Trong bối cảnh đó, việc đánh gía thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ quận Hoàn Kiếm chỉ ra những nguyên nhân tác động, đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
NGUỒN NHÂN LỰC NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Ở QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, 2017
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
NGUỒN NHÂN LỰC NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Ở QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ THÚY
HÀ NỘI, 2017
Trang 3Hà Nội, ngày tháng năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS ĐỒNG VĂN PHƯỜNG
Trang 4Tôi xin cam đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 5ĐCSVN : Đảng cộng sản Việt Nam
BCH CĐCS : Ban chấp hành Công đoàn cơ sở
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CNVCLĐ : Công nhân viên chức lao động
KCN&CX : Khu công nghiệp và chế xuất
Trang 6Bảng 2.1 Quy mô dân số và lực lượng lao động đang có việc làm trên địa bàn
quận Hoàn Kiếm từ năm 2011 - 2015 45 Bảng 2.2 cơ cấu lực lượng lao động nữ quận Hoàn Kiếm theo nhóm tuổi 46 Bảng 2.3 Cán bộ nữ tham gia Ban chấp hành Đảng bộ, Ban thường vụ cấp ủy
qua các giai đoạn từ 2005 – 2010, 2010 – 2015, 2015 – 2020 48
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 7 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 7
1.1 Nguồn nhân lực nữ và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực nữ 7 1.2 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế 20 1.3 Kinh nghiệm về nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế ở một số địa phương và bài học rút ra cho Quận Hoàn Kiếm 24
Chương 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI 33
2.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ ở quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội 33 2.2 Thực trạng nguồn nhân lực nữ ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 44 2.3 Ảnh hưởng nguồn nhân lực nữ với tăng trưởng kinh tế ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 – 2016t66 54
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 68
3.1 Chất lượng nguồn nhân lực nữ quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 68 3.2 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực nữ quận Hoàn Kiếm thành phố
Hà Nội 71 3.3 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực nữ quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội 76 3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 78
KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ nhân lực trong
xã hội Nhân lực nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực đời sống
xã hội, trong hoạt động vật chất, họ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại Phát triển nguồn nhân lực nữ đang là vấn
đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý trên thế giới Tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại đã chứng minh vai trò quan trọng của phụ nữ trong quá trình sản xuất vật chất, tinh thần cũng như tái sản xuất con người Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và càng ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội Đảm bảo phát triển nguồn lực nữ không những giải phóng sức lao động, tận dụng nguồn lực, làm lành mạnh thị trường lao động góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội
Quận Hoàn Kiếm nằm ở vị trí trung tâm của Thủ đô Hà Nội, là nơi thường xuyên diễn ra các sự kiện chính trị văn hóa quan trọng của Thủ đô, là địa bàn có nhiều trụ sở các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế
và văn phòng đại diện nước ngoài, cơ quan Nhà nước ở Trung ương Quận Hoàn Kiếm còn là nơi tập trung các dịch vụ có kỹ thuật và chất lượng cao, những phố kinh doanh, chợ đầu mối;
Trong những năm qua, nhất là giai đoạn 2 từ 2005-2015, xác định rõ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, Đảng bộ - Chính quyền quận Hoàn Kiếm đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ - thương mại – du lịch theo hướng văn minh hiệu quả
Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động dịch vụ, thương mại, du lịch theo hướng văn minh, hiệu quả từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
Trang 9tế trên địa bàn Quận, đã tạo điều kiện cho lực lượng lao động nữ phát triển cả
số lượng và chất lượng Hiện tại tỷ lệ lao động nữ trong nền kinh tế Quận đạt 75-80% Phụ nữ có mặt ở hầu hết các ngành kinh tế, chiếm tỷ lệ cao trong các ngành giáo dục – đào tạo, y tế, tài chính – ngân hàng, du lịch, thương mại, bưu chính – viễn thông Chất lượng lao động nữ ngày càng được nâng cao; điều đó nói lên vai trò , vị thế quan trọng của phụ nữ trong đời sống xã hội Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội quận Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-
2016 đã khẳng định sự đóng góp to lớn của phụ nữ
Tuy nhiên, sự đóng góp của nhân lực nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình Một trong những nguyên nhân hạn chế
sự tăng trưởng kinh tế khu vực này là chưa khai thác hết tiềm năng nguồn nhân lực nữ, chưa thực hiện công bằng cả về giới lẫn thu nhập trong xã hội Trong bối cảnh đó, việc đánh gía thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ quận Hoàn Kiếm chỉ ra những nguyên nhân tác động, đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực này, tạo điều kiện và cơ hội cho họ góp phần tích cực vào sự phát triển chung của quận là cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng
như thực tiễn Đó chính là lý do để vấn đề “Nguồn nhân lực nữ trong phát triển
kinh tế ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay” được chọn làm đề tài
luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học của các cá nhân
và tập thể các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế Kết quả nghiên cứu của các công trình đó, đã được thể hiện trong các đề tài khoa học, các sách và trên các tạp chí…tiêu biểu là:
- Nguyễn Hoàng Anh (2016), “Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực
cán bộ hội phụ nữ cơ sở (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Nam), Tạp chí thông tin
Trang 10khoa học xã hội, tr 41- 47
- Kiều Quỳnh Anh (2016), “Quản lý nhà nước về phát triển nguồn
nhân lực nữ nghiên cứu khoa học” , Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số
7(104), tr 20 -27
- TS Nguyễn Hữu Dũng (2002), Phát triển NNLCLC trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị số 8, T8/2002
- Nguyễn Thị Giáng Hương (2013), “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực
nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện
Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
- Lê Thị Hồng Điệp (2005), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam Luận án tiến sĩ kinh
tế chính trị, Đại họcQuốc gia, Hà Nội
- Trịnh Duy Oánh (2015), “Nâng cao chất luợng nguồn nhân lực TP Hồ
Chí minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP
Hồ Chí Minh, số 7(73), tr 110-116
Từ mục đích và mức độ tiếp cận khác nhau các công trình khoa học nêu trên đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực nữ Đây là những tư liệu bổ ích để tác giả luận văn tham khảo và kế thừa trong quá trình triển khai thực hiện đề tài Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu là ở tầm quốc gia hoặc ở các địa phương khác Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào dưới góc độ Kinh tế
chính trị đi sâu nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vấn đề: Nguồn nhân lực nữ
trong phát triển kinh tế ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích tìm ra các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực nữ Quận Hoàn Kiếm trong tăng trưởng kinh tế những năm gần đây,
Trang 11thời kỳ chịu tác động lớn của quá trình hội nhập quoocsc tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tập trung đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ
ở Quận Hoàn Kiếm hiện nay với tăng trưởng kinh tế Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực nữ
nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở vùng này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và luận giải những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực nữ, phát triển nguồn nhân lực nữ Phân tích vai trò nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế Bổ sung lý luận cho việc phân tích đánh giá tầm quan trọng của nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế
- Mô tả và phân tích thực trạng vai trò nguồn nhân lực nữ với tăng trưởng kinh tế ở Quận Hoàn Kiếm Đánh giá ảnh hưởng của phát triển nguồn nhân lực nữ
đối với tăng trưởng kinh tế Quận Hoàn Kiếm từ năm 2011 – 2016
- Chỉ ra các yếu tố, điều kiện ảnh hưởng, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ ở Quận Hoàn Kiếm trong thời kỳ hội nhập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguồn nhân lực nữ Trên cơ sở
đó xác định ảnh hưởng của nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế Quận Hoàn Kiếm
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: địa bàn nghiên cứu là 18 phường và Quận
Hoàn Kiếm
+ Phạm vi thời gian: từ năm 2011-2016
+ Phạm vi nội dung: Luận án chỉ nghiên cứu nguồn nhân lực nữ trong
phát triển kinh tế của Quận Hoàn Kiếm
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của luận văn là những nguyên lý, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối
Trang 12của Đảng và Nhà nước về nguồn nhân lực nữ, đồng thời kế thừa có chọn lọc các quan điểm lý luận và thực tiễn đã được công bố trong công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là tình hình nguồn nhân lực, nhân lực
nữ trên địa bàn Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, các văn bản quy phạm pháp luật, các báo cáo tổng kết về phát triển kinh tế xã hội của các ban, ngành địa phương
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế và đặc biệt các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị bao gồm: trừu tượng hóa khoa học, quan sát, thống kê, phân tích và tổng hợp, so sánh
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn kế thừa, tiếp thu nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó có bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của đối tượng nghiên cứu Luận văn có một số điểm mới như sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế
- Phân tích đánh giá thực trạng nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh
tế ở Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội và làm rõ những vướng mắc cản trở quá trình phát triển đó
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế ở Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nộ cũng như trên
phạm vi cả nước trong thời gian tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là một công trình khoa học có sự gắn kết giữa phân tích lý luận với tổng kết thực tiễn địa phương, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
Trang 13khảo trong việc nghiên cứu, học tập các môn học thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị; trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế ở quận Hoàn
Kiếm, Thành phố Hà Nội cũng như trên phạm vi cả nước trong thời gian tới
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò nguồn nhân lực nữ
trong phát triển kinh tế
Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực nữ và ảnh hưởng của nó đến
phát triển kinh tế ở Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế ở
Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ
ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1 Nguồn nhân lực nữ và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực nữ
Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn
đề cốt lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Đặc biệt trong thời đại ngày nay, đối với các nước đang phát triển, giải quyết vấn đề này đang là yêu cầu được đặt ra hết sức bức xúc, vì nó vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Khi bàn đến những yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đặc biệt đề cao vai trò của người lao động vì đó chính là nhân tố quyết định mọi quá trình sản xuất xã hội
Theo C.Mác, sản xuất vật chất là hoạt động đầu tiên và cơ bản của con người Đó là quá trình con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào tự nhiên, tạo ra những của cải vật chất nhằm phục vụ nhu cầu của bản thân mình và phát triển xã hội Để tiến hành sản xuất, con người phải sử dụng những tư liệu sản xuất như đối tượng lao động, công cụ lao động và những điều kiện vật chất khác Những vật đó được C.Mác gọi là “khí quan” giúp con người có khả năng nối dài đôi bàn tay và làm cho quá trình tác động vào tự nhiên trở nên có hiệu quả hơn Ngoài việc nhấn mạnh đến vai trò của tư liệu sản xuất - yếu tố cần thiết của mỗi quá trình sản xuất, C.Mác đã khẳng định,
để quá trình sản xuất được tiến hành không thể thiếu vai trò của người lao
động Theo C.Mác: "Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những
năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong mọi cơ thể, trong mọi con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị
Trang 15sử dụng nào đó" Như định nghĩa này của C.Mác thì sức lao động đã xuất
hiện từ lâu, cùng với sự xuất hiện của con người, từ khi con người biết tiến hành sản xuất để tạo ra tư liệu sinh hoạt cho bản thân Trải qua quá trình lâu dài, sức lao động ngày càng được hoàn thiện hơn, thể hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất C Mác khẳng định yếu tố vật thể sẽ không có bất cứ tác dụng nào nếu không có một lực lượng xã hội để tiến hành sản xuất vật chất Tư liệu sản xuất sẽ trở thành vô nghĩa nếu không có sự tác động của con người Với tính cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất, người lao động là những người có khả năng lao động, nghĩa là phải có cả sức mạnh
cơ bắp và sức mạnh trí tuệ mà C.Mác đã gọi cụ thể là có “đầu óc” và “đôi bàn tay” Điều đó tạo nên sức mạnh tổng hợp cho con người Đó là sức mạnh thể chất và trí tuệ - những yếu tố tạo nên khả năng lao động của con người
1.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
“Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình
thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau.Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc – Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực
tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.Việc quản lý và sử dụng nguồn lực của con người khó khan phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật – xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế -
xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ Theo GS.TS Phạm Minh Hạc:Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sang tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được
Trang 16yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Theo TS Nguyễn Hữu Dũng: Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể chế thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thế lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển
Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa
Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội
Khái niệm “nguồn nhân lực” (Human Resources) được hiểu như khái niệm “nguồn lực con người” Khi được sử dụng như một công cụ điều hành,
Trang 17thực thi chiến lược phát triền kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động – hay còn được gọi là nguồn lao động Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội
Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất
lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức – tinh thần tạo nên năng lực mà bản than con người và xã hội
đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội
Với tư cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng, miền hay quốc gia thì nguồn nhân lực là tài nguyên cơ bản nhất
1.1.2 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ và nội dung phát triển nguồn nhân lực nữ
Quan niệm về nguồn nhân lực nữ
Nếu con người là nguồn lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế- xã hội thì phụ nữ là bộ phận cơ bản cấu thành nguồn lực ấy Tuy nhiên, với tư cách là hơn nửa dân số và chiếm phần đông trong lực lượng lao động thì phụ nữ luôn là vấn đề lớn đối với chiến lược phát triển của quốc gia
Trang 18Hiểu theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực nữ bao gồm bộ phận dân số nữ
có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội Nói cách khác, nhân lực
nữ được hiểu không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động nữ đã có và sẽ có mà còn bao gồm sức mạnh trí tuệ, thể chất, tinh thần của các cá nhân nữ trong một cộng đồng, quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực nữ với tư cách là lực lượng lao động của xã hội, bao gồm nhóm phụ nữ trong và trên tuổi lao động trở lên có khả năng lao động Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi lao động đối với nữ trong khoảng nhỏ hơn của độ tuổi lao động nam (nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi, nam
từ đủ 15 đến hết 60 tuổi) nên mặc dù dân số nữ thường xuyên cao hơn (thường chiếm trên 51% dân số) song, lực lượng lao động nữ thường chiếm tỷ
lệ nhỏ hơn (khoảng 49% lao động xã hội)
Nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc quan niệm nguồn nhân lực nữ (rộng hay hẹp) chỉ mang
tính chất tương đối, phụ thuộc vào phạm vi điều chỉnh của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Còn với tư cách là phần nửa dân số và lực lượng lao động xã hội, vừa là người trực tiếp tái sản xuất ra nguồn nhân lực cho đất nước, phụ nữ luôn là vấn đề lớn đối với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của bất kỳ quốc gia nào
Thứ hai, nghiên cứu nguồn nhân lực nữ đòi hỏi phải có phương pháp
tiếp cận đúng đắn Phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu ở đây là xem xét mối quan hệ giữa cái chung (con người) và cái riêng (giới nam, giới nữ) Điều này là do chính đặc điểm của đối tượng nghiên cứu quy định
Là con người, nam giới và phụ nữ giống nhau - đều vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội - nhưng họ có khác biệt về mặt tự nhiên - sinh học của cơ thể Những đặc điểm sinh học về giới tính là bẩm sinh và không thể thay đổi được Từ những đặc điểm sinh học, xét về mặt xã hội, phụ nữ
Trang 19đảm nhiệm chức năng xã hội khác nam giới, đó là chức năng trực tiếp tái sản
xuất ra con người Từ đó nảy sinh những khó khăn, thuận lợi khác nhau giữa giới nam và giới nữ trong học tập, làm việc, sinh sống Phụ nữ thường gắn với con cái và gia đình Họ có những nhu cầu cấp thiết hơn nam giới về những dịch vụ y tế dịch vụ gia đình, về điều kiện làm việc gần gia đình Sự phân biệt
về giới tính giữa nam và nữ có tính tự nhiên, bẩm sinh Tuy nhiên, từ trong lịch sử kéo dài đến ngày nay đã tồn tại sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống xã hội và gia đình Phụ nữ thường được coi là người hiển nhiên phải chịu trách nhiệm và thích hợp với việc chăm sóc con cái, gia đình Những công việc này thường ít được nhìn nhận ở góc độ kinh tế Sự đánh giá thấp của xã hội về khả năng, giá trị của lao động nữ trong lao động sản xuất đã giam hãm người phụ nữ ở địa vị thấp kém trong xã hội và gia đình với tất cả những bất công và thiệt thòi
Tóm lại, việc nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực nữ không thể
không nghiên cứu về hậu quả đem lại cho sự phát triển chung khi lực lượng phụ nữ bị kìm hãm, không phát huy được đầy đủ những tiềm năng cho việc cải tạo thiên nhiên, xã hội Vấn đề đặt ra trước hết đối với việc phát triển nguồn nhân lực nữ là phải xác định được những nhân tố cơ bản tác động đến nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển
Phát triển nguồn nhân lực nữ là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng
nguồn nhân lực nữ với việc nâng cao hiệu quả sử dụng chúng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng
Phát triển nguồn nhân lực nữ là việc nâng cao vai trò của nguồn lực phụ nữ
trong sự phát triển kinh tế xã hội qua đó gia tăng giá trị của nhân lực nữ
Phát triển nguồn nhân lực nữ là căn cứ vào phát triển nguồn nhân lực
nói chung bên cạnh đó có những đặc thù riêng cho nữ
Phát triển nguồn nhân lực nữ có thể được hiểu là tạo điều kiện về
quyền được học hành, được chăm sóc y tế, quyền được có việc làm và thu
Trang 20nhập tương xứng, quyền ra quyết định và sử dụng các nguồn lực trong gia đình, trách nhiệm chăm sóc gia đình Vấn đề này sẽ quyết định đến cơ hội cuộc sống của nguồn nhân lực nữ, xác định vai trò của họ trong xã hội và trong nền kinh tế
Phát triển nguồn nhân lực nữ cũng được xem xét theo nghĩa bình đẳng
về luật pháp, về cơ hội- bao gồm bình đẳng trong tiếp cận giáo dục đào tạo, trong y tế chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng, tiếp cận nguồn vốn, khoa học công nghệ và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao cho công việc và trong tiếng nói
Phát triển nguồn nhân lực nữ có thể được hiểu là nam giới và phụ nữ
đều có vị trí như nhau trong xã hội Phụ nữ và nam giới có điều kiện như nhau
để thực hiện đầy đủ các quyền của mình và có cơ hội để đóng góp và thụ hưởng
sự phát triển chính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá của đất nước Điều này cũng không có nghĩa là phụ nữ và nam giới là hoàn toàn như nhau, song những điểm tương đồng và khác biệt của họ được xã hội thừa nhận và được coi trọng như nhau
1.1.3 Đặc điểm nguồn nhân lực nữ và những nhân tố ảnh hưởng phát triển nguồn nhân lực nữ
1.1.3.1 Đặc điểm nguồn nhân lực nữ
Ngày nay, phát triển nguồn nhân lực nữ càng có ý nghĩa quyết định đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Điều đó được thể hiện
ở những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, nguồn nhân lực nữ là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với sản xuất và tái sản xuất con người Phát triển nguồn nhân lực nữ sẽ tác động trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triển con người
Khi xã hội tồn tại và phát triển dựa trên hai cơ sở quan trọng: sản xuất
ra của cải vật chất, tinh thần và tái sản xuất ra bản thân con người Hai mặt này của sản xuất xã hội có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau trong sự thống nhất biện chứng Sản xuất vật chất, tinh thần là cơ sở của tái sản xuất
Trang 21con người Ngược lại, tái sản xuất con người lại là tiền đề của sản xuất vật chất, tinh thần
Vai trò hay ảnh hưởng của nguồn nhân lực nữ đối với xã hội được xét trên hai phương diện chủ yếu: thứ nhất, tác động đến sự phát triển của xã hội thông qua các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần; thứ hai, tác động đến xã hội thông qua việc thực hiện chức năng trực tiếp tái sản xuất ra bản thân con người Chiếm phần nửa trong lực lượng lao động xã hội, nên đương nhiên lao động nữ giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Khái niệm tái sản xuất ra con người bao gồm hai nội dung cơ bản, đó là tái sản xuất về mặt thể chất và tái sản xuất về mặt tinh thần Cho dù khoa học
kỹ thuật phát triển đang mở ra khả năng có thể tiến hành việc sinh sản ra con người một cách nhân tạo thì sự tái sản xuất con người vẫn phải được thực hiện thông qua người phụ nữ Xét cả trên phương diện sinh học và phương diện xã hội, người phụ nữ vẫn giữ vai trò không thể thay thế được Bởi tái sản xuất ra con người không đơn thuần chỉ là tạo ra một con người sinh học mà điều quan trọng và chủ yếu hơn là sự giáo dục, nuôi dưỡng để hình thành và phát triển một con người xã hội, trở thành những công dân có ích Đối với mỗi con người điều đó được bắt đầu chủ yếu và trước hết bởi người mẹ, không một công nghệ, kỹ thuật thuần túy nào có thể thay thế được
Sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay không chỉ chú ý đến vấn đề về số lượng dân số như một lực lượng lao động chủ yếu, mà điều quan trọng hơn là nâng cao chất lượng dân số như là mục tiêu của sự phát triển xã hội Con người là nhân tố hàng đầu, quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Ngay cả khi khoa học công nghệ, kỹ thuật phát triển như hiện nay, nhân tố con người lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã đặt con người vào quá trình lao động hết sức phức tạp, đòi hỏi một năng lực sáng tạo, một trình độ kỹ thuật cao và ý thức trách nhiệm rất lớn Có như vậy, lực lượng vật chất của xã hội mới được sử
Trang 22dụng hiệu quả nhất và đồng thời chính con người lại đạt đến một bước phát triển mới, tăng thêm sức mạnh chinh phục thiên nhiên, tăng thêm động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Điều đó cũng cho thấy, chức năng tái sản sinh ra con người ở người phụ nữ là nhu cầu tự nhiên tất yếu đối với gia đình
và xã hội, và ngay từ đầu đã mang tính người, tính xã hội Đây là chức năng đặc biệt dành cho phụ nữ, trải qua các thời đại, chức năng này ngày càng có vai trò quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Thứ hai, sự phát triển nguồn nhân lực nữ sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế và tăng cường tiến bộ xã hội
Nguồn nhân lực nữ được coi là động lực và là lực lượng cần thu hút vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhưng các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội khi được xác định lại thường ít tính đến nhu cầu của phụ nữ Các vấn
đề của phụ nữ mới được nhắc tới, tính đến hay lồng ghép vào các chương trình, dự án phát triển Trên thực tế, quan điểm này chưa đặt vấn đề phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Điều này không chỉ hạn chế khả năng phát huy tính chủ động, sáng tạo của phụ nữ mà có thể làm giảm hiệu quả xã hội của quá trình kinh tế Ở một đất nước như Việt Nam khi mà hơn 70% phụ nữ trong độ tuổi lao động tham gia hoạt động kinh tế thì nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ lại càng không thể giới hạn ở việc nhấn mạnh vai trò quan trọng của lao đông nữ, vấn đề đặt ra là cần phân tích và phát hiện những cơ chế góp phần cải thiện công bằng xã hội nâng cao bình đẳng nam –
nữ trong chính hoạt động kinh tế - xã hội của phụ nữ
Thứ ba, phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc sáng tạo, truyền thụ, giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc, phát triển nguồn nhân lực nữ sẽ góp phần khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định sự phát triển
Nguồn nhân lực nữ giữ vai trò quan trọng trong việc sáng tạo, giữ gìn
và phát triển văn hóa Điều này xuất phát từ vai trò trọng yếu của họ trong
Trang 23nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo tồn và phát triển giống nòi Việc phát triển nguồn nhân lực nữ để tạo động lực phát triển kinh tế bền vững và đảm bảo tiến bộ công bằng xã hội đã và đang được đặt ra trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX người ta đề cập đến mô hình phát triển hướng vào phát triển kinh tế Tuy nhiên thực tế đã chỉ ra rằng việc tập trung quá cao cho mục tiêu phát triển kinh tế đã khiến cho các mục tiêu xã hội vốn gắn chặt với người phụ nữ như chăm sóc sức khỏe giáo dục không được đầu tư phát triển một cách tương xứng với tầm quan trọng của nó Điều này ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn nhân lực nữ và đến lượt nó lại có tác động tiêu cực trở lại đối với phát triển kinh tế Sự phát triển kinh tế vì thế không thể duy trì tính bền vững như mong muốn Quan điểm mới về phát triển đòi hỏi việc phát triển nguồn nhân lực nữ không chỉ chú ý đến việc khai thác tiềm năng của nguồn lực này mà phải đồng thời quan tâm đầy đủ đến lợi ích và nhu cầu phát triển của họ
1.1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng phát triển nguồn nhân lực nữ
Nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế ở quận Hoàn Kiếm là quá trình phát triển toàn diện của người phụ nữ Hoàn Kiếm Những nhân tố cơ bản tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực nữ ở quận Hoàn Kiếm bao gồm:
Thứ nhất, nhân tố tự nhiên - sinh họ có tác động rất lớn đến thể lực và trí lực của nguồn nhân lực nữ
Phụ nữ gắn liền với việc sinh con duy trì sự tồn tại và phát triển của nhân loại Việc sinh con vì thế là hiện tượng xã hội, nhưng trước hết cũng là hiện tượng tự nhiên, sinh học Song, chức năng sinh học đó được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ và chịu sự tác động của nhiều nhân tố như gia đình, môi trường kinh tế, môi trường giáo dục, môi trường cộng đồng Không quan tâm đúng mức đến các nhân tố tự nhiên – sinh học của nhân lực nữ sẽ không chỉ mất mát hiện tại về năng suất, hiệu quả lao động, tác động tiêu cực đến việc phát triển trí lực của phụ nữ mà còn là những cái giá phải trả trong một
Trang 24vài thế hệ tương lai của dân tộc xét về mặt giống nòi và phát triển bền vững đất nước Phát triển nguồn nhân lực nữ vì thế cần thấy được những đặc điểm riêng về mặt tự nhiên - sinh học của phụ nữ để có những giải pháp và chính sách xã hội hợp lý
Thứ hai, nhân tố Giáo dục - đào tạo
Do vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển trí tuệ và nhân cách của con người nên nhân tố này đang được coi là phương thức phát triển nhanh chất lượng nguồn nhân lực Giáo dục cơ sở là nền tảng để phát triển các kỹ năng cần thiết để tham gia vào các hoạt động kinh tế có hàm lượng chất xám cao Những ai không điều kiện tiếp cận đến giáo dục có nguy cơ bị loại khỏi cơ hội mới, tụt lại
Các quốc gia hiện nay đều coi đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển, đầu tư trực tiếp vào nguồn lực con người Đối với nguồn nhân lực nữ, sự tác động của giáo dục - đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì không chỉ liên quan đến 1/2 nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng lao động trong tương lai Điều này xuất phát từ mối liên
hệ giữa học vấn của phụ nữ với sự phát triển của xã hội theo tác động dây chuyền giữa trẻ em gái - người mẹ - thế hệ tương lai Các nghiên cứu cho thấy việc học tập của phụ nữ mang lại những lợi ích đặc biệt quan trọng cho gia đình và xã hội Những nghiên cứu cũng cho thấy người mẹ có học vấn càng cao thì sinh ít con hơn Quan trọng hơn, học vấn của mẹ còn có tác động trực tiếp đến việc học của con Con của người mẹ có học vấn cao hơn có nhiều cơ hội được đến trường hơn Người mẹ không đi học có tỷ lệ con được tiêm chủng thấp, tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng cao
Việc nâng cao địa vị phụ nữ và tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển bền vững đất nước phụ thuộc rất nhiều vào sự kiên trì thực hiện quốc sách giáo dục và đào tạo Giảm khoảng cách về giới trong giáo dục - đào tạo sẽ thúc đẩy sự phát triển toàn diện nguồn nhân lực trước mắt cũng như lâu dài
Trang 25Thứ ba, nhân tố Sức khỏe và chăm sóc y tế:
Sức khỏe tốt là điều kiện thiết yếu đối với phúc lợi, là nguồn lực quan trọng giúp nhân lực nữ hưởng thụ thành quả của quá trình phát triển Do cấu tạo cơ thể của nhân lực nữ khác với nam (nhân lực nữ thường thấp, bé, nhẹ cân hơn) và do đặc điểm sinh lý cũng khác nam (phải sinh con và nuôi con) nên nhìn chung sức khoẻ của nhân lực nữ thường yếu hơn so với nam Vì vậy việc đầu tư vào y tế và chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng đối với nguồn nhân lực nữ là quan trọng và hết sức cần thiết Nguồn nhân lực nữ khỏe mạnh sẽ lao động dẻo dai hơn, làm ra được nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng hơn, người mẹ khỏe mạnh có xu hướng sinh ra những trẻ em khỏe mạnh
Thứ tư, nhân tố Chính sách xã hội
Chính sách xã hội là một công cụ quan trọng của quản lý nhà nước nhằm thực hiện và điều chỉnh các mối quan hệ của con người xoay quanh mối quan hệ lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Chính sách xã hội đúng đắn là động lực to lớn khơi dậy tiềm năng của con người, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động phát huy năng lực sáng tạo của mình đóng góp cho sự phát triển của
cá nhân và cộng đồng xã hội Ngược lại, nếu hệ thống chính sách không phù hợp, thiếu đồng bộ thì sẽ trở thành rào cản kìm hãm năng lực và tư duy sáng tạo của mỗi con người Đối với nhân lực nữ, chính sách xã hội phải phản ánh được lợi ích và nguyện vọng của họ Chính sách xã hội phù hợp với phụ nữ khi nó tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển năng lực của mình trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế
Thứ năm, nhân tố Truyền thống văn hóa dân tộc
Các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là nhân tố quan trọng, là môi trường lành mạnh để hình thành và phát triển nguồn lực con người Một dân tộc, một quốc gia có truyền thống tốt, những tập quán lành mạnh, có nền văn hóa phát triển cao chính là cơ sở điều kiện tốt để xây dựng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có thái độ, tinh thần, tác phong làm việc tốt Ngược lại, nếu một dân tộc, một quốc gia có những phong tục tập quán lạc
Trang 26hậu thì sẽ kìm hãm sự vươn lên của chính quốc gia, dân tộc đó Mặt khác, những đặc trưng hợp lý và hiệu quả cao Như vậy, bên cạnh việc phát huy các giá trị văn hóa, truyền thống dân tộc đề cao vai trò của nhân lực nữ, quan tâm đến sự phát triển của nhân lực nữ, thì phải loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, lối
tư duy theo kiểu “trọng nam khinh nữ”để tạo điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của nhân lực nữ vì mục tiêu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội
Thứ sáu, nhân tố Gia đình
Gia đình là nhân tố liên quan mật thiết và tác động thường xuyên đến việc phát triển nguồn nhân lực nữ Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử , suy cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó có hai loại Một là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, mặt khác
là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những trật tự xã hội
là do hai loại sản xuất đó quyết định: một là do trình độ phát triển của lao động
và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình
Có thể khẳng định rằng gia đình là tổ chức xã hội đầu tiên, có khả năng nhất trong việc chăm lo cho sự phát triển của mỗi con người trên cả ban phương diện: thể chất, trí tuệ, tình cảm tâm lý Sự tác động của gia đình được diễn ra ngay từ khi đứa trẻ còn trong bào thai đến khi ra đời và sự tác động này tồn tại trong suốt quá trình sinh trưởng Do chức năng sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái mà phụ nữ luôn luôn gắn liền với gia đình Đề cập sự tác động của gia đình đến nguồn nhân lực nữ cần phải hiểu đây là sự tác động hai chiều Gia đình là nơi nhân lực nữ thực hiện chức năng tái sản xuất con người, nuôi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đồng thời là nơi nhân lực nữ tiếp nhận những nguồn lực cho sự phát triển của chính mình Không thể nói phát triển nguồn nhân lực nữ chỉ căn cứ vào sự tham gia hoạt động xã hội mà coi nhẹ vai trò to lớn của họ trong gia đình Cũng không thể đề cao vai trò của nhân lực nữ trong gia đình mà quên đi trách nhiệm của gia đình trong việc chăm lo cho sự phát triển của nhân lực nữ Khi gia đình tái sản xuất ra nguồn nhân lực nữ có chất lượng cao cũng chính là điều kiện cơ bản để gia đình thực hiện tốt chức năng của mình Do vậy, nhân lực nữ được tạo các điều kiện phát
Trang 27triển toàn diện ngay từ trong gia đình thì chính gia đình cũng sẽ có những biến đổi tích cực
Thứ bẩy, nhân tố Bố trí và sử dụng nguồn nhân lực nữ
Sử dụng đúng ngành nghề và trình độ thì lao động nữ sẽ phát huy được tài năng trí tuệ, tay nghề và ra sức phấn đấu vươn lên về mọi mặt Sử dụng lao động hợp lý sẽ tạo ra môi trường phù hợp cho họ phát triển nhanh chóng Ngược lại, nếu sử dụng không hợp lý sẽ làm cho hạn chế thậm chí thui chột khả năng của người lao động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc sử dụng lao động nữ sao cho phù hợp và hiệu quả là một trong những vấn đề rất phức tạp, vì trên thực tế bên cạnh chức năng là người lao động như nam giới, thì nữ đảm nhận chức năng sinh con Vì vậy, sử dụng lao động nữ phải chú ý đến đặc điểm của nữ, vừa có chức năng lao động như nam, vừa có chức năng tái sản xuất dân số và nguồn lao động, phải tính đến tiêu hao sức lực và thời gian của nhân lực nữ trong việc thực hiện thứ hai một cách hợp lý để nhân lực
nữ có điểm xuất phát ngang bằng về mặt sức lao động với nam trong nền kinh tế thị trường
Tóm lại: Việc phát triển nguồn nhân lực nữ chủ yếu chịu sự tác động của các nhân tố, trên mỗi một nhân tố tác động đến từng mặt của nguồn nhân lực nữ
Vì thế, khi xem xét, đánh giá, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực nữ cần phải phân tích đầy đủ và sử dụng tổng hợp tất cả các nhân tố này
1.2 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế
Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay
Vai trò và địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm ngay trong Cương lĩnh đầu tiên năm 1930 Sau đó là Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng như Hiến pháp các năm 1959,1980,1992( bổ sung và sửa đổi năm 2001) đã ghi rõ quyền bình đẳng nam – nữ là quyền cơ bản của mọi công dân; Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 07/06/1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) “ Về một số vấn
đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”; Ngày 12-7-1993, Bộ Chính trị ban
Trang 28hành Nghị quyết 04/NQTW về “Đổi mới công tác vận động phụ nữ trong tình
hình mới” khẳng định vai trò và vị trí của người phụ nữ với 3 quan điểm,
trong đó nhấn mạnh một trong những mục tiêu giải phóng phụ nữ để thực
hiện tốt nam nữ bình đẳng là xây dựng người phụ nữ “có sức khỏe, kiến thức,
năng động, sáng tạo ”; Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 29/09/1993 của Ban Bí
thư Trung ương Đảng (khóa VII) về việc thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị
“Đổi mới, tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị
số 37- CT/TW, ngày 16/05/1994 của Ban Bí thư “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” nêu rõ một số quy định, biện pháp cụ thể, đó là: Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ, tăng cường tỷ
lệ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo và khuyến khích tiềm năng tham gia của phụ
nữ, đặc biệt là đội ngũ trí thức, nữ làm khoa học Những ngành đông nữ và những ngành mà chức năng nhiệm vụ có liên quan đến vấn đề nữ phải có tỉ lệ
nữ cán bộ tương xứng, phải có cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt các cấp Những nữ cán bộ khoa học có tài, những nữ cán bộ quản lý giỏi cần dược khuyến khích sử dụng, khi cần thiết có thể nghỉ hưu ở tuổi 60 như nam giới Đường lối của Đảng về phát triển nhân lực nữ được thể chế hóa bằng các văn
bản pháp quy của Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo: “Đưa quan
điểm bình đẳng giới vào các lĩnh vực hoạch định chính sách phát triển kinh
tế, các chương trình quốc gia của các ngành, các cấp” …
Tiếp đến là, các nghị quyết và chính sách có liên quan về phụ nữ cũng được Đảng và Nhà nước ban hành như: Nghị quyết số 176a- HĐBT, ngày 24/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ) “ Về việc phát huy vai trò và năng lực của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa” đưa ra chủ trương phát huy vai trò của phụ nữ trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội Nghị quyết này đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể, ví dụ : Hội đồng nhân dân các cấp phải có ít nhất 1/3 đại biếu là nữ ; Nghị quyết số 152- NQ/TW, ngày 10/01/1967 của Ban Bí thư Trung ương (khóa III) Về một
Trang 29số vấn đề về tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận”, trong đó nhấn mạnh một số nhiệm vụ như phân bố, sử dụng hợp lý sức lao động phụ nữ trong nông nghiệp, hướng dẫn thực hiện quyết định của Chính phủ về sử dụng lao động
nữ trong công nghiệp; Luật Bình Đẳng Giới Quốc hội Nước Cộng hoà XHCN
Việt Nam khoá XI, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 21/11/2006 có ghi “Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ” (Điều 13 Bình đẳng giới
trong lĩnh vực lao động), “Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng
thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ”
(Điều 14 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo) và các hành vi vi
phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ “cản
trở nam, nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ; từ chối việc tham gia của một giới trong các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ”
Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 01/12/2009 của Chính phủ về “Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11- NQ/TW, ngày 27/01/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Điều đó khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân nữ Ngày 22/07/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1241/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015, với mục tiêu tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức nhằm thúc đẩy toàn xã hội thay đổi hành vi thực hiện bình đẳng giới; từng bước thu hẹp khoảng cách về giới và nâng cao vị thế của người phụ
nữ trong một số lĩnh vực còn bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020
Ở tầm bao quát hơn, trong các văn kiện Chính trị của Đảng cũng thể hiện rõ các vấn đề về chính sác với phụ nữ, như : Quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp đổi
Trang 30mới “Phải xem giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng
của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, có kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng đồng; Nghị quyết
04/BCT (khoá VIII) đã khẳng định một quan điểm mới và khá toàn diện về
vai trò của nhân lực nư: " Phụ nữ vừa là người lao động, vừa là người công
dân, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Khả năng và điều kiện lao động, trình độ văn hoá, vị trí xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ có ảnh hưởng sâu xa đến sự phát triển của thế hệ tương lai"
Việc phát triển nguồn lực phụ nữ, vì thế, sẽ tạo ra động lực phát triển xã hội, thúc đẩy bước tiến của quốc gia cả về cơ sở vật chất và cuộc sống văn hoá tinh thần Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng
định: “nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần thực hiện
bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
bà mẹ, trẻ em Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản,chế độ đối với lao động nữ Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” Ở tầm chủ trương chiến lược phát triển, Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng ghi rõ: “Xây dựng và triển khai chiến lược
quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, tập trung ở những vùng và khu vực có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳng cao; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và bạo lực gia đình Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ ”
Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về “công tác phụ nữ thời kỳ
đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” thể hiện sự quan tâm lãnh đạo của Ðảng với
Trang 31công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Nghị quyết xác định những mục tiêu quan trọng về công tác phụ nữ nói chung, trong đó có công tác nữ: Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp CNH-HĐH, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới Công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh để phát triển đất nước; đồng thời phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò của mình
Từ quan điểm trên, Nghị quyết đặt ra mục tiêu: Phấn đấu đến năm
2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực
1.3 Kinh nghiệm về nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế ở một
số địa phương và bài học rút ra cho Quận Hoàn Kiếm
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về vấn đề nguồn nhân lực
nữ trong phát triển kinh tế
1.3.1.1 Kinh nghiệm Phát triển nguồn nhân lực nữ quận Tây Hồ
Quận Tây Hồ là một quận nằm ở phía bắc nội thành Thủ đô Hà Nội với những thuận lợi về khí hậu thủy văn, địa hình, địa chất, giao thông… Phía đông giáp quận Long Biên, phía tây giáp quận Bắc Từ Liêm, phía nam giáp quận Ba Đình, phía bắc giáp huyện Đông Anh, Quận Tây Hồ được thành lập theo Nghị định số 69/CP ngày 28/10/1995 của Chính phủ với 8 đơn vị hành
Trang 32chính trực thuộc và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/199, gồm các phường: Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ, Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An, Xuân
La, Phú Thượng Nổi bật với Hồ Tây rộng khoảng 526 ha được coi là "lá phổi của Thành phố", quận có diện tích tự nhiên 24.000 km2; 5/8 phường có đất ngoài đê, 6/8 phường nằm xung quanh Hồ Tây là một cảnh quan thiên nhiên đẹp của Hà Nội và cả nước phía bắc và phía đông là sông Hồng chảy từ phía bắc xuống phía nam Hồ Tây đã giữ một vị trí quan trọng về du lịch nhờ vào
vị trí và giao thông thuận lợi Theo định hướng phát triển của thủ đô Hà Nội đến năm 2020, toàn bộ quận Tây Hồ thuộc khu vực phát triển của Thành phố trung tâm, có điều kiện đặc biệt thuận lợi thu hút các nguồn lực vốn tài chính, nguồn nhân lực và khoa học công nghệ để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh
tế – xã hội của quận nói riêng và của Hà Nội nói chung
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Đảng bộ và nhân dân quận Tây Hồ không ngừng phấn đấu vươn lên, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ điều kiện và thời cơ thuận lợi, phát huy mọi nguồn lực, động viên mọi tầng lớp nhân dân hăng hái lao động, sản xuất kinh doanh giành nhiều thành tựu to lớn, kinh tế liên tục phát triển và có mức tăng trưởng khá, văn hóa xã hội phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao Đặc biệt, Đảng bộ quận Tây Hồ đã phát huy nguồn nhân lực của phụ nữ trong quá trình tăng trưởng kinh tế - xã hội trên địa bàn quận
Trong những năm qua, phụ nữ quân Tây Hồ nói chung và nữ
CNVC-LĐ nói riêng đã tích cực tham gia các phong trào, hoạt động, cuộc vận động
do Đảng – Chính quyền – Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội phát động tổ chức, như: “Giỏi việc nước” gắn với tổ chức “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Đảm việc nhà” gắn với phong trào
“Phụ nữ Thủ đô tích cực học tập, lao động, sáng tạo và xây dựng gia đình văn minh, hạnh phúc”, “gia đình CNVC-LĐ tiêu biểu”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”… qua các phong trào hoạt động trên,
Trang 33đã thu hút hàng nghìn phụ nữ tham gia, mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ Kinh tế - xã hội mà quận đề ra
Về nâng cao chất lượng sinh hoạt của Hội Liên hiệp phụ nữ Tây Hồ
Các cấp Hội phụ nữ quận Tây Hồ đã không ngừng đổi mới nội dung sinh hoạt, giáo dục chính trị, tư tưởng cho các hội viên; tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác hội cũng như các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”
Về công tác đào tạo cán bộ nữ
Quận Tây Hồ luôn chú trọng công tác rà soát, bổ sung quy hoạch đội ngũ nữ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Chính quyền, các cơ quan đoàn thể, các ngành, các cấp Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm những cán bộ nữ có trình độ, năng lực đảm đương các chức vụ lãnh đạo quản lý, từng bước hoàn thiện các cơ chế, chính sách đối với nguồn quy hoạch cán bộ nữ và thực hiện tốt các chính sách đối với cán bộ nữ Do đó, tỷ
lệ cán bộ nữ giữ các cương vị chủ chốt trong quậ nâng lên đáng kể
Về công tác giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em
Quận Tây Hồ đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận của người dân với các dịch vụ y tế, nâng cao chất lượng phục vụ, việc chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em; nâng cao nhận thức và cung cấp các kiến thức cơ bản cho các ông bố, bà mẹ trong việc chăm sóc giáo dục sớm cho trẻ từ 0 đến 3 tuổi là việc làm quan trọng, cần thiết nhằm khai mở tối đa các tố chất và tiềm năng của bộ não trẻ Từ đó, hình thành trí thông minh, sự sáng tạo, cảm xúc… góp phần nâng cao chất lượng giống nòi, phát triển nhân tài cho đất nước trong tương lai
Về vai trò của gia đình đối với việc phát huy nguồn nhân lực nữ trên địa bàn quận Tây Hồ
Gia đình ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ Kinh tế phát triển, đời sống vật chất được nâng lên, các gia đình ở quận Tây Hồ có điều kiện quan tâm, chăm sóc toàn diện hơn tới
Trang 34người phụ nữ cả về sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và đời sống văn hóa tinh thần Cùng với sự phát triển của xã hội, quan hệ gia đình trên địa bàn quận Tây Hồ đang từng bước bứt ra khỏi những ràng buộc của những tư tưởng và hủ tục phong kiến đối với người phụ nữ Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình dân chủ, bình đẳng hơn, đã mở rộng cơ hội phát triển tự do cá nhân cho cả nam và nữ Năng lực làm chủ của phụ nữ trong gia đình được nâng lên gắn với việc phát huy vai trò, vị thế của họ ở ngoài xã hội
1.3.1.2 Kinh nghiệm hoạt động của Hội liên hiệp phụ nữ huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
Thuỷ Nguyên là một huyện lớn nằm bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử Phía Bắc, Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Tây Nam giáp huyện An Dương và nội thành Hải Phòng; phía Đông Nam là cửa biển Nam Triệu Địa hình Thuỷ Nguyên khá đa dạng, dốc từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam, vừa
có núi đất, núi đá vôi, vừa có đồng bằng và hệ thống sông hồ dày đặc Đây chính là những điều kiện tự nhiên thuận lợi để huyện Thuỷ Nguyên phát triển một nền kinh tế đa dạng về ngành nghề bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thuỷ sản và du lịch
Vị trí địa lý: Nằm ở cửa ngõ phía Bắc thành phố Hải Phòng
Diện tích tự nhiên: 242 km2
Dân số: trên 30 vạn người
Tiếp tục triển khai thực hiện phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học
tập, lao động, sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc" do Trung ương Hội
LHPN Việt Nam phát động gắn với cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh" Hội phụ nữ huyện Thủy Nguyên khơi dậy nét
đẹp tiêu biểu của mỗi phụ nữ nhằm hướng tới chuẩn mực phụ nữ Việt Nam thời kỳ CNH -HĐH đất nước "có sức khỏe, có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu" Các cấp Hội tổ chức gần 1500 lớp tập huấn cho gần 120.000 lượt cán bộ, hội viên nòng cốt, báo cáo viên; trên 1000 buổi truyền thông tại xã, chi hội đến các tầng lớp phụ
nữ về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"
Trang 35Hằng năm, tỷ lệ hội viên, phụ nữ đăng ký thực hiện và đạt 3 tiêu chuẩn của phong trào đều tăng
Nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng gia đình "no ấm, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc", Hội Phụ nữ huyện Thủy Nguyên chủ động phối
hợp với các ngành chức năng đổi mới các hoạt động truyền thông, hỗ trợ phụ
nữ nâng cao kiến thức, kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình, phòng chống các
tệ nạn xã hội Các cấp Hội xây dựng 400 "tổ phụ nữ không có hội viên, chồng,
con, vi phạm pháp luật, nghiện ma túy"; giúp đỡ 155 người sau cai nghiện có
tiến bộ; duy trì hoạt động 90 CLB gia đình hạnh phúc bền vững lồng ghép với
mô hình "5 không, 3 sạch" và các mô hình nhóm nhỏ KHHGĐ
Công tác hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập được các cấp Hội tập trung chỉ đạo với quyết tâm bằng mọi biện pháp giúp phụ nữ thoát nghèo, vươn lên làm giàu Huyện hội xác định trọng tâm là hỗ trợ vốn vay kết hợp với hướng dẫn hội viên tích cực áp dụng kiến thức, KHKT vào sản xuất, kinh doanh Từ các nguồn vốn, Hội giúp trên 1500 chị
em là chủ hộ, lao động chính trong gia đình thoát nghèo Trong đó, 570 gia đình thoát nghèo bền vững, hỗ trợ hàng trăm chị em thành lập doanh nghiệp, trang trại, gia trại và giới thiệu việc làm cho gần 4000 chị với thu nhập ổn
định Nhất là, hưởng ứng cuộc vận động xây, sửa nhà "mái ấm tình
thương" cho phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, khuyết tật có hoàn cảnh khó
khăn 3 năm qua, Hội phụ nữ huyện xây mới, sửa 18 ngôi nhà với tổng kinh phí gần 1 tỷ đồng, góp phần tích cực vào công tác xóa đói, giảm nghèo ở địa phương Bên cạnh đó, hoạt động của các câu lạc bộ nữ doanh nhân đi vào chiều sâu, khẳng định vị thế của phụ nữ trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Phát huy vai trò đại diện, các cấp Hội phụ nữ huyện Thủy Nguyên tích cực tham gia đóng góp ý kiến vào xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến phụ nữ và trẻ em, hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc Với vai trò là nòng cốt, các cấp Hội là thành viên Ban "vì sự tiến bộ phụ nữ", thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, hỗ trợ phụ nữ nâng cao mức
Trang 36sống, bảo đảm quyền lợi trong các lĩnh vực và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động trên mọi mặt của đời sống xã hội, chủ động phối hợp với các ngành chức năng để thực hiện công tác giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật
về bình đẳng giới và mang lại hiệu quả tích cực Đội ngũ cán bộ nữ của huyện ngày càng tăng và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Trong mỗi bước trưởng thành, phụ nữ Thủy Nguyên đã và đang có nhiều cơ hội để phát triển, song, còn nhiều thách thức cần phải vượt qua Thời gian tới, trên 71.000 hội viên phụ nữ Thủy Nguyên tiếp tục khẳng định hơn nữa vai trò chủ nhân của mình, thực hiện tốt các mục tiêu: Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh; thiết thực hỗ trợ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cán bộ, hội viên, không ngừng nâng cao vị thế của phụ nữ; góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của quốc gia và của huyện Thủy Nguyên
1.3.2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực nữ gắn với phát triển kinh tế cho Quận Hoàn Kiếm
Quận Hoàn Kiếm là một trong những quận nằm trong phạm vi chiến lược của Thủ đô Hà Nội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội
Do vậy, nghiên cứu những kinh nghiệm trong phát huy nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển phát triển kinh tế - xã hội ở Hà Nội có ý nghĩa to lớn đối với nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế của quận Hoàn Kiếm hiện nay Cụ thế, bài học kinh nghiệm rút ra cho quận Hoàn Kiếm như sau:
Một là, coi giáo dục – đào tạo đóng vai trò quyết định
- Tập trung huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục – đào tạo
- Thực hiện xã hội hóa giáo dục
- Gia tăng quy mô và chất lượng giáo dục đại học và sau đại học bên cạnh phát triển hệ thống đào tạo nghề, trung tâm dạy nghề…
- Quan tâm phát triển đội ngũ giáo viên chất lượng cao
Hai là, dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống và văn hóa nhân loại
Trang 37Chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ của các nước hướng tới việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc (đặc biệt là các triết lý Phật giáo, Đạo giáo được đưa vào nhà trường), đồng thời, mạnh dạn tiếp thu các giá trị văn minh phương Tây trong quá trình cải cách mở cửa như: phổ cập tiếng Anh, tiếp thu công nhệ cùng với văn hóa trong kinh doanh, quản lý, lối sống…
Ba là, thông qua tiếp cận nguồn lực sản xuất và năng lực tạo thu nhập
Những nỗ lực nhằm nâng cao sự bình đẳng giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực sản xuất, giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe, tài chính hay đất đai… đảm bảo khả năng tiếp cận công bằng, bình đẳng đến các
cơ hội việc làm có thể đẩy mạnh quá trình phát triển nguồn nhân lực nữ
- Giảm chi phí giáo dục, tăng đầu tư vào việc học hành cho phụ nữ và trẻ em gái thông qua nâng cao chất lượng giáo dục
- Tăng cường chăm sóc sức khỏe y tế và dinh dưỡng
- Xây dựng các tổ chức tài chính có thể giúp người phụ nữ tiếp cận dễ dàng hơn đến các nguồn tiết kiệm và tín dụng
- Cải cách về đất đai cho phép cả vợ và chồng cùng đứng tên quyền sử dụng hay phụ nữ được quyền đứng tên độc lập để giúp người phụ nữ có nhiều khả năng kiểm soát đất đai hơn
- Có chương trình hành động tích cực vềviệc làm ưu đãi phụ nữ nhằm giúp người phụ nữ tăng cường khả năng làm việc trong khu vực chính thức
Bốn là, giảm bớt nghĩa vụ gia đình cho người phụ nữ
Hầu như trong tất cả các xã hội, tập quán về giới đều quan niệm rằng phụ nữ và bé gái chỉ có trách nhiệm chính là chăm sóc nhà cửa và con cái, Ở các nước đang phát triển, nghĩa vụ với gia đình thường mất nhiều thời gian làm việc của phụ nữ, mà điều này đã hạn chế khả năng các bé gái được tiếp tục đi học và các bà mẹ được tham gia vào các công việc ngoài xã hội Có nhiều cách can thiệp để giảm bớt nghĩa vụ gia đình của người phụ nữ và các
bé gái
Trang 38Tăng cường giáo dục, tăng lượng và mở rộng khả năng tham gia thị trường lao động, tạo điều kiện tiếp cận thỏa đáng đến các dịch vụ sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, giúp người phụ nữ nâng cao vai trò của mình khi quyết định sinh con Nhà nước hỗ trợ cho dịch vụ trông trẻ, giảm bớt chi phí chăm sóc con cái, cho phép người phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế rộng rãi hơn và các bé gái được đi học nhiều hơn
Đầu tư có trọng điểm vào giao thông và các cơ sở hạ tầng
Năm là, cung cấp bảo trợ xã hội phù hợp
Các chương trình bảo trợ xã hội cần tính đến các yếu tố có thể gây ra sự thiên vị giới cả về khía cạnh tham gia chương trình lẫn hưởng thụ lợi ích Các chương trình bảo hiểm tuổi già không tính đến sự khác biệt về giới trong việc làm, thu nhập, và “rủi ro” về tuổi thọ bình quân nên đã khiến người phụ nữ - nhất là những người góa bụa – rất dễ bị cảnh đói nghèo đe dọa lúc về già
Sáu là, cải cách thể chế xác lập quyền hạn và cơ hội bình đẳng cho nữ
Vì các thể chế xã hội, pháp lý và kinh tế sẽ xác định khả năng tiếp cận nguồn lực của nam giới và phụ nữ, cơ hội và quyền lực tương đối của họ, nên yếu tố thiết yếu trong việc phát triển nguồn nhân lực nữ là phải tạo lập một
“sân chơi” thể chế bình đẳng
Đảm bảo sự bình đẳng về những quyền cơ bản, Các quyền pháp lý xã hội và kinh tế sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép phụ nữ tham gia hiệu quả vào đời sống xã hội, đảm bảo chất lượng cơ bản của cuộc sống, tận dụng những cơ hội mới mà sự phát triển đã mang lại Tăng cường hiệu lực thực thi của các cơ quan hành chính và tư pháp của đất nước là yếu tố quan trọng để đạt được sự bình đẳng hơn về giới trong các quyền cơ bản
Trang 39Tổng kết chương 1
Mỗi thời kỳ lịch sử các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội là khác nhau Hiện nay người ta cho rằng, tăng năng suất có được từ tích luỹ vốn con người hay các hoạt động phát minh sáng chế và nó là thứ tạo nên tăng trưởng dài hạn của thu nhập bình quân đầu người
Luận án phân tích và làm rõ các khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực nữ, trình bày tính đặc thù của nguồn nhân lực nữ miền núi và những nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực nữ, trên cơ sở đó, khẳng định tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực nữ đối với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Vì vậy nếu không phát triển nguồn nhân lực này sẽ gây thiệt hại phúc lợi
và làm chậm tiến trình phát triển kinh tế xã hội một vùng, một quốc gia và nhân loại trong tương lai
Phân tích cơ sở nguồn nhân lực nữ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ hội nhập quốc tế, luận văn đã khảo sát kinh nghiệm một số quận, huyện thuộc Thành phố Hà Nội và huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích để học tập và thực hiện phát triển nguồn nhân lực nữ quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Quá trình phát triển nguồn nhân lực nữ đang được thực hiện trên địa bàn Thành phố Hà Nội và bước đầu đã được những kết quả quan trọng Là quận đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội, do vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm rút ra những bài học là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn quận Hoàn Kiếm nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ ở quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm, tình hình quận Hoàn Kiếm
Hoàn Kiếm có diện tích tự nhiên là 5,28 km2 (trong đó 4,5km2 đất dân cư), gồm 18 phường, với dân số trên 16 vạn người Về quy hoạch kiến trúc, Hoàn Kiếm chia làm 4 khu: khu phố cổ (10 phường); khu phố cũ, khu vực Hồ Gươm và vùng phụ cận (6 phường); khu vực ngoài đê (2 phường)
Ở ví trí trung tâm của Thủ đô, Hoàn Kiếm là trung tâm hành chính – chính trị, trung tâm văn hóa và trung tâm dịch vụ, thương mại, du lịch Là quận có nhiều tuyến phố chuyên doanh và chợ đầu mố, đồng thời là nơi tập trung nhiều ngành dịch vụ có kỹ thuật và chất lượng cao Nhân dân Hoàn Kiếm có nhiều tiềm năng về tri thức, về vốn và khả năng kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực, thương mại (trên 13.000 hộ kinh doanh)
Hoàn Kiếm gắn liền với lịch sử, truyền thống văn hóa Thăng Long –
Hà Nội với 190 di tích (bao gồm: các di tích lịch sử văn hóa, di tích cách mạng – kháng chiến, di tích văn hóa nghệ thuật và các di tích khác Các công trình kiến trúc văn hóa có giá trị trong đó nổi bật là khu phố cổ, khu phố cũ, khu vực hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận
Quận Hoàn Kiếm là nơi đặt trụ sở của Thành ủy – HĐND – UBND – UBMTTQ Thành phố Hà Nội và trụ sở của nhiều cơ quan Trung ương; có 4 trụ sở tôn giáo lớn (Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành và Hồi giáo); có 28 trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao, 08 nhà riêng Đại sứ quán, 03 tổ chức quốc
tế và 125 văn phòng đại diện nước ngoài
Những định hướng lớn, xuyên suốt của quận Hoàn Kiếm:
- Trên cơ sở của Luật Thủ đô và chiến lược, quy hoạch phát triển của