1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử hiện nay

116 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Luận văn “Hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử hiện nay Khảo sát báo VnExpress, Vietnamnet, Dân trí từ 10/2016 đến 03/2017” được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thoa

Trang 3

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày 12 tháng 1 năm 2018

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thoa Các số liệu và kết quả được nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Đỗ Nhƣ Yến

Trang 5

LỜI CẢM ƠN Luận văn “Hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử hiện nay (Khảo sát báo VnExpress, Vietnamnet, Dân trí từ 10/2016 đến 03/2017)” được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình từ các thầy, cô giáo, các

anh, chị làm việc trong lĩnh vực báo chí truyền thông và gia đình, bạn bè

Xin gửi lời kính trọng và cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Thoa, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện luận văn này

Xin cảm ơn các thầy, cô giáo của Học viện Báo chí và Tuyên truyền nói chung và các thầy, cô giáo trong Khoa Báo chí nói riêng đã truyền đạt cho tôi vốn kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Nhƣ Yến

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG PHẢN HỒI THÔNG TIN TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 10

1.1 Các khái niệm và thuật ngữ 10 1.2 Đặc điểm của báo mạng điện tử 17 1.3 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử 21 1.4 Các hình thức hoạt động phản hồi trên báo mạng điện tử 24

1.5 Công chúng với vai trò là chủ thể trong việc phản hồi thông tin trên báo

mạng điện tử 28 1.6 Thực tiễn hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHẢN HỒI THÔNG TIN TRÊN CÁC TỜ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ ĐƯỢC KHẢO SÁT 45

2.1 Giới thiệu về các báo khảo sát 45

2.2 Khảo sát thực trạng thông tin phản hồi trên ba tờ vnexpress.net /

vietnamnet.vn./ dantri.com 50

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử 61 2.4 Đánh giá chung 62

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHẢN HỒI THÔNG TIN TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM HIỆN NAY 76

3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng 76 3.2 Các cơ quan báo chí cần quan tâm, chăm sóc sự đóng góp của công chúng thông qua mục diễn đàn 85

KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Biểu đồ 2.1: Số lượng phản hồi của công chúng trên báo Dân trí 56

Biểu đồ 2.2: Số lượng phản hồi của công chúng trên báo Vietnamnet 57

Biểu đồ 2.3: Số lượng phản hồi của công chúng trên báo VnExpress 58

Biểu đồ 2.4: Mức độ phản hồi của độc giả 63

Hình 2.1: Giao diện trang chủ báo VnExpress.net 45

Hình 2.2: Giao diện trang chủ Vietnamnet.vn 47

Hình 2.3: Giao diện trang chủ Dantri.com.vn 49

Hình 2.4: Hình thức email phản hồi của Vnxpress.net 51

Hình 2.5: Hình thức email phản hồi của Dantri.com 51

Hình 2.6: Mẫu thăm dò ý kiến trên Dantri.com 55

Hình 2.7: Ngay sau khi bình chọn công chúng có thể xem kết quả 55

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BMĐT : Báo mạng điện tử

DT : Dân trí

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mạng Internet ra đời và bùng nổ phát triển vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX đã làm thay đổi mạnh mẽ mọi lĩnh vực đời sống của con người Internet có khả năng lưu trữ và truyền tải thông tin không có giới hạn, không chịu ảnh hưởng của rào cản của không gian và thời gian Internet chứa đựng một nguồn tài nguyên tri thức khổng lồ và cho phép mọi người có thể khai thác nguồn tài nguyên tri thức này ở bất cứ đâu, bất cứ nơi nào Chính từ những lợi thế đó, Internet đã trở thành môi trường đặc biệt thuận lợi cho báo chí phát triển

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Internet và báo mạng điện tử

ở nước ta đã có bước phát triển quan trọng, ngày càng góp phần tích cực vào

sự phát triển kinh tế xã hội và tuyên truyền đối ngoại Báo mạng điện tử đề cập khá nhanh các sự kiện xảy ra Sau khi nhận được tin đã có thể phát tức thời trên khắp thế giới Lợi thế của báo mạng điện tử còn ở tính phản hồi tương tác qua lại, làm cho người đọc báo mạng điện tử phải động não, đưa ra những ý kiến trao đổi trực tiếp, tức thời Đây là phương pháp làm báo rất tích cực, hiện đại, chỉ thực hiện hiệu quả trên báo mạng điện tử

Tính phản hồi là điểm nổi trội nhất của báo mạng điện tử Nếu như ở các loại hình báo chí truyền thống, thông tin chủ yếu là một chiều (điều này

đã được khắc phục phần nào ở truyền hình cáp và truyền hình số), việc tiếp nhận thông tin phản hồi là rất khó khăn, sự giao lưu giữa tòa soạn và công chúng bị hạn chế… thì ở báo mạng điện tử, tất cả những nhược điểm trên đều

bị dỡ bỏ nhờ tính phản hồi cao Đặc điểm này cho phép công chúng có thể tiếp nhận thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng Chỉ cần một máy tính nối mạng hay một chiếc điện thoại thông minh, một địa chỉ chính xác của tờ báo, công chúng hoàn toàn có thể tiếp cận ngay lập tức với những thông tin

Trang 10

mới nhất mà mình quan tâm chỉ bằng những thao tác đơn giản Tờ báo cũng rất nhanh chóng và thuận lợi trong việc thu nhận phản hồi từ phía công chúng

Ở Việt Nam, từ khi công cuộc đổi mới bắt đầu, một số cơ quan truyền thông đã ý thức sâu sắc tầm quan trọng của độc giả và xem đó là kim chỉ nam của báo chí thời đổi mới, đó là “có bạn đọc là có tất cả”.Thành công của các

tờ báo có tiếng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Tiền Phong… đã minh chứng cho điều này Nếu không xuất phát từ ý thức hướng về độc giả thì khó

có thể có được những thành công ở một tờ báo Những trang báo mạng điện

tử như VnExpress, Vietnamnet, Dân trí…khi mới thành lập rất khó khăn để thu hút độc giả về báo mình Báo mạng điện tử trong những ngày đầu, cơ chế chưa tao thành một hành lang pháp lý, trang báo chưa được thừa nhận, nhưng

“tài sản” là bạn đọc đã khiến những người tác nghiệp trên loại hình báo chí còn rất mới mẻ này vững tâm bước tiếp Tuy nhiên, cũng còn một số cơ quan báo chí chưa có sự quan tâm, đầu tư và hành động cần thiết đối với vấn đề nghiên cứu công chúng và nhận thức về tầm quan trọng của độc giả Thực trạng của một số báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay khi mà độc giả đóng vai trò quan trọng như thế nào? Sự thay đổi của các tòa soạn với nhận thức về vai trò của độc giả thông qua hoạt động phản hồi được thể hiện ra sao? Những câu hỏi này đang làm đau đầu không ít lãnh đạo các cơ quan báo chí trước đòi hỏi tất yếu của xu thế phát triển báo mạng điện tử hiện đại

Đã có nhiều khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sỹ nghiên cứu vấn đề tính tương tác trên báo mạng điện tử Tuy nhiên, phạm vi khảo sát mới dừng ở tính tương tác trong khoảng thời gian ngắn và chưa đề cập tới hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử như thế nào Đồng thời, sự tương tác phản hồi thông tin luôn cần thiết hàng ngày hàng giờ trong cuộc sống Do đó, hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử hiện nay là hoạt động chưa được đánh giá xem xét sâu và nghiên cứu đầy đủ Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn

Trang 11

đề tài cho luận văn của mình nhằm góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn, giúp các cơ quan báo chí đáp ứng những đòi hỏi tất yếu của thời cuộc đặt ra

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ khi báo mạng điện tử ra đời và phát triển ở Việt Nam, các nhà lý luận đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát về nhiều lý thuyết báo mạng điện tử Đây là một lĩnh vực, một hướng nghiên cứu đang được các nhà nghiên cứu báo chí và xã hội quan tâm Có thể đây là một lĩnh vực không mới, song hoạt động phản hồi này luôn cần thiết trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như ngày nay Hiện tại, đã có nhiều những tài liệu nghiên cứu về BMĐT Nó xuất hiện trong một số cuốn sách và trong nhiều luận văn, khóa luận của sinh viên

Cụ thể như cuốn: “Báo mạng điện tử - những vấn đề cơ bản” của PGS,

TS Nguyễn Thị Trường Giang, NXB Chính trị - Hành chính Quốc Gia, 2011;

