất còn chậm cải tiến, năng lực quản lý của các doanh nghiệp làng nghề cũng như cơ chế chính sách và lãnh đạo địa phương, đặc biệt là tình hình ô nhiễm hiện nay ở các làng nghề, Qua phân tích những cơ hội và thách thức đối với làng nghề Việt Nam công trình nghiên cứu chỉ ra những hướng bảo tồn và những giải pháp nhằm thực hiện

- Hội thảo quốc tế: “Bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền

thống”, 8/1996 tại Hà Nội

- “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”, tác giả Bùi Văn

Vượng, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998

- “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp

hóa”, TS Dương Bá Phượng, Nxb Khoa học Xã hội, năm 2001

Trang 12

- Hội thảo: “Phát triển bền vững làng nghề Hà Tây: Thực trạng và giải

pháp”, Hà Đông, 11/2006

- “Diễn đàn làng nghề năm 2007”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn, tổ chức 17/11/2007, tại số 2 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội Hội thảo “Bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

tổ chức ngày 17/9/2010, tại Hà Nội

- Luận văn thạc sĩ: “Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở

Việt Nam”, Vũ Thị Thu, Hà Nội, 1998

- Luận văn thạc sĩ: “Phát triển làng nghề ở huyện Từ Liêm trong tiến

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, Nguyễn Thị

Thọ, Hà Nội, 2005

- Luận văn thạc sĩ: “Phát triển làng nghề Hà Tây trong hội nhập kinh

tế quốc tế”, Nguyễn Thị Nghĩa, Hà Nội, năm 2008

- Đề tài nghiên cứu: “Phát triển bền vững các làng nghề huyện Thạch

Thất - Thành phố Hà Nội”, Đỗ Thị Lan, Hà Nội, năm 2009

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận, thực tiễn về phát triển kinh tế làng nghề bền vững đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế làng nghề bền vững ở huyện Thạch Thất – Hà Nội, luận văn đưa ra định hướng và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy kinh tế làng nghề của Huyện Thạch Thất phát triển theo hướng bền vững từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

- Luận giải cơ sở lý luận về làng nghề và phát triển kinh tế làng nghề bền vững

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế làng nghề bền vững

ở huyện Thạch Thất, Hà Nội từ năm 2010 đến nay

Trang 13

- Đưa ra những định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu để thúc đẩy kinh

tế làng nghề ở huyện Thạch Thất, Hà Nội phát triển theo hướng bền vững

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu:

Phát triển kinh tế làng nghề theo hướng bền vững ở huyện Thạch Thất ,

Hà Nội (bao gồm cả làng nghề truyền thống và làng nghề mới)

- Về thời gian chủ yếu từ năm 2010 đến năm 2016

- Về không gian nghiên cứu được giới hạn trong sự phát triển kinh tế làng nghề ở huyện Thạch Thất, Hà Nội, tiếp cận dưới các góc độ kinh tế chính trị

Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu:

Cơ sở lý luận, thực tiễn

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, các Văn kiện, Báo cáo tổng kết của lãnh đạo, chính quyền huyện Thạch Thất là căn cứ lý luận và thực tiễn nghiên cứu của đề tài Đồng thời, có tham khảo một số tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử Mác – xit, luận văn sử dụng phương pháp của khoa học kinh

tế chính trị là chủ yếu, đồng thời kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: Phân tích tổng hợp, thống kế - so sánh, điều tra – khảo sát, lấy

ý kiến chuyên gia, để thực hiện việc nghiên cứu của đề tài

5 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế làng nghề bền vững trên địa bàn một huyện ngoại thành Hà Nội, đồng thời nêu ra một số định hướng và giải pháp cho sự phát triển kinh tế làng nghề bền vững

ở huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay

Trang 14

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, cung cấp tư liệu cho việc học tập, nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành kinh tế chính trị trong các trường Đại học và Cao đẳng hiện nay, cũng như cho việc lãnh đạo, quản

lý của chính quyền địa phương

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 15

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ LÀNG

NGHỀ PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

“Gạch Bát Tràng”, “Giấy Yên Thái”, “Vàng bạc Châu Khê”, “Đúc đồng Đại Bái”… với trình độ tinh xảo và phân công lao động khá cao Do đó, quá trình phát triển làng nghề ở Việt Nam chính là quá trình phát triển kinh tế nông thôn, đồng thời là lịch sử phát triển của nền tiểu thủ công nghiệp Việt Nam Khái niệm làng nghề có rất nhiều

Dưới đây là một số khái niệm về làng nghề được tổng hợp từ các nguồn tài liệu:

Theo Luận án tiến sĩ “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven thủ đô Hà Nội” của tác giả

Mai Thế Hởn:

Khái niệm thứ nhất

Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy nghề đó làm nghề sống chủ yếu

Trang 16

Nếu dựa trên khái niệm phân loại này, số lượng làng nghề ở Việt Nam hiện còn rất ít Ví dụ như làng gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội) rất nổi tiếng nhưng

số người làm nghề cũng chỉ chiếm hơn 50%, số còn lại làm nhiều nghề khác

Vài năm trở lại đây, số người dân Bát Tràng chuyển sang làm nghề thương mại và dịch vụ tăng mạnh

Khái niệm thứ hai

Làng nghề là làng làm nghề thủ công, nhưng không nhất thiết là đa số dân làng Thợ thủ công cũng làm nghề nông nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá đã trở thành thợ chuyên sản xuất hàng thủ công

Khái niệm này có thể dẫn tới việc hiểu tiêu chí đánh giá làng nghề quá đơn giản Làng nghề được công nhận phải được xem xét dưới góc độ vai trò của nghề đó đối với sự phát triển kinh tế của làng với những tiêu chí cụ thể về

số lao động tham gia và tỷ trọng thu nhập từ nghề đó

Khái niệm thứ ba

Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, có liên kết trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ và có cùng tổ nghề

Khái niệm này đã khái quát về khía cạnh nghề nghiệp trong cách hiểu

về làng nghề nhưng cái thiếu là chưa phản ảnh được hết tính chất của làng nghề với vai trò là một thực thể sản xuất kinh doanh có ý nghĩa đối với các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội

Khái niệm thứ tư

Làng nghề là cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách khỏi nông nghiệp để sản xuất, kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng số giá trị sản phẩm của cả làng

Khái niệm này mặc dù rất đơn giản về tiêu chí nhưng phản ánh được tính chất của làng nghề trên góc độ kinh tế Việc xác định làng nghề chỉ nên

Trang 17

dựa chủ yếu vào tiêu chí kinh tế bởi làng nghề thực chất là một mô hình phát triển kinh tế đặc thù Trước đây, làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp, tên làng nghề gắn liền với tên nghề Nhưng hiện nay, trong xu hướng lĩnh vực thương mại và dịch vụ đóng vai trò quan trọng đã dẫn tới sự hình thành các làng nghề hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ Qua một

số khái niệm nói trên, có thể thấy rằng:

Làng nghề là một không gian kinh tế nhất định, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, chủ yếu liên quan tới các nghề thủ công và một số dịch

vụ, trong đó lao động và thu nhập từ nghề này chiếm tỷ trọng lớn hơn

Làng nghề có thể được xem xét dưới nhiều góc độ, với nhiều cách hiểu khác nhau và cũng phù hợp với sự phát triển hiện nay Do đó, để làm rõ khái niệm về làng nghề, Thông tư số 116/2006/TT - BNN của Bộ NN và PTNT, ngày 18/12/2006 đã đưa ra những tiêu chí cụ thể sau:

- Số hộ làm nghề đó chiếm từ 25%

- Thu nhập từ nghề đó chiếm trên 50%

- Giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của làng

- Thời gian phát triển ổn định từ 2 năm trở lên

Với cách tiếp cận làng nghề trên đây, có thể hiểu kinh tế làng nghề là

một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yêu tố làng

và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao gồm nhiều

hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết

chặt chẽ về kinh tế - xã hội và văn hóa

Hoặc có thể diễn đạt một cách ngắn gọn: Kinh tế làng nghề là hình thức

tổ chức kinh tế bao gồm phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong các ngành nghề ở một làng nghề

Khái niệm này chỉ ra rằng, kinh tế làng nghề là một bộ phận kinh tế không thể tách rời trong cơ cấu kinh tế của địa phương, tồn tại trong một

Trang 18

không gian nhất định, chịu sự quản lý, điều tiết của chính quyền và các cơ quan chức năng quản lý về mặt nhà nước của địa phương đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn Theo đó mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trên địa bàn đều phái có nghĩa vụ và trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định của pháp luật và trách nhiệm với cộng đồng

gồm cơ cấu các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế hộ gia đình và các tổ hợp tác xã chiếm đại bộ phận, là lực lượng chù yếu trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong các làng nghề Giữa các hộ gia đình, các tổ hợp tác xã sản xuất kinh doanh, dịch vụ có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế, văn hóa và xã hội, được hình thành qua nhiều năm, nhiều đời mang tính kế thừa và truyền thống

mô hình sản xuất kinh doanh khác nhau: Hộ gia đình; Tổ sản xuất; Hợp tác xã; Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cồ phần

Hộ gia đình: Là mô hình sản xuất truyền thống chiếm hơn 90% các mô

hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay Xét về mặt đặc điểm, hộ gia đình là mô hình sản xuất đặc biệt trong đó lao động là các thành viên trong gia đình, chỉ khi thời vụ hoặc khi chạy hàng thì có thể thuê thêm lao động Mọi thành viên trong gia đình đều có thể tham gia, tùy theo độ tuổi, trình độ tay nghề để làm công việc phù hợp nhưng bao giờ cũng có ít nhất 1 hoặc 2 người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật, quản lý, điều hành, giao dịch Vì vậy, mô hình sàn xuất hộ gia đình là quy mô nhỏ

Tổ sản xuất: Xuất hiện do các chủ thể kinh tế độc lập liên kết lại nhằm

nâng cao hiệu quả kinh tế, thòa mãn lợi ích kinh tế chung Các đơn vị kinh tế độc lập mà chủ yếu là hộ gia đình đăng ký hợp đồng sản xuất lớn mà không thể đảm nhiệm được do hạn chế về vốn, lao động, thời gian thanh lý hợp đồng Từ thực trạng này đã dẫn đến sự liên kết, hợp tác giữa các hộ gia đình

Trang 19

để cùng sản xuất, cùng chia sẻ những khó khăn và lợi ích giữa các bên Thông thường sự hợp tác này được thông qua thỏa thuận bằng hợp đồng miệng giữa các gia đình

Hợp tác xã: Trước giai đoạn đổi mới, các hợp tác xã thủ công nghiệp

là mô hình sản xuất quan trọng nhất trong các làng nghề Các hợp tác xã thủ công nghiệp có cơ sở vật chất đầy đủ như nhà xưởng, kho chứa sản phẩm, nguyên liệu, văn phòng, cửa hàng được thực hiện dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động bằng cách chấm công, điểm Sau những năm 80 của thế kỷ XX cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, xã viên không còn động lực kinh tế, các hợp tác xã sản xuất trì trệ, trờ thành nhân tố kìm hãm sự phát triển làng nghề Ra khỏi hợp tác xã, xã viên trở thành người tự chủ trong sản xuất kinh doanh trong mô hình sản xuất hộ gia đình

Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần

Đây là hình thức mới xuất hiện ở các làng nghề và phát triển sau khi luật doanh nghiệp ra đời Được xuất hiện từ các chủ thể kinh tế có vốn đầu tư dồi dào và năng động trong cơ chế thị trường Mặc dù mới xuất hiện và chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng các mô hình kinh tế này đã khẳng định được vai trò của mình trong xu thế hội nhập của các làng nghề

Tồn tại dưới các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đa dạng, kinh tế làng nghề chịu sự tác động trực tiếp của các quan hệ thị trường, thị trường chi phối và tác động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản phẩm, theo các quan hệ cung cầu, quan hệ cạnh tranh, các quan hệ giá trị, giá cả và cơ chế điều tiết của thị trường

Sự phát triển cùa kinh tế làng nghề dựa vào tính năng động tích cực của các chủ thể sản xuất kinh doanh, đồng thời không thể tách rời sự trợ giúp của nhà nước bằng các chính sách kinh tế, xã hội tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể sản xuất kinh doanh trên địa bàn

Trang 20

1.1.2 Đặc điểm kinh tế làng nghề

Làng nghề Việt Nam có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Làng nghề Việt Nam đa dạng về cơ cấu ngành hàng và

chủng loại mặt hàng Đặc điểm này xuất phát từ chính cơ sở hình thành ban đầu của làng nghề là khai thác lợi thế tại chỗ và phục vụ nhu cầu dân cư trong vùng Ngoài ra, trong bối cảnh nền sản xuất nhỏ, nặng về tự cung tự cấp nên làng nghề là nguồn cung cấp nhiều loại hàng hoá thiết yếu cho dân cư trong nhiều thế kỷ Do đó, cơ cấu mặt hàng của làng nghề Việt Nam rất đa dạng, phong phú Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến 31-12-2016 số làng nghề và làng có nghề ở nước ta là 5.096 làng nghề, sản xuất ra hàng trăm nghìn chủng loại sản phẩm

Trong điều kiện phát triển kinh tế, tăng cường hội nhập quốc tế và nhất

là trong xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làng nghề có cơ hội mở rộng ngành hàng, lĩnh vực mới Hiện nay, làng nghề không chỉ còn bó gọn trong một số ngành hàng tiểu thủ công nghiệp được cha ông để lại mà mở thêm nhiều lĩnh vực mới như công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Ví dụ, ở Bắc Ninh các làng nghề đã có nhiều mặt hàng mới, tỷ trọng các ngành cơ khí, vật liệu xây dựng, thực phẩm tăng rõ rệt so với trước đây

