HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGÔ THANH HOA NHỮNG GIÁ TRỊ THAM CHIẾU VỀ PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ X
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ THANH HOA
NHỮNG GIÁ TRỊ THAM CHIẾU VỀ PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
Hà Nội, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ THANH HOA
NHỮNG GIÁ TRỊ THAM CHIẾU VỀ PHƯƠNG THỨC
CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC
ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
Mã số : 60 31 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS Lưu Văn An
Hà Nội, 2017
Trang 3Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm
luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày….tháng năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn
được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Lưu Văn An Tài
liệu và số liệu trích dẫn trong đề tài là hoàn toàn trung thực và đáng tin cậy
Kết luận nêu trong đề tài không trùng lặp với những công trình đã được công
bố trước đây
Tác giả luận văn
Ngô Thanh Hoa
Trang 61.2 Thực tiễn phương thức cầm quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc 32
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VÀ GIÁ TRỊ THAM CHIẾU PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC 77
2.1 Đặc điểm cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam và những điều
kiện đảm bảo giữ vững vai trò duy nhất cầm quyền của Đảng 77
2.2 Những điểm tương đồng, khác biệt và một số giá trị tham chiếu từ
phương thức cầm quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc đối với đổi
mới phương thức cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam 105
KẾT LUẬN 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền, hiệu quả cầm quyền của Đảng
Cộng sản là một vấn đề căn bản đối với các nước xã hội chủ nghĩa Tác
giả luận văn lựa chọn hướng nghiên cứu giá trị tham chiếu từ phương thức
cầm quyền của ĐCS Trung Quốc cho ĐCS Việt Nam xuất phát từ những
lý do sau đây:
Một là, xuất phát từ vị trí, vai trò của Đảng cầm quyền nói chung, Đảng
Cộng sản cầm quyền nói riêng trong hoạt động chính trị thực tiễn V.Lênin
cho rằng, đảng cầm quyền là “đảng nắm chính quyền” bằng những người đại
diện của đảng trực tiếp thực hiện công việc quản lý trong bộ máy nhà nước
Những cán bộ, đảng viên với tư cách đại diện cho đảng thực hiện việc tuyên
truyền, vận động nhân dân đi theo đảng, tức là hoạt động “lãnh đạo”, vừa với
tư cách là người đại diện cho đảng, đồng thời là đại biểu của nhân dân thực
hiện công việc quản lý nhà nước, tức là hoạt động “cầm quyền” Theo Lênin,
một đảng trở thành đảng cầm quyền là bước chuyển từ nhiệm vụ chủ yếu là
thuyết phục nhân dân và dùng lực lượng quân sự trấn áp bọn bóc lột, sang
nhiệm vụ chủ yếu là quản lý Lúc này, tính chất hoạt động của đảng thể hiện ở
hai khía cạnh: đảng của quần chúng và đảng chấp chính Nghĩa là, đảng phải
động viên, cổ vũ, lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào quản
lý nhà nước; đồng thời đảng thực hiện chuyên chính vô sản, thực hiện kỷ luật
sắt lao động và chế độ thủ trưởng Hai mặt ấy phải kết hợp với nhau Để có
thể thi hành những biện pháp lãnh đạo đông đảo nhân dân, đảng cần thay đổi
phương pháp hoạt động, từ thói quen chỉ biết tuyên truyền, cổ động sang tổ
chức thực tiễn, đào tạo những người cán bộ tổ chức có tài, thiết lập một trật tự
xã hội mới có năng suất lao động cao Khi trở thành đảng cầm quyền cái còn
thiếu của những người cộng sản là kinh nghiệm quản lý kinh tế và trình độ
Trang 8văn hóa, vì vậy người cộng sản phải học tập cách thức quản lý phát triển kinh
tế và nâng cao trình độ văn hóa [53, tr.67]
Hai là, xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm cầm
quyền từ các đảng cầm quyền trên thế giới, nhất là các ĐCS cầm quyền của
ĐCS Việt Nam Từ khi ra đời (3/2/1930), ĐCS Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí
Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác Với đường lối chính trị đúng đắn, trên cơ sở vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp với kinh nghiệm của phong trào
cộng sản, công nhân quốc tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam, với đội ngũ
cán bộ, đảng viên được giáo dục và rèn luyện, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp
cách mạng, Đảng đã lãnh đạo dân tộc ta tiến hành cuộc Cách mạng Tháng
Tám thành công, xây dựng nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Trở
thành đảng cầm quyền, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiến hành hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giành độc lập dân tộc,
thống nhất đất nước, đưa nước ta đi lên CNXH Từ năm 1986, đảng đã khởi
xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, đã thu được những
thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử Đảng đã chủ trương đổi mới đồng bộ, toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trụ cột là phát triển kinh tế
thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây
dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và
văn minh Trong lĩnh vực chính trị, đảng chủ trương đổi mới mạnh mẽ HTCT,
trong đó tập trung xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung, phương
thức lãnh đạo của Đảng Đồng thời kiện toàn tổ chức bộ máy, đẩy mạnh cải
cách nền hành chính quốc gia, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
của Nhà nước Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo đất nước, bên cạnh những
thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tình hình đất nước còn không ít khó khăn
Trang 9nhất là những năm gần đây, thực tiễn đặt ra nhiều vấn đề mới, liên quan đến
vai trò lãnh đạo, cầm quyền của đảng Nhiều vấn đề bức thiết đặt ra đỏi hỏi
phải làm rõ, như Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước như thế nào để vừa
đảm bảo vai trò lãnh đạo, vừa đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; nội
dung, phương thức cầm quyền trong tình hình mới, với những yêu cầu phát
triển kinh tế thị trường hiện đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; chủ
động hội nhập quốc tế
Ba là, xuất phát từ những kinh nghiệm và thành tựu của ĐCS Trung
Quốc trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung
Quốc là đội tiền phong của gia cấp công nhân Trung Quốc, đồng thời là đội
tiền phong của nhân dân và dân tộc Trung Hoa, là nòng cốt lãnh đạo sự
nghiệp XHCN mang đặc sắc Trung Quốc, đại diện yêu cầu phát triển sức sản
xuất tiên tiến của Trung Quốc, đại diện phương hướng phát triển văn hóa tiên
tiến của Trung Quốc, đại diện lợi ích căn bản của đông đảo nhân dân ở Trung
Quốc Lý tưởng tối cao và mục tiêu cuối cùng của ĐCS Trung Quốc là thực
hiện chủ nghĩa cộng sản Điều lệ Đảng quy định: ĐCS Trung Quốc lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình và tư
tưởng Ba đại diện quan trọng làm kim chỉ nam hành động của mình ĐCS
Trung Quốc thành lập tháng 7 năm 1921 Từ năm 1921 đến năm 1949, ĐCS
Trung Quốc lãnh đạo nhân dân Trung Quốc tiến hành đấu tranh gian khổ, lật
đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phong kiến và chủ nghĩa tư
bản quan liêu Sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ĐCS
Trung Quốc lãnh đạo nhân dân các dân tộc cả nước giữ gìn độc lập và an ninh
quốc gia, thực hiện chuyển biến thành công xã hội Trung Quốc từ chủ nghĩa
dân chủ mới sang CNXH, triển khai công cuộc xây dựng XHCN có kế hoạch
và quy mô lớn, khiến sự nghiệp kinh tế và văn hóa ở Trung Quốc được phát
triển to lớn Trong hơn 90 năm phấn đấu gian khổ, ĐCS Trung Quốc đã đoàn
Trang 10kết lãnh đạo nhân dân các dân tộc trên cả nước, biến một nước Trung Hoa cũ
nghèo nàn, lạc hậu thành một nước Trung Hoa mới ngày càng đi lên phồn
vinh, giàu mạnh, mở ra viễn cảnh xán lạn, ngày càng kiên định bội phần niềm
tin lý tưởng mà đảng và nhân dân đã xác lập, càng tỉnh táo bội phần trước
trách nhiệm lịch sử mà đảng gánh vác
Từ thực tế đó, tác giả chọn vấn đề “Những giá trị tham chiếu về
phương thức cầm quyền của ĐCS Trung Quốc đối với ĐCS Việt Nam hiện
nay” làm đề tài luận văn cao học Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề đảng cầm quyền, phương thức cầm quyền của ĐCS luôn là một
vấn đề lớn đặt ra trong công tác xây dựng ĐCS Trung Quốc cũng như ĐCS
