1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh bắc giang hiện nay

100 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 902,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ ra: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối củ

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ ĐỨC TÁM

CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ

Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ ĐỨC TÁM

CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ

Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY

Ngành: Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

Mã số: 8 31 02 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Dương Trung Ý

HÀ NỘI – 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC CHỈNH SỬA THEO KHUYẾN NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS Trương Ngọc Nam

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và nội dung trong luận văn là trung thực, khách quan dựa trên cơ

sở kết quả thu thập các thông tin, tài liệu nghiên cứu thực tế và các tài liệu tham khảo đã công bố

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Đức Tám

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ - CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1 Cấp xã và đội ngũ công chức cấp xã 11

1.2 Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã - khái niệm, tiêu chí đánh giá 20 Chương 2: CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 37

2.1 Các yếu tố tác động đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Bắc Giang 37

2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Bắc Giang 44

2.3 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra 57

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH BẮC GIANG THỜI GIAN TỚI 63

3.1 Dự báo những thuận lợi, khó khăn tác động đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang 63

3.2 Phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang thời gian tới 66

3.3 Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang 69

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 88

TÓM TẮT LUẬN VĂN 95

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử Một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng làm nên thắng lợi đó là nhờ Đảng ta đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng qua các thời kỳ Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nêu lên những quan điểm, tư tưởng của mình về vai trò của đội ngũ cán bộ, những người dẫn dắt phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Người khẳng định: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [43, tr.240-269] Thực hiện lời dạy của Người và trước yêu cầu thực tiễn của

sự nghiệp đổi mới, cải cách hành chính đất nước hiện nay đòi hỏi phải có đội ngũ công chức nói chung, công chức xã, phường, thị trấn (gọi chung là công chức cấp xã) nói riêng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cả về phẩm chất, năng lực,

và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác

Công chức cấp xã là lực lượng tiếp xúc trực tiếp, gần nhất với nhân dân, tiếp thu và phản ánh những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân tới cấp có thẩm quyền, là cầu nối giữa nhân dân địa phương với Đảng, Nhà nước Chính

vì vậy, những chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước có đến được tay nhân dân hay không đều gắn với trách nhiệm thực hiện công việc của đội ngũ công chức cơ sở này Việc lựa chọn người có đủ tiêu chuẩn, thật sự có tâm và

bố trí, sắp xếp, sử dụng đội ngũ công chức cấp xã có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, chất lượng đội ngũ công chức chính quyền cấp xã là nhân tố then chốt trong xây dựng hệ thống chính quyền

cơ sở vững mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy "Cấp xã là gần gũi dân nhất,

Trang 7

là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi" [44, tr.371] Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ ra: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở ” [28, tr.167-168] Kết luận số 37-KL/TW của Hội nghị Trung ương 9 (khoá X) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020 đề ra mục tiêu là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới [29, tr.42] v.v

Bắc Giang là tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, có 09 huyện và 01 thành phố; 230 xã, phường, thị trấn Dân số của tỉnh gần 1,7 triệu người, với trên 20 dân tộc Đảng bộ tỉnh có 15 đảng bộ trực thuộc; 738 chi, đảng bộ cơ sở; 4.622 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, với 80.761 đảng viên; tổng số công chức cấp xã hiện có 2.665 người Trong những năm qua, Tỉnh

ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã

“vừa hồng, vừa chuyên”, quan tâm tuyển dụng, đào tạo đội ngũ công chức

đảm bảo các tiêu chuẩn Chất lượng đội ngũ công chức đã từng bước được củng cố, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu công tác trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tuy nhiên, thực tế cho thấy đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Bắc Giang vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước trong tình hình mới như: Cơ cấu độ tuổi đội ngũ công chức cơ sở chưa đảm bảo, tỷ

lệ tuổi trẻ, nữ thấp; trình độ, năng lực công tác chưa đồng đều; kinh nghiệm

Trang 8

thực tiễn, kỹ năng xử lý tình huống, giải quyết các vụ việc chưa khoa học, hợp lý; một số công chức thiếu gương mẫu trong giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống và tinh thần trách nhiệm trong công việc; tính chủ động, sáng tạo và năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ có mặt chưa đáp ứng yêu cầu v.v…

Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Bắc Giang, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh thời gian tới là hết sức cần thiết Với ý nghĩa

đó, tác giả chọn vấn đề “Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc

Giang hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và

Chính quyền nhà nước

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và chất lượng đội ngũ công chức cấp xã nói riêng đã được nhiều chuyên gia, nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như sau:

* Các sách đã xuất bản:

- PGS.TS Bùi Tiến Qúy: “Một số vấn đề tổ chức và hoạt động của

chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta”, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2000 Tác giả đã đưa ra các vấn đề trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, những mặt tồn tại, hạn chế, nguyên nhân

và hướng đến biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt dộng của chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay

- PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm: “Luận cứ

khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị quốc

gia, 2003 Các tác giả đã trình bày khái niệm, lý giải các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và đưa ra những kiến

Trang 9

nghị về phương hướng giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu

- TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông chủ biên: “Thực hiện quy

chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta”, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2003 Các tác giả đã làm rõ các khái niệm, lý giải các căn cứ khoa học của quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền ở các nước trên thế giới và cụ thế hóa việc thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta

- Trần Đình Hoan: “Đánh giá quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo,

quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2009 Cuốn sách đã góp phần làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng để từ đó đề

ra các giải pháp hiệu quả hiệu quả cho công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương, “Cơ sở lý luận và thực

tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2005 Công trình nghiên cứu nêu lên những vấn đề cơ bản cần phải đổi mới đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình hiện nay Các tác giả đã đánh giá sâu sắc và sát thực tế những vấn đề lớn đang đặt ra đối với cán

bộ, công chức

* Luận án Tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ:

- Phạm Công Khâm (2002), luận án tiến sĩ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ

cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” Luận án đã chỉ

ra thực trạng đội ngũ cán bộ cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long đồng thời đưa ra giải pháp chủ yếu để xây dựng đội ngũ này trong thời gian tới

Trang 10

- Mai Đức Ngọc (2007), luận án tiến sĩ: “Vai trò cán bộ lãnh đạo chủ

chốt cấp xã trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay” (qua thực tế vùng đồng bằng Sông Hồng) Tác giả đã làm rõ vai trò

của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn, đồng thời đưa ra giải pháp để nâng cao vài trò của đội ngũ này, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

- Trần Thanh Nhàn (2014), luận án tiến sĩ, “Quy hoạch đội ngũ cán bộ

thuộc diện Ban Thường vụ tỉnh, thành ủy quản lý ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” Luận án đã chỉ ra những vấn lý luận và thực tiễn liên quan đến quy

hoạch đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh, thành ủy quản lý ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân và đưa ra phương hướng giải pháp khắc phục

- Đỗ Thị Thanh Huyền (2013), luận văn thạc sĩ, “Quản lý đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên hiện nay” Tác giả đã

đưa ra một số khái niệm chung về quản lý đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã; thực trạng quản lý và những vấn đề đặt ra trong quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Văn Giang …Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những mục tiêu, phương hướng và giải pháp nhằm quản lý tốt đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

- Nguyễn Hữu Thắng (2015), luận văn thạc sĩ, “Đảng bộ tỉnh Bắc

Giang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2014” Tác giả đã đưa ra một số khái niệm và những nhân

tố tác động đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Bắc Giang; quá trình vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đáp ứng yêu cầu đổi mới; rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Bắc Giang hiện nay

Trang 11

- Lò Văn Hương (2015), luận văn thạc sĩ, “Chất lượng cán bộ, công

chức cấp xã ở tỉnh Lai Châu hiện nay” Tác giả đã đưa ra một số khái niệm

chung về chất lượng cán bộ, công chức cấp xã; thực trạng chất lượng và những vấn đề đặt ra trong việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã

ở tỉnh Lai Châu… Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những mục tiêu, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở ở tỉnh Lai Châu

- Lý Thị Huệ (2017), luận văn thạc sĩ, “Chất lượng đội ngũ công chức

các phường ở Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội hiện nay” Tác giả đã đưa

ra một số khái niệm chung, quan niệm về chất lượng ngũ công chức các

phường; các yếu tố ảnh hưởng; thực trạng chất lượng, chỉ ra những hạn chế và

nguyên nhân Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những mục tiêu, quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức các phường ở quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

* Các bài báo, tạp chí:

- Hoài Nhân, “Nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở: những vấn đề lý luận

và thực tiễn”,Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 12, 2002, tr.39, 52 Tác giả nêu

lên số liệu thống kê của tỉnh Bình Dương về trình độ mọi mặt của đội ngũ cán

bộ cơ sở, chỉ ra những bất cập cần khắc phục và những trăn trở, băn khăn của đội ngũ cán bộ cơ sở trước những thực trạng đáng báo động về tình hình hoạt động và chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở

- Lê Đức Bình, “Vấn đề cán bộ ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, Báo

Nhân dân,tháng 7-2002, tr.3 Trong bài báo, tác giả khẳng định cán bộ cơ sở

là hạt nhân, là lực lượng nòng cốt của hệ thống chính trị ở cơ sở Tuy nhiên,

do nhận thức chưa đầy đủ vị trí, vai trò của cán bộ cơ sở, nên các cấp uỷ đảng, chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến công tác cán bộ ở cơ sở Từ đó, tác

Trang 12

giả cho rằng, cần giáo dục cán bộ về đạo đức cách mạng, kiến thức, năng lực thực tiễn; để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới

- Hoàng Chí Bảo, “Quan điểm và giải pháp để củng cố và tăng cường

hệ thống chính trị ở cơ sở”, Tạp chí Dân vận, số 1+2-2002, tr.16-18 Tác giả

trình bày hai phần lớn: Quan điểm chỉ đạo nhằm củng cố, tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở; những giả pháp cấp bách tập trung chủ yếu vào lĩnh vực chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn) Tác giả coi đây là lĩnh vực có nhiều tình huống phức tạp hơn cả và là khâu đột phá

- Nguyễn Thị Hồng Hải, “Một số vấn đề về phát triển năng lực của cán

bộ, công chức”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 1, 2011 Tác giả đã tập trung

làm rõ lý luận về năng lực, cơ sở hình thành năng lực của cán bộ, công chức Tác giả khẳng định công chức không chỉ cần đến năng lực hiện tại mà phải xác định những năng lực cần được lĩnh hội trong tương lai để đáp ứng yêu cầu công việc ngày một cao hơn Tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp phát triển năng lực phù hợp với môi trường hành chính nhà nước

- Nguyễn Tiến Trung, “Tiếp tục xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ

cán bộ, công chức nhà nước giai đoạn 2011-2020”, Tạp chí Tổ chức nhà nước

số tháng 4/2011 Bài viết khẳng định tầm quan trọng của của việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này

- Ngô Thành Can, “Chất lượng thực thi công vụ - vấn đề then chốt của

cải cách hành chính” Nội san khoa Tổ chức và quản lý nhân sự - Học viện

Hành chính, số 12, 2012 Tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc làm sáng tỏ lý luận về công vụ và trách nhiệm công vụ Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức như đổi mới quy trình tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức có cạnh tranh, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng

Trang 13

- Trần Thị Hạnh, “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từ

sau Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và một số kiến nghị”, Tạp chí Cộng sản

ngày 03/7/2015 Bài viết chủ yếu đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và qua đó đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX, ngày 18/3/2002, “Về đổi mới và nâng cao chất lượng

hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhằm đạt được mục tiêu như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đã đề ra

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những góc

độ khác nhau về công tác cán bộ nói chung và chất lượng cán bộ, công chức nói riêng cả về lý luận và thực tiễn Những đề tài trên là tài liệu có ý nghĩa tham khảo rất có giá trị khi nghiên cứu về chất lượng công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay chưa có luận văn, luận án nào nghiên cứu về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang hiện nay Vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài này trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, khoa học các công trình đã công bố nhằm góp phần nhỏ của mình trong việc đánh giá, nhận định, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Bắc giang trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, luận văn đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể:

Một là, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về chất lượng đội ngũ công

chức cấp xã

Trang 14

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ công chức

cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong những năm qua, chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng, những vấn đề đặt ra từ thực tiễn

Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đội

ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đề tài nghiên cứu chất lượng đội ngũ công chức cấp

xã thuộc tỉnh Bắc Giang hiện nay

Về thời gian: từ năm 2013 đến nay (2017), đề xuất giải pháp cho thời gian tới

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về cán bộ, công chức

và chất lượng đội ngũ công chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở

5.2 Cơ sở thực tiễn

Cơ sở thực tiễn là chất lượng và hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang Luận văn có sử dụng báo cáo tổng kết năm, nhiệm kỳ, đề án của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nội vụ và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh; một số kết quả điều tra xã hội học của Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn

Trang 15

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: lôgic - lịch sử; so sánh - đối chiếu; phân tích - tổng hợp; chọn điểm nghiên cứu; nghiên cứu tài liệu, tổng kết thực tiễn

6 Đóng góp về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

6.1 Đóng góp về khoa học

Một là, luận văn góp phần làm rõ một số quan điểm lý luận về chất

lượng đội ngũ công chức cấp xã; làm rõ khái niệm và đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã; làm rõ khái niệm và tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức ở tỉnh Bắc Giang

Hai là, dựa trên phân tích thực tế, đề tài chỉ ra những ưu điểm, hạn chế

và nguyên nhân về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Bắc Giang; trên cơ sở đó luận văn đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho cấp ủy, chính quyền các cấp của tỉnh Bắc Giang trong việc lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã hiện nay và những năm tiếp theo Bên cạnh đó, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thành phố và Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương, 08 tiết

Trang 16

Chương 1 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ - CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Cấp xã và đội ngũ công chức cấp xã

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của cấp xã

1.1.1.1 Khái niệm cấp xã, đặc điểm cấp xã

Trong hệ thống hành chính nước ta, xã - phường - thị trấn (gọi chung là cấp xã) là cấp cơ sở thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp bao gồm: Trung ương - tỉnh - huyện - xã Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đối với cấp xã Cùng với việc hoàn thiện thể chế, chính sách đãi ngộ và đầu tư cơ sở vật chất, Đảng

và Nhà nước luôn chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực của đội ngũ công chức cấp xã

Cấp xã là cấp gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa hệ thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hằng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân Cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư

Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu khái niệm: Cấp xã là cấp

hành chính - lãnh thổ cơ sở, thấp nhất trong hệ thống hành chính 4 cấp của Nhà nước ta, gồm các đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn Đây là cấp hành chính nền tảng, có vai trò rất quan trọng cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh của cả nước; là địa bàn sinh sống và lao động, sản xuất của tất cả mọi người dân; nơi diễn ra các hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Trang 17

Cấp xã có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Một là, cấp xã có Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở

địa phương và Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Vì thế, cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ

sở, là cầu nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hàng ngày của nhân dân

Hai là, cấp xã khác với Trung ương, tỉnh, huyện là tổ chức bộ máy cấp

xã chỉ bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước là Hội đồng nhân dân, cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương và Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, không có các cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân

Ba là, cấp xã là nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân; đội ngũ công chức

cấp xã là người hàng ngày trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến mọi quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân đảm bảo theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp luật của cấp trên Ủy ban nhân dân còn có trách nhiệm quản lý mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương cho nên trong hoạt động mang nhiều tính chất hành chính địa phương

Bốn là, trong hoạt động của cấp xã, giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban

nhân dân có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về thẩm quyền, trong đó Ủy ban nhân dân có ưu thế vượt trội: Cấp xã là một cấp chính quyền cơ sở, bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở; Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân tổ chức thực hiện Theo Điều 32, Luật tổ chức chính quyền địa phương (2015): “Hội đồng nhân dân xã gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở xã bầu ra;

Trang 18

Thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân (hoạt động chuyên trách); Hội đồng nhân dân xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội, các ban có Trưởng ban

và 01 Phó trưởng ban và các ủy viên (hoạt động kiêm nhiệm)” Đối với cấp tỉnh và cấp huyện: “Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân (hoạt động chuyên trách)” Với cơ cấu tổ chức như trên, các ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

và cấp huyện có khả năng soạn thảo các nghị quyết, thực hiện chức năng quyết định các biện pháp, chủ trương về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện Trong khi đó, ở cấp xã các ban của Hội đồng nhân dân hoạt động kiêm nhiệm, việc chuẩn bị các kỳ họp dựa vào bộ máy của Ủy ban nhân dân và mỗi năm họp thường kỳ 2 lần Vì vậy, hoạt động của Ủy ban nhân dân có ưu thế vượt trội hơn

Năm là, các đơn vị hành chính cấp xã, được hình thành trên nền tảng

những địa điểm quần cư, nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất Mọi vấn đề của địa phương đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước, dân cư và giữa dân cư với nhau

1.1.1.2 Vị trí, vai trò của cấp xã

Trong hệ thống hành chính bốn cấp ở nước ta, xã, phường, thị trấn là đơn

vị hành chính cấp cơ sở, có vai trò là nền tảng vững chắc của hệ thống đó Đây là cấp giữ vị trí hết sức quan trọng; là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân sinh sống, nơi trực tiếp diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội Đồng thời,

xã, phường, thị trấn còn là nơi vận động quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm

vụ cấp trên giao; phát huy sức mạnh đại đoàn kết và quyền làm chủ của nhân dân Xã, phường, thị trấn là một hình ảnh của một xã hội thu nhỏ Thông qua

hệ thống chính trị, xã, phường, thị trấn, các cấp ủy và chính quyền cơ sở kịp

Trang 19

thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân phản ảnh với Đảng và Nhà nước, tạo nên cầu nối mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong lãnh đạo, quản lý nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh

tế - xã hội ở địa phương Bên cạnh đó, đây là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, từ đó đóng góp những kinh nghiệm quý báu, phát hiện, đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật phù hợp với điều kiện khách quan của mỗi giai đoạn cách mạng và tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của quần chúng nhân dân

Cấp xã là cấp gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa hệ thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân Cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư

Chính vì vậy, nói về vị trí, vai trò của cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tản của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [43, tr.371]

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về

cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội của chính trị, đề cao các sáng kiến, sáng tạo từ cơ sở Đảng ta còn nhấn mạnh cơ sở là nơi chính quyền trong lòng dân, nơi đưa đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống; phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội; giữ vững ổn định chính trị,v.v…

Xét về mặt tổ chức đảng, xã, phường, thị trấn (cấp cơ sở) là nơi thiết lập các tổ chức cơ sở đảng giữ vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, nơi tiến hành

Trang 20

các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng, nơi lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, nơi Đảng nắm và hiểu rõ tâm tư của nhân dân để phản ánh với Đảng

Tóm lại, xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thiết lập

và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở và các tổ chức kinh tế, xã hội khác nhau, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng Xã, phường, thị trấn phát triển toàn diện và vững mạnh thì huyện mạnh; huyện mạnh thì tỉnh mạnh và tỉnh mạnh góp phần cùng cả nước phát triển mạnh, bền vững sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới Ngược lại, cấp cơ sở yếu kém, không ổn định, phát triển thiếu bền vững, tình hình an ninh chính trị diễn biến phức tạp, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến huyện, thành phố

và tỉnh Điều đó khẳng định chủ trương của Đảng ta hướng mạnh về cơ sở; khắc phục tình trạng hành chính hóa, xa dân, phô trương, hình thức

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã

1.1.2.1 Khái niệm đội ngũ công chức cấp xã

* Khái niệm công chức

Công chức theo nghĩa chung là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính nhà nước) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế Tuy vậy, nội hàm thuật ngữ

“công chức” và vị trí việc làm của công chức ở các quốc gia là không giống nhau, và ở trong cùng một quốc gia ở các thời điểm khác nhau cũng có thể không giống nhau, cụ thể:

Khi đất nước giành độc lập, ngày 20 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/SL về “Quy chế công chức”, đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này

Trang 21

Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, “Công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay ở nước ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [42, tr.1]

Đến thời kỳ đổi mới năm 1986, trước yêu cầu khách quan cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng Nghị định nêu rõ: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công

sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước,

đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước” [36, tr.1]

Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta về cán bộ, công chức Hướng dẫn Pháp lệnh có Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Nghị định đã đưa ra khái niệm công chức một cách rõ ràng, cụ thể hơn: Công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng

Để tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật đáp ứng yêu cầu của thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ tư Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã ban hành Luật cán bộ, công chức Theo Điều 4

Trang 22

của của Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì khái niệm công chức được thống nhất như sau:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn

vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [50, tr.8,9] Như vậy, công chức là thuật ngữ dùng để chỉ những người làm việc thường xuyên trong bộ máy hành chính nhà nước Họ được tuyển dụng, bổ nhiệm và làm việc ổn định theo những chuyên môn nhất định, được Nhà nước trả lương và bảo đảm những điều kiện vật chất, tinh thần để thi hành công vụ Lao động của công chức mang tính nghề nghiệp và chịu sự điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật

* Khái niệm đội ngũ công chức cấp xã

Theo từ điển Tiếng Việt thì “đội ngũ” là tập hợp một số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp

Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại điều 4

quy định: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một

chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhan dân cấp xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Trang 23

Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định

về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức

xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã; Nghị định 112/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về công chức xã, phường, thị trấn thì công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau:

- Trưởng Công an;

- Chỉ huy trưởng Quận sự;

- Văn hóa - Xã hội

Như vậy, có thể hiểu khái niệm “đội ngũ công chức cấp xã”: Đội ngũ

công chức cấp xã là tập hợp những công chức làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã

1.1.2.2 Đặc điểm, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã

* Đặc điểm chung của đội ngũ công chức cấp xã

Công chức cấp xã là một bộ phận trong đội ngũ công chức nhà nước, được hình thành từ việc tuyển dụng nên cũng mang những đặc điểm giống với đội ngũ công chức nói chung Là lực lượng có đặc thù riêng nên đội ngũ công chức cấp xã có những đặc điểm sau đây:

Là đội ngũ có số lượng lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, triển khai thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Công chức cấp xã được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Cán bộ, công chức cấp xã do cấp huyện quản lý

Trang 24

Nguồn hình thành đội ngũ công chức cấp xã rất đa dạng, do xét tuyển, thi tuyển

Công chức cấp xã tương đối ổn định, tuy nhiên các chức danh công chức như: địa chính- xây dựng, kế toán là những chức danh thường xuyên biến động, thay đổi địa bàn công tác do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ luân chuyển cán bộ của cấp trên

Trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức cấp xã hiện nay khá đồng đều Đại đa số công chức đều có trình độ đại học, cao đẳng chỉ còn một số lượng nhỏ công chức gần đến tuổi nghỉ hưu có trình độ trung cấp Tuy nhiên, còn một bộ phận công chức có trình độ đại học nhưng chuyên môn chưa sát với công việc đang thực thi

* Vai trò của đội ngũ công chức cấp xã

Hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước cấp xã có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt là giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sự ổn định và năng động của

hệ thống các quan hệ xã hội hình thành trên cơ sở nền kinh tế thị trường tùy thuộc rất nhiều vào hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước cấp xã Do đó đội ngũ công chức cấp xã có những vai trò nhất định như:

Đội ngũ công chức cấp xã gần gũi với nhân dân, gắn bó với nhân dân, cho nên công chức cấp xã có vị trí và vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới và xây dựng địa phương, là lực lượng nòng cốt, thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của địa phương Họ là những người trực tiếp lắng nghe, giải quyết,

đề xuất lên cấp trên những đề xuất, nhu cầu chính đáng của nhân dân

Công chức cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân; làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trương, chính sách Đảng, pháp luật của Nhà nước, trên cơ sở đó sẽ tham gia, đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách Đảng, pháp luật của Nhà nước

Trang 25

Công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân, trực tiếp thực thi pháp luật, công vụ, thực thi quyền nhà nước trên địa bàn Là đội ngũ chủ yếu trực tiếp tổ chức, phối hợp hoạt động giữa các bộ phận và nhân dân trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo môi trường, điều kiện về sử dụng công cụ kinh tế, thực lực kinh tế để tác động, quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường Là lực lượng nòng cốt có nhiệm vụ đưa các chủ trương, chính sách và thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trở thành thực tiễn, tiếp thu nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ánh kịp thời với cấp trên, giúp Đảng và Nhà nước đề ra được những chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn

1.2 Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã - khái niệm, tiêu chí đánh giá

1.2.1 Khái niệm và các yếu tố tác động đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

1.2.1.1 Khái niệm chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

* Khái niệm “chất lượng”

Chất lượng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo đối tượng sử dụng, từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng được so sánh chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau

Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 8402:1999, đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” Ở

Trang 26

đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán

Từ định nghĩa trên, có thể rút ra một số đặc điểm sau:

Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý

do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây

là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình

Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn

từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng động xã hội Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng

Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà

ta vẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình

Khái niệm chất lượng trên đây được gọi là chất lượng theo nghĩa hẹp

Rõ ràng khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả

và dịch vụ sau khi bán, vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ

Theo TCVN ISO 8402, “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những

Trang 27

nhu cầu đã được nêu ra hoặc tiềm ẩn” [53, tr.03] Theo từ điển Oxford Pocket, chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản

Từ khái niệm chung về chất lượng nêu trên, tác giả đề xuất khái niệm

chất lượng được hiểu là: Chất lượng bao gồm các yếu tố tạo nên phẩm chất

đạo đức, trình độ, năng lực hoạt động thực tiễn của một con người để thực hiện tốt mục tiêu mà tổ chức, cá nhân đề ra

* Khái niệm “chất lượng đội ngũ công chức cấp xã”

Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nxb Đà Nẵng xuất bản năm 2000 định nghĩa: "Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc" [57, tr.16]

Khi đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, một vấn đề đặt ra là trước tiên phải hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ công chức cấp

xã Chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

Chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã được thể hiện thông qua hoạt động của chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã

Chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác của họ

Chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng công chức cấp xã Đối với đội ngũ công chức cấp xã, muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải

có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương Chẳng hạn, các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý nhà nước, pháp luật v.v ; độ tuổi; thâm niên công tác v.v

Trang 28

Chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã còn được đánh giá dưới góc

độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người công chức cấp xã đối với công vụ được giao

Công vụ là một hoạt động gắn liền với công chức, là một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống; quản lý và sử dụng có hiệu quả công sản và ngân sách Nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị

Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm “chất

lượng đội ngũ công chức cấp xã” như sau: Chất lượng đội ngũ công chức cấp

xã là sự tổng hợp, tích hợp các đặc tính, giá trị về số lượng, cơ cấu, phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện

có hiệu quả nhiệm vụ được giao của đội ngũ công chức cấp xã

1.2.1.2 Các yếu tố tác động đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

* Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

liên quan đến cán bộ, công chức

Đảng ta luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của

sự phát triển kinh tế, xã hội; trong đó: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ,

là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” Từ quan điểm đó, Đảng ta quan tâm lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ một cách đồng bộ, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng Song song với quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ban hành hệ thống chính sách pháp luật tương đối đồng bộ nhằm bảo đảm quyền lợi và lợi ích cho đội ngũ cán bộ, công chức Tuy nhiên,

hệ thống văn bản của Đảng, Nhà nước có nhiều thay đổi; một số văn bản chưa đồng bộ, thống nhất, còn chồng chéo; Thông tư của một số Bộ, ngành chức năng ở Trung ương hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy chậm ban hành hoặc một số văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành chức năng

ở Trung ương không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay nhưng chưa

Trang 29

được sửa đổi, bổ sung Do đó, những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tác động đến công tác cán bộ nói chung và chất lượng đội ngũ công chức cấp xã nói riêng

* Việc thực hiện các khâu trong công tác cán bộ: Có vai trò quan trọng

đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và công chức cấp xã nói

riêng Điển hình là khâu tuyển dụng, bổ nhiệm: Các cơ quan hành chính nhà

nước hiện nay thường ít quan tâm đến việc xác định ban đầu nhu cầu nhân sự mới của mình một cách chiến lược Số lượng nhân sự mới được chuyển vào thường được phân bổ theo “chỉ tiêu biên chế’ từ các cơ quan cấp trên Bên cạnh đó các tổ chức nhiều khi không áp dụng ngay từ ban đầu phương pháp phân tích công việc, mô tả vị trí việc làm và nhân sự cần đưa vào bổ sung Chính vì vậy công tác tuyển dụng bổ sung nguồn nhân sự cho tổ chức thường mang tính gia tăng, tức năm nào cũng xin thêm biên chế Trong khi đó nhu cầu thực sự của công việc chưa đặt ra về bổ sung nhân sự Điều này cũng làm cho bộ máy hành chính nhà nước luôn bị “phình” to ra

Công tác tuyển dụng, bổ nhiệm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác của công chức cấp xã Việc tuyển dụng bổ nhiệm công chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc của cơ quan, công chức phải có phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng được tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ Khi tuyển dụng phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, chú ý đến việc sắp xếp sao cho đúng lúc, đúng người, đúng việc, đúng ngành nghề, đúng chuyên môn sở trường thì mới phát huy năng lực công tác của từng công chức và đem lại hiệu quả cao cho công việc, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Nếu công tác tuyển dụng, bổ nhiệm thực hiện không tốt sẽ làm cho những cá nhân có trình độ năng lực sinh ra bất mãn, không muốn phấn đấu vươn lên Mặt khác những công chức không có năng lực mà phải đảm nhiệm công việc quá sức mình thì hiệu quả công việc không cao

Công tác đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đội ngũ

công chức, có thể thích ứng với yêu cầu và nhiệm vụ trong thời kỳ mới,

Trang 30

ngược lại nếu công tác này không được quan tâm đầu tư thì trình độ năng lực của công chức sẽ bị tụt hậu Điều này đồng nghĩa với việc hiệu quả công việc mang lại không cao và sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo vả thực hiện các nhiệm vụ chung của cơ quan đơn vị Công tác đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa công chức là công việc cần phải làm thường xuyên, liên tục của Đảng và Nhà nước Phải kịp thời đào tạo đội ngũ công chức có đủ phẩm chất và năng lực, vừa có đức vừa có tài, mà đức là cái gốc Chú trọng đào tạo bồi dưỡng công chức cả về chính trị lẫn chuyên môn

* Thực hiện cơ chế, chính sách đãi ngộ: Bao gồm chế độ tiền lương và

các chế độ đãi ngộ đối với công chức Trong cơ chế thị trường hiện nay thì chế độ chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ công chức Thực tế cho thấy khi thu nhập của con người không tương xứng với công sức của họ bỏ ra hoặc không có chế độ chính sách đãi ngộ thỏa đáng ngoài tiền lương đối với công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao thì họ dễ sinh ra chán nản, thiếu trách nhiệm với công việc, thậm chí có khi còn là nguyên nhân dẫn đến nạn tham nhũng, hối lộ Vì vậy, nếu chế độ tiền lương là hình thức đầu tư trực tiếp cho con người, đầu tư cho phát triển kinh tế- xã hội thì chắc chắn sẽ góp phần nâng cao chất lượng công chức

Bên cạnh đó chúng ta cũng biết rằng trong bất kỳ một tổ chức nào nhu cầu cơ bản của người lao động là cần được đáp ứng thông qua việc trả lương tốt, công bằng và bảo đảm các khoản phúc lợi như: tiền thưởng theo danh hiệu thi đua, thưởng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong từng kế hoạch, đợt hoạt động… thì công chức cũng cần được bảo đảm các điều kiện làm việc thuận lợi, bảo đảm công việc được duy trì ổn định và được đối xử công bằng như nhau; cần được tạo điều kiện để họ có cơ hội mở rộng giao lưu giữa các

bộ phận, cùng tham gia ý kiến phục vụ sự phát triển chung của cơ quan; được tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí ngoài giờ làm việc, nhân các dịp kỷ niệm hoặc các kỳ nghỉ khác Ngoài việc được trả tiền lương hay có thu nhập

Trang 31

thỏa đáng theo năng lực và theo nhu cầu thiết yếu của cuộc sống thì công chức cũng mong muốn được tôn trọng các giá trị của con người, cần được tôn vinh sự thành công và phổ biến kết quả thành đạt của họ một cách rộng rãi để khuyến khích họ tham gia vào quá trình cải tiến các hoạt động của tổ chức

Và cuối cùng họ cần được tạo điều kiện để tham gia các lớp đào tạo và phát triển để họ tự nâng cao khả năng nghề nghiệp của mình

Tuy nhiên, bênh cạnh việc khen thưởng cũng gắn liền với trách nhiệm công việc, quyền và nghĩa vụ của công chức Nếu công chức không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm các quy định của nhà nước trong quá trình thực thi nhiệm vụ thì phải bị xử lý kỷ luật nghiêm minh theo đúng các quy định của pháp luật hoặc nội quy của cơ quan Việc khen thưởng và kỷ luật nếu được thực hiện tốt thì sẽ tạo ra một đội ngũ công chức nhiệt tình, trong sáng, đáp ứng được yêu cầu của công việc

Môi trường làm việc và trang thiết bị làm việc cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã Vì công cụ và phương tiện làm việc luôn là một yếu tố quan trọng giúp việc nâng cao năng suất lao động Chất lượng hoạt động không chỉ phụ thuộc vào trình

độ năng lực mà còn phụ thuộc cả vào phương tiện kỹ thuật, trang bị đủ phương tiện làm việc cho công chức là một yêu cầu của nâng cao chất lượng cộng chức Mỗi cương vị công tác và điều kiện làm việc khác nhau cần được trang bị một hệ thống phương tiện và điều kiện làm việc khác nhau Bên cạnh

đó nếu môi trường làm việc không thoải mái, tâm lý nặng nề căng thẳng, lãnh đạo thiếu sự quan tâm, động viên hay đồng nghiệp không chan hòa, không hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong công việc, trang thiết bị máy móc điều kiện làm việc thiếu thốn thì chắc chắn công chức không thể làm tốt và cống hiến hết mình cho công việc được

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức cấp xã

Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật Quan niệm chung

Trang 32

nhất về “chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc Nói đến chất lượng là nói tới hai vấn đề cơ bản:

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng đã xác định mục tiêu “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực,

có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường của giai cấp công nhân,

đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ” Mục tiêu đó đã chỉ rõ những tiêu chí quan trọng đối với đội ngũ công chức của cấp, ngành, địa phương trên cả nước, đó là chưa kể khi

nó thực sự gắn liền với yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ

Luật cán bộ, công chức (2008), Điều 27 đã khẳng định: “Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Kết quả đánh giá là căn cứ

để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức” [50, tr.7,8]

Trên cơ sở các tiêu chí đề cập nêu trên, có thể tóm lại thành các nhóm tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã được thể hiện trên các mặt như sau:

* Một là, số lượng, cơ cấu

Đây là tiêu chí đầu tiên không thể thiếu được để phân tích số lượng của từng chức danh công chức và cả đội ngũ công chức cấp xã Từ đó chỉ ra mức

độ về số lượng công chức đã phù hợp hay chưa phù hợp với yêu cầu biên chế

Trang 33

tổ chức bộ máy và nhiệm vụ của đội ngũ công chức này trong thực tiễn…qua

đó phản ánh chất lượng đội ngũ công chức cấp xã cao hay thấp, đồng bộ hay chưa đồng bộ

Tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, điều 4 quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã:

(1) Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã; cụ thể như sau:

a) Cấp xã loại 1: không quá 25 người;

b) Cấp xã loại 2: không quá 23 người;

b) Cấp xã loại 3: không quá 21 người;

Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn

(2) Số lượng cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã.” Số lượng công chức cấp xã từ 8 đến 13 người với các chức danh công

chức: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quận sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ Tịch; Văn hóa - Xã hội

Về cơ cấu giới tính đối với công chức cấp xã được xây dựng theo các địa phương và nhu cầu tuyển dụng Như vậy, một cơ cấu công chức hợp lý sẽ giúp cho việc xác định biên chế trong các cơ quan, đơn vị một cách phù hợp và hiệu quả, dựa trên các định mức được chuẩn hóa một cách khoa học, giúp cho các hoạt động như: tuyển dụng, bố trí, sử dụng, quy hoạch, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, quản lý công chức một cách phù hợp và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị; làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách, chủ động xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ công chức của cơ quan, đơn vị; tạo điều

Trang 34

kiện cho công chức ổn định, yên tâm trong thực hiện nhiệm vụ Một đội ngũ công chức có chất lượng chính là thể hiện ở sự hợp lý, phù hợp về cơ cấu theo tuổi, giới tính, theo thâm niên công tác và theo cả ngạch công chức…

Trong thực tiễn thực thi công vụ tiêu chí này được cụ thể hóa ở việc công chức ở độ tuổi trẻ hóa và làm việc tốt nhất là ở khoảng từ 25 đến 45 tuổi

và thâm niên công tác đối với mỗi chức danh nên từ 5 đến 10 năm, sau đó nên luân chuyển sang một vị trí khác, điều này sẽ giúp cho việc hạn chế ở một số

vị trí công tác lâu sẽ dễ sinh ra tiêu cực Hoặc một người mà công tác thâm niên 20-30 năm thì chắc chắn có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy nhiên những người có thâm niên lâu như vậy thì đều rơi vào những người lớn tuổi,

do lịch sử để lại vì thế có một số chưa được chuẩn hóa về chuyên môn, khi cử

đi học thì ngại, khó tiếp thu kiến thức mới, từ đó dẫn đến không theo kịp sự tiến bộ đổi mới của các chương trình cải cách hành chính, của khoa học công nghệ hiện đại Đồng thời khi xây dựng đội ngũ công chức phải tính đến cơ cấu độ tuổi hợp lý, có tính kế thừa

* Hai là, phẩm chất chính trị

Phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng nhất, quyết định đến năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ công chức Phẩm chất chính trị là động lực tinh thần thúc đẩy công chức vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Phẩm chất chính trị cũng chính là yêu cầu cơ bản nhất đối với công chức hiện nay

Phẩm chất chính trị đòi hỏi đội ngũ công chức phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có tinh thần cương quyết đấu tranh chống lại các hiện tượng lệch lạc, những biểu hiện mơ hồ, sai trái đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của nhân dân

Trang 35

Người công chức cấp xã có phẩm chất chính trị tốt là người tích cực tuyên truyền, vận động gia đình, nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Là người luôn luôn trăn trở và tìm cách tháo gỡ những khó khăn ở cơ sở, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Người có phẩm chất chính trị tốt là người một lòng phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân

Đây là tiêu chuẩn đầu tiên, là điều kiện đối với mỗi người công chức

Để trở thành những nhà tổ chức, những người công chức có năng lực trước hết phải là người có phẩm chất chính trị tốt

Phẩm chất chính trị của công chức chính quyền cấp xã được biểu hiện trước hết là sự tin tưởng tuyệt đối lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là con đường mà Bác Hồ và Đảng ta

đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điếm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn thử thách Đồng thời phải có biện pháp để đường lối đó đi vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân địa phương

Người công chức có phẩm chất chính trị tốt không chỉ bằng những lời tuyên bố, hứa hẹn mà quan trọng hơn là việc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngược với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Phẩm chất chính trị của người công chức cấp xã còn biểu hiện thông qua thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần gương mẫu trong công tác, tinh thần trách nhiệm đối với đời sống của nhân dân tại địa phương Người công chức

có phẩm chất chính trị tốt phải là người luôn trăn trở trước những khó khăn ở địa phương; phải có quyết tâm đưa địa phương cơ sở nơi mình công tác ngày càng phát triển bền vững

Trang 36

* Ba là, phẩm chất đạo đức, lối sống

Người công chức muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết đó phải có phẩm chất đạo đức tốt Xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức của người công chức và hình thành ở họ các phẩm chất đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ công chức là việc làm cần thiết, cấp bách, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước hiện nay Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có sự chuyển biến nhanh chóng, xã hội xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp, trong đó phải kể đến trình độ dân trí ngày một nâng cao thì sự đòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ công chức ngày một cao hơn Thêm vào đó công tác quản lý xã hội cũng đòi hỏi người công chức phải tạo lập cho mình một uy tín nhất định đối với nhân dân

Việc nâng cao phẩm chất, đạo đức người công chức đã được Chủ tịch

Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm Nhất là sau khi cách mạng thành công, ngoài việc lãnh đạo, quản lý đất nước, trước những khó khăn phải chống thù trong, giặc ngoài, Bác vẫn chăm lo việc giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ trong các cơ quan chính quyền nhà nước non trẻ Bác yêu cầu: “Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng” [45, tr.223] Và muốn có đạo đức cách mạng, theo Bác phải có được các phẩm chất trí, tín, nhân, dũng, liêm Khi điều kiện và tình hình cách mạng thay đổi, trong khi nói chuyện với cán bộ công chức ở Thủ đô, Bác đã nhắc nhở: “Chúng ta phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính” Bác nói: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên

hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” [45, tr.104]

Từ kinh nghiệm thực tiễn được chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, cho thấy

rõ tầm quan trọng về phẩm chất đạo đức của người công chức Nếu công chức

có trình độ, được đào tạo bài bản, có năng lực công tác, nhưng không có phẩm chất đạo đức, không có tinh thần yêu nước, tận tụy phục vụ nhân dân, không nghĩ đến việc chung mà chỉ lo làm lợi, lo đến bản thân mình, chi tiêu

Trang 37

tiền của công xa hoa, lãng phí, không chính trực, nghiêm minh trong giải quyết công việc thì chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức

bộ máy, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước

* Bốn là, trình độ, năng lực công tác

Để đánh giá đúng đắn chất lượng đội ngũ công chức thì trình độ, năng lực của công chức đóng vai trò rất quan trọng Trình độ, năng lực phản ánh kỹ năng làm việc, khả năng hoàn thành công việc của mỗi người nói chung cũng như của mỗi công chức

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện tiên quyết trong thực hiện các nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm công việc Trình độ chuyên môn là mức độ

về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn bằng, chứng chỉ mà mỗi công chức nhận được thông qua quá trình học tập Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn thường được

sử dụng để xếp công chức vào hệ thống ngạch, bậc Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn có sự khác nhau với từng ngành, từng ngạch công chức khác nhau Trình độ chuyên môn của công chức đã được đào tạo qua các trường lớp với văn bằng chuyên môn phù hợp với công việc được giao Trình độ đào tạo nghề nghiệp ứng với hệ thống văn bằng hiện nay được chia thành các trình

độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học

Đối với công chức cấp xã phải hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao

Tiêu chuẩn cụ thể: đối với từng chức danh đều có quy định cụ thể trong Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ

về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và sau này là Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/12/2012

Trang 38

hướng dẫn về chức danh, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức, xã, phường thị trấn

Năng lực ở con người có nhiều cấp độ khác nhau, ở cấp độ cao thì đó là tài năng - thiên tài Cần phân biệt sự kém hiểu biết với sự thiếu năng lực Trong những điều kiện bên ngoài như nhau, ở những con người khác nhau có thể tiếp thu những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo với nhịp độ khác nhau Có người tiếp thu nhanh chóng; có người phải tốn nhiều thì giờ và sức lực; ở người này có thể ở mức điêu luyện, ở người khác chỉ ở mức trung bình và do

đó khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người cũng khác nhau Khi xem xét bản chất của năng lực, cần chú ý ba dấu hiệu cơ bản:

Năng lực là sự khác biệt nhau về phẩm chất tâm lý cá nhân làm cho người này khác người kia

Năng lực là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả của việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất cứ những sự khác biệt chung chung nào

Năng lực không phải được đo bằng những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo

đã được hình thành ở một người nào đó Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn

Có thể hiểu, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn

có để thực hiện một hoạt động nào đó Năng lực là những phẩm chất tâm lý, sinh

lý tạo cho con người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao Mỗi con người có khả năng trong một hoạt động nhất định nào đấy

có ích cho xã hội Nghiên cứu năng lực con người là nghiên cứu sức lực dự trữ của con người trong lao động hay là tiềm năng của con người đối với lao động

Năng lực thể hiện ở chỗ, con người làm việc tốn ít sức lực, ít thời gian, của cải, mà kết quả lại tốt Việc phát hiện ra năng lực của con người thường căn cứ vào những dấu hiệu sau: Sự hứng thú đối với công việc nào đó; sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp; hiệu suất lao động trong lĩnh vực đó

Trang 39

Năng lực có năng lực chung và năng lực chuyên môn, giữa chúng có mối quan hệ ảnh hưởng, tương hỗ lẫn nhau Năng lực chung cho phép con người có thể thực hiện có kết quả những hoạt động khác nhau như hoạt động học tập, lao động Năng lực chuyên môn cho phép người ta làm tốt một loại công việc nào đó như âm nhạc, hội họa, văn học, toán học

Năng lực con người thường gắn liền với sở thích của người ấy Con người có sở thích, hứng thú về một hoạt động nào đấy thường nói lên năng lực của người đó về mặt hoạt động đó Năng lực không chỉ thể hiện trong những hoạt động lao động trí óc thuần túy mà thể hiện cả trong hoạt động thể lực Năng lực phát triển trong quá trình hoạt động Người lười biếng, trốn tránh hoạt động lao động trí óc cũng như lao động chân tay thì năng lực không thể phát triển được

Đối với công chức cấp xã, năng lực thường bao gồm những tố chất cơ bản

về đạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân, về trình độ học vấn phổ thông, trình độ kiến thức pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội Sự am hiểu và vận dụng sáng tạo đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật xử lý thông tin để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản

lý nhà nước một cách khôn khéo, minh bạch, dứt khoát, hợp lòng dân và không trái pháp luật Người công chức cấp xã phải được đào tạo sâu về nghề mình phụ trách, phải am hiểu công việc chuyên môn do mình phụ trách, phải có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn Đồng thời, người cán bộ phải có sự ham mê, yêu nghề, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh nghiệm Người công chức cấp xã phải có khả năng thu thập thông tin, chọn lọc thông tin, khả năng quyết định đúng đắn, kịp thời Vì vậy, việc nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết và năng lực

tổ chức thực hiện cho đội ngũ công chức cấp xã là vấn đề quan trọng và bức xúc trong mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

* Năm là, kết quả hoàn thành nhiệm vụ và sự tín nhiệm của nhân dân

Là việc công chức hoàn thành công việc được giao đúng tiến độ và theo

Trang 40

yêu cầu đặt ra, đạt chất lượng hiệu quả công việc trên thực tế, luôn phấn đấu thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Trong thực tiễn tiêu chí này được thể hiện ở việc: hiệu quả thực tế giải quyết công việc của công chức, khả năng vận dụng đường lối, chủ trương chính sách pháp luật và các phương tiện làm việc hiện có để đạt được kết quả tốt nhất Hằng năm tại hội nghị đánh giá cán bộ, công chức cấp xã cuối năm

sẽ tiến hành đánh giá theo các nội dung như: Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao (chất lượng công việc, chất lượng các dịch vụ hành chính công đáp ứng được sự hài lòng của người dân); tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp trong thực thi nhiệm vụ của công chức; thái độ phục vụ nhân dân, ý

thức chấp hành kỷ luật; năng lực điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ

Đội ngũ công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng với quần chúng nhân dân ở cơ sở Vai trò này được thể hiện qua công việc hàng ngày đội ngũ công chức này trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, tuyên truyền, giải thích chủ trương, đường lối, chính sách của Trung ương, của tỉnh và cùng nhân dân tổ chức thực hiện; đồng thời họ còn là cấp quan trọng giải quyết những vướng mắc của nhân dân, là nơi nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh với huyện, tỉnh và Trung ương Thông qua đội ngũ công chức này mà nhân dân thấy rõ hơn bản chất và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Đảng, Nhà nước Vì vậy, mức độ hài lòng và tín nhiệm của nhân dân là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

Tiểu kết chương 1

Công chức cấp xã đóng một vai trò quan trọng trong bộ máy chính quyền ở cơ sở, là người trực tiếp thực thi pháp luật, công vụ, thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương Chất lượng công chức cấp xã có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng hành chính công được cung cấp cho người dân Việc từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng, cần thiết, cấp bách trong giai đoạn hiện nay Với ý nghĩa

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:26

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w