Thứ hai: Làng nghề thường gắn với nông nghiệp, nông thôn Nông

thôn là nguồn cung cấp nguyên liệu, lao động và thị trường tiêu thụ chủ yếu cho các sản phẩm làng nghề Các làng nghề nông sản, thực phẩm, thủ công

mỹ nghệ (TCMN)… lấy nguyên liệu chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp Điều đó thể hiện rõ sự phân bố làng nghề ở Việt Nam thường gắn với vùng nguyên liệu, như Nga Sơn (Thanh Hoá), Kim Sơn (Ninh Bình) nổi tiếng về các làng nghề chiếu cói là nhờ có vùng nguyên liệu cói

Về nhân lực, làng nghề phụ thuộc hoàn toàn vào lao động nông nghiệp Hiện có 100% lao động làng nghề xuất thân từ nông thôn với hình thức làm việc bán thời gian là chủ yếu Thu hút lao động nông nhàn là thế mạnh (cho

Trang 21

phép giảm chi phí tối đa) và cũng là điểm chủ yếu của làng nghề, bởi vậy khi nhận được đơn hàng vào dịp nông vụ, các làng nghề không có đủ lao động để đáp ứng tiến độ giao hàng Sản phẩm làng nghề được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường nông thôn và khách hàng chủ yếu là người làm nông nghiệp Đa số làng nghề có đích nhắm tiêu thụ sản phẩm là thị trường trong vùng Điều này

có thể thấy rất rõ ở đa số ngành hàng từ chế biến thực phẩm đến cơ khí…

Thứ ba: Quy mô sản xuất ở các làng nghề hiện còn nhỏ bé, thể hiện

ở quy mô sử dụng lao động, doanh thu… Việt Nam có khoảng 11 triệu người thuộc hơn 1,4 triệu hộ gia đình làm việc ở các làng nghề Trong đó, mô hình

tổ chức gia đình là chủ yếu Các hình thức tổ chức sản xuất HTX, tổ hợp, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần không đáng kể Quy

mô nhỏ của sản xuất làng nghề còn thể hiện ở tiêu chí vốn Điều tra của Bộ

NN & PTNT cho thấy vốn sản xuất bình quân mỗi hộ gia đình làm nghề là 25,73 triệu đồng (Theo kết quả hội thảo tổ chức bởi Trung tâm Kinh tế châu

Á - Thái Bình Dương - VAPEC năm 2007 : “Doanh nghiệp, làng nghề với

quá trình hội nhập, cơ hội, thách thức và giải pháp”

Trung bình mỗi cơ sở sản xuất làng nghề chỉ có 5 - 6 lao động Tương ứng với quy mô sử dụng lao động là doanh thu thấp Quy mô sản xuất nhỏ có thể thấy qua con số đóng góp cho kim ngạch xuất khẩu của làng nghề Năm

2016, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm của làng nghề đạt khoảng 593 triệu USD Đến năm 2020, dự kiến con số này lên tới 850 triệu USD nhưng nhìn chung năng lực sản xuất làng nghề còn hạn chế

Thứ tư: Đa dạng mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh Làng nghề có

nhiều mô hình tổ chức sản xuất bởi đặc thù tận dụng tối đa thời gian nhàn rỗi của dân cư nông thôn Hình thức hộ gia đình chiếm đa số với tỷ lệ lên tới 80 - 90%, có nơi gần 100% Các mô hình sản xuất theo kiểu Doanh nghiệp còn ít,

mô hình công ty cổ phần mới có ở Hà Nội, Bắc Ninh… và số lượng rất nhỏ

Thứ năm: Trình độ sản xuất thủ công là chủ yếu Trình độ sản xuất

Trang 22

thấp của làng nghề chính là một lý do mà khu vực này được xếp vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp Công cụ sản xuất chủ yếu là công cụ thủ công, nếu có máy móc cũng là loại lạc hậu với tuổi thọ trung bình là 20 - 30 năm Gần đây để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, làng nghề đã có chuyển biến lớn

về đầu tư các thiết bị mới, hiện đại cho sản xuất Song đầu tư chưa đồng bộ,

sự thay đổi này không tạo đột biến về công nghệ Do đó, bản chất sản xuất làng nghề vẫn là thủ công kết hợp một phần máy móc, chưa mang tính chất dây chuyền công nghiệp

Thứ sáu: Tiêu thụ hàng hoá trung gian Nhìn chung, hàng hoá làng

nghề chủ yếu tiêu thụ tại thị trường nội địa, thông qua các chợ địa phương, các đại lý nhỏ Tiêu thụ hàng hoá làng nghề gặp nhiều khó khăn Làng nghề chưa có hệ thống tiêu thụ sản phẩm, chủ yếu dựa vào tư thương Do đó, nhiều làng nghề không có thị trường tiêu thụ ổn định Xuất khẩu thấp không xứng

đáng với tiềm năng và hầu hết phải thông qua trung gian

1.1.3 Vai trò của kinh tế làng nghề

Thứ nhất, Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế

Đánh giá này có thể được nhìn nhận trên bình diện quốc gia và địa phương Hiện nay giá trị sản xuất của các làng nghề chiếm 9% GDP của cả nước Theo số liệu thống kê, làng nghề đã khẳng định vị trí chủ lực ở nhiều tỉnh Năm 2016, giá trị sản xuất của các làng nghề Hà Nội đã đạt khoảng 7.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố Trong đó, riêng với gần 300 làng nghề đã được công nhận là làng nghề truyền thống (tính đến hết năm 2016) đã đạt giá trị sản xuất hơn 4.700 tỷ đồng

Thứ hai, thu hút đầu tư nước ngoài và cung cấp nguồn hàng xuất khẩu chủ lực

Không chỉ đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, làng nghề còn được nhìn nhận với ý nghĩa là lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt với

Trang 23

những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn như nông sản, TCMN, gốm sứ… Hiện chưa có thống kê về đầu tư nước ngoài vào làng nghề nhưng theo các chuyên gia, nguồn vốn này không nhỏ và thường được thực hiện dưới hình thức không chính thức Đa số đầu tư nước ngoài được thực hiện thông qua họ hàng, mối quan hệ kinh doanh…

Hoạt động xuất khẩu của làng nghề bắt đầu khá sớm, từ thời nhà Lý với các sản phẩm như đồ gốm, gỗ, nội thất, mây tre đan, giấy, lụa, bạc… Hàng hoá được giao tại cảng Vân Đồn, Vân Ninh và sau này là Phố Hiến, Hội An, Phan Thiết, Bến Nghé, Nhà Rồng… Sau khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam đã trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá của Pháp nên đã hạn chế phát triển làng nghề thủ công truyền thống Tuy nhiên, các mặt hàng công nghiệp nhập khẩu từ Pháp không thể làm mất đi các nghề thủ công, vì nhu cầu tiêu thụ hàng hoá khá lớn, với ưu thế giá rẻ Ngày nay, sản phẩm làng nghề Việt Nam tiếp tục xuất khẩu đi nhiều nước Theo Bộ NN&PTNT, hiện có 40% sản phẩm làng nghề được xuất khẩu đến hơn 100 nước Một số sản phẩm làng nghề có tiếng trên Thế giới như đũi Nam Cao (Thái Bình), lụa Vạn Phúc (Hà Nội), khảm trai Đông Giao (Hải Dương), gỗ Đồng Kỵ (Bắc Ninh) Xuất khẩu của làng nghề có tiếm năng lớn và tăng trưởng cao Trong 5 năm (2010 -2015), hàng TCMN do làng nghề sản xuất trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn, tăng trưởng bình quân 19%/năm Nếu tính cả gỗ mỹ nghệ vào nhóm hàng làng nghề, kim ngạch xuất khẩu của khu vực này còn lớn hơn rất nhiều Thực tế, gỗ mỹ nghệ chủ yếu được sản xuất bởi các làng nghề nhưng hiện tại vẫn được tính vào nhóm hàng đồ gỗ