Việt Nam Về mặt lý luận, cùng với hệ thống quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình; chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã có nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, quản lý
quan tâm nghiên cứu Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến vấn đề này
2.1 Những công trình nghiên cứu về đảng cầm quyền
a Sách
Vấn đề “đảng cầm quyền” là nội dung trọng yếu trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về đảng Không phải đến khi viết Di chúc, Hồ Chí Minh mới nói rõ
“Đảng ta là đảng cầm quyền”, mà tư tưởng của Người về đảng cầm quyền đã
thể hiện nhất quán, xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người
Trong các tác phẩm: Sửa đổi lối làm việc, Dân vận, Thường thức chính
trị, Đạo đức cách mạng, Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa
cá nhân, Di chúc… Hồ Chí Minh phân tích sự cần thiết phải rèn luyện đạo
đức cách mạng, về phương thức lãnh đạo (lối làm việc) của đảng trong bối
cảnh đảng đã cầm quyền, về phát huy dân chủ trong đảng, về chống quan liêu,
Trang 11tham nhũng, chống chủ nghĩa cá nhân, kêu gọi phải giữ gìn đoàn kết trong
đảng, cán bộ, đảng viên phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ
thật trung thành của nhân dân
Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2010), “ĐCS cầm quyền, nội dung và
phương thức cầm quyền của Đảng” Đây là sản phẩm nghiên cứu của đề tài
cấp Nhà nước xuất bản thành sách Cuốn sách đã thể hiện khá toàn diện và
sâu sắc đến vấn đề cầm quyền của đảng Trong phần thứ nhất, các tác giả giới
thiệu những vấn đề lý luận chung về đảng cầm quyền và ĐCS cầm quyền, làm
rõ các khái niệm quyền lực nhà nước, quyền lực nhân dân, quyền lực của các
đảng chính trị; tính chính đáng của sự cầm quyền duy nhất của ĐCS; quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nội dung và phương thức cầm quyền của
đảng; kinh nghiệm cầm quyền của một số đảng trên thế giới
b Đề tài khoa học
Một trong những đề tài nghiên cứu rất sớm về đảng chính trị dưới góc
độ tiếp cận của Chính trị học là đề tài khoa học cấp Bộ “Đảng cầm quyền
trong thời đại ngày nay và những vấn đề rút ra cho công cuộc đổi mới, chỉnh
đốn Đảng ta” (1994) do GS Đậu Thế Biểu làm Chủ nhiệm Đề tài đã khảo sát
về cách thức tổ chức và hoạt động của Đảng trong tình hình tiến hành công
cuộc đổi mới
Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX 05.06 (1991-1995) “Đặc
điểm, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trong HTCT Mối quan hệ
giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể, tổ chức xã hội” do TS Đỗ Quang
Tuấn làm Chủ nhiệm Đây là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu về
phương thức lãnh đạo của đảng Đề tài đã nghiên cứu khá hệ thống các vấn đề
cơ bản về phương thức lãnh đạo của đảng Về khái niệm, đề tài cho rằng:
“Phương thức lãnh đạo là hệ thống các hình thức, các phương pháp mà đảng
vận dụng để tác động vào HTCT - xã hội nhằm đạt được mục tiêu nội dung
Trang 12lãnh đạo của đảng” Về hình thức lãnh đạo, đề tài xác định 5 hình thức chủ
yếu: định ra đường lối, chính sách; lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các quan
điểm, đường lối, chính sách; đảng xây dựng, tổ chức một HTCT đồng bộ;
đảng lãnh đạo thông qua công tác cán bộ; đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm
tra Về phương pháp lãnh đạo của đảng đối với HTCT, đề tài khái quát thành
5 phương pháp: tuyên truyền - giáo dục; thuyết phục; phát huy dân chủ; đề
cao đảng tính và trách nhiệm đảng viên; lãnh đạo bằng tổ chức Đề tài đã xác
định nội dung và sự lãnh đạo của đảng đối với các cơ quan nhà nước, như:
Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân
Đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số KX 03.10 (2005), Một số vấn đề
lý luận về đảng và xây dựng đảng trong điều kiện đảng cầm quyền duy nhất
lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH do GS Đặng Xuân Kỳ làm Chủ nhiệm
Trong phần thứ nhất “ĐCS Việt Nam với việc vận dụng sáng tạo và phát triển
lý luận về xây dựng Đảng cầm quyền qua 20 năm đổi mới”, nhóm tác giả đã
phân tích quá trình phát triển lý luận của Đảng từ đảng lãnh đạo đến đảng cầm
quyền, điều kiện và yêu cầu mới về xây dựng đảng cầm quyền, yêu cầu đổi
mới đảng theo một hệ thống quan điểm mới, giữ vững nền tảng tư tưởng và
nguyên tắc tập trung dân chủ trong đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của
đảng, nhất là phương thức lãnh đạo của đảng đối với Nhà nước, đổi mới đội
ngũ cán bộ và công tác cán bộ, chống những nguy cơ bên trong đối với một
ĐCS cầm quyền
c Luận án
Luận án Phó Tiến sĩ của Nguyễn Quốc Bảo (1992): "ĐCS cầm
quyền và những vấn đề tri thức trong thời kỳ quá độ lên CNXH" Luận án
trình bày những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề
tri thức nói chung, đặc biệt là những vấn đề lý luận về xây dựng tần lớp
Trang 13trí thức XHCN trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH Tác giải khái
quát kinh nghiệm lịch sử của các ĐCS và các nước XHCN trong việc xây
dựng đội ngũ trí thức mới những năm đầu của thời kỳ quá độ Phân tích
quá trình hình thành, phát triển cùng với những đặc trưng, đặc điểm của
tầng lớp thức trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở các nước xã hội nói chung
và ở nước ta nói riêng Trình bày phương hướng và một số biện pháp
nhằm phát huy tiềm năng của tầng lớp trí thức đối với sự nghiệp xây dựng
CNXH trong giai đoạn cách mạng hiện nay ở nước ta Tác giải hi vọng
thông qua luận án, góp thêm tiếng nói của giới tri thức với Đảng Trong
giai đoạn mới của cách mạng hiện nay, Đảng cần phải có một chính sách
mới toàn diện, đầy đủ hơn đối với tầng lớp tri thức đúng nghĩa là "tài sản
quý báu và là nguồn động lực phát triển của đất nước"
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Quang (2014): "Tính chính đáng của
ĐCS cầm quyền ở Việt Nam" Luận án đưa ra được khái niệm, cấu trúc về tính
chính đáng chính trị, tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền từ cách
tiếp cận của chính trị học dựa trên hệ thống hóa các công trình nghiên cứu
trước đó, các quan niệm khác nhau về tính chính đáng chính trị, tính chính
đáng của đảng cầm quyền Trên cơ sở khung lý thuyết về tính chính đáng
chính trị, tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền, luận án đã khảo sát,
phân tích và đưa ra những nhận xét về tính chính đáng của ĐCS cầm quyền ở
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm xây
dựng tính chính đáng trong cầm quyền của một số đảng chính trị trên thế giới,
luận án rút ra một số bài học bổ ích có khả năng vận dụng để nâng cao tính
chính đáng trong cầm quyền của ĐCS Việt Nam Luận án chỉ ra những hạn chế
trong duy trì tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng hiện nay và đưa ra được
các giải pháp khả thi nhằm nâng cao tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng
thời gian tới
Trang 142.2 Các công trình nghiên cứu về Đảng Cộng sản Trung Quốc
a Sách, kỷ yếu
ĐCS Việt Nam và ĐCS Trung Quốc (2004): "Kỷ yếu Hội thảo lý luận
xây dựng đảng cầm quyền – kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của
Trung Quốc " Trong các cuộc hội thảo mang tính thường niên, hai ĐCS cầm
quyền đã bàn về các vấn đề quan trọng đang nổi lên, đòi hỏi phải thống nhất
quan điểm trong cách thức tiếp cận, giải quyết Năm 2004, các nhà lý luận hai
đảng hội thảo về xây dựng đảng cầm quyền Nội dung các bài tham luận đề
cập đến kinh nghiệm của ĐCS Trung Quốc bao gồm: nâng cao trình độ lãnh
đạo và trình độ cầm quyền, tăng cường năng lực chống tha hóa, phòng biến
chất và chống rủi ro; tăng cường xây dựng ban lãnh đạo, cố gắng hình thành
tầng lớp lãnh đạo hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành đạt; về xây dựng tổ chức
cơ sở và xây dựng đội ngũ đảng viên của ĐCS Trung Quốc; kiên trì xây dựng
lý luận, tư tưởng…
ĐCS Trung Quốc (2004): "Một số vấn đề tăng cường xây dựng năng lực
cầm quyền của Đảng" Cuốn sách đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi đang đặt ra
trong công cuộc chấn hưng đất nước: Nhận thức mang tính cấp bách về xây dựng
năng lực cầm quyền như thế nào? Làm thế nào để lãnh đạo đất nước trong bối cảnh
thế giới có nhiều thay đổi? Làm thế nào để nhận thức sâu sắc hóa quy luật cầm
quyền của Đảng? Làm thế nào để nhận thức được môi trường cầm quyền của
Đảng? Làm thế nào để cải cách và hoàn thiện cơ chế, quyết sách của Đảng?
Đỗ Hoài Nam (chủ biên) (2008): “Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo
của ĐCS Trung Quốc trong điều kiện mới Các tác giả đó dành một mục để
phân tích và rút ra những kết luận có giá trị về ĐCS Trung Quốc với vấn đề
cải cách, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và nâng
cao năng lực cầm quyền, từ việc nhận thức lại phương thức lãnh đạo và
phương thức cầm quyền của ĐCS Trung Quốc, quá trình cải cách và hoàn
Trang 15thiện phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng Trong đó,
đã tập trung phân tích tư tưởng “ba đại diện” với yêu cầu cải cách phương
thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng (Đảng luôn đại diện cho:
yêu cầu phát triển sức sản xuất xã hội tiên tiến Trung Quốc; phương hướng
phát triển của văn hóa tiên tiến Trung Quốc; lợi ích căn bản của quảng đại
quần chúng nhân dân Trung Quốc) Cuốn sách trình bày các nội dung chủ yếu
của cải cách phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của ĐCS Trung
Quốc Một là, giới định một cách khoa học chức năng của Đảng và chức năng
của chính quyền, làm hài hòa mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền, gồm:
chuyển từ chỗ lãnh đạo chủ yếu dựa vào nghị quyết, chỉ thị sang dựa vào pháp
chế; chuyển từ lãnh đạo bao biện, làm thay tất cả sang có sự kết hợp hữu cơ
giữa lãnh đạo vĩ mô với lãnh đạo cụ thể; chuyển từ chỗ lãnh đạo dựa vào
quyền lực sang dựa vào cảm hóa, vào uy tín của Đảng; chuyển từ lãnh đạo
trực tiếp sang gián tiếp và phát huy vai trò phối hợp Xử lý tốt mối quan hệ
giữa Đảng với chính quyền, đảng với quần chúng Xử lý tốt mối quan hệ giữa
sự lãnh đạo của Đảng với quản lý đất nước bằng pháp luật Hai là, nâng cao
trình độ lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng đòi hỏi phải dựa vào
dân chủ trong Đảng và dân chủ trong nhân dân, không ngừng hoàn thiện cơ
chế giám sát và ràng buộc quyền lực, gồm: kiên trì nguyên tắc tập trung dân
chủ, coi trọng sự giám sát và ràng buộc đối với cán bộ lãnh đạo; cải cách chế
độ nhân sự, mở rộng quyền được tham gia và giám sát của quần chúng đối với
công tác tuyển chọn, đề bạt cán bộ của Đảng Đảng quản lý tốt đảng viên,
tăng cường chống tham nhũng; coi trọng giám sát của báo chí và dư luận Các
tác giả cũng đi sâu luận giải phương châm “cầm quyền khoa học, cầm quyền
dân chủ, cầm quyền theo pháp luật”
Các tác giả đã chỉ ra kinh nghiệm cơ bản để nâng cao năng lực cầm
quyền của ĐCS TQ: không ngừng nâng cao năng lực điều hành kinh tế thị
Trang 16trường XHCN; không ngừng nâng cao năng lực phát triển nền chính trị dân
chủ XHCN; không ngừng nâng cao năng lực xây dựng nền văn hóa tiên
tiến XHCN; không ngừng nâng cao năng lực điều hòa xã hội; không
ngừng nâng cao năng lực ứng phó với tình hình quốc tế và xử lý các công
việc quốc tế Đồng thời, các tác giả kết luận, tuy đạt được những thành
tựu về mặt lý luận và thực tiễn, nhưng ĐCS Trung Quốc vẫn đang đứng
trước những vấn đề khó khăn và hạn chế như: quan hệ giữa Đảng với
chính quyền; quan hệ giữa TƯ và địa phương; quan hệ giữa Đảng, chính
quyền với thị trường và doanh nghiệp; quan hệ giữa chính trị bên trong
với chính trị quốc tế; quan hệ giữa cầm quyền, quản lý và quản lý theo
pháp luật; quan hệ với văn hóa truyền thống
Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2010): "ĐCS cầm quyền, nội dung và
phương thức cầm quyền của Đảng" Trong chương IV “Kinh nghiệm cầm
quyền của một số đảng chính trị tiêu biểu trên thế giới”, các tác giả đã phân
tích phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với nhà nước ở các nước
phương Tây (Mỹ, Anh, Pháp, Đức), nêu rõ nguyên nhân thất bại của ĐCS
Liên Xô nhìn từ góc độ lãnh đạo của Đảng Đồng thời cuốn sách cũng đi sâu
phân tích những kinh nghiệm cầm quyền và lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc
ĐCS Việt Nam và ĐCS Trung Quốc (2014): "Hội thảo lý luận giữa
ĐCS Việt Nam và ĐCS Trung Quốc xây dựng Đảng cầm quyền kinh nghiệm
của Việt Nam và kinh nghiệp của Trung Quốc” Hội thảo đã khẳng định vị trí
then chốt của Đảng cách mạng trọng sự nghiệp xây dựng xã hội mới, khẳng
định sự cần thiết khách quan phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của
Đảng, tổng kết một bước những kinh nghiệp lý luận và thực tiễn có ý nghĩa
hết sức quan trọng đối với việc thúc đẩy đổi mới ở Việt Nam, cải cách mở của
ở Trung Quốc, đáp ứng lợi ích của hai dân tộc
Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009): “Kinh nghiệm xây
dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc” đề cập đến tám nội dung trong đó có ba
Trang 17nội dung có liên quan nhiều đến đề tài luận văn bao gồm nội dung thứ hai bàn
đến cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc, nội dung thứ ba bàn trực tiếp về
vai trò lãnh đạo của ĐCS và việc nâng cao tố chất và năng lực đối với cán bộ
lãnh đạo của Đảng, và nội dung thứ tư đề cập dến xây dựng đội ngũ cán bộ và
công tác cán bộ của ĐCS Trung Quốc
Nguyễn Xuân Cường (chủ nhiệm) (2016): Báo cáo tổng quan đề tài
khoa học cấp bộ “Cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc sau Đại hội XVIII
ĐCS Trung Quốc” (2016) đã tập trung vào ba nội dung chính bao gồm: vấn
đề cơ bản và thách thức cải cách thể chế chính trị Trung Quốc trước thềm Đại
hội XVIII, Diễn biến cải cách thể chế cính trị từ Đại hội XVIII, và Đánh giá
triển vọng và cải cách thể chế chính trị của Trung Quốc Nội dung thứ hai là
diễn biến cải cách thể chế chính trị từ sau Đại hội XVIII có đề cập đến một số
nội dung liên quan đến đề tài như bối cảnh cải cách, những kết quả của công
cuộc cải cách gợi mở cho tác giả luận văn nghiên cứu sâu hơn về bối cảnh đổi
mới phương thức cầm quyền của ĐCS Trung Quốc hiện nay
b Luận văn
- Luận văn Thạc sĩ của Đặng Thị Thúy Hà (2005): "ĐCS TQ với vấn đề
xây dựng đảng từ năm 1992 đến nay" Luận văn trình bày khái quát về công
tác xây dựng đảng của ĐCS Trung Quốc trước năm 1992 Nêu những hoạt
động trong xây dựng tư tưởng lý luận và những nỗ lực của ĐCS Trung Quốc
Đồng thời trình bày những phương thức lãnh đạo, tăng cường năng lực cầm
quyền của ĐCS Trung Quốc nhằm làm cho ĐCS Trung Quốc giữ vững vai trò
là hạt nhân lãnh đạo sự nghiệp cải cách mở cửa, xây dựng hiện đại hoá
XHCN Từ đó đưa ra những thành tựu, bài học kinh nghiệm trong công tác
xây dựng Đảng giai đoạn 1992-2004 và phương hướng xây dựng Đảng trong
thời gian tới
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu khác như các đề
tài tài khoa học cấp nhà nước: Đề tài khoa học KX.10-03 “Đổi mới quan hệ
Trang 18giữa Đảng, bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong HTCT ở
Việt Nam” do GS, TS Lê Hữu Nghĩa làm Chủ nhiệm; Đề tài khoa học
KX.10-05 “Đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của ĐCS Việt Nam trong điều
kiện công nghiệp hóa đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” do GS,
TS Phạm Ngọc Quang làm Chủ nhiệm; Đề tài khoa học KX.10-04 “Vị trí cầm
quyền và vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì
dân và hội nhập kinh tế quốc tế” do GS, TS Đỗ Hoài Nam làm Chủ nhiệm ,
và những bài viết trên các báo và tạp chí khác
Những công trình, bài viết trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận
và thực tiễn về đảng cầm quyền nói chung và phương thức cầm quyền của
ĐCS Trung Quốc nói riêng Đồng thời, nêu ra những phương thức của cầm
quyền của ĐCS, của ĐCS Trung Quốc cũng như kinh nghiệm của Việt Nam,
kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc xây dựng đảng cầm quyền
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận, khảo sát thực tiễn phương
thức cầm quyền của ĐCS Trung Quốc, tác giả luận văn rút ra những giá trị
tham chiếu đối với đổi mới phương thức cầm quyền của ĐCS Việt Nam, đáp
ứng yêu cầu của tình hình mới
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về ĐCS cầm quyền, phương thức cầm
quyền của ĐCS;
- Đánh giá thực tiễn phương thức cầm quyền của ĐCS Trung Quốc
trong gần 40 năm đổi mới, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân;
- Rút ra những giá trị tham chiếu cho đổi mới phương thức cầm quyền
của ĐCS Việt Nam
Trang 194 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Phương thức cầm quyền của ĐCS Trung Quốc và những giá trị tham
chiếu cho ĐCS Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phương thức cầm quyền của ĐCS Trung Quốc, liên hệ đổi mới phương
thức cầm quyền của ĐCS Việt Nam
Về thời gian: Thời kỳ cải cách, mở cửa của Trung Quốc (từ năm 1978
đến nay)
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
và hệ thống quan điểm, đường lối của ĐCS Trung Quốc, ĐCS Việt Nam về ĐCS,
đảng cầm quyền, phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của ĐCS
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành và đa ngành như: lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh
đối chiếu, thống kê, nghiên cứu tài liệu
6 Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
6.1 Đóng góp khoa học của luận văn
- Góp phần đánh giá phương thức cầm quyền của ĐCS Trung Quốc,
ĐCS Việt Nam
- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và yêu cầu đối với phương thức cầm
quyền của ĐCS TQ, ĐCS Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm đổi mới phương
thức cầm quyền của ĐCS Việt Nam
Trang 206.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn hệ thống hóa, làm rõ thêm những vấn đề lý luận về đảng cầm
quyền, phương thức cầm quyền của ĐCS trong giai đoạn hiện nay
Luận văn là cơ sở lý luận và phương pháp để giải quyết những vấn đề
bức thiết nhất đang đặt ra đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm
vụ chiến lược của Đảng
Luận văn đồng thời còn được sử dụng làm tài liệu trong đào tạo, bồi
dưỡng của các nhà trường, học viện, các cơ quan nghiên cứu khoa học, lý
luận của Đảng, Nhà nước và xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 21Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN
VÀ PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC
1.1 Một số vấn đề lý luận về nội dung, phương thức cầm quyền của
Đảng cộng sản
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Đảng cộng sản cầm quyền
1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm đảng chính trị
Trong thế giới hiện đại, các đảng chính trị tồn tại dưới các hình thức rất
phong phú và đa dạng Tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau, người ta có
thể đưa ra những định nghĩa khác nhau về đảng chính trị Nhà nghiên cứu
người Pháp M Duverger cho rằng, đảng là tổ chức của những người tự
nguyện, được lập ra để tranh cử vào các cơ quan công quyền Theo học giả
người Mỹ Steffen, “đảng chính trị là một nhóm người được tổ chức lại nhằm
giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử, để giành quyền điều hành chính phủ
và quyết định chính sách công” [28, tr.25] Jay M Shafrits cho rằng, đảng
chính trị là “một tổ chức tìm cách nắm quyền lực chính trị bằng cách bầu
thành viên của mình vào các cơ quan nhà nước, nhờ đó tư tưởng cính trị của
họ có thể được phản ánh trong các chính sách công cộng” [28, tr.26]
Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra bản chất giai cấp của các đảng chính trị
với tư cách là tổ chức đại diện lợi ích giai cấp, thể hiện lợi ích cơ bản của
mình và đưa ra các quan niệm: Đảng chính trị là bộ phận tích cực nhất, có tổ
chức của một giai cấp nào đó hay một tầng lớp nào đó của một giai cấp; là
công cụ quan trọng để giai cấp đấu tranh cho lợi ích của mình; đảng chính trị
ra đời trong điều kiện đấu tranh giai cấp đã phát triển đến trình độ nhất định
Trang 22của cuộc đấu tranh chính trị và mục tiêu giành chính quyền được đặt ra trực
tiếp; cơ sở của sự hoạt động của các đảng là lợi ích giai cấp; đảng chính trị thể
hiện mục tiêu của mình trong cương lĩnh và những tuyên ngôn có tính chất
cương lĩnh
Từ điển Bách khoa triết học Liên Xô định nghĩa: “Đảng chính trị là tổ
chức chính trị thể hiện những lợi ích của một giai cấp hay của một tầng lớp xã
hội, liên kết những đại diện ưu tú nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới
những mục đích và lý tưởng nhất định” [28, tr.26]
Mặc dù còn nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung, chúng
ta có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản của đảng chính trị như sau:
Thứ nhất, đảng chính trị là tổ chức đại diện cao nhất cho lợi ích của
một giai cấp, một tầng lớp, một nhóm, hoặc một lực lượng nào đó
Thứ hai, đảng chính trị là các nhóm chính trị được tổ chức chủ yếu
nhằm giành quyền lực nhà nước
Thứ ba, đảng chính trị là tổ chức chính trị của những người có cùng
chính kiến, quan điểm, mà trước hết là về các chính sách công
- Khái niệm đảng cầm quyền
Đảng cầm quyền là khái niệm chỉ vị thế, tư cách chính trị cầm quyền
của đảng chính trị sau khi giành được chính quyền nhà nước, thực hiện sự
lãnh đạo chủ yếu bằng quyền lực của bộ máy công quyền để phục vụ cho lợi
ích của nhân dân Thuật ngữ đảng cầm quyền lần đầu tiên được Lênin nêu ra
từ trước Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, khi cho rằng bất cứ lúc nào
cũng sẵn sang đứng ra nắm toàn bộ chính quyền Theo nghĩa này, đảng cầm
quyền cũng được sử dụng để phân biệt về vị thế, tư cách chính đảng của đảng
chính trị đã nắm được chính quyền so với thời kỳ trước khi nắm chính quyền
và so với các đảng khác chưa hoặc không nắm được chính quyền
Khái niệm đảng cầm quyền được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa rộng là
cầm quyền tuyệt đối, nắm được toàn bộ nhà nước, là sự lãnh đạo toàn diện và
Trang 23tuyệt đối của đảng đối với xã hội, làm cho xã hội vận động theo quỹ đạo mà
đảng chính trị mong muốn Nghĩa hẹp là cầm quyền không tuyệt đối, chỉ nắm
được cơ quan hành pháp, là đảng chính trị trực tiếp nắm giữ được cơ quan
hành pháp để duy trì, áp đặt ý đồ chính trị của đảng đối với xã hội Theo cách
hiểu phổ biến trên thế giới hiện nay, đảng cầm quyền là đảng giành chiến
thắng trong các cuộc bầu cử dân chủ và cạnh tranh Trên cơ sở đó, đảng đứng
ra thành lập chính phủ và đưa ra các quyết định chính sách dưới danh nghĩa
quyền lực nhà nước, đại diện cho nhân dân Quan niệm này phù hợp với mô
hình đảng cầm chính trị ở các nước phương Tây Tuy nhiên, đảng cầm quyền
cũng là thuật ngữ dùng để chỉ các ĐCS ở những nước có duy nhất một đảng
cầm quyền, đang nắm chính quyền để lãnh đạo cách mạng của các nước đó
Như vậy, đảng cầm quyền được hiểu theo các nghĩa sau: Một là, nói tới
đảng cầm quyền tức là nói tới vị thế của đảng trong sự so sánh với các đảng
chính trị khác – những đảng không cầm quyền Hai là, đảng cầm quyền là
đảng nắm giữ những vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước để kiểm soát quá
trình hoạch định và thực thi chính sách quốc gia Ba là, đảng cầm quyền là
đảng lãnh đạo người của mình trong bộ máy nhà nước thực hiện các mục tiêu
phát triển của đảng thông qua các chính sách của nhà nước
Từ đó, có thể khái quát như sau: Đảng cầm quyền là đảng đã giành
được chính quyền và thực hiện quyền lãnh đạo về mặt chính trị đối với nhà
nước và xã hội, chủ yếu bằng sức mạnh của quyền lực công, thực hiện Cương
lĩnh phát triển đất nước của đảng cầm quyền, phục vụ lợi ích của giai cấp
cầm quyền và vì lợi ích quốc gia, dân tộc mà đảng cầm quyền và nhà nước đó
đại diện
- Khái niệm ĐCS cầm quyền
Ra đời trong cuộc đấu tranh cách mạng giành quyền lực, ĐCS là đội
tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, bao gồm những
Trang 24đại diện ưu tú nhất, được tôi luyện trong cuộc đấu tranh cách mạng, gắn bó
với giai cấp và quần chúng bị bóc lột, được giai cấp và quần chúng tin tưởng
trong cuộc đấu tranh để giải phóng mình và giải phóng toàn thể quần chúng bị
áp bức, bóc lột Để thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại đó, giai cấp vô sản trước
hết phải giành lấy chính quyền dưới sự lãnh đạo của ĐCS để tiến tới mục đích
vĩ đại của mình Đối với ĐCS, con đường để trở thành đảng cầm quyền phải
trải qua cuộc đấu tranh cách mạng, cách mạng vô sản hoặc cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân, lật đổ bộ máy chính quyền của các giai cấp bóc lột, thiết
lập một nhà nước kiểu mới – nhà nước vô sản
ĐCS cũng đặt ra mục tiêu trước hết phải giành lấy chính quyền làm
phương tiện để thực hiện mục đích của mình là cải tổ toàn bộ xã hội, xây
dựng CNXH Về lý thuyết, trong các xã hội tư sản, ĐCS cũng có thể giành
được quyền lực nhà nước nhờ vào tranh cử trong các cuộc bầu cử cơ quan
quyền lực nhà nước nhưng trên thực tế chưa có ĐCS nào giành được chính
quyền bằng con đường đó Trong khuôn khổ thể chế chính trị tư sản, với
những quy chế pháp lý thể hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, các đảng
chính trị của giai cấp công nhân không thể có sự bình đẳng với các chính
đảng tư sản Vì thế, Lênin đã từng cho rằng: chỉ có những kẻ vô dụng hay ngu
ngốc mới có thể nghĩ rằng giai cấp vô sản trước hết cần giành lấy đa số trong
các cuộc bầu cử tiến hành dưới sự áp bức của giai cấp tư sản, dưới sự áp bức
của chế độ nô lệ làm thuê, rồi sau mới cướp chính quyền Đó là sự ngu ngốc
cực độ hay là một sự giả dối cực độ, đó là sự thay thế đấu tranh giai cấp và
cách mạng bằng những cuộc bầu cử và chính quyền cũ
Để giành được chính quyền, giai cấp công nhân và chính đảng của nó
chỉ có thể thực hiện bằng con đường đấu tranh cách mạng, hoặc cách mạng vô
sản, hoặc chiến tranh giải phóng dân tộc, hoặc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân… Thắng lợi của các cuộc cách mạng đó đưa giai cấp công nhân lên
Trang 25địa vị giai cấp cầm quyền và chính ĐCS, đội tiên phong của giai cấp công
nhân trở thành đảng cầm quyền
Như vậy, ĐCS cầm quyền là khái niệm chỉ thời kỳ Đảng đã giành được
chính quyền, thiết lập HTCT mới, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, tiến
hành xây dựng CNXH ĐCS cầm quyền thực tế chỉ được xác lập trong thể chế
chính trị XHCN, nơi chỉ có một đảng duy nhất cũng là đảng cầm quyền (Cu
Ba, Việt Nam) hoặc hệ thống đa đảng hợp tác chứ không phải đa đảng cạnh
tranh, càng không có đảng đối lập trong việc giành quyền lực nhà nước
(Trung Quốc)
1.1.1.2 Đặc điểm của Đảng cộng sản cầm quyền
- Một là, nhiệm vụ chính trị của Đảng đã thay đổi căn bản Từ chưa có
chính quyền đến có chính quyền là một bước ngoặc căn bản của cách mạng,
là một bước phát triển mới về chất đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân Trước đây khi chưa có chính quyền, nhiệm vụ hàng đầu của đảng là
thuyết phục, vận động nhân dân thấy sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược
của mình để lãnh đạo nhân dân đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính
quyền về tay nhân dân Khi có chính quyền thì nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm
của đảng là tổ chức xây dựng, quản lý, phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực
CNXH từ lĩnh vực lý luận đã chuyển sang lĩnh vực thực tiễn Trong tình hình
đó, khó khăn là ở chỗ phải hiểu rõ những đặc điểm của bước chuyển từ nhiệm
vụ chủ yếu là thuyết phục nhân dân và dùng vũ lực quân sự trấn áp, bóc lột
sang nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội
Tổ chức quản lý kinh tế - xã hội là một việc hết sức khó khăn đòi hỏi
tính khoa học và nghệ thuật cao Hơn nữa đây cũng là một công việc hết sức
mới mẻ và phức tạp, không thể không trải qua một thời kỳ khó khăn mò mẫm,
thử nghiệm và vấp váp Lênin nói: “sự xuất hiện của một giai cấp mới trên vũ
đài lịnh sử, với tư cách là người lãnh tụ và người lãnh đạo xã hội không bao
Trang 26giờ diễn ra mà lại không có một thời kỳ „tròng trành‟ hết sức dữ dội, một thời
kỳ chấn động, đấu tranh và bão táp, đó là một mặt; Mặt khác không bao giờ
diễn ra mà lại không có một thời kỳ mò mẫn thử nghiệm, do dự, ngả nghiêng
trong việc lựa chọn những phương pháp mới đáp ứng tình hình thế giới khách
quan mới” [30, tr.29] Tình hình đó đòi hỏi trong suốt quá trình lãnh đạo, bên
cạnh việc học tập kinh nghiệm xây dựng CNXH ở các nước XHCN đi trước,
Đảng cầm quyền phải luôn tổng kết thực tiễn, đúc kết phát triển thành lý luận,
để dựa vào đó xây dựng đường lối, chính sách lãnh đạo phù hợp, giải đáp
đúng những vấn đề do thực tiễn đặt ra với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo,
giảm đến mức thấp nhất những sai lầm, vấp váp
- Hai là Đảng lãnh đạo trong điều kiện có nhà nước XHCN Giành
được chính quyền, ĐCS phải thiết lập nhà nước XHCN nhằm lãnh đạo giai
cấp công nhân và nhân dân lao động tiếp tục thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch
sử của mình Đây là bước ngoặt lớn đưa vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng lên
tầm cao mới về thế và lực
Đảng cầm quyền lãnh đạo xã hội, lãnh đạo nhân dân chủ yếu thông qua
nhà nước và bằng nhà nước Vì vậy khái niệm đảng cầm quyền có nội hàm
chủ yếu là đảng xây dựng và lãnh đạo chính quyền, phát huy vai trò chính
quyền để quản lý đất nước, quản lý kinh tế - xã hội theo Hiến pháp và pháp
luật Đồng thời với việc lãnh đạo chính quyền, đảng cầm quyền phải xây
dựng, lãnh đạo các tổ chức khác trong HTCT, phát huy vai trò Mặt trận và các
đoàn thể chính trị - xã hội, phối hợp hoạt động của toàn bộ HTCT hướng vào
những mục tiêu chung
Trong HTCT của CNXH nhà nước giữ vị trí trung tâm và có vai trò cực
kỳ quan trọng Nhà nước chính là tổ chức tập trung nhất để thể hiện ý chí và
nguyện vọng của nhân dân, Nhà nước XHCN còn mang đặc điểm là nhà nước
của dân, do dân, vì dân Hiệu lực quản lý của nhà nước có liên quan rất lớn
đến vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng
Trang 27Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ rằng Đảng cầm quyền hoàn toàn
không phải là "đảng trị" Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, bộ
máy cai trị dân Đảng không đứng trên Nhà nước, không đứng trên pháp luật
mà đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Sự lãnh đạo của
đảng thể hiện qua việc đề ra đường lối chiến lược, chính sách lớn đối với tất
cả lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội nhằm hướng đến mục tiêu chung là
giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công CNXH Sự lãnh đạo của
đảng còn xác lập dựa trên việc xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch,
vững mạnh, thật sự của dân, do dân và vì dân Đảng đề ra nguyên tắc, tư
tưởng chỉ đạo, xây dựng và tổ chức hoạt động của nhà nước Đảng kiểm tra
nhà nước và hệ thống chí trị thông qua việc kiểm tra đảng viên, những người
đang giữ những nhiệm vụ chủ chốt trong bộ máy chính quyền và thông qua
quần chúng nhân dân Đảng đề ra quan điểm toàn diện cho công tác cán bộ:
đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ và quyết định các chính sách lớn về
cán bộ
Có chính quyền là thuận lợi cơ bản nhưng mặt khác, khi có chính
quyền thì trong đảng cũng tiềm ẩn nguy cơ chủ quan, tự mãn, quan liêu, đặc
quyền đặc lợi, xa rời nhân dân mà đảng cần tỉnh táo ngăn chặn, phòng ngừa
Có chính quyền thì cán bộ đảng viên được bố trí vào những cương vị, chức vụ
chủ chốt trong bộ máy nhà nước nhằm để thực hiện vai trò lãnh đạo của đảng
Nhưng khi có chức, có quyền thì một bộ phận cán bộ đảng viên dễ lợi dụng
chức quyền để làm việc sai trái như quan liêu, cửa quyền, hách dịch… làm
cho nhân dân oán ghét, uy tín của đảng giảm sút Hiện tượng này không gắn
với bản chất của đảng, của nhà nước, nhưng nếu không có biện pháp ngăn
chặn, nếu kỷ luật của đảng, pháp luật của nhà nước không nghiêm, không kịp
thời khắc phục thì sẽ gây ra hậu quả khó lường
- Ba là phương pháp lãnh đạo của đảng đã thay đổi Khi ĐCS cầm
quyền, cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới với tình hình, vai trò,
Trang 28nhiệm vụ mới, điều này đòi hỏi đảng phải thay đổi phương pháp lãnh đạo
Khi chưa có chính quyền, đảng trực tiếp giải quyết mọi việc Có chính quyền,
có HTCT, đảng phải sử dụng rộng rãi cả HTCT để thực hiện nhiệm vụ trung
tâm của đảng là lãnh đạo công cuộc xây dựng, trước hết là trên lĩnh vực kinh
tế Mặt khác, có chính quyền rồi, với tồn tại đan xen của nhiều thành phần
kinh tế, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục nhưng để lãnh đạo các thành phần
giai cấp khác cùng hướng về một mục tiêu chung, ĐCS phải lãnh đạo bằng
những hình thức, phương pháp và biện pháp khác Lênin chỉ ra rằng: “khi tình
hình đã thay đổi và chúng ta phải giải quyết những nhiệm vụ thuộc loại khác,
thì không nên nhìn lại đằng sau và sử dụng những phương pháp của ngày
hôm qua” [34, tr 398]
Có chính quyền, ĐCS phải biết loại bỏ những phương pháp, hình thức
không còn phù hợp Có những phương pháp, hình thức trước đây có tính chất
phổ biến đến nay không còn phổ biến nữa như phương pháp tuyên truyền vận
động cá biệt đến từng nhà, từng người nay vẫn còn, nhưng phải sử dụng
rộng rãi bằng phương tiện thông tin đại chúng, sử dụng cả HTCT của CNXH
để tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng hành động cách mạng có hiệu
quả trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mà trước hết là trên lĩnh vực kinh
tế Lênin đã cảnh báo những người cộng sản rằng: Ai muốn dùng phương
pháp cũ trong cuộc đấu tranh giành chính quyền để giải quyết những nhiệm
vụ tổ chức thì người đó sẽ phá sản hoàn toàn với tính cánh là nhà chính trị, là
người XHCN
Vì vậy cần phải sáng tạo những phương pháp, hình thức mới ngày càng
phong phú Đó là những phương pháp, hình thức kết hợp giáo dục chính trị,
tư tưởng với kích thích lợi ích kinh tế, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích
tập thể và lợi ích xã hội, kết hợp giáo dục với hành chính và cưỡng bức, kết
hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác kinh tế Đảng
cầm quyền đặc biệt chú trọng đến phương pháp lãnh đạo thông qua nhà nước,
Trang 29phát huy vai trò, hiệu lực của nhà nước trong lĩnh vực thể chế hoá đướng lối
chính sách của đảng bằng các hình thức, biện pháp quản lí của nhà nước
1.1.1.3 Vị thế, vai trò của Đảng cộng sản cầm quyền
Sự lãnh đạo của ĐCS là vấn đề cơ bản liên quan tới sự thành bại của sự
nghiệp xây dựng CNXH, là một quy luật khách quan mà không thể dùng ý chí
của con người thay đổi được, mà do nhiệm vụ lịch sử của CNXH và tính chất
căn bản của ĐCS quy định Lênin nói: “Giai cấp vô sản cách mạng là chính
đảng của chủ nghĩa Mác độc lập và không hề có sự thoả hiệp, là đảm bảo duy
nhất cho thắng lợi của CNXH, là con đường rộng rãi để hướng tới thắng lợi
Đây là chân lý không thể thay đổi Suy cho cùng, điều này được quyết định
bởi sứ mệnh lịch sử trọng đại của sự nghiệp vĩ đại và đầy gian nan mà lịch sử
giao phó cho giai cấp vô sản CNXH không giống với cuộc cách mạng xã hội
trước đây dùng chế độ tư hữu này để thay cho chế độ tư hữu khác, mà đó là
xây dựng một xã hội mới không có áp bức, không có bóc lột, mọi người cùng
làm chủ và cùng giàu mạnh trên cơ sở phát triển cao độ sức sản xuất Muốn
xây dựng xã hội như vậy, giai cấp vô sản phải hoàn thành hai nhiệm vụ nhưng
chỉ là một: một là dùng tinh thần anh dũng quên mình của bản thân trong cuộc
đấu tranh cách mạng chống tư bản để lôi cuốn tất cả quần chúng lao động và
bị bóc lột, lôi cuốn, tổ chức, lãnh đạo họ nhằm đánh đổ giai cấp tư sản và
hoàn toàn đè bẹp mọi sự phản kháng của giai cấp đó; hai là làm cho hết thảy
quần chúng lao động và bị bóc lột, cùng với tất cả mọi tầng lớp tiểu tư sản, đi
theo mình vào con đường kiến thiết kinh tế mới, vào con đường tạo ra những
quan hệ xã hội mới, một kỷ luật lao động mới, một tổ chức lao động mới có
khả năng phối hợp những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật tư bản
với sự tập hợp đông đảo những người lao động tự giác, những người tạo ra
nền sản xuất lớn XHCN” (LN toàn tập, t39, tr20) Việc làm mang tính lịch sử
hoàn toàn mới từ trước tới nay này không thể tưởng tượng được nếu không có
Trang 30sự kiên định, sự sáng suốt và sự lãnh đạo rất hiệu quả của một chính đảng
Mác – Lênin
Như vậy, chỉ có sự lãnh đạo kiên định và sáng suốt của ĐCS mới có thể
kiên trì trước sau như một phương hướng XHCN Không vì những trắc trở,
thậm chí trắc trở nghiêm trọng xuất hiện trong tiến trình đi lên XHCN mà
bàng hoàng, lo ngại, mà phải vững bước tiến lên theo quy luật của lịch sử từ
CNXH lên chủ nghĩa cộng sản Chỉ có sự lãnh đạo kiên định và sáng suốt của
ĐCS với quan điểm triệt để của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử để noi gương và tiếp thu đầy đủ tất cả những thành quả văn
minh mà xã hội loài người đã sáng tạo ra và phán đoán một cách khoa học
tình trạng hiện thực, định ra chiến lược và phương châm thực tiễn để lãnh đạo
quần chúng đi tới một mục tiêu to lớn Chỉ có sự lãnh đạo kiên định và sáng
suốt của ĐCS mới có thể dùng công tác tư tưởng, chính trị vừa bền bỉ vừa tỉ
mỉ để thuyết phục và giáo dục quần chúng nhận thức rõ chủ nghĩa Mác là đại
diện cho lợi ích hiện thực kết hợp với lợi ích căn bản của quần chúng nhân
dân để cùng quyết tâm, quyết chí tổ chức, phấn đấu Chỉ có sự lãnh đạo kiên
định và sáng suốt của ĐCS mới có thể thắng không kiêu, bại không nản, kịp
thời tổng kết những bài học kinh nghiệm thành bại của CNXH, phát huy
thành tích, sửa chữa sai lầm, không nao núng đi tới mục đích của mình Cũng
chỉ có sự lãnh đạo kiên định và sáng suốt của ĐCS mới có thể dựa vào vai trò
tiên phong, gương mẫu của các thành viên và vai trò là pháo đài chiến đấu của
tổ chức mình, xây dựng nên đội quân cách mạng đông đảo, hùng hậu để giành
thắng lợi
1.1.2 Nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng cộng sản
1.1.2.1 Nội dung cầm quyền của Đảng cộng sản
Sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, ĐCS Nga đã lãnh đạo
tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền Xô viết Những nội dung lãnh
Trang 31đạo của Đảng đã có những điểm mới so với trước đó, tức là chuyển trọng tâm
từ việc lãnh đạo giành chính quyền về tay giai cấp vô sản sang trọng tâm thực
hiện công cuộc khôi phục phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở vật chất
cho CNXH Điều đó cho thấy, nội dung cầm quyền, lãnh đạo của đảng khi đã
nắm chính quyền có những điểm khác so với nội dung lãnh đạo khi đảng chưa
nắm được chính quyền Chỉ khi đảng nắm được chính quyền, những nội dung
lãnh đạo mới được biểu hiện là những nội dung cầm quyền
Nội dung cầm quyền, lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với nhà nước
thể hiện chủ yếu và trước hết ở việc đảng xác định các mục tiêu mang tính
chất định hướng trong các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của
mình Mục tiêu, lý tưởng của đảng cũng chính là mục tiêu xác định cho nhà
nước phải đạt tới, vì lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao
động Mục tiêu được phân ra theo các góc độ khác nhau như: mục tiêu dài hạn
và ngắn hạn, mục tiêu tổng quát và mục tiêu riêng biệt đối với từng lĩnh vực
nào đó Mục tiêu lâu dài bao gồm những tiêu chí mà sự lãnh đạo của đảng cần
phải đạt sau một thời gian dài Điều đó cũng có nghĩa là cương lĩnh của đảng
đòi hỏi phải có tầm nhìn xa trông rộng Các mục tiêu hay những định hướng
đường lối, chủ trương đó của đảng cần phải được xây dựng một cách khoa
học, tức là phải tuân theo những quy luật khách quan và xuất phát từ thực tiễn
để đảm bảo sự đúng đắn của chúng
Trong các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của mình,
đảng còn phải xác định cả những nhiệm vụ cho đảng và cho nhà nước, có
nhiệm vụ lâu dài, nhiệm vụ trước mắt trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống
xã hội Trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô
viết”, Lênin cho rằng, sau khi ĐCS đã nắm được chính quyền thì “nhiệm vụ
tổ chức quản lý nước Nga – hiện đang được đề ra trước mắt chúng ta, đó là
nhiệm vụ trước mắt…, nhiệm vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và
Trang 32trung tâm Chúng ta, Đảng Bônsêvích, chúng ta đã thuyết phục được nước
Nga Chúng ta đã giành được nước Nga… Bây giờ, chúng ta phải quản lý
nước Nga Và toàn bộ đặc điểm của tình thế hiện thời, tất cả sự khó khăn là ở
chỗ phải hiểu rõ những đặc điểm của bước chuyển từ nhiệm vụ chủ yếu là
thuyết phục nhân dân và dùng lực lượng quân sự trấn áp bọn bóc lột sang
nhiệm vụ chủ yếu là quản lý” [30, tr 209]
Việc xác định các nhiệm vụ của đảng và nhà nước trong các cương
lĩnh, nghị quyết của đảng cần phải có sự định hướng vào các nhiệm vụ cấp
thiết và mấu chốt Tức là cần xác định các nhiệm vụ trọng yếu và phải tập trung
vào giải quyết chúng Theo Lênin “chuyên chính vô sản là sự lãnh đạo chính trị
của giai cấp vô sản Giai cấp vô sản với tư cách là giai cấp lãnh đạo, thống trị,
phải biết hướng chính sách vào việc giải quyết trước tiên vấn đề cấp thiết nhất,
mấu chốt nhất” [33, tr 263] Trong các cương lĩnh, nghị quyết của mình, đảng
cần xác định các nhiệm vụ chủ yếu và đề ra các biện pháp chỉ đạo thực hiện
trong thực tiễn Các nhiệm vụ chủ yếu bao gồm: công tác tư tưởng, xây dựng bộ
máy nhà nước và các tổ chức quần chúng; công tác xây dựng đảng, trong đó đặc
biệt vấn đề tổ chức cán bộ và kiểm tra của đảng; nhiệm vụ trong các lĩnh vực
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Theo Lênin, trong nội dung lãnh đạo của đảng đối với nhà nước, đảng
không nên đề ra các nhiệm vụ quá chi tiết, nội dung giải quyết các công việc
quá cụ thể Đảng chỉ cần định ra các phương hướng, nhiệm vụ chung về các
mặt và nguyên tắc chung về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước
1.1.2.2 Phương thức cầm quyền của Đảng cộng sản
Phương thức cầm quyền của Đảng là hệ thống phương pháp, hình thức,
biện pháp mà đảng vận dụng để sử dụng Nhà nước, tác động vào Nhà nước và
bằng Nhà nước nhằm thực hiện các nội dung cầm quyền, đạt mục tiêu cuối cùng
của đảng Phương thức cầm quyền của đảng cũng có nghĩa là xây dựng tổ chức,
thiết kế tổ chức bộ máy nhà nước để thực hiện vài trò cầm quyền của mình
Trang 33Phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo là những khái niệm
khác nhau, nhưng có nội dung đồng nhất với nhau Đảng vẫn có thể lãnh đạo
nhân dân khi chưa giành chính quyền, nhưng Đảng chỉ có thể cầm quyền khi đã
giành được quyền lực nhà nước về tay mình Do vậy, phương thức cầm quyền
của đảng thực chất chỉ là phương thức lãnh đạo của đảng trong điều kiện đảng
đã ở vị thế cầm quyền Nếu không ở vị thế cầm quyền, đảng không thể nào
thực hiện được đầy đủ các phương thức lãnh đạo này, đặc biệt là việc lãnh đạo
Nhà nước thể chế hóa đường lối của đảng thành các chính sách, pháp luật của
Nhà nước Phương thức cầm quyền là một mặt trận quan trọng của năng lực
cầm quyền Phương thức cầm quyền khoa học, quy phạm, hợp lý, đúng đắn thì
trình độ cầm quyền sẽ cao, ngược lại sẽ gặp rất nhiều vấn đề rắc rối
Khi bàn đến phương thức cầm quyền của ĐCS đối với nhà nước và xã
hội, Lênin chỉ ra bốn phương thức cơ bản sau đây
- Thứ nhất, đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước bằng việc đề ra các chủ
trương, đường lối, cương lĩnh, chỉ thị, nghị quyết của đảng
Ở vị trí cầm quyền, đảng có trọng trách là lãnh đạo nhà nước và toàn xã
hội Những nội dung lãnh đạo được xác định trong các cương lĩnh, chỉ thị,
nghị quyết của đảng là những vấn đề về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ
trong các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội mà nhà nước là
người có trách nhiệm phải giải quyết thực hiện chúng Điều đó có nghĩa, với
tư cách đảng cầm quyền, những nội dung được đề ra bao hàm các vấn đề về
đường lối, quan điểm chính trị và nguyên tắc tổ chức liên quan tới chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, phát triển văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh,
đối ngoại, truyền bá hệ tư tưởng cũng như đào tạo cán bộ, xây dựng bộ máy
nhà nước là thuộc về trách nhiệm của đảng còn giải quyết và thực hiện cụ thể
như thế nào là trách nhiệm của nhà nước Điều này cũng tức là phải có sự
phân định rõ chức năng lãnh đạo của đảng và chức năng quản lý, giải quyết
Trang 34các công việc cụ thể của nhà nước Đảng không lãnh đạo nhà nước theo các
nội dung như trên với cách thức ra các mệnh lệnh từ trên xuống, buộc nhà
nước phải thực hiện mà lãnh đạo bằng việc đề ra các chủ trương, đường lối,
chỉ thị, nghị quyết Tại Đại hội lần thứ X ĐCS Nga, Lênin cũng chỉ rõ
“Nhiệm vụ của chúng ta chỉ là định ra những đường lối, nguyên tắc và nêu ra
khẩu hiệu Đảng ta là một đảng cầm quyền và những quyết định do Đại hội
của Đảng thông qua là những điều mà toàn nước Cộng hòa phải tuân theo”
[33, tr.74]
- Thứ hai, đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước thông qua tổ chức đảng,
đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng trong bộ máy nhà nước
Đây là phương thức lãnh đạo mang tính phổ biến đối với mọi đảng cầm
quyền Tuy nhiên, ở mỗi nước cũng có những đặc điểm riêng, tùy điều kiện
cụ thể Theo quan điểm của Lênin, đây là một trong các phương thức lãnh đạo
cơ bản, thể hiện như một trọng trách của đảng cầm quyền Tại Đại hội lần thứ
VIII các Xô viết toàn Nga (02 – 1920), Lênin cũng viết rằng “Chừng nào một
đảng cầm quyền còn quản lý, chừng nào đảng ấy còn phải giải quyết tất cả
mọi vấn đề về những sự bổ nhiệm khác nhau, thì anh không thể để có tình
trạng là việc bổ nhiệm các chức vụ nhà nước quan trọng nhất lại do một đảng
không lãnh đạo tiến hành” [32, tr 205]
Theo quan điểm của Lênin, chỉ có thông qua đội ngũ đảng viên của
đảng cầm quyền trong bộ máy nhà nước, mọi hoạt động của nhà nước mới
bảo đảm theo đúng mục tiêu của đảng cầm quyền đã vạch ra
Đảng lãnh đạo nhà nước trước hết bằng việc đề ra đường lối, cương
lĩnh, chỉ thị, nghị quyết của đảng Tuy nhiên, việc thực hiện chúng là công
việc rất khó khăn và đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ của đảng Đó là những
đảng viên của đảng, những cán bộ ủng hộ, phục tùng đường lối của đảng Chỉ
có thông qua đội ngũ cán bộ này, các chỉ thị, nghị quyết của đảng mới được
Trang 35thể hiện trên thực tế Theo quan điểm của Lênin, những cán bộ, đảng viên
trong bộ máy nhà nước phải hoạt động làm sao bảo đảm vừa với tư cách là
người đại diện cho đảng cầm quyền, vừa với tư cách là người đại biểu của
dân, tức người đại diện cho chính quyền
- Thứ ba, đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước bằng công tác kiểm tra
Đây là phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền đã được Lênin đề
cập ở nhiều tác phẩm Kiểm tra được coi là công việc mấu chốt trong lãnh đạo
của đảng đối với nhà nước và xã hội Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh: điểm
trung tâm của công tác tổ chức là việc chọn người, giao việc và kiểm tra hiệu
quả chấp hành Lênin còn chỉ thị: Hãy dành thời gian để tiến hành kiểm tra
công việc, kiểm tra công tác, “kiểm ra nhân viên công tác và kiểm tra việc
chấp hành thực tế công tác – mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ
chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy” [35, tr 19] Theo
quan điểm của Lênin, các cơ quan và cá nhân người lãnh đạo phải hết sức coi
trọng công tác kiểm tra, tổ chức tốt việc kiểm tra phải được coi là chức năng
quan trọng của cơ quan và người lãnh đạo Lênin còn cho rằng, phải đi từ
công tác kiểm tra để một mặt tác động tới bộ máy nhà nước, coi đây là điểm
xuất phát và khâu trung tâm của phương thức lãnh đạo của đảng đối với các
cơ quan nhà nước; mặt khác, thông qua công tác kiểm tra mà xem lại tính
đúng đắn, tính phù hợp của các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của đảng so
với thực tiễn, từ đó có những sửa đổi, bổ sung, phát triển sáng tạo các chủ
trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của đảng [35, tr 447] Như vậy, theo
quan điểm của Lênin, trong quá trình lãnh đạo, đảng không được chủ quan,
thỏa mãn với các quyết định, chủ trương của mình mà luôn phải tổ chức sự
kiểm tra tính đúng đắn của các chủ trương, quyết định đó Thông qua công tác
kiểm tra mà phát hiện, sáng tạo ra cái mới, cái tốt hơn, đề ra nội dung và
phương thức lãnh đạo sát hợp hơn với thực tiễn cuộc sống
Trang 36Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước thông qua công tác kiểm tra Tuy
nhiên ai là người thực hiện sự kiểm tra đó? Lênin cho rằng, chính ngay những
đảng viên của đảng trong bộ máy nhà nước thực hiện sự kiểm tra đó Tức các
đảng viên của đảng phải là những người đảm nhiệm việc kiểm tra các công
việc của các cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước
Đảng lãnh đạo nhà nước bằng công tác kiểm tra, song để kiểm tra trong
lãnh đạo bảo đảm có hiệu quả, đảng cần phải biết cách kiểm tra, trong đó đặc
biệt lưu ý đến việc lôi cuốn quần chúng nhân dân vào công việc kiểm tra
Theo Lênin, kiểm tra là công việc thường xuyên trong lãnh đạo của đảng Do
vậy, đảng cần phải thường xuyên tổ chức cho quần chúng nhân dân thực hiện
công việc kiểm tra, tham gia đóng góp phê bình, kiểm soát hoạt động của các
cơ quan và cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước
Quần chúng nhân dân là những người ngoài đảng, đảng lôi cuốn họ vào
kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhà nước tức là đảng đồng thời sử dụng
họ kiểm soát ngay chính các đảng viên của đảng nắm giữ các vị trí trong bộ
máy nhà nước Trong Huấn thị của Hội đồng lao động và quốc phòng gửi các
cơ quan Xôviết địa phương vào tháng 5 năm 1921, Lênin viết “… cần phải
duy trì sự kiểm soát và sự lãnh đạo của những người cộng sản Mặt khác,
những người ngoài đảng cũng phải kiểm soát các đảng viên; muốn vậy cần
phải lôi kéo những nhóm công nhân, nông dân ngoài đảng, đã được thử thách
về phương diện trung thực của mình vào Bộ dân ủy thanh tra công nông và
không kể họ ở chức vụ nào, lôi cuốn họ tham gia một cách không chính thức
vào việc kiểm tra và nhận xét công tác” [33, tr 336]
- Thứ tư, đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước thông qua công tác vận
động quần chúng nhân dân tham gia quản lý nhà nước
Theo Lênin, quần chúng nhân dân có vai trò cực kỳ quan trọng trong
việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Sự thắng lợi của cách mạng
Trang 37XHCN, đảm bảo cho một nhà nước vững mạnh đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của
đảng phụ thuộc rất lớn vào lòng tin và khả năng vận động, tập hợp, giáo dục,
thuyết phục quần chúng nhân dân đi theo đảng và tiến hành các hành động
cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng [33, tr 68-69] Tuy nhiên, nếu không
hiểu quần chúng, không đáp ứng các nguyện vọng chính đáng của quần chúng
thì đảng chẳng những không lôi cuốn được quần chúng nhân dân tham gia vào
quản lý nhà nước, mà đảng cũng không lãnh đạo được nhà nước, ngay bản
thân bộ máy của đảng và của nhà nước cũng khó tồn tại được
Để vận động, lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia các công việc
quản lý nhà nước, Lênin còn cho rằng, đảng cần phải sử dụng phương thức
thuyết phục là chính Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội phải bằng phương
thức thuyết phục và nêu gương chứ không phải bằng mệnh lệnh, bằng sự
cưỡng bức Khi phê phán các quan điểm sai lầm trong lãnh đạo quần chúng
nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, Lênin đã
viết “Trước hết phải thuyết phục và sau đó mới cưỡng bức Dù thế nào đi nữa
thì trước hết chúng ta cũng phải thuyết phục rồi sau mới cưỡng bức Chúng ta
đã không biết thuyết phục quảng đại quần chúng và chúng ta đã phá rối mối
quan hệ đúng đắn giữa đội tiền phong và quần chúng” [33, tr 65]
Hơn nữa, để lôi cuốn được quần chúng nhân dân tham gia quản lý nhà
nước, chấp hành các đường lối, chính sách của đảng và nhà nước, đảng cần
phải lấy những thực tế sinh động, những tấm gương điển hình trong cuộc
sống mà thuyết phục Lênin chỉ rõ, Đảng làm được công tác tuyên truyền của
mình bằng hành động thực tế hơn là bằng lời nói suông Vì hiện giờ, bất luận
đối với công nhân hay nông dân, các đồng chí không thể lấy những lời nói
suông mà thuyết phục họ được, mà phải lấy thực tế mới thuyết phục nổi họ
Toàn bộ các phương thức cầm quyền của đảng chủ yếu được thực hiện
thông qua sự lãnh đạo là nhằm thể chế hóa ý chí của đảng thành hiến pháp,
pháp luật, chính sách của Nhà nước và lãnh đạo tổ chức thực hiện ý chí đó
Trang 381.2 Thực tiễn phương thức cầm quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc
1.2.1 Những yếu tố tác động đến phương thức cầm quyền của Đảng cộng
sản Trung Quốc
1.2.1.1 Hệ thống đa đảng và vai trò cầm quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc
Trung Quốc thực hiện nguyên tắc hợp tác đa đảng do ĐCS lãnh đạo
nhằm mục đích lắng nghe nhiều hơn những quan điểm khác nhau, tiếp thu
nhiều hơn sự giám sát của các đảng phái, giảm bớt những thiếu sót trong
quyết sách và chấp hành Ngoài ĐCS, ở Trung Quốc còn 8 chính đảng khác,
gọi chung là các đảng phái dân chủ Các chính đảng này bao gồm:
1 Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc: thành lập năm 1927
ở Hồng Kông, hiện có gần nửa triệu đảng viên Thành viên và quần chúng của
đảng có mối liên hệ lịch sử với Quốc dân đảng cũ
2 Đồng minh Dân chủ Trung Quốc: thành lập tháng 10-1941 ở Trùng
Khánh, hiện nay có khoảng 1.170.000 đảng viên Họ chủ yếu là trí thức trung
cao cấp, nhân sỹ văn hoá-giáo dục
3 Hội Kiến quốc Dân chủ Trung Quốc: thành lập tháng 12-1945 ở Trùng
Khánh, hiện có khoảng 610.000 hội viên Thành viên và quần chúng của Hội chủ
yếu là các nhân sỹ, trí thức các ngành kinh tế (công thương, ngân hàng)
4 Hội Xúc tiến Dân chủ Trung Quốc: ra đời tháng 12-1945 ở Thượng
Hải, hiện có khoảng 560.000 hội viên Họ chủ yếu là những trí thức trong các
lĩnh vực khoa học, văn hóa, giáo dục, xuất bản
5 Đảng Dân chủ Công - Nông Trung Quốc: thành lập năm 1927 ở
Thượng Hải, hiện có khoảng 550.000 đảng viên Thành viên và quần chúng
có liên hệ với đảng là giới trí thức thuộc các ngành vệ sinh y tế, khoa học kỹ
thuật, văn hóa giáo dục
6 Đảng trí công Trung Quốc: thành lập tháng 10-1925 ở Xan
Phranxisco, hiện có khoảng 130.000 đảng viên, chủ yếu là Hoa kiều (ở Mỹ là
Trang 39chính) về nước, gia đình Hoa kiều, các nhân sỹ tiêu biểu có quan hệ với nước
ngoài và các chuyên gia, học giả
7 Học xã Cửu tam: ra đời tháng 12-1944 ở Trùng Khánh, hiện nay có
khoảng 570.000 thành viên Đó là những trí thức trung cao cấp thuộc các
ngành khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục, vệ sinh y tế
8 Đồng minh Tự trị - Dân chủ Đài Loan: thành lập tháng 11- 1947 ở
Hồng Kông, hiện có hơn 1.400 hội viên Đó là các nhân sỹ có quốc tịch Đài
Loan đang cư trú ở lục địa
Đặc điểm chung của tám đảng phái trên là đều ra đời trong thời kỳ
Quốc dân đảng thống trị, dưới lời kêu gọi hợp tác, tuyên truyền chống Nhật
của ĐCS; thành phần giai cấp đều thuộc tư sản dân tộc và tiểu tư sản Trong
thời kỳ đó, ngoài ĐCS và Quốc dân đảng là hai đảng đối lập, 8 đảng trên là
tầng lớp trung gian Ngoài ra còn có nhiều đảng phái chính trị khác Đối với
ĐCS lúc đó, sự tồn tại của các đảng phái chính trị chính là để làm đối trọng
với Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch Sau đó, các đảng này đứng về
phía ĐCS, đấu tranh cho hoà bình đất nước, đóng góp sức mình để xây dựng
một nước Trung Hoa mới Từ sau năm 1949, thời kỳ chủ nghĩa dân chủ mới,
thì lý do tồn tại các đảng này là để chống lại lập trường của Quốc dân đảng
Các đảng phái dân chủ không phải là đảng đối lập mà là đảng bạn, đảng tham
chính, tán thành sự lãnh đạo của ĐCS, cùng ra sức phấn đấu vì sự nghiệp xây
dựng CNXH ở TQ Hiện nay, các đảng phái dân chủ tham gia nghiêm túc việc
hiệp thương và quyết định những vấn đề to lớn trong đời sống chính trị của
đất nước
Tuy nhiên, lịch sử phát triển của các đảng phái dân chủ cũng trải qua
các thời kỳ lịch sử thăng trầm của cách mạng Trung Quốc Thời kỳ sau cách
mạng, sự tồn tại của các đảng dân chủ có lợi cho ĐCS ở chỗ: có lợi cho phát
triển kinh tế quốc dân - chủ nghĩa tư bản nhà nước; ổn định các tầng lớp xã
Trang 40hội, vì nó vẫn được một bộ phận nhân dân tín nhiệm; công khai hoá chế độ
dân chủ - đa đảng; tạo cơ chế phản ánh tình hình, nghe ý kiến phê bình Các
đảng đã tham gia vào hiệp thương chính trị, đề cử danh sách bầu cử các cơ
quan quyền lực nhà nước và địa phương, động viên các lực lượng xã hội, thúc
đẩy sự hợp tác giữa các giai cấp trong xã hội, tích cực tham gia vào công cuộc
xây dựng CNXH Thế nhưng trong thời kỳ Cách mạng văn hoá, các đảng phái
dân chủ bị đình chỉ hoạt động (năm 1966)
Kể từ khi khôi phục hoạt động (năm 1978) đến nay, các đảng phát triển
rất nhanh, đã lần lượt triệu tập các kỳ đại hội, thông qua chương trình, chính
cương mới, bầu ban lãnh đạo mới Trên cơ sở nguyên tắc "chung sống lâu dài,
giám sát lẫn nhau" giữa ĐCS và các đảng phái dân chủ có thêm nội dung mới,
đó là: "soi thấu ruột gan, vinh nhục cùng hưởng" Đã có hơn một nghìn thành
viên của các đảng phái dân chủ đảm nhận các chức vụ lãnh đạo của
ĐHĐBND các cấp, Hội nghị chính trị hiệp thương, trong bộ máy chính quyền
nhà nước: thứ trưởng, phó tỉnh trưởng, vụ trưởng
Từ khi cải cách mở cửa, nhiệm vụ chủ yếu của các đảng phái dân chủ
là: triển khai trao đổi đối ngoại, xúc tiến các hội thảo quốc tế về chống bá
quyền quốc tế, cung cấp dịch vụ tư vấn về văn hoá - khoa học - kỹ thuật, phát
triển giáo dục từ xa, thu hút đầu tư nước ngoài, lập doanh nghiệp
Từ mô hình đảng chính trị ở Trung Quốc, có thể thấy những nét đặc thù
như sau:
- Thứ nhất, hệ thống đảng phái Trung Quốc không giống bất cứ nơi nào
trên thế giới Đó là hệ thống đa đảng, nhưng dưới sự lãnh đạo của ĐCS Các
đảng khác tự nguyện chấp nhận sự lãnh đạo đó và tích cực tham gia hoạt động
chính trị, ủng hộ đường lối chính sách của ĐCS, chứ không phải là các đảng
đối lập như các nước tư sản Mô hình này gọi là đa đảng hợp tác chứ không
phải đa đảng đối lập, dù là đối lập trung thành như ở các nước tư bản Mô