“Báo chí và mạng xã hội” của PGS, TS Đỗ Chí Nghĩa, Đinh Thị Thu Hằng, Nxb Lý luận Chính trị, 2014; “Báo trực tuyến” của Mike Ward (Vũ Tuấn Anh dịch), NXBFocal Press, 2002; “Các thủ thuật làm báo mạng điện tử”

của Vũ Kim Hải, Đinh Thuận, NXB Thông tấn, 2006

Một số khóa luận cử nhân, thạc sỹ trước đây đã nghiên cứu về BMĐT, tính tương tác BMĐT hay công chúng BMĐT như: Đề tài khoa học trọng

điểm “Tổ chức và quản lý báo mạng điện tử ở Việt Nam”của TS Nguyễn Thị Thoa, Học viện Báo chí & Tuyên truyền, 2007 Luận văn thạc sỹ: “Tổ chức

diễn đàn trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” của PGS, TS Nguyễn Thị

Trường Giang (Học viện Báo chí & Tuyên truyền, 2004); Luận văn thạc sỹ: “Hoạt

động tương tác trên báo mạng điện tử” của Trần Quang Huy (Học viện Báo chí &

Tuyên truyền, Hà Nội, 2007); Luận văn thạc sỹ “Đặc điểm công chúng độc

giả báo Internet Việt Nam” của Hà Thu Hương (Học viện Báo chí & Tuyên

truyền – 2002”; Luận văn thạc sỹ “Tương tác giữa tòa soạn và công chúng

BMĐT” của Nguyễn Hoàng Quỳnh Hương (Học viện Báo chí & Tuyên

Trang 12

của Lê Thanh Huyền (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007)

Trong số có khóa luận tốt nghiệp và các luận văn thạc sỹ và đề tài nghiên cứu khoa học nêu trên có ba công trình đáng chú ý Luận văn thạc sỹ

“Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử” của tác giả Trần Quang Huy (Học viên Báo chí & Tuyên truyền, 2007); Luận văn thạc sỹ: “Đặc điểm công

chúng độc giả báo Internet Việt Nam” của Hà Thu Hương (Học viện Báo chí

& Tuyên truyền – 2002”và Đề tài khoa học trọng điểm “Tổ chức và quản lý

báo mạng điện tử ở Việt Nam”của TS Nguyễn Thị Thoa, Học viện Báo chí &

Tuyên truyền, 2007 Luận văn thạc sỹ: “Tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử

ở Việt Nam hiện nay” của PGS, TS Nguyễn Thị Trường Giang (Học viện Báo chí &

Tuyên truyền, 2004)

Luận văn “Đặc điểm công chúng độc giả báo Internet Việt Nam” đã

nghiên cứu quá trình hình thành báo chí Internet và một số khái niệm chung

về công chúng độc giả báo Internet tiêu biểu của Việt Nam; khảo sát đặc điểm công chúng độc giả các tờ báo Inernet tiêu biểu của Việt Nam: Nhân dân điện

tử, Lao động điện tử, Quê hương điện tử, VnExpress, VASC Orient, VDC Mdiea, những đề xuất cơ bản nhằm phát triển báo chí Internet Việt Nam trong tương lai Là một luận văn thạc sỹ được thực hiện công phu, tác giả có nhiều đóng góp trong nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn báo mạng điện tử trong giai đoạn những năm 2000 Trong đó phần nội dung và đặc điểm công chúng được chủ yếu đề cập trong chương 2 về đặc điểm công chúng độc giả, nhu cầu thỏa mãn thông tin, khả năng tiếp nhận, tâm lý tiếp nhận của độc giả Vấn đề phát triển báo mạng điện tử Việt Nam chiếm khá nhiều nội dung của luận văn mà vấn đề từ đặc điểm công chúng rút ra bài học, đề xuất giải pháp với các báo chưa được đề cập tới nhiều Tuy vậy, luận văn trên là một nguồn tham khảo rất bổ ích, nhất là về lý thuyết trong quá trình tôi thực hiện đề tài của mình

Trang 13

Luận văn thạc sỹ: “Tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử” của tác

giả Nguyễn Thị Trường Giang đã tìm hiểu thực trạng các diễn đàn báo mạng điện tử thông qua khảo sát một số tờ báo tiêu biểu của Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục hạn chế và nâng cao chất lượng của hình thức trao đổi thông tin này Tác giả phân tích vai trò và các hình thức diễn đàn trên báo mạng, so sánh sự khác biệt giữa diễn đàn trên báo mạng điện tử và các loại hình báo chí khác, khảo sát một số tờ báo mạng điện tử tiêu biểu: Nhân dân, VnExpress, Vietnamnet, VOVNews, đề xuất quy trình các bước thực hiện diễn đàn Luận văn có nhiều ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn Tuy vậy, đến thời điểm hiện tại, diễn đàn báo mạng điện tử Việt Nam đã có nhiều thay đổi

Với đề tài: “Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử” tác giả Trần

Quang Huy đã nghiên cứu: Vai trò của hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử, thực trạng hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử (tương tác trực tiếp qua thư điện tử, box phản hồi trực tiếp dưới mỗi bài báo, phản hồi thông tin qua đường dây nóng, phản hồi thông tin qua đường email, bình chon – thăm dò của dư luận, tương tác qua diễn đàn trực tuyến; từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả, hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử Có lẽ do đề cập đến khá nhiều vấn đề trong dung lượng 91 trang luận văn khá hạn chế, vì vậy tác giả chủ yếu đi vào thống kê, phân tích và nhận xét

từ khảo sát thực tiễn, đề xuất giải pháp mới chưa nhiều

Từ những tài liệu này, tác giả sẽ tham khảo, kế thừa các nghiên cứu khoa học, kế thừa những cơ sở lý luận về báo mạng điện tử gồm khái niệm, đặc điểm và một phần lý luận về sự phản hồi của báo mạng điện tử như: diễn đàn, giao lưu trực tuyến… làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận văn của mình Tuy nhiên, các công trình đã có không trùng lặp với đề tài của luận văn

Trang 14

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là nghiên cứu thực trạng hoạt động phản hồi thông tin của báo mạng điện tử, nhằm đánh giá những thành công và hạn chế của báo mạng điện tử trong hoạt động này, từ đó gợi ý những giải pháp nâng cao chất lượng nội dung và hình thức, các công cụ để thực hiện tương tác của tờ báo để đáp ứng tốt hơn nhu cầu phản hồi thông tin của bạn đọc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện những mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một

số nhiệm vụ sau:

Một là: Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề nghiên

cứu: khái niệm, vai trò, nội dung và những yêu cầu của hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử hiện nay

Hai là: Tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng,

đánh giá ưu, nhược điểm, thực trạng hoạt động phản hồi thông tin của các tờ báo được chọn khảo sát

Ba là: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng phản hồi thông tin trên

báo mạng điện tử hiện nay Bước đầu gợi ý những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này của báo mạng điện tử trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử hiện nay

4.2 Đối tượng khảo sát của luận văn

- Thứ nhất, nghiên cứu phân tích hoạt động phản hồi thông tin của công chúng độc giả trên ba tờ báo mạng điện tử Việt Nam: VnExpress.net, Vietnamnet.vn và Dantri.com từ tháng 01/10/2016 – 3/2017

Trang 15

Do thời gian và nguồn lực có hạn, tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích một số phóng sự nổi bật nhất để thấy rõ hoạt động phản hồi thông tin Việt Nam hiện nay

- Thứ hai, Công chúng độc giả - đây là những người đang hàng ngày tiếp nhận những thông tin trên báo mạng điện tử, vì thế có những quan điểm

để tương tác phản hồi với tòa soạn về vấn đề quan tâm

- Thứ ba, Điều tra xã hội học với công chúng báo mạng điện tử để thu thập thêm ý kiến về vấn đề nghiên cứu

Ngoài ra, tác giả luận văn còn tiến hành phỏng vấn sâu một số nhà báo, phóng viên liên quan đến đề tài nghiên cứu

4.3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

+ Nghiên cứu chủ yếu 3 tờ VNExpress, Vietnamnet và Dân trí từ 01/10/2016 đến tháng 3/2017

+ Ý kiến của các chuyên gia, các nhà báo về hoạt động phản hồi của báo mạng điện tử

+ Ngoài ra, tác giả còn tham khảo các tờ Nhân dân điện tử, … để làm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, luận văn sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Trang 16

Phương pháp này tập trung nghiên cứu tài liệu dạng văn bản, hệ thống Luật báo chí liên quan đến hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

- Phương pháp phân tích nội dung:

Phương pháp này nhằm sử dụng để phân tích, khảo sát thực tế việc thông tin, chất lượng hiệu quả của việc phản hồi thông tin trên báo mạng điện

tử Việt Nam hiện nay (VNExpress, Vietnamnet, Dân trí) và sau đó rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp điều tra xã hội học (định lượng)

Để làm rõ vấn đề này, tác giả luận văn thực hiện điều tra xã hội học với

300 phiếu phát ngẫu nhiên trên địa bàn Hà Nội

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

- Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu hoạt động phản hồi thông tin của báo mạng điện tử trong tương quan so sánh với các loại hình báo chí khác, từ đó rút ra những tri thức mang tính lý luận về đặc thù của loại hình báo mạng điện tử trong, góp thêm vào kho tàng lý luận về báo mạng điện tử đã có hiện nay

- Kết quả của đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học đối với việc góp phần xác định giải pháp nâng cao vai trò, chất lượng của hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn có giá trị tham khảo về mặt thực tiễn liên quan đến các

hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử; đồng thời cũng đóng góp một số ý kiến mang tính xây dựng để các báo khảo sát có thể tương tác nhiều hơn với công chúng và ngược lại

Trang 17

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động phản hồi thông tin trên các báo mạng điện tử được chọn khảo sát và gợi ý các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan báo mạng điện tử, cơ sở đào tạo báo chí, cơ quan báo chí và những người quan tâm đến vấn đề này

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Nội dung luận văn gồm 03 chương; 12 tiết

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử

Chương 2: Thực trạng hoạt động phản hồi thông tin trên các tờ báo mạng điện tử được khảo sát

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG PHẢN HỒI

THÔNG TIN TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

1.1 Các khái niệm và thuật ngữ

1.1.1 Thông tin

Khái niệm “thông tin” được bắt nguồn từ chữ Latin “informetio”, gốc của từ Tiếng anh “information” Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “thông tin” được hiểu như sau: Ở dạng động từ, thông tin là truyền tin, đưa tin, báo cáo cho nhau biết Ở dạng danh từ, thông tin có hai cách hiểu, một là tin tức được truyền đi cho biết; hai là tin tức về các sự kiện được diễn ra trong thế giới xung quanh [31; tr.111]

Như vậy có thể hiểu, thông tin nói về một hành động cụ thể để tạo ra một dạng thức, ví dụ như: thông tin bằng điện thoại: “Có gì thông tin cho nhau với” Thông tin là sự truyền đạt bằng ý tưởng, một nội dung nào đó từ đối tượng này đến đối tượng khác, ví dụ như: Cuốn sách này cho biết một thông tin là rất nhiều động vật quý hiếm đang tuyệt chủng

Trong cuốn sách “Bùng nổ thông tin”, hai tác giả Phillipe Breton và Serge Proulx giải thích rằng: Khái niệm “thông tin” có liên quan đến nét đặc trưng Roma, biểu hiện sự mong muốn giảng dạy, truyền đạt Nó có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng (forme); thứ hai là nói về sự truyền đạt của một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và hai là truyền đạt, đây là tiêu biểu cho sự phát minh của tiếng Latinh Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức

Trong báo chí, thông tin được dùng để nói về chất liệu ngôn ngữ sống,

sự miêu tả, câu chuyện kể, bằng chứng, chỉ cần nó thể hiện một nhân tố của

Trang 19

những tri thức có thể mã hóa để bảo quản, để xử lý hoặc để truyền đạt Thông tin là tin tức được thông báo qua một hãng báo chí, một tạp chí, đài phát thanh hoặc truyền hình Thông tin báo chí bao giờ cũng chứa đựng những giá trị xã hội hay chính trị Ví dụ, một người gọi điện thoại cho người khác cũng là hoạt động thông tin nhưng những thông tin đó không mang tính xã hội, vì nó không được nhiều người tiếp nhận và ảnh hưởng đến nhiều người như thông tin báo chí Những thông tin trao đổi giữa hai người chỉ có ý nghĩa chính trị - xã hội khi nó có ảnh hưởng đến nhiều người, được nhiều người tiếp nhận và được công bố trên báo chí Bởi vậy, báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị

- xã hội và thông tin báo chí mang những đặc trưng riêng so với các hình thức thông tin khác

Trong lý luận báo chí, khái niệm “thông tin” cũng đang tồn tại hai cách hiểu Một là, tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống Hai là, sự loan báo cho mọi người biết Theo cách hiểu thứ nhất, thông tin thể hiện tính chất khởi đầu, khởi điểm (tương tự với khái niệm hình tượng trong nghệ thuật, hàng hóa trong kinh tế - chính trị…) Đây chính là một đặc trưng cơ bản của báo chí nói chung Còn theo cách hiểu thứ hai là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện có để truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thế giới xung quanh Như vậy, thông tin cũng chính là chức năng của báo chí (theo nghĩa là sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo)

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm thông tin được hiểu theo cách thứ hai Theo đó, thông tin là từ chỉ hoạt động của nhà báo nhằm truyền đạt, phổ biến các kết quả lao động sáng tạo của nhà báo (là các tác phẩm báo chí) tới công chúng thông qua các phương tiện kỹ thuật, qua đó tác động đến suy nghĩ, tư tưởng của người nhận, dẫn đến những thay đổi tích cực trong nhận thức và hành vi, hoặc mang lại những hiệu quả cụ thể với đối

Trang 20

Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều cách sử dụng khác nhau Thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình Thông tin trở thành cầu nối giữa báo chí và công chúng, là nhân vật

“trung gian” trong mối quan hệ giữa nhà báo và công chúng Thông tin là cái nhà báo có và cũng là cái mà công chúng cần Có trường hợp, các nhà báo sử dụng nó để biểu thị tính chất chung nhất của các thông báo ngắn, không kèm theo lời phân tích, bình luận về một sự kiện mới (như tin vắn hay tin ngắn) Trong trường hợp khác, nó được dùng để chỉ tất cả các thể loại được dùng để ghi chép những sự kiện, hiện tượng mới như: tin tức, tường thuật, phỏng vấn… Hiểu theo một cách khác, bất cứ tác phẩm báo chí nào cũng đều chứa đựng lượng thông tin nhất định Từ tiêu đề, vị trí của tác phẩm trên các cột báo, chương trình truyền hình, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo, vị trí ảnh…đều hàm chứa trong đó một lượng thông tin nhất định Như vậy, có thể hiểu thông tin báo chí là tri thức, tư tưởng do nhà báo sáng tạo ra và được truyền đạt, loan báo, giới thiệu rộng rãi đến công chúng qua các phương tiện kỹ thuật

Trang 21

nào có sự tiếp nhận thông tin mới tạo ra hiệu ứng, hiệu quả Biểu hiện cụ thể của việc tiếp nhận thông tin là việc phản hồi

Có hai đối tượng phản hồi: Một là đối tượng thông tin (khách thể phản ánh) và hai là đối tượng tiếp nhận thông tin nói chung (công chúng) Báo chí nước ta là báo chí vô sản hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dù là đơn vị chủ quản là ai, cáp nào cũng phải tuân theo các nguyên tắc báo chí vô sản Và vì thế, tất cả mọi thông tin đều phải mang tính định hướng Đúng như quan điểm của Lênin: “Báo chí vô sản có chức năng tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể và tổ chức tập thể”

Để hoàn thành chức năng đó, báo chí phải tạo ra sự phản hồi Phản hồi của công chúng đó chính là những thông tin mà đối tượng tiếp nhận gửi về nguồn phát thông tin (tòa soạn) Đó có thể là những ý kiến kiểm chứng thông tin, những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của công chúng

Mối quan hệ tác động phản hồi - quan hệ ngược (feedback) của công chúng đối với các ấn phẩm báo chí cũng như thông điệp truyền thông càng mạnh mẽ, thường xuyên, chứng tỏ năng lực và hiệu quả tác động của báo chí càng lớn, thể hiện sự gắn bó giữa cơ quan báo chí với công chúng

Phản hồi không chỉ là quyền (điều 4, chương 2, Luật Báo chí) mà nó còn là trách nhiệm của công chúng Công chúng không chỉ được bày tỏ những

ý kiến, quan điểm cá nhân mà còn có trách nhiệm cải tạo và thay đổi những cái ác, cái xấu đang tồn tại trong xã hội, góp phần định hướng cho các nhà quản lý hoạt động có hiệu quả hơn, đưa đất nước phát triển đúng hướng

1.1.3 Hoạt động thông tin phản hồi

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Hoạt động là Tiến hành những việc làm

có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [436,]

Như vậy, hoạt động thông tin phản hồi việc làm xuyên suốt để đưa và

Trang 22

vấn đề và dựa trên sự quan sát nêu lên những điểm tích cực và tiêu cực cần cải thiện

1.1.4 Báo mạng điện tử

Theo “Đại từ điển tiếng Việt”, báo chí là “các ấn phẩm định kỳ, in trên

khổ giấy lớn, có nhiều tin bài, ảnh để thông tin tuyên truyền” [31]

Có thể thấy, khái niệm trên mới chỉ nói tới báo in, tạp chí là loại hình báo chí xuất hiện đầu tiên, mang tính truyền thống, chưa bao hàm hết được các loại hình truyền thông đại chúng

“Từ điển tiếng Việt” đưa ra khái niệm đầy đủ hơn khi cho rằng báo

chí là “hình thức thông tin tuyên truyền có tính chất đại chúng được thể hiện

qua các ấn phẩm định kỳ hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng khác như truyền thanh, truyền hình, internet” [10]

Theo Điều 3, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm

2016, luật số 103/2016/QH13: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện,

vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử”

Như vậy, ngoài báo in, tạp chí, báo chí còn bao gồm phát thanh, truyền hình, báo ảnh, tạp chí và báo mạng điện tử

Trong các loại hình báo chí trên thì báo mạng điện tử trẻ nhất, ra đời muộn nhất nhưng có tốc độ phát triển mạnh mẽ nhất

Báo mạng điện tử tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của hệ thống Internet trên toàn cầu Web (World Wide Web) được sinh ra với mục đích tạo giao diện chung dễ sử dụng trong quá trình truy cập thông tin trên Internet Vào cuối những năm cuối của thập kỉ 80, nó được Tim Berner Lee, một nhà vật lý của Viện nghiên cứu hạt nhân châu Âu Cern đề xuất và tiến hành nghiên cứu cùng với cộng sự của ông là Robert Caililau Năm 1991 người

Trang 23

Internet đã bùng nổ Tháng 10 – 1993, khoa Báo chí Đại học Frorida (Mỹ) tung

ra cái mà họ tự tin là tờ báo Internet đầu tiên Năm 1994, phiên bản online của tạp chí Hotwired chạy những baner quảng cáo đầu tiên và hàng loạt các tờ báo khác tại Mỹ ồ ạt mở website “Cơn sốt vàng” của thời thông tin trực tuyến bắt đầu Một khảo sát lần đầu tiên về độc giả Internet của hãng dịch vụ thống kê truy cập Nielsen/ NetRatings công bố mới đây cho thấy 1/5 số người lướt web thích đọc báo mạng điện tử hơn các phiên bản phi trực tuyến Có lẽ đó chính là một động lực khiến các tờ báo giấy – vừa là để cạnh tranh vừa là để không thể cưỡng lại xu thế điện tử hóa – cũng đã phải lập tức triển khai phiên bản điện tử, trong đó phần lớn phát hành lại các bài báo từ bản giấy và có cập nhật thêm thông tin riêng

Trên thế giới, loại hình báo chí này có những tên gọi như online newspaper (báo chí trên mạng, báo trực tuyến), electronic – journal (báo điện tử) …

Ở Việt Nam cũng có nhiều cách gọi như báo điện tử, báo mạng, báo Internet, báo trực tuyến Trong đó, báo điện tử là thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất như báo Lao động điện tử, Nhân dân điện tử, báo điện tử Vietnamnet, báo điện tử VnExpress… Ngoài ra còn có thuật ngữ báo online như Tuổi trẻ Online, Tiền phong online…

Hiện nay vẫn chưa tìm được sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu báo chí và cơ quan quản lý nhà nước về thuật ngữ này

Các văn bản pháp quy của Việt Nam thường dùng thuật ngữ báo điện

tử Cũng theo Điều 3, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm

2016, luật số 103/2016/QH13 “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ

viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”

Văn bản pháp lý của Bộ Thông tin Truyền thông cấp cho các tờ báo trực tuyến đầu tiên của Việt Nam cũng được gọi là Giấy phép hoạt động báo điện tử

Trang 24

Đây cũng là thuật ngữ được dùng trong Nghị định 55/2001/ NĐ – CP về

quản lý và cung cấp dịch vụ Internet, điều 12: “Dịch vụ thông tin trên Internet là

một loại hình dịch vụ cung cấp các loại hình điện tử khác trên Internet”

Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng để tạo sự thống nhất trong quá trình nghiên cứu cũng như trình bày, trong luận văn này sử dụng thuật ngữ báo mạng điện tử (BMĐT) theo mã số đào tạo của Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Dựa trên những định nghĩa của một số nhà nghiên cứu cũng như phân tích nhiều quan điểm và các tiêu chí xác định để đi đến một khái niệm tương đối về BMĐT như sau:

Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một website và phát hành trên mạng Internet Hay cũng có thể hiểu: Báo mạng điện tử là sản phẩm đặc biệt, được sinh ra từ sự kết hợp của các loại hình báo chí truyền thống Báo mạng điện tử sử dụng yếu tố công nghệ cao như là một yếu tố quyết định Quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu

*Một số khái niệm mang tính tham chiếu khác:

- Thông tin điện tử trên Internet là thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua mạng lưới thiết bị Internet

- Trang thông tin điện tử Internet là trang thông tin hoặc tập hợp trang thông tin phục vụ cho việc cung cấp và trao đổi thông tin trên môi trường Internet, bao gồm trang thông tin điện tử (website), trang thông tin điện tử cá nhân (blog), cổng thông tin điện tử (portal) và các hình thức tương tự khác

- Trang thông tin điện tử tổng hợp là trang thông tin điện tử trên Internet của tổ chức hoặc doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên cơ sở trích dẫn lại thông tin từ nguồn chính thức của các cơ quan báo chí hoặc các trang thông tin điện tử của các cơ quan đảng và nhà nước Trang thông tin điện tử tổng hợp muốn hoạt động phải

Trang 25

- Trang thông tin điện tử các nhân (blog): được dùng để thể hiện những thông tin mang tính chất cá nhân phục vụ nhu cầu lưu trữ hoặc trao đổi, chia

sẻ với một nhóm người hoặc với cộng đồng rộng rãi sử dụng dịch vụ Internet Trang thông tin điện tử cá nhân được chủ thể trang thông tin điện tử các nhân đăng ký khởi tạo trên Internet

- Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác

- Cổng thông tin điện tử (portal) là một điểm truy cập với giao diện web cho phép người dùng khai thác một khối lượng lớn tài nguyên thông tin

và dịch vụ một cách nhanh nhất, thân thiện nhất và hiệu quả nhất Có cổng thông tin cho riêng một ngành, một lĩnh vực nào đó và cổng thông tin nhiều chủ đề, nhiều lĩnh vực, phục vụ cho nhiều đối tượng phục vụ khác nhau

1.2 Đặc điểm của báo mạng điện tử

Có thể mô tả diện mạo của một tờ BMĐT hoàn chỉnh như một cấu trúc

mở rộng về không gian cho nhiều đối tượng bạn đọc, dày về thời gian với sự tích lũy nhiều tầng thông tin Một cơ cấu hai chiều giữa tòa soạn và bạn đọc, một tổ hợp thông tin dịch vụ đa dạng đọc, nghe, nhìn phong phú Bởi vậy mà loại hình báo chí này chứa rất nhiều ưu điểm

Thứ nhất, tính đa phương tiện Nhờ tính đa phương tiện mà BMĐT có

khả năng tích hợp ưu việt của các loại hình báo chí khác như tính văn bản, khả năng lưu trữ dưới dạng văn bản của báo in, hình ảnh động và âm thanh của truyền hình, âm thanh của phát thanh Nó cũng khắc phục được tính đơn điệu và tính tĩnh của báo in, cũng như hạn chế trong trật tự tuyến tính thời gian phát sóng của phát thanh và truyền hình Trên BMĐT công chúng có thể đọc, nghe và xem Các yếu tố đồ họa, video clip được sử dụng linh hoạt tạo ra

Trang 26

làm cho BMĐT thực sự phong phú, đa dạng, sinh động và hấp dẫn trong cách truyền tải thông tin

Thứ hai, tính tương tác Đây vốn là hạn chế của các loại hình báo chí

khác nhưng lại là một lợi thế của BMĐT Ở đây, độc giả có thể phản hồi ngay tức thì các ý kiến của mình về bài viết của phóng viên dưới từng bài báo hoặc gửi tới tòa soạn các thông tin, vấn đề mình quan tâm thông qua hệ thống mạng Có thể thấy, không có loại hình báo chí nào hiện nay có thể cạnh tranh với BMĐT về khả năng tương tác Nhiều khi có một bài báo mà có tới hàng trăm ý kiến phản hồi gửi về tòa soạn, trong đó có hàng chục ý kiến được đăng tải và nhiều khi ý kiến phản hồi của độc giả còn dài hơn dung lượng của tác phẩm, mở ra thêm khía cạnh khác cho bài báo, thậm chí được tòa soạn biên tập cấu thành các bài báo độc lập

Lợi thế này cũng được các tòa soạn BMĐT khai thác triệt để để thực hiện các cuộc giao lưu trực tuyến, tư vấn trực tuyến hoặc tổ chức các chuyên trang dành cho bạn đọc cũng tham gia báo (như báo Tuổi trẻ, VnExpress) Chính khả năng tương tác cao của BMĐT đã là một cầu nối kéo công chúng lại gần hơn

Thứ ba, tính thời sự của thông tin Đây là một lợi thế vượt trội khác

của loại hình BMĐT mà các loại hình báo chí khác có mà có thể cạnh tranh Nếu báo in bị giới hạn bởi thời gian in, phát hành báo, báo mới hôm nay chỉ

có thể đăng tải các tin của ngày hôm qua thì BMĐT có thể cập nhật thông tin ban đầu lên mạng, có thể chỉ là tít và một câu thông báo sự kiện, sau đó liên tục cập nhật các thông tin mới

Đối với các sự kiện lớn được công chúng quan tâm, BMĐT có thể tường thuật trực tiếp sự kiện bằng hình ảnh, bằng âm thanh (web TV) kết hợp với chữ viết để độc giả có thể theo dõi thông tin liên tục và đa chiều ngay khi

sự kiện đang diễn ra Phát thanh, truyền hình mặc dù cũng có thể đưa thông tin nóng, nhanh chóng, nhưng lại bị lệ thuộc nhiều vào hệ thống máy móc,

Trang 27

trong khi phóng viên BMĐT có thể tác nghiệp khá linh hoạt, chỉ cần một máy tính kết nối mạng hoặc gọi điện về cho người ở tòa soạn cập nhật, phát tin bài

Ngày nay, với sự hỗ trợ của phương tiện máy móc, phát thanh, truyền hình có thể làm trực tiếp tại hiện trường, nhưng do hạn chế về thời lượng phát sóng nên tốc độ cập nhật thông tin không thể liên tục được như BMĐT, nơi mà phóng viên có thể “tiếp tục cập nhật”, bổ sung thông tin trong từng phút Chính khả năng cập nhật thông tin liên tục của BMĐT giúp cho loại hình báo chí này chiếm ưu thế tuyệt đối về tính thời sự của thông tin, đồng thời phá vỡ tính định

kỳ vốn là một đặc trưng của báo chí Đây cũng là lý do tác giả Phan Anh gọi phóng viên BMĐT là “vừa chạy, vừa xếp hàng” Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc áp lực và tốc độ thông tin của phóng viên BMĐT là rất lớn, vì sự cạnh tranh thông tin giữa các báo có khi chỉ được tính bằng ngày

Bên cạnh các ưu thế trên, BMĐT là loại hình báo chí có khả năng truyền tải thông tin khổng lồ nhất là khi không hạn chế bởi diện tích trang như báo giấy hay thời lượng phát sóng như phát thanh, truyền hình Chính sự không giới hạn về số trang giúp cho BMĐT có thể đăng tải rất nhiều thông tin phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực chuyên biệt đáp ứng nhu cầu tin tức ngày càng lớn của công chúng

Khả năng siêu liên kết, tìm kiếm và lưu trữ thông tin cũng là một lợi thế riêng của BMĐT Chỉ cần một lần bấm chuột và các cụm từ khóa đã được lập dẫn sẵn trong bài báo, độc giả có thể tìm thấy các thông tin khác có liên quan hoặc các bài báo về cùng một vấn đề, một sự kiện Thông thường, với các sự kiện gây được sự chú ý trong xã hội, được dư luận quan tâm, BMĐT sẽ tập hợp thành một chùm bài để công chúng theo dõi Người đọc cũng có thể chủ động tìm đọc các thông tin mà mình cần thông qua hệ thống tra cứu được đặt ngay trên các măng sét của các báo BMĐT là một kho thông tin khổng lồ mà người đọc có thể tra cứu, tìm kiếm dễ dàng Nếu để tìm các bài viết xung quanh một sự kiện trên báo giấy, người ta có thể mất cả tháng để lật lại từng

Trang 28

kiện đó kéo dài từ năm này qua năm khác, thì với BMĐT chỉ cần một nhấp chuột hoặc gõ cụm từ khóa cần tìm kiếm và ấn phím enter

Tuy có nhiều lợi thế nhưng BMĐT cũng có không ít hạn chế

Mặc dù BMĐT có số trang không hạn chế nhưng việc tiếp xúc tin bài của độc giả chỉ bó hẹp trong giao diện màn hình máy tính, vì thế việc đọc thông tin trên máy tính cũng dễ gây mỏi, nhức mắt

Tốc độ thông tin nhanh chóng là một lợi thế nổi trội của BMĐT nhưng

nó cũng đặt ra thách thức về độ tin cậy của thông tin Do khối lượng thông tin đăng tải lớn, yêu cầu về tính thời sự của thông tin cao nên thời gian để kiểm định thông tin khá hạn chế Vì thế, nhiều khi chất lượng thông tin trên BMĐT chưa được cao như mong đợi Thậm chí, nhiều phóng viên, nhà báo lợi dụng chính hạn chế này để cẩu thả trong tác nghiệp Các lỗi diễn đạt hoặc chính tả trên BMĐT nhiều hơn so với báo in

Sau phát thanh, truyền hình, truyền thông điện tử cuốn mọi quốc gia vào vòng xoáy của thời đại thông tin mở Với sự tồn tại trôi nổi trên mạng vô số những website đủ màu sắc, với sự mở rộng mạng Internet đến từng trường học, đến các vùng nông thôn xa xôi, vào tận các gia đình riêng, sự giao lưu thông tin

đã và sẽ “xóa mờ” biên giới giữa các quốc gia, giữa các nền văn hóa và giữa các

xu hướng chính trị Trên thực tế, quyền lực của một tờ báo chính là bạn đọc Bạn đọc càng đông, tác động xã hội càng lớn Từ khuynh hướng xã hội của nó thì tác động ấy có thể tốt nhưng cũng có thể xấu Bản thân độc giả nhiều khi cũng là nạn nhân, bởi đứng trước một khối lượng khổng lồ thông tin trên BMĐT mang nhiều màu sắc, khuynh hướng khác nhau, khiến họ bị rơi vào một mê hồn trận thông tin, không biết chọn lựa cái gì cho mình là tốt nhất

Ngoài ra, BMĐT cũng phải đối diện với một vấn đề rất lớn đó là có thể

bị “biên tập” lại ngay khi đã được ban biên tập chỉnh sửa lại rồi Với tình trạng “hỗn quân, hỗn quan” hiện nay của Internet, điều này khó có thể tránh

Trang 29

khỏi Các hacker có thể tấn công bất cứ một website nào khi họ tìm được lỗi của hệ thống

Như vậy, bên cạnh vai trò tích cực và to lớn của loại hình BMĐT, chúng ta cũng nên nhận diện sâu sắc mặt trái, mặt phức tạp của nó, những thách thức mà nó mang lại, đặc biệt việc gây ra các lỗi văn hóa trong việc sử dụng ngôn ngữ truyền thông đặc trưng của mình

1.3 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử

Tuy BMĐT là một loại hình báo chí mới nhưng sự phát triển quá nhanh chóng của nó đã được Đảng và Nhà nước ta nhìn nhận như một sự thật khách quan trong thời đại bùng nổ thông tin và tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế Chính vì vậy, tuy chưa nhiều và chưa đầy đủ, nhưng những văn bản, quyết định, chính sách của Đảng, Nhà nước đã dần được ban hành, đáp ứng với yêu cầu của BMĐT ở Việt Nam

Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, lãnh đạo báo chí là điều kiện quan trọng để khơi dậy sự nhiệt tình cách mạng, sức sáng tạo, tiềm năng trí tuệ lớn của nhân dân, tổng kết các kinh nghiệm phong phú, sinh động từ thực tiễn để góp phần hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng, thực hiện quá trình “tự giáo dục” của nhân dân

Trên cơ sở nhận thức đó, Đảng luôn đề cao vai trò của hoạt động báo chí, coi báo chí là công cụ sắc bén trong công tác tư tưởng của Đảng, là “lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng và văn hóa” Hiện nay báo chí cũng được đặt vào vị trí xung kích trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dân chủ đời sống xã hội, cổ vũ, phát hiện những nhân tố mới, tích cực trong cuộc sống, giám sát các công trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng và

bộ máy nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế thỏa mãn nhu cầu thông tin, nâng cao dân trí của nhân dân

Trang 30

Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã có sự phát triển tương đối trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có báo chí Hệ thống báo chí của chúng ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, vận hành trong cơ chế thị trường đã có được có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng, ngày càng đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng trong xã hội Nội dung thông tin được đề cập xác thực hơn, đã thu hút được sự quan tâm của công chúng, khiến họ cảm nhận xã hội như là “chuyện của mình” Phương thức thông tin

đa dạng, sinh động, hình thức đẹp, hấp dẫn… Như vậy, trong giai đoạn hiện nay, báo chí của chúng ta đã dần dần tiệm cận được với trình độ báo chí hiện đại trên thế giới

Bắt nguồn từ đường lối toàn diện của Đảng, đường lối chính trị cũng từng bước hoàn thiện, trong đó có sự đổi mới công tác tư tưởng và văn hóa Định hướng tư tưởng và quan điểm báo chí cũng từng bước được đổi mới đáng

kể Từ việc xác định “báo chí là công cụ tư tưởng sắc bén của Đảng” đến quan điểm “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, nhà nước, của các tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân” được coi là một bước phát triển mới của lý luận báo chí cách mạng Từ quan điểm này cho thấy, thông tin báo chí là đa dạng, phong phú nhiều chiều nhưng phải vận hành trong sự quản lý có tính định hướng của Đảng và nhà nước

Một số chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí được nêu rõ trong

Bộ luật Báo chí năm 2016 như sau:

1 Có chiến lược, quy hoạch phát triển và quản lý hệ thống báo chí

2 Đầu tư có trọng tâm, trọng Điểm trong các lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý hoạt động báo chí, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại cho các cơ quan báo chí

3 Đặt hàng báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại, phục vụ thiếu niên, nhi đồng, người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng có Điều kiện kinh tế - xã hội đặc

Trang 31

biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo và các nhiệm

vụ trọng yếu khác phù hợp với từng giai đoạn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

4 Hỗ trợ cước vận chuyển báo chí phục vụ nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn quy định tại Khoản 3 Điều này

Luật Báo chí năm 2016 có kế thừa các luật của những năm về trước và sửa đổi bổ sung một số điều luật đề cập tới vấn đề tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí, tự do tham gia vào quá trình hoạt động báo chí, tự do hưởng thụ sản phẩm báo chí Từ đó, có thể thấy, nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng luôn được chú trọng

Tại Điều 10 Quyền tự do báo chí của công dân

1 Sáng tạo tác phẩm báo chí

2 Cung cấp thông tin cho báo chí

3 Phản hồi thông tin trên báo chí

4 Tiếp cận thông tin báo chí

5 Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí

6 In, phát hành báo in

Điều 11 Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

1 Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới

2 Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

3 Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác

Điều 12 Trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí,

quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Trang 32

1 Đăng, phát kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh và tác phẩm báo chí khác của công dân phù hợp với tôn chỉ, Mục đích và không có nội dung quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 9 của Luật này; trong trường hợp không đăng, phát phải trả lời và nêu rõ lý do khi có yêu cầu

2 Trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có thẩm quyền trả lời bằng văn bản hoặc trả lời trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến

Điều 13 Trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền tự do báo chí,

quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

1 Nhà nước tạo Điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình

2 Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân

3 Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng

1.4 Các hình thức hoạt động phản hồi trên báo mạng điện tử

1.4.1 Sử dụng văn bản và email

Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, thể hiện dưới dạng viết Ngày nay, người ta dùng khái niệm "văn bản cứng" và "văn bản mềm" để phân biệt giữa những nội dung được viết hoặc in với những nội dung được mã hóa bằng ngôn ngữ siêu văn bản Theo nghĩa này, trong hoạt động tương tác giữa công chúng và tờ báo, văn bản cứng có thể là những lá thư tay, bài vở, tư liệu mà công chúng gửi đến tòa soạn thông qua con đường bưu điện, văn thư Mặc dù mang những ưu điểm về tính xác thực như: chứa đựng bút tích của người gửi, các thông tin bưu điện, chữ ký, con dấu, âm thanh, hình ảnh nhưng việc trao đổi thông tin bằng văn bản cứng lại không

Trang 33

đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh chóng Vì vậy, sự ra đời của e-mail đã mang đến những thay đổi quan trọng đối với phương thức tương tác bằng văn bản

E-mail là phương thức tương tác tức thời bằng văn bản trong truyền thông liên cá nhân giữa phóng viên và công chúng Mọi văn bản, tài liệu đều

có thể chụp lại, quét lại, ghi lại dưới dạng âm thanh, hình ảnh để gửi kèm một cách nhanh chóng Địa chỉ email là một thành phần không thể thiếu trong

hồ sơ cá nhân của người sử dụng Internet

Nội dung phản hồi gửi về tòa soạn vô cùng phong phú, đề cập nhiều vấn

đề của đời sống như : Góp ý xây dựng tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; ca ngợi cuộc sống, biểu dương người tốt, việc tốt; phê phán những hiện tượng tiêu cực, trái pháp luật, phê bình báo chí, đơn thư khiếu nại, tâm sự điều oan ức Những vấn đề này có thể do công chúng phát hiện ra, nghĩ ra, hoặc là những vấn đề mà công chúng đang quan tâm mà họ cảm thấy có trách nhiệm phải chia sẻ với công luận Độc giả cũng có thể gửi những tâm sự thầm kín của mình thông qua hình thức này và nhờ tòa soạn hoặc bạn đọc tư vấn, chia sẻ

Khi nhận được thư phản hồi của công chúng bằng văn bản hoặc e-mail, tòa soạn sẽ tiếp nhận, phân loại và xử lý thông tin Thông thường, những phản hồi này sau khi được biên tập, xử lý sẽ được đưa vào các chuyên mục của báo như: Bạn đọc viết, Bạn đọc làm báo, Diễn đàn, Hộp thư tòa soạn, Tâm sự

Trong luận văn của mình, tôi chỉ nghiên cứu hoạt động phản hồi thông tin khi sử dụng hình thức bằng Email được đăng tải trên các trang BMĐT được khảo sát

1.4.2 Qua giao lưu trực tuyến

"Giao lưu trực tuyến là hình thức trao đổi thông tin về một vấn đề nào

đó giữa độc giả với khách mời đến tòa soạn Trao đổi, giao lưu một cách trực tiếp thông qua mạng Internet"

Trang 34

Thông thường, đề tài của giao lưu trực tuyến thường là những vấn đề nổi cộm trong cuộc sống hoặc nhân vật nổi tiếng trong cuộc sống được công chúng quan tâm, muốn tìm hiểu thêm thông tin

Với khả năng tương tác cao, hình thức giao lưu trực tuyến có khả năng đến được công chúng trên phạm vi rộng, công chúng chỉ cần vài thao tác đơn giản để có thể bày tỏ quan điểm cá nhân của mình Chỉ cần một máy tính được kết nối mạng Internet, thậm chí, chỉ cần một điện thoại thông minh, công chúng ở khắp mọi nơi có thể tham gia vào chương trình giao lưu với các khách mời

Xét ở một khía cạnh nào đó, hình thức phản hồi của công chúng thông qua giao lưu trực tuyến gần giống với phương thức 1 Tức là độc giả có thể gửi văn bản hoặc e-mail để tham gia giao lưu trực tuyến Ngoài ra, công chúng có thể gọi điện trực tiếp đến tòa soạn để gửi câu hỏi

Tham gia phản hồi thông qua giao lưu trực tuyến, công chúng có thể thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình một cách trực tiếp và đầy đủ Thông qua chương trình giao lưu trực tuyến, công chúng sẽ chủ động hỏi các vị khách mời những vướng mắc của mình để họ giải đáp Lúc này, độc giả sẽ giữ vai trò như người đi “phỏng vấn” gián tiếp và có quyền hỏi những vấn đề mình quan tâm

Đối với báo in, để giao lưu, bạn đọc phải gửi thư đến tòa soạn rồi chờ ban bạn đọc trả lời Đối với phát thanh và truyền hình thì công chúng có thể theo dõi và đối thoại trực tiếp với khách mời, tuy nhiên, họ lại phải chịu sức

ép về thời gian cũng như sức ép tâm lý BMĐT khắc phục được điểm này Trước khi cuộc giao lưu trực tuyến diễn ra, tòa soạn sẽ giới thiệu nội dung, khách mời trước vài ngày Do đó, công chúng có thời gian suy nghĩ và chuẩn

bị câu hỏi gửi về tòa soạn Những người tham gia cuộc giao lưu chỉ cần ngồi ngay tại nhà, gửi câu hỏi tới tòa soạn chỉ qua một cú nhấp chuột Họ có thể tự

Trang 35

do đặt một hoặc nhiều câu hỏi mà không hề chịu sức ép nào về tâm lý, về thời gian, về không gian

1.4.3 Qua chuỗi phản hồi tức thời

Chuỗi phản hồi tức thời, hay truyền thông theo chuỗi phản ứng hình thành

từ các cuộc trao đổi trực tiếp đồng bộ theo mọi chủ đề và nội dung Thông thường, dưới mỗi bài viết thường có phần ý kiến phản hồi của công chúng

Hiện nay, hình thức gửi phản hồi thông qua chuỗi phản hồi tức thời khá phổ biến trên các trang BMĐT Dưới bất kì tin, bài nào cũng có phần "Ý kiến bạn đọc" hoặc "Gửi bình luận" Bạn đọc có thể phát biểu ý kiến, nêu lên suy nghĩ của mình chỉ với thao tác đơn giản là nháy chuột vào ô "Gửi phản hồi"

Họ có thể phản hồi nêu quan điểm các nhân trước vấn đề được nêu trong bài phản hồi với tác giả bài viết hoặc phản hồi với công chúng khác

Tòa soạn yêu cầu công chúng cung cấp một số thông tin cá nhân trước khi để lại nội dung phản hồi Sau khi được biên tập, phản hồi sẽ xuất hiện ngay dưới mỗi bài viết, tạo thành chuỗi bình luận, chia sẻ của công chúng đối với vấn đề được đề cập trong bài

Ở hình thức phản hồi này, công chúng có thể tự do thể hiện quan điểm

cá nhân dĩ nhiên, phải tuân thủ các nguyên tắc chung của tòa soạn

1.4.4 Qua bình chọn trực tuyến

Đây cũng là hình thức khá phổ biến trên BMĐT hiện nay Nhờ một bảng câu hỏi gồm nhiều câu trả lời sẵn, chỉ cần một cú "click" công chúng có thể bỏ phiếu thể hiện quan điểm của mình

Trưng cầu ý kiến trên Vietnamnet, hình thức này xuất phát từ phương pháp điều tra xã hội học bằng anket: Đây là phương pháp người ta chỉ sử dụng một bảng câu hỏi đã được quy chuẩn dùng để hỏi chung cho tất cả

những người nằm trong mẫu điều tra (theo một thể thức nhất định nào đấy)"

Thông thường những cuộc điều tra xã hội học sử dụng phương pháp

Trang 36

câu hỏi khoa học, phù hợp Tuy nhiên, hình thức này khi xuất hiện trên BMĐT dưới dạng Thăm dò/ Trưng cầu ý kiến thường chỉ gồm một câu hỏi

và luôn luôn là câu hỏi đóng Những câu hỏi này đã có sẵn các phương án trả lời, công chúng chỉ cần tích vào ô lựa chọn để bày tỏ thái độ, tình cảm của mình trước vấn đề được nêu Vì vậy, thông tin thống kê thu được mang tính chất giải trí, thời sự, chỉ đáp ứng một nhu cầu nhất định mà không mang tính chất đại diện như trong điều tra xã hội học

Ở hình thức này, công chúng có thể dễ dàng tham gia phản hồi mà không tốn nhiều thời gian Thậm chí, sau khi bỏ phiếu tham gia, công chúng chỉ cần nhấp chuột vào ô "Xem kết quả" thì ngay lập tức biết được kết quả trưng cầu ý kiến Tuy nhiên, hạn chế của hình thức này là công chúng không thể bày tỏ hết những quan điểm của mình về vấn đề được nêu Đôi khi, họ băn khoăn lựa chọn giữa nhiều phương án trả lời vì không hoàn toàn nghiêng về ý kiến nào hoặc muốn bày tỏ chính kiến nhưng không được thể hiện

Thăm dò ý kiến là mục xuất hiện ở nhiều trang (Văn hóa, Xã hội ) khi một vấn đề gì đó xuất hiện mà tòa soạn muốn trưng cầu ý kiến của đông đảo bạn đọc Đề tài ở hình thức này cũng khá phong phú, thông thường khi có một vấn đề nóng, một vấn đề đang gây tranh cãi hoặc cần trưng cầu ý kiến, BMĐT tổ chức hình thức này để thăm dò, lôi kéo sự tham

dự và theo dõi của công chúng

1.5 Công chúng với vai trò là chủ thể trong việc phản hồi thông tin

trên báo mạng điện tử

1.5.1 Khái niệm công chúng BMĐT

Theo Từ điển Tiếng Việt “Công chúng: đông đảo người đọc, nghe, xem trong quan hệ với tác giả [33]

Trong truyền thông “Công chúng nói chung có thể được hiểu là những

Trang 37

tác động” Đây là một thực tế rất phức tạp bao gồm nhiều nhóm, nhiều giới, nhiều tầng lớp và giai cấp xã hội khác nhau

Như vậy, công chúng BMĐT là những người tiếp nhận, sử dụng thông tin của BMĐT

Công chúng BMĐT có những đặc trưng riêng như: Là những người có trình độ về công nghệ, có điều kiện sử dụng công nghệ hiện đại, khả năng nhận biết thông tin, có nhu cầu tìm hiểu thông tin cao

1.5.2 Vai trò của công chúng trong việc phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử

1.5.1.1 Công chúng phản hồi thông tin báo mạng điện tử là khách thể tiếp nhận thông tin

Khách thể hay còn được hiểu là đối tượng hướng đến, đối tượng tác động Khách thể chính là đối tượng của hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn của chủ thể

Khách thể tiếp nhận thông tin trong báo chí chính là những người tiếp nhận, đón đọc các thông tin báo chí Khách thể tiếp nhận thông tin trong báo chí hay còn gọi là công chúng có vai trò lớn trong toàn bộ chu trình truyền thông thông tin Mục đích của quá trình truyền thông là làm thay đổi, nâng cao nhận thức của công chúng, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi phù hợp với nhu cầu phát triển bền vững

Hơn thế nữa, khi tìm hiểu đúng khách thể tiếp nhận thông tin muốn gì, cần gì thì các cơ quan báo chí mới có thể đáp ứng được một cách chính xác, như thế mới có thể thuyết phục công chúng, lôi kéo họ nhanh chóng và giữ chân được họ lâu hơn

Cũng như các loại hình báo chí khác, công chúng BMĐT chính là khách thể tiếp nhận thông tin Điều này có nghĩa là công chúng chính là đối tượng mà tòa soạn báo hướng đến để phục vụ cung cấp thông tin Một tờ báo

Trang 38

nó, đón đọc nó Chính vì thế, công chúng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các loại hình báo chí nói chung, báo mạng điện tử nói riêng

1.5.1.2 Công chúng báo mạng điện tử là chủ thể phản hồi thông tin, cung cấp thông tin

Công chúng chính là nguồn tin Cuộc sống luôn thay đổi, chứa đựng trong đó nhiều sự kiện, hiện tượng cần phản ánh trong khi số lượng người làm báo lại có hạn Không phải lúc nào nhà báo cũng có mặt để chứng kiến mọi sự vật hiện tượng xảy ra Hàng trăm nghìn con mắt của công chúng sẽ giúp họ làm điều đó

Với các loại hình báo chí khác, công việc thu thập thông tin có phần hơi phức tạp Nhưng với BMĐT chỉ với chiếc điện thoại cầm tay có đủ các chức năng quay phim, chụp ảnh, ghi âm, nối mạng Internet… công chúng có thể ghi lại những sự việc có tính chất xã hội và cung cấp cho cơ quan báo chí Các diễn đàn bạn đọc, hộp thư trực tuyến… trên các trang BMĐT hiện nay đang là nơi để công chúng thỏa sức viết lách, cung cấp các thông tin

1.5.1.3 Công chúng phản hồi thông tin báo mạng điện tử là cầu nối giữa người làm báo và nguồn tin

Không chỉ đóng vai trò là đối tượng tiếp nhận, nguồn tin, trong BMĐT vai trò của công chúng còn được đề cập tới như là chiếc cầu nối giữa người làm báo với nguồn tin

Chứng kiến sự việc, họ sẽ là người cung cấp các chi tiết cần thiết trong

sự kiện, hiện tượng Việc cung cấp thông tin này có thể được thực hiện trực tiếp hoặc qua email, điện thoại…

Mặt khác, xuất phát từ những thông tin ban đầu mà công chúng cung cấp, nhà báo có thể có những ý tưởng cho các bài viết tiếp theo của mình

Về việc trên một mặt có tác dụng cảnh báo về sự sai phạm, thiếu trách nhiệm của những người thực hiện chương trình khi không xác minh về mức

Trang 39

đề cao vai trò của công chúng trong việc phát hiện thông tin, cung cấp để người làm báo tìm ra chân tướng của sự việc

Phản hồi nói chung và phản hồi trên BMĐT nói riêng được xem như một mảnh đất để công chúng nói lên suy nghĩ, phản ánh các vấn đề bức xúc của mình một cách bình đẳng Chính tại các diễn đàn trên BMĐT, các hộp thư trực tuyến,… vai trò khởi xướng thông tin của công chúng được phát huy rất

rõ ràng

Hiện nay, ở tất cả các trang BMĐT, tòa soạn báo đều xây dựng một chuyên mục dưới cái tên “Bạn đọc viết”, “Tâm sự” … Ở các chuyên mục này vai trò khởi xướng thông tin của công chúng được phát huy một cách rõ ràng nhất Tại các chuyên mục này có thể bắt gặp các bài viết, các ý kiến của công chúng phát biểu về những vấn đề hàng ngày của họ

Khi có một vấn đề cần chia sẻ, trao đổi với những người quan tâm, công chúng có thể trực tiếp viết ý kiến của mình sau đó gửi đến email của tòa soạn BMĐT Tại đây người phụ trách việc tương tác với bạn đọc sẽ biên tập

để bài viết đó hoàn chỉnh hơn Tuy nhiên, quá trình biên tập phải luôn đảm bảo những quy định về một tác phẩm báo chí, khách quan, trung thực và đặc biệt vì đây là diễn đàn bạn đọc nên vẫn phải giữ được cái tôi cá nhân của tác giả trong mỗi bài viết Các ý kiến sau khi được biên tập sẽ được đăng tải Như vậy, với diễn đàn bạn đọc viết, vai trò khởi xướng thông tin của công chúng được thể hiện một cách rất rõ nét

1.5.1.4 Công chúng phản hồi thông tin trên BMĐT có vai trò bổ sung, xác nhận thông tin

Không chỉ là người khởi xướng thông tin, công chúng BMĐT còn là một bộ phận quan trọng giúp bổ sung, xác nhận thông tin cho bài viết của phóng viên Điều này được thể hiện rất rõ trên tất cả các hình thức của BMĐT Nó vừa phù hợp với tính chất trao đổi thông tin của báo mạng, vừa

Trang 40

nghiệp có cao đến đâu, có tìm hiểu vấn đề kỹ lưỡng đến đâu thì đôi khi vẫn khó tránh khỏi sai sót hoặc bỏ sót một vài chi tiết Lúc này chỉ những người trong cuộc, những người mắt thấy tai nghe sự kiện, hiện tượng xảy ra mới có thể nhận thấy và cung cấp cho bài viết đó

Với chuyên mục bạn đọc viết, khi độc giả phản ánh về một sự việc, hiện tượng nào đó xảy ra, bài viết của họ được đăng tải và được sự đón nhận của nhiều công chúng khác Với những người cùng quan tâm đến vấn đề đó, sau khi đọc họ sẽ đưa ra các thông tin đồng tình hay phản đối để xác nhận thông tin mà tác giả đưa ra

Đối với diễn đàn tòa soạn, dù ở hình thức thăm dò ý kiến, đóng góp ý kiến thì vai trò bổ sung, xác nhận thông tin của công chúng cũng rất rõ ràng Công chúng sau khi đọc bài viết mà phóng viên đưa ra cũng sẽ đóng góp các

ý kiến của mình Ý kiến đó có thể là bổ sung thêm các chi tiết, tình tiết có thể

ở trong cùng một sự kiện, sự việc, mà cũng có thể là tình tiết, chi tiết về các

sự việc liên quan để tạo thành các vấn đề, đề tài lớn hơn

1.5.1.5 Công chúng phản hồi thông tin trên báo mạng điện tử góp phần nâng cao tính năng đa phương tiện của báo mạng điện tử

Các ý kiến đóng góp của công chúng thường được thực hiện dưới dạng các bài viết, các đoạn ý kiến ngắn Các ý kiến này trải qua ít nhất hai lần biên tập (của chính người viết và người biên tập của tòa soạn báo) nên xét về nội dung và hình thức của tác phẩm báo chí nó hoàn toàn có đủ điều kiện để đăng tải

Ngoài phần nội dung chữ viết, nhiều bài viết của độc giả trên diễn đàn còn được xây dựng theo hình thức tác phẩm ảnh, tức là có cả phần nội dung phản ánh kèm theo nhiều ảnh minh họa cho vấn đề được phản ánh ở nội dung Dưới mỗi bức ảnh người thực hiện còn ghi chú cụ thể, bình luận nội dung bức ảnh rõ ràng để các bức hình này đảm bảo là những bức ảnh báo chí thực sự

Hiện nay, việc sử dụng các video clip (đoạn hình ảnh động) trên các

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Tạ Minh (2007), Giáo trình xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học đại cương
Tác giả: Tạ Minh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
17. Đỗ Chí Nghĩa, Đinh Thị Thu Hằng, (2014) Báo chí và mạng xã hội, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và mạng xã hội
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
19. Trần Quang, (2007), Các thể loại chính luận báo chí, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại chính luận báo chí
Tác giả: Trần Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
20. Trần Hữu Quang (2001), Chân dung công chúng truyền thông, Nxb TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung công chúng truyền thông
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: Nxb TP HCM
Năm: 2001
21. Phạm Khánh Sơn (2004), Phương thức hoạt động của tòa soạn BMĐT, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Báo chí & Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức hoạt động của tòa soạn BMĐT
Tác giả: Phạm Khánh Sơn
Năm: 2004
22. Phan Xuân Sơn (2011), Thách thức và cơ hội dành cho báo mạng điện tử”, Tạp chí Người làm báo số 4/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức và cơ hội dành cho báo mạng điện tử”
Tác giả: Phan Xuân Sơn
Năm: 2011
23. Tạ Ngọc Tấn (1999), Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ lý luận đến thực tiễn báo chí
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
24. Tạ Ngọc Tấn (1992), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Thông tin, Hà Nội 25. Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí", Nxb Thông tin, Hà Nội 25. Tạ Ngọc Tấn (2001), "Truyền thông đại chúng
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn (1992), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Thông tin, Hà Nội 25. Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: Nxb Thông tin
Năm: 2001
28. Bùi Đức Thịnh (1999), Từ điển Tiếng việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng việt
Tác giả: Bùi Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
29. Nguyễn Thị Thoa, (2007), Tổ chức và quản lý báo mạng điện tử ở Việt Nam, Đề tài khoa học Trọng điểm, Học viện BC&TT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và quản lý báo mạng điện tử ở Việt Nam, Đề tài khoa học Trọng điểm
Tác giả: Nguyễn Thị Thoa
Năm: 2007
30. Nguyễn Anh Tuấn (2002), Báo Internet ở nước ta: Kết quả bước đầu và hai yêu cầu bức thiết nhất, Tạp chí Người làm báo, số tháng 10/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Internet ở nước ta: Kết quả bước đầu và hai yêu cầu bức thiết nhất
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
Năm: 2002
31. Nguyễn Như Ý, (Chủ biên), (1998), Đại từ điển Tiếng việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý, (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
32. Viện ngôn ngữ học, (2004), Từ điển Tiếng việt, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, Hà Nội- Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học
Năm: 2004
34. Vụ Báo chí, Ban Tư tưởng Văn hóa Thông tin, (2002), Tăng cường lãnh đạo quản lý báo chí điện tử, Internet yêu cầu bức xúc đang ra hiện nay, Hội nghị tại ban tư tưởng văn hóa trung ương ngày 18/09/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường lãnh đạo quản lý báo chí điện tử, Internet yêu cầu bức xúc đang ra hiện nay
Tác giả: Vụ Báo chí, Ban Tư tưởng Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
35. GS. TS Nguyễn Như Ý (Chủ biên - 2008), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.Các website và sách tiếng nước ngoài 33. Báo Dân trí: http://dantri.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Các website và sách tiếng nước ngoài 33. Báo Dân trí: http://dantri.com.vn/
39. V.I.Lenin (1972), Về công tác báo chí, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác báo chí
Tác giả: V.I.Lenin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1972
40. Claudia Mast (2003), Truyền thông đại chúng, Nxb Thông tấn, Hà Nội 41. Granford Killiau (1999), Writing for the web – Viết cho web, Vũ Thị Minh Nguyệt dịch. NXB Self – Counsel Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng," Nxb Thông tấn, Hà Nội 41. Granford Killiau (1999), "Writing for the web – Viết cho web
Tác giả: Claudia Mast (2003), Truyền thông đại chúng, Nxb Thông tấn, Hà Nội 41. Granford Killiau
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 1999
42. Mike Ward (2004), Journalisme Online – Báo trực tuyến, Vũ Tuấn Anh dịch. NXB Focal Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journalisme Online – Báo trực tuyến
Tác giả: Mike Ward
Nhà XB: NXB Focal Press
Năm: 2004
36. Báo Nhân dân Online: http://www.nhandan.com.vn/ Link
37. Trang tìm kiếm Google: https://www.google.com.vn/ Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w