Tại các địa phương, làng nghề cũng đóng vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu Tỉnh Nam Định, mỗi năm, làng nghề đem về 30 triệu USD kim ngạch xuất khẩu Tỉnh Hà Tây cũ, xuất khẩu làng nghề đóng góp tới 40% kim ngạch toàn tỉnh Tỉnh Bắc Ninh, sản phẩm làng nghề là nguồn hàng xuất khẩu quan trọng với kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ 1.200 - 1.500 tỷ đồng Một số ví dụ cụ thể về xuất khẩu của các làng nghề: Thêu ren Minh Lãng

Trang 24

(Thái Bình) mỗi năm xuất khẩu trên 2 triệu USD, chạm bạc Đồng Sâm (Thái Bình) xuất khẩu gần 1 triệu USD/ năm, xuất khẩu của làng nghề gỗ mỹ nghệ Đông Giao (Hải Dương) đạt 3 triệu USD, làng nghề dệt La Phù xuất khẩu 90% sản lượng

Thứ ba, tạo việc làm và thu nhập đáng kể cho người dân

Theo số liệu của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, với hơn 2000 làng nghề, khu vực kinh tế này thu hút 11 triệu lao động thường xuyên và 4 triệu lao động thời vụ, chiếm 30% lực lượng lao động cả nước với 1,4 triệu hộ gia đình tham gia sản xuất Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cứ xuất khẩu được 1 triệu USD, các làng nghề tạo việc làm cho 3.000 - 4.000 lao động thường xuyên Theo Bộ công thương, hiện cả nước có khoảng hơn 100 nghề thủ công có thu nhập bình quân cao gấp 3 - 4 lần so với làm nông nghiệp Hiện tại, một số làng nghề đã thu hút trên 60% tổng số lao động của địa phương Ngoài lao động thường xuyên, làng nghề còn thu hút nhiều động thời

vụ Trung bình mỗi hộ sản xuất có thể thu hút 5 lao động thường xuyên và 8 -

10 lao động thời vụ Các làng nghề chế biến nông sản thu hút số lao động thời

vụ thường gấp 4 - 7 lần số lao động thường xuyên Làng nghề phát triển còn tạo điều kiện cho nhiều nghề khác, nhất là dịch vụ liên quan phát triển, tạo thêm việc làm Ở một số làng nghề, lao động gián tiếp có thể bằng 1/4 lao động trực tiếp Làng gỗ Mỹ nghệ Đông Giao (Hải Dương), lao động gián tiếp bằng 20% lao động trực tiếp, làng gốm Bát Tràng lao động gián tiếp là 25% Khả năng tạo việc làm và tăng thu nhập của làng nghề sẽ phát huy tích cực hơn thông qua việc phát triển sản xuất làng nghề lên mô hình doanh nghiệp Mô hình doanh nghiệp có khả năng tạo việc làm lớn hơn trong trung

và dài hạn Trung bình, một doanh nghiệp làng nghề có khả năng thu nhận số lao động gấp 5 - 10 lần so với một gia đình

Với chương trình “Mỗi làng một nghề”, làng nghề sẽ còn đóng vai trò quan trọng hơn đối với tạo việc làm và tăng thu nhập cho khu vực nông thôn Chương trình này được Bộ NN & PTNT triển khai và kết thúc vào năm 2010

Trang 25

nhằm nâng mức tăng trưởng bình quân của làng ngành nghề nông thôn ổn định và đạt 15%/năm; tạo thêm việc làm cho trên 300.000 lao động thường xuyên mỗi năm Ở địa phương, vai trò tạo việc làm của làng nghề cũng rất lớn Ngay Hà Nội, sau khi mở rộng địa giới hành chính, thủ đô Hà Nội hiện là địa phương có nhiều làng nghề nhất cả nước, với khoảng 1.350 làng có nghề, trong đó có 272 làng được công nhận là làng nghề, 198 làng nghề truyền thống, thu hút hàng trăm nghìn lao động Mục tiêu của Hà Nội là quy hoạch phát triển, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động ở làng nghề lên gấp đôi vào năm 2020 Như vậy, thu nhập của người lao động ở các ngành nghề phi nông nghiệp phổ biến khoảng 600.000 - 2.000.000đồng/người/tháng, cao hơn nhiều so với làm ruộng Đặc biệt phát triển làng nghề còn có một ý nghĩa rất to lớn là tận dụng lao động già, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận Các làng nghề đã góp phần quan trọng vào phát triển thị trường lao động ở nông thôn Hiện tại ở nhiều làng nghề, số lao động làm thuê tại các cơ sở nghề đang tăng lên nhanh chóng Số lao động làm thuê tại các làng nghề không chỉ làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp mà cả trong lĩnh vực nông nghiệp bởi phần lớn các hộ làm nghề đều có ruộng đất, họ phải thuê lao động canh tác trên ruộng đất của mình Lao động làm thuê của các làng nghề không chỉ là người của các làng xã đó mà chủ yếu là lao động từ các làng xã khác trong vùng Những lao động làm thuê trong các cơ sở nghề tại các làng nghề có thu nhập cao hơn so với thu nhập từ làm ruộng Mặt khác, những người lao động này đã học tập được kỹ năng và tích luỹ được kinh nghiệm sản xuất của nghề, không ít trong số họ đã trở về quê mình mở cơ sở sản xuất làm vệ tinh cho làng nghề hoặc cơ sở sản xuất nghề độc lập

Thứ tư, đóng góp cho phát triển xã hội và con người

Đời sống của người dân ở nhiều vùng nông thôn khá lên nhờ khôi phục

và phát triển làng nghề Nhiều làng nghề đã trở thành điển hình về làm giàu ở nông thôn Nghành nghề nông thôn đóng vai trò động lực cho chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Làng nghề làm tăng

Trang 26

đáng kể thu nhập và nâng cao đời sống cho người dân; góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng “Ly nông bất ly hương”

Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, thu nhập của làng nghề cao hơn so với làng nghề thuần nông từ 3 - 4 lần Tỷ lệ hộ nghèo đói ở các địa phương có làng nghề phát triển chỉ là 3,7%, so với tỷ lệ bình quân cả nước là 10,4% Thu nhập của người làm nghề được cải thiện đã cho phép tăng các khoản chi tiêu gia đình cho giáo dục, chăm sóc sức khoẻ Theo thống kê của Sở Y tế Hải Dương, chi phí cho dịch vụ y tế ở các làng nghề thường cao hơn so với làng thuần nông trung bình 50% Ở Hà Tây cũ, 100% làng nghề có trạm xá với trang bị tốt hơn Tương tự về giáo dục, ở các làng nghề, tỷ lệ học sinh phổ cập phổ thông trung học và tỷ lệ sinh viên thường cao hơn hẳn Chất lượng văn hoá - xã hội ở làng nghề tốt hơn so với làng nghề thuần nông Kinh

tế khởi sắc, các làng nghề với điều kiện đảm bảo an ninh tốt hơn, tệ nạn xã hội giảm mạnh Cũng nhờ làng nghề phát triển, kết cấu hạ tầng ở những địa phương này được cải thiện rõ rệt Qua khảo sát cho thấy, 100% làng nghề có đường ô tô đến trung tâm Các công trình điện và sản lượng điện tiêu thụ của làng nghề tăng cả về chất lượng và số lượng Cho đến nay, 100% làng nghề được dùng điện lưới quốc gia và đều có trạm biến thế riêng Bưu chính viễn thông tăng mạnh, tỷ lệ máy điện thoại trên 100 dân cao gấp hàng chục lần so với làng thuần nông

Hệ thống chợ ở các địa phương có nghề cũng phát triển tốt hơn Hệ thống chợ vừa đóng vai trò kênh tiêu thụ hàng hoá vừa là nguồn cung cấp hàng thiết yếu giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Chợ ở những nơi có làng nghề tăng lên không chỉ về mặt số lượng mà cả về số buổi họp trong tháng Mặc dù, vấn đề ô nhiễm môi trường ở nhiều làng nghề đáng báo động, nhưng về cơ bản công trình nước sạch được chú ý hơn Làng nghề Yên Ninh (Nam Định), nhờ phát huy tiềm năng nghề truyền

Trang 27

thống, bộ mặt kinh tế - xã hội thay đổi mạnh mẽ Đến nay, Yên Ninh có 80%

số hộ gia đình xếp loại khá và giàu; đời sống văn hoá, tinh thần cũng ngày càng được nâng cao với 98% hộ gia đình có phương tiện nghe, nhìn Bảo tồn và phát triển làng nghề là giải pháp tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, tiến tới làm giàu, thực hiện hiệu quả chiến lược “Rời ruộng nhưng không rời làng”, giảm áp lực cho các

cơ cấu lao động ở nông thôn thay đổi theo hướng tăng nhanh lao động có nghề phi nông nghiệp và giảm mạnh lao động thuần nông Đây chính là tiền

đề, cơ sở cho phát triển nông thôn theo hướng CNH, HĐH

Vai trò làng nghề đối với việc phát triển kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH thể hiện rõ hơn trong một số lĩnh vực như cơ khí, vật liệu xây dựng, dệt may… Tại làng nghề cơ khí Tráng Liệt (Hải Dương) chuyên sản xuất máy nông nghiệp và bơm nước, khoảng 70% số lao động có thời gian làm việc 1 năm trở lên đều có khả năng làm việc ở các nhà máy công nghiệp Thực tế chuyển dịch lao động từ các làng nghề sang các cơ sở, nhà máy sản xuất công nghiệp diễn ra khá phổ biến ở các làng nghề

Thứ sáu, Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc

Trước hết nên xác định làng nghề là một bộ phận kinh tế - văn hoá, xã hội quan trọng Là mô hình phát triển kinh tế, làng nghề nhất là các làng nghề

Trang 28

truyền thống mang rõ nét của yếu tố văn hoá, xã hội Do đó, phục hồi và phát triển làng nghề truyền thống chính là giải pháp tốt nhất cho lưu giữ, bồi đắp

và phát triển truyền thống văn hoá dân tộc Những công trình tôn vinh tổ nghề như đến thờ, đình làng, chùa, miếu… và các hoạt động văn hoá liên quan tới làng nghề chính là di sản vật thể và phi vật thể bảo tồn truyền thống dân tộc Ngay cả ở thành phố lớn, do quá trình đô thị hoá, làng nghề dần mai một, thậm chí mất đi nhưng các di sản làng nghề vẫn còn tồn tại và nhờ đó yếu tố truyền thống vẫn được giữ gìn Ở Hà Nội, các làng nghề đã mất nhưng chứng tích làng nghề vẫn còn được giữ gìn khá nguyên vẹn, kể cả những làng nghề trong phố

Làng nghề và các sản phẩm làng nghề còn là công cụ để quảng bá hình ảnh, văn hoá, truyền thống Việt Nam ra Thế giới Mỗi năm, hàng triệu sản phẩm làng nghề xuất khẩu ra thế giới không chỉ có ý nghĩa thu về nhiều ngoại

tệ cho đất nước mà còn là thông qua đó, hình ảnh Việt Nam được giới thiệu trực tiếp với quốc tế bằng những nét văn hoá, sự tinh xảo truyền thống dân tộc Sản phẩm làng nghề chính là thứ tốt nhất để du khách quốc tế tự cảm nhận, tự khám phá Việt Nam

Thứ bảy, Tiềm năng cho phát triển du lịch

Du lịch làng nghề đang được xác định là định hướng lớn trong phát triển du lịch ở rất nhiều địa phương Ở khía cạnh tiềm năng cho phát triển du lịch chủ yếu là các làng nghề truyền thống Ở Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia… từ lâu đã hình thành các tour du lịch làng nghề và phát triển rất tốt Làng nghề có thể tăng thêm hiệu quả nhờ du lịch, qua đó phát triển bền vững hơn

Hiện tại, rất nhiều làng nghề đã thực hiện thành công mô hình du lịch làng nghề Bản Lác (Mai Châu - Hoà Bình) hiện phát triển mạnh du lịch, thậm chí du lịch trở thành hoạt động chính, còn nghề truyền thống chỉ đóng vai trò phục vụ cho du lịch Ở Hội An, người dân lập xưởng nghề thủ công như thêu

Trang 29

thùa, chạm khắc, dệt thổ cẩm, dệt lụa, dệt chiếu, may đo theo yêu cầu của khách Khách đến xem thợ làm thủ công rồi mua những thứ mà họ thích Làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), du khách có thể xem các nghệ nhân thực hành làm tranh rồi mua những sản phẩm của làng nghề

Làng nghề có thể xuất khẩu tại chỗ các sản phẩm thông qua hoạt động

du lịch, do đó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn Đây là mô hình cần được phát triển mạnh mẽ bởi nó bao hàm được cả khía cạnh kinh tế, văn hoá, xã hội Hiện nay, Hà Nội, Bắc Ninh, Huế, Đà nẵng, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình Phước, Bến Tre là những địa phương đi đầu trong quy hoạch xây dựng mô hình du lịch làng nghề và bước đầu tạo ra những sản phẩm du lịch tốt Tuy vậy, phát triển du lịch làng nghề ở nước ta hiện nay vẫn chưa có chiến lược Nhiều làng nghề khi quy hoạch đã bỏ qua thế mạnh văn hoá, du lịch và một số nơi nếu có cũng chỉ hình thức Các làng nghề phát triển du lịch như gốm Bát Tràng, Lụa Vạn Phúc, mộc Đồng Kỵ, Tranh Đông Hồ, Đá Non Nước… nhưng vẫn chỉ là tự phát Nguyên nhân là thiếu sự phối hợp giữa các

ngành liên quan trong xây dựng quy hoạch du lịch làng nghề

1.2 Phát triển kinh tế làng nghề theo hướng bền vững

1.2.1 Quan niệm về phát triển bền vững

Phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hoá vv… Mục tiêu của phát triển là nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của con người; làm cho con người ít phụ thuộc vào thiên nhiên; tạo lập cuộc sống công bằng

và bình đẳng giữa các thành viên Tuy nhiên, trong một thời gian khá dài, người ta thường đặt mục tiêu kinh tế quá cao, xem tăng trưởng về kinh tế là

độ đo duy nhất của sự phát triển

Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, sự gia tăng nhanh dân số thế giới trong những thập niên vừa qua và các tác động của chúng đến môi trường trái đất đã dẫn loài người đến việc xem xét và đánh giá mối quan hệ: con người -

Trang 30

trái đất, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường Ngày nay, con người đã biết nguồn tài nguyên của trái đất không phải là vô tận, không thể khai thác hoặc thống trị theo ý mình; khả năng đồng hoá chất thải của môi trường trái đất là có giới hạn nên con người cần thiết phải sống hài hoà với tự nhiên; sự cần thiết phải tính đến lợi ích chung của cộng đồng, của các thế hệ tương lai

và các chi phí môi trường cho sự phát triển v.v… Bên cạnh đó, cần thiết phải đảm bảo một môi trường sống lành mạnh để con người tự do phát huy khả năng của mình, được chia sẻ lợi ích một cách bình đẳng, đảm bảo các quyền được sống, làm việc và mưu cầu hạnh phúc… Tất cả yêu cầu trên dẫn đến sự

ra đời một quan niệm mới: “phát triển bền vững” (PTBV)

Thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu được sử dụng trong bản báo

cáo “Chiến lược bảo tồn Thế giới” (Word Conservation Strategy) do Uỷ ban

Bảo tồn và Thiên nhiên Thế giới (IUCN) đề xuất năm 1980 với nội dung khá đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu thiết yếu của xã hội và sự tác

động đến môi trường sinh thái”

Khái niệm PTBV được phổ biến rộng rãi nhất hiện nay được sử dụng nhiều hơn cả trong các nghiên cứu về PTBV được đưa ra năm 1987 trong báo cáo của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED với tiêu đề

“Tương lai của chúng ta - Our common Future” Báo cáo nêu rõ: “Phát triển

bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế

hệ tương lai”

Định nghĩa PTBV này có nội dung bao quát, không bị gò bó bởi những chuẩn mực hoặc quy tắc đã định sẵn, có thể dễ dàng áp dụng vào điều kiện thực tế trong mọi hoàn cảnh của mỗi quốc gia, mỗi vùng, lãnh thổ Vì vậy, khái niệm PTBV này được nhiều nước chấp nhận

Khái niệm này sau đó được bổ sung và hoàn chỉnh trong Hội nghị RiO -92, Rio-92+5, Johannesburg 2002, văn kiện và công bố của các tổ chức quốc

Trang 31

tế Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, đan xen và thoả hiệp nhau của 3 hệ thống tương tác lớn của thế giới: hệ tự nhiên, hệ kinh tế và

hệ xã hội Hiện nay, nhiều lý thuyết và mô hình phát triển bền vững được đưa

ra trên cơ sở nội dung phát triển bền vững nói trên, trong đó người ta bổ sung thêm các yếu tố khác nhau như văn hoá, tôn giáo, chính trị, công nghệ… Tuy nhiên, hạt nhân của sự phát triển bền vững là sự hài hoà giữa ba mặt: kinh tế,

xã hội, môi trường

Định nghĩa này được mở rộng ra với ba cấu thành về sự phát triển bền vững:

+ Về kinh tế: Một hệ thống bền vững về kinh tế phải thể hiện ở sự tăng

trưởng và phát triển lành mạnh của tất cả các ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên, có thể tạo ra hàng hoá và dịch vụ liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ về

nợ bên ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến mỗi ngành sản xuất

+ Về xã hội: Hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, công bằng giới tính, sự tham gia và trách nhiệm chính trị cho mọi người, đảm bảo sức khoẻ, giảm đói, nghèo, hạn chế các tệ nạn xã hội

+ Về môi trường: Hệ thống phát triển bền vững thể hiện ở sử dụng hợp

lý tài nguyên thiên nhiên, duy trì một nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường Việc khai thác các nguồn lực không thể tái tạo không được vượt mức đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế, hạn chế ô nhiễm môi trường, có chính sách và kế hoạch hành động cải thiện môi trường

Trang 32

Đặc trưng của phát triển bền vững

Thứ nhất, phát triển bền vững khác với phát triển truyền thống Sự

khác biệt này thể hiện ở sự kết hợp hài hoà các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường Nói cách khác, phát triển bền vững đảm bảo sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn

Thứ hai, mục tiêu của PTBV là vì con người Con người là trung tâm

của mối quan tâm lâu dài của sự phát triển Sự phát triển của các thế hệ hiện tại không làm tổn hại đến sự phát triển của các thế hệ tương lai mà tạo điều kiện để các thế hệ tiếp nối thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của họ

Thứ ba, PTBV không phải là một vấn đề kỹ thuật cần giải quyết, mà là

một tầm nhìn vào tương lai, đảm bảo một lộ trình thích hợp, tập trung chú ý vào một tập hợp có giá trị và những nguyên tắc mang tính lý luận về đạo đức

để hướng dẫn hành động

Thứ tư, PTBV là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều giai đoạn khác

nhau, từ thấp lên cao

Các tiêu chí đánh giá phát triền bền vững

+ Phát triển bền vững về kinh tế

Thước đo kinh tế của sự phát triển bền vững về kinh tế được tính trên giá trị GDP hoặc GNP Tuy nhiên, chỉ số này không tính đến sự suy giảm chất lượng môi trường và suy thoái tài nguyên thiên nhiên Từ GNP người ta đưa

ra các chỉ số SNP (tổng sản phẩm quốc dân bền vững) hoặc chỉ số SNI (tổng thu nhập quốc dân bền vững) Để tính được SNP hoặc SNI phải sử dụng các nguyên tắc quản lý môi trường, người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP) hoặc người sử dụng môi trường phải trả tiền (UPP)

+ Phát triển bền vững về xã hội

Thước đo mức độ bền vững về xã hội của sự phát triển người ta dùng chỉ số về phát triển con người (HDI), chỉ số tự do (HFI), mức độ tăng trưởng việc làm, thu nhập, tình hình cung cấp dịch vụ y tế, số học sinh tiểu học được

Trang 33

phổ cập…Việt Nam đã xây dựng chỉ tiêu phát triển về xã hội gồm 5 nhóm chỉ tiêu: xoá đói, giảm nghèo; lao động và việc làm; phổ cập giáo dục; khoa học

và công nghệ; y tế, văn hoá, xã hội

+ Phát triển bền vững về môi trường

Thước đo môi trường của sự phát triển bền vững có thể đánh giá thông qua chất lượng các thành phần môi trường không khí, nước, đất, sinh thái; mức độ duy trì các nguồn tài nguyên thiên tái tạo; việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên không tái tạo; nguồn vốn xã hội dành cho các hoạt động bảo vệ môi trường; khả năng kiểm soát của chính quyền đối với các hoạt động kinh tế xã hội, tiềm ẩn các yếu tố tiêu cực đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của người dân v.v…

Để đo mức độ bền vững về môi trường của sự phát triển người ta dùng các chỉ số như mức độ ô nhiễm môi trường đất, không khí, nước, mức độ suy giảm đa dạng sinh học, diện tích từng tự nhiên và rừng trồng… Việt Nam đang trong quá trình đổi mới theo hướng thị trường, đẩy mạnh CNH, HĐH, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế dựa trên quan điểm phát triển bền vững với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, quan điểm phát triển bền vững của Việt Nam đã được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010

Theo đó, phát triển bền vững của Việt Nam là: “Phát triển nhanh, có hiệu quả

và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng cã hội và bảo vệ môi trường” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI

(1/2011) đã xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, theo

đó quan điểm: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển

bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược”, là quan điểm đầu tiên

trong năm quan điểm phát triển

Trang 34

1.2.2 Kinh tế làng nghề bền vững

Với cách tiếp cận phát triển bền vững trên đây, vận dụng vào nghiên cứu phát triển kinh tế làng nghề ở Việt Nam, theo tác giả luận văn, có thể diễn

đạt khái niệm phát triển kinh tế làng nghề bền vững như sau: Phát triển kính

tế làng nghề bền vững là sự phát triển nhằm tới mục đích góp phần tăng trưởng kinh tế ổn định lâu dài, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, phát huy lợi thế nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, có nhiều tiềm năng xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH - HĐH, giải quyết hài hòa các chính sách xã hội, góp phần xây dựng nông thôn mới và bảo vệ môi trường sinh thái

Như vậy, để thực hiện thành công phát triển làng nghề bền vững cần phải đạt được các tiêu chí về bền vững kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Nội dung của sự phát triển bền vững được thể hiện sau đây:

* Phát triển kinh tế làng nghề bền vững về kinh tế

Trước hết là phát triển kinh tế làng nghề bền vững phải bảo đảm tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị sản lượng, bảo đảm ổn định thị trường lâu dài, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội và có khả năng xuất khẩu

Để tăng năng suất lao động nhằm giảm chi phí, hạ giá giá thành nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề, phải thoả mãn được một số yếu

tố cơ bản sau đây:

+ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, truyền nghề cho các thế hệ Thực hiện tốt công tác dạy nghề, truyền nghề trong làng nghề đảm bảo cho người lao động theo nghề có khả năng duy trì, bảo tồn các kỹ xảo truyền thống, tích lũy được kinh nghiệm, ngày càng thành thục, khéo léo

+ Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho kinh tế làng nghề, đẩy mạnh

Trang 35

ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất lao động Có khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến vào một số công đoạn sản xuất nhưng vẫn đảm bảo sự tinh xảo, độc đáo của nghề truyền thống; gia tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm; tiết kiệm tiêu hao năng lượng, giảm bớt mức độ nặng nhọc cho người lao động; nâng cao hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất; giảm bớt sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên trong quá trình sản xuất

+ Các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề được trang bị các kiến thức về marketing, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm; tổ chức quản lý sản xuất khoa học và hiệu quả

+ Gia tăng giá trị sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa, đóng góp đáng kể cho kinh tế địa phương Tăng trưởng ổn định lâu dài, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa

và nâng cao năng lực xuất khẩu

Hai là, phát triển kinh tế làng nghề bền vững phải bảo đảm chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ

+ Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theo hướng CNH-HĐH Điều này thể hiện qua: Tăng tỷ trọng công nghiệp - TTCN, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn; tạo ra một nền kinh tế đa dạng ở nông thôn với sự thay đổi về

cơ cấu, phong phú, đa dạng về loại hình sản phẩm

+ Góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển; kích thích sự ra đời và phát triển các ngành nghề liên quan mật thiết với nó như dịch vụ, thương mại, vận tải, thông tin liên lạc.v.v

+ Từng bước hình thành phố chợ sầm uất, các trung tâm giao lưu buôn bán dịch vụ và trao đổi hàng hóa, dần dần tạo lập cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét, tiến đến đô thị hóa trở thành các thị tứ, thị trấn

Ba là, phát triển kinh tế làng nghề bền vững phải góp phần hoàn thiện

Trang 36

quan hệ sản xuất ở nông thôn, bảo đảm sự phù hợp quan hệ sản xuất với tinh chất và trình độ của lực lượng sản xuất

+ Xác định các mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với trình độ phân công lao động, tổ chức sản xuất của mỗi ngành nghề ở nông thôn

+ Nghiên cứu, tổng kết, tìm tòi các mô hình, phương thức tổ chức quản

lý, sản xuất kinh doanh phù hợp để khai thác phát huy hết tiềm năng lao động, ngành nghề ở nông thôn, từng bước đưa nông thôn lên sản xuất lớn

+ Bảo đảm sự hài hoà các lợi ích, coi trọng lợi ích trực tiếp của người lao động làng nghề

* Phát triển kinh tế làng nghề bền vững về mặt xã hội

Phát triển kinh tế làng nghề bền vững không thể tách rời giải quyết các vấn đề xã hội bởi đây là mối quan hệ mật thiết giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội, đảm bảo cho sự phát triển đó thực sự bền vững Để thực hiện phát triển kinh tế làng nghề bền vững về mặt xã hội cần đạt một số nội dung

cơ bản sau đây:

Một là, phát triển kỉnh tế làng nghề bền vững là phải tạo ra việc làm ổn định, tăng thu nhập cải thiện đời sống của người lao động

- Tạo thệm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động vào các ngành nghề phi nông nghiệp, nhất là lao động nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho lao động nông thôn Giải quyết việc làm không chỉ trong làng nghề mà còn thu hút lao động các vùng lân cận, từ đó tạo ra động lực phát triển KT-XH địa phương Các làng nghề phát triển thì có thu nhập ổn định và mức sống cao hơn các vùng thuần nông

Hai là, tạo ra các điều kiện để người lao động tiếp cận các nguồn lực, phát huy hết năng lực và tiềm năng vốn có, thực hiện công bằng xã hội trong sản xuất và phân phối các giá trị lao động tạo ra

- Tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi, hạn chế việc di cư từ vùng này sang vùng khác

Trang 37

- Xây dựng cơ chế chính sách động viên khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức kinh tế tham gia đóng góp thực hiện chính sách xã hội với các đối tượng, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội trong tiếp cận các nguồn lực, các phúc lợi xã hội

Ba là, phát triển kinh tế làng nghề bền vững phải góp phần đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới

- Các làng nghề phát triển tạo ra nguồn tích lũy lớn và ổn định cho ngân sách địa phương, từ đó đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông thôn (hệ thống điện, trường học, cấp thoát nước.v.v ); tăng sức mua của người dân và thu hẹp khoảng cách thành thị - nông thôn

- Góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng quỹ phúc lợi, nâng cao trình độ dân trí, giải quyết tốt các vấn đề xã hội như văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe của người dân trong làng nghề, giảm tệ nạn xã hội Góp phần xây dựng nông thôn mới theo 19 tiêu chí

Bốn là, góp phần giữ gìn, phát huy, bảo tồn những giá trị văn hoá

Phát triển làng nghề gắn liền với bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc vì nó là

sự kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần, được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công Giữ gìn và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động lễ hội hay hương ước

* Phát triển kinh tế làng nghề bền vững về môi trường

Phát triển làng nghề về môi trường phải đảm bảo giảm thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất kinh doanh gây ra; có kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu; đa dạng hóa, nghiên cứu, sử dụng nguồn nguyên liệu thay thế; phòng ngừa, hạn chế các bệnh nghề nghiệp; thông qua:

- Bảo vệ môi trường sống không bị ô nhiễm, hạn chế các bệnh nghề nghiệp

Trang 38

- Găn liền tái tạo tài nguyên, có ý thức nâng cao chất lượng môi trường sinh thái làng nghề

- Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có kế hoạch, quy hoạch vùng nguyên liệu cho làng nghề Hoặc làng nghề phải nghiên cứu, hướng tới sử dụng nguyên liệu nhân tạo, đa dạng hóa, thay thế nguồn nguyên liệu

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững của kinh tế làng nghề

Lịch sử hình thành, phát triển các làng nghề do tính chất tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử quy định Ngoài ra trong quá trình phát triển, làng nghề còn chịu tác động của nhiều nhân tố Những nhân tố này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo hướng khác nhau, chúng có thể là nhân tố thúc đẩy nhưng ngược lại cũng có thể là những nhân tố kìm hãm sự phát triển Ở mỗi vùng, mỗi làng nghề, mỗi địa phương do có những đặc điểm khác nhau về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa nên sự tác động của các nhân tố không giống nhau Sau đây là nhóm các nhân tố tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế làng nghề bền vững:

+ Thị trường công nghệ: Được hình thành tự phát trên cơ sở các thiết bị

Trang 39

công nghệ truyền thống, một số người lao động, hộ thủ công đã tách ra chuyên sửa chữa, cải tiến một số công đoạn cho hiệu quả hơn Hoặc một số hộ

có số vốn dồi dào chuyển sang buôn bán máy móc, thiết bị trong phạm vi làng Vì vậy, nhìn chung thị trường công nghệ nhỏ hẹp, chắp vá chưa đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa làng nghề

Hiện nay có thể nói chưa có nhiều tổ chức nghiên cứu, cơ quan có thẩm quyền vào cuộc để nghiên cứu, giúp làng nghề thực hiện chuyển giao, tiếp nhận công nghệ hiện đại

+ Thị trường lao động: Được hình thành theo thời vụ, cơ cấu lao động trong làng nghề được phân hóa như sau: Lực lượng cơ bản nhất ở tại địa phương bao gồm lao động địa phương chuyên nghiệp; lao động địa phương bán chuyên nghiệp là những người trong gia đình tham gia khi công việc cần kíp hoặc công việc của hộ rỗi rãi; lao động làm thuê ở địa phương khác đến làm việc với tư cách đi học việc, như các ngành chạm, khắc, thêu, ren Thực

tế hiện nay tại một số làng nghề, lao động chuyên nghiệp là những người trong độ tuổi trung niên hoặc là người đã lập gia đình, còn đối với lao động trẻ thì quan niệm nghề truyền thống của cha ông chỉ là tạm thời

- Các nhân tố về vốn

Muốn tiến hành sản xuất, yếu tố đầu tiên cần có là vốn, vốn là yếu tố vật chất đầu tiên, quyết định quy mô sản xuất của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh khốc liệt trên thị trường đòi hỏi các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề phải có lượng vốn lớn đầu tư công nghệ, đổi mới trang thiết bị ở một số công đoạn sản xuất phù hợp để thay thế lao động thủ công, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu mở rộng thị trường

Vốn tồn tại dưới hai hình thức: vốn tài chính và vốn hiện vật, trong đó vốn tài chính trong làng nghề là tiền; còn vốn hiện vật tồn tại dưới hình thức vật chất của quá trình sản xuất trong làng nghề như cơ sở vật chất của các hợp

Trang 40

tác xã thủ công trước kia, máy móc, nguyên liệu và đặc biệt còn có nguồn vốn phi vật chất là kinh nghiệm bí quyết nghề nghiệp

Về quy mô vốn tại các hộ gia đình làng nghề truyền thống không thể

so sánh với các cơ sở sản xuất trong các lĩnh vực khác Mặt khác khối lượng vốn còn phụ thuộc vào ngành nghề sản xuất Các làng nghề đòi hỏi vốn lớn như: các làng nghề sản xuất về đồ gỗ, gốm vì chi phí nguyên liệu và công đoạn sản xuất phức tạp hơn Ngược lại một số làng nghề sản xuất không đòi hỏi vốn đầu tư nhiều như: mây tre đan, bánh tráng Cơ cấu nguồn vốn tại các

làng nghề bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài, về thu

hút vốn đầu tư nước ngoài có thể nói ở làng nghề là rất ít, còn nguồn vốn trong nước bao gồm:

+ Vốn tự có: Là nguồn vốn của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề được tích lũy lại, nguồn vốn này quá nhỏ bé so với nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất hay đổi mới trang bị kỹ thuật, nó chiếm khoảng trên 90% tổng số vốn đầu tư của các chủ thể sản xuất kinh doanh Có một thực tế

do truyền thống tập quán của nếp nghĩ sản xuất nhỏ, nhiều hộ thủ công sau khi tích lũy được lợi nhuận, họ dè dặt trong việc tái sản xuất mở rộng nhưng lại rất mạnh tay dùng lợi nhuận đó để xây nhà, sắm sửa đồ đạc

+ Nguồn vốn tín dụng phi chính thức: Đây là nguồn vốn tự phát hình thành dưới tác động quy luật cung-cầu, được hình thành phổ biến, phát triển mạnh Bao gồm các hoạt động vay mượn trong gia đình, dòng họ, bạn bè người thân Với các mức lãi suất do hai bên thỏa thuận Hoặc vay bằng các hình thức chơi phường, chơi hụi, vay bằng tiền, bằng hiện vật

+ Nguồn vốn tín dụng chính thức: Đầu tiên là vay từ các quỹ tín dụng địa phương, ngoài ra các chủ thể sản xuất kinh doanh còn có thể vay từ các ngân hàng thương mại, tuy nhiên do thủ tục cho vay phức tạp, lượng vốn cho vay còn ít, thời gian vay ngắn nên thực tế hiệu quả của nguồn vốn này còn thấp so với nhu cầu

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm