1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạp công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích, lịch sử, văn hóa từ năm 2005 đến năm 2015

103 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng bộ Quảng Ninh luôn coi trọng công tác quản lý, bảo tồn di sản một cách chặt chẽ và khai thác, phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa, đưa Quảng Ninh trở thành một trong n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số : 60.22.03.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Nguyễn Danh Tiên

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Trương Ngọc Nam

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn

chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả Luận văn

Đặng Thành Dương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 11

1.1 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa ở Quảng Ninh trước năm 2005 11

1.2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2010 32

Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 44

2.1 Chủ trương mới của Đảng và Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa 44

2.2 Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo đổi mới công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa 51

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 75

3.1 Một số nhận xét 75

3.2 Một số kinh nghiệm 83

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Di tích lịch sử, văn hóa có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, có giá trị nhiều mặt, nhất là về giáo dục truyền thống lịch sử và tình yêu quê hương, đất nước Di tích lịch sử,văn hóa là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị cụ thể qua nhiều thời kỳ lịch sử, là thành quả sáng tạo của nhân dân và là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống tốt đẹp của con người

Việc bảo tồn và phát huy di tích lịch sử,văn hóa nhằm giáo dục thế hệ trẻ hiểu biết sâu sắc về cội nguồn, lịch sử của dân tộc; góp phần lưu giữ những giá trị truyền thống, giữ gìn ngọn lửa truyền thống, văn hóa dân tộc trong thời đại mới Bảo tồn và phát huy di tích lịch sử,văn hóa góp phần hình thành nhân cách con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ phát triển đất nước Bảo vệ và phát huy giá trị của di tích lịch sử,văn hóa là góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; là nền tảng tinh thần, khơi dậy năng lực nội sinh để xây dựng và phát triển đất nước

Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, mọi quốc gia dân tộc đều hướng tới việc tôn trọng sự đa dạng văn hóa và bảo vệ, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nền tảng tinh thần cho phát triển Việt Nam đang ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế càng cần điều kiện, môi trường thuận lợi để phát huy giá trị các

di tích lịch sử,văn hóa danh thắng

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm giá trị văn hóa vốn có của dân tộc

Trang 7

Theo số liệu thống kê của Sở VH,TT&DL Quảng Ninh, trên địa bàn tỉnh sở hữu trên 600 di tích lịch sử - văn hoá các loại Trong đó, vịnh Hạ Long

đã hai lần được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới bởi giá trị ngoại hạng về thẩm mỹ và địa chất, địa mạo Đến năm 2011, Vịnh Hạ Long lại một lần nữa khẳng định được sức hấp dẫn của mình khi được bầu chọn là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới Ngoài ra, còn có rất nhiều

di tích lịch sử là những điểm đến du lịch tâm linh thu hút đông đảo các du khách như: Đền Cửa Ông, cụm di tích danh thắng núi Bài Thơ, chùa Cái Bầu

- Thiền Viện Trúc lâm Giác tâm, khu di tích lịch sử Yên Tử

Trong 30 năm đổi mới, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã chú trọng thực

hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đảng bộ Quảng Ninh luôn coi trọng công tác quản lý, bảo tồn di sản một cách chặt chẽ và khai thác, phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa, đưa Quảng Ninh trở thành một trong những điểm

du lịch bền vững, hiệu quả và thân thiện với du khách Các di tích lịch sử, văn hóa đã thực sự trở thành tài nguyên, tiềm năng để Quảng Ninh phát triển du lịch mạnh mẽ

Tuy nhiên, trong nhận thức và hành động bảo tồn, phát huy giá trị các

di tích lịch sử, văn hóa của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vẫn còn nhiều hạn chế,

khuyết điểm cần khắc phục

Với các lý do trên, với mục tiêu tái hiện quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng

Ninh lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa,

chúng tôi lựa chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo công tác bảo

tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2005 đến năm 2015” nhằm khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và bước đầu

đúc kết một số kinh nghiệm, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công

tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là vấn đề đang được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm Vấn

đề này c ng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau iên quan đến đề tài và nội dung luận văn, có thể chia thành các nhóm như sau:

ột là, nh ng c ng tr nh, đ tài nghi n cứu chung v vấn đ bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa

Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức, Bảo tồn di tích lịch sử - văn hoá,

Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, Hà Nội, 1993 Nội dung chính của cuốn sách

đã đi sâu nghiên cứu vấn đề lý luận c ng như thực tiễn của vấn đề bảo tồn di

tích ở nước ta; Hoàng Vinh, ột s v n v ảo tồn và hát t i n i sản văn h d n tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999 Cuốn sách đi sâu

phân tích làm r những vấn đề lý luận chung về di sản văn hóa và thực trạng công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam trước khi

có Nghị quyết Trung ương năm, khóa VIII; Dương Văn áu, i tích lịch sử - văn h , d nh l m thắng cảnh Việt N m, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội,

2000 Cuốn sách đã trình bày các khái niệm, phân loại các di tích lịch sử - văn

hóa, danh lam thắng cảnh của Việt Nam; Từ Mạnh ương, ột s chính sách

và giải há kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm ảo tồn, tôn tạo và n ng c o hiệu quả kh i thác di tích lịch sử - văn hoá củ d n tộc gi i oạn hát t i n mới

củ t nước, uận án tiến sĩ Kinh tế, Viện Kinh tế học, Hà Nội, 2003 uận

án đã nêu bật lên thực trạng về các chính sách bảo tồn di tích ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp về kinh tế - xã hội nhằm nâng cao hơn nữa năng lực bảo tồn, phát huy giá trị di tích ở Việt Nam trong giai

đoạn phát triển mới của đất nước; Nguyễn Xuân Phúc, Bảo tồn và hát huy giá t ị di sản văn h thế giới, Tạp chí i sản văn h , số 2 – 2006; Nguyễn Đình Thanh, ê Thị Minh ý, i sản văn h - ảo tồn và hát t i n, Nxb

Trang 9

Thành phố Hồ Chí Minh, 2008 Nội dung cuốn sách trình bày hiện trạng bảo

tồn và phát huy ở một số di sản văn hóa tiêu biểu ở Việt Nam; Khoa Thị

Khánh Chi, Vi hạm di tích lịch sử, văn h , d nh l m thắng cảnh - thực

t ạng và giải há , luận văn Thạc sĩ uật, Khoa uật, Đại học quốc gia Hà

Nội, Hà Nội, 2010 Từ ch trình bày những sai phạm chủ yếu trong công tác bảo tồn di tích và danh thắng, luận văn đã đưa ra những giải pháp thiết thực nhất nhằm hạn chế tối đa thực trạng này

Các công trình khoa học này đã khẳng định sự cần thiết phải bảo vệ các

di tích văn hóa; nêu thực trạng công tác bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn các di sản văn hóa trong bối cảnh mới

ai là, nh ng c ng tr nh, bài viết v bảo tồn và phát huy giá trị các

di sản văn hóa của các vùng, mi n và các tỉnh, thành phố tr n cả nước

Tìm hi u di sản văn hoá d n gi n Hà Nội của Trần Quốc Vượng,

Nguyễn Vinh Phúc, ê Văn an (đồng chủ biên), Nxb Hà nội, 1994 Cuốn sách bao gồm tổng luận về các nghề thủ công mỹ nghệ, làng nghề, phố nghề, dòng họ văn hiến, món ăn cổ truyền, lễ hội dân gian, văn hóa dân gian kẻ chợ của Hà Nội

35 năm gìn giữ và phát huy v n di sản văn h các d n tộc Việt Nam

của Nông Quốc Chấn, Tô Văn Đeng, Nông Viết Toại, Nxb Văn hóa dân tộc,

Hà Nội, 1995 Cuốn sách khái quát những nét cơ bản về lịch sử ngành bảo tàng văn hóa dân tộc Việt Nam, đúc rút một vài kinh nghiệm về công tác bảo tàng (sưu tầm, triển lãm, trưng bày, tuyên truyền, giáo dục khoa học )

Giữ gìn và phát huy di sản văn h các d n tộc Tây Bắc, của nhiều tác

giả, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001 Các tác giả đã phân tích thực trạng vấn đề giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của các dân tộc vùng Tây Bắc; qua

đó, đưa ra giải pháp khả thi nhằm giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

Một s v n di sản văn h của Hải Phòng của Nguyễn Ngọc Thao,

Lê Thế Loan, Ngô Đăng ợi, Nxb Hải Phòng, 2001 Cuốn sách đã đề cập đến một số di chỉ khảo cổ học tiêu biểu cho quá trình lịch sử diễn ra ở Hải Phòng; một số di sản: đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ nơi có lưu giữ và thờ phụng những danh tướng, những nhà văn hóa có công với đất nước

Đô thị cổ Hội An của Phạm Quang Vinh, Trần Hùng, Nguyễn Luận,

Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2002 (Tủ sách Nghệ thuật, Nghệ thuật kiến trúc t.24) Cuốn sách giới thiệu về vị trí địa lý, lịch sử, dân cư, các công trình kiến trúc, bản sắc văn hóa, các di sản quí giá của vùng phố cổ Hội An

Tìm trong di sản văn h Việt N m Thăng Long Hà Nội do ưu Ninh

Trị (chủ biên), V Khiêu, ê Văn an, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội,

2002 Cuốn sách đã giới thiệu các di sản văn hóa tiêu biểu của Thăng ong

Hà Nội: múa rối, cải lương, kiến trúc và các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của các tỉnh, thành phố

Hà Nội danh lam cổ tự của Thích Bảo Nghiêm, Nxb Văn hóa Thông

tin, Hà Nội, 2003 Tập 1 gồm các bài nghiên cứu và giới thiệu các di sản văn hóa phi vật thể và vật thể của Thăng ong Hà Nội, đặc biệt đi sâu giới thiệu các ngôi chùa cổ với việc ghi lại thế giới các vị tăng ni đã từng trụ trì tại đây suốt chiều dài lịch sử Thăng ong - Hà Nội

Cuốn sách“Hà Nội - Danh thắng và di tích”, (2010), tập 2, của ưu

Minh Trị (Chủ biên), Nxb Hà Nội, đã nghiên cứu cảnh quan địa lý, lịch sử, văn hoá, trong đó đi sâu về di sản văn hoá Thăng ong - Hà Nội; phân loại, giới thiệu các danh thắng, di tích lịch sử văn hoá, di tích cách mạng kháng chiến tiêu biểu ở Hà Nội; bước đầu đưa ra nhận xét về thực trạng, gợi mở về bảo tồn, tôn tạo và phát huy di sản văn hoá Qua đó, giúp người đọc tìm hiểu những thông tin tư liệu, tổng hợp đầy đủ nhất về những nét tiêu biểu, đặc trưng của văn hoá Thăng ong - Hà Nội nhìn từ di sản văn hóa và di tích lịch

sử - văn hoá

Trang 11

Tác giả Trần Văn An với Ngh truy n th ng ở Hội An, Nxb Văn hóa-

Thông tin, Hà Nội, 2012.Tác giả đi sâu tìm hiểu một lĩnh vực nhỏ của di sản văn hóa phi vật thể Đó là làng nghề ở Hội An trong xu thế hội nhập và phát triển Trên cơ sở đánh giá thực trạng các làng nghề ở Hội An, tác giả đã đưa

ra một số giải pháp khả thi nhằm bảo tồn làng nghề ở Hội An

Di sản văn h hi vật th củ người Thái của Nguyễn Hữu Thái,

Nxb ao Động, Hà Nội, 2012 Tác phẩm khái quát những nét cơ bản về người Thái, một số hình thức di sản văn hóa phi vật thể trong vòng quay đời người, trong tín ngưỡng cổ truyền của người Thái

Ti u vùng văn h duyên hải Nam Trung bộ của Hà Nguyễn, Nxb

Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2013 Cuốn sách nằm trong bộ sách gồm

20 tập “Không gi n Văn h Việt Nam”, được biên soạn dựa trên những kết

quả nghiên cứu đã được thừa nhận và công bố của ngành văn hóa học Việt Nam từ góc nhìn địa - văn hóa Tập sách giới thiệu về tiểu vùng văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ trong tổng thể văn hóa Việt Nam, được biên soạn thuộc thể loại khoa học thường thức Nội dung bao gồm các kiến thức cơ bản

về lịch sử - văn hóa đặc trưng của vùng duyên hải Nam Trung Bộ

Những công trình khoa học trên đã khảo cứu dưới góc độ khác nhau những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng miền và ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước Qua đó, giúp người đọc nhận diện và đánh giá toàn diện về bề dày và vốn quý di sản văn hóa của dân tộc; đồng thời, đề xuất phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của di sản văn hóa trong tình hình mới

a là, nh ng c ng tr nh hoa h c nghi n cứu v bảo tồn và phát huy các gía trị di tích lịch sử, văn hóa uảng inh

Ban Quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh (2010), i tích lịch sử văn h Thương cảng V n Đồn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Cuốn sách

gồm hai phần: phần một giới thiệu chung về khu di tích lịch sử thương cảng

Trang 12

Vân Đồn và phần hai là những bài nghiên cứu chuyên sâu về Vân Đồn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

Nguyễn Thị Phương Thảo: Luận án tiến sĩ Đại học Văn hóa Hà Nội mã

số 62310640, đề tài “Văn hóa vùng biển đảo Quảng Ninh (Qua nghiên cứu các lễ hội truyền thống)”…

Ban quản lý di tích và Danh thắng Quảng Ninh (2002), Di tích và danh thắng Quảng Ninh Cuốn sách giới thiệu gần 50 di tích và danh lam thắng

cảnh của Quảng Ninh, trong đó từ trang 21 đến trang 29 giới thiệu lăng miếu các vua Trần và cụm kiến trúc phật giáo thời Trần

Ban quản lý cụm di tích trọng điểm Quảng Ninh (2010), Di tích lịch sử văn h nhà T ần tại Đông T i u Đây là một trong những cuốn sách viết đầy

đủ nhất về khu di tích lịch sử nhà Trần ở Đông Triều, bao gồm hai phần: phần thứ nhất giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của vương triều Trần và các di tích nhà Trần tại Đông Triều; phần thứ hai giới thiệu một số tư liệu Hán

Những công trình khoa học nghiên cứu về công tác bảo tồn di tích lịch

sử, văn hóa tỉnh Quảng Ninh đã thống kê hệ thống các di tích trên địa bàn tỉnh; giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển một số di tích cụ thể; bước đầu nêu lên thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2005 đến năm 2015

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 13

Mục đích của luận văn nhằm làm rõ chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch

sử, văn hóa từ năm 2005 đến năm 2015; khẳng định những thành tựu và chỉ rõ hạn chế, bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch

sử, văn hóa và danh thắng từ năm 2005 đến năm 2015

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đề ra những nhiệm

vụ cụ thể như sau:

Thứ nh t, làm rõ những yếu tố tác động đến công tác bảo tồn và phát

huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh

Thứ hai, nêu bật những quan điểm của Đảng và chủ trương của Đảng

bộ tỉnh Quảng Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa

từ năm 2005 đến năm 2015

Thứ ba, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo công tác bảo

tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa trong những năm (2005 – 2015)

Thứ tư, nêu lên những đánh giá, nhận xét về những thành tựu, hạn chế,

và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế; đồng thời, đúc kết một số kinh

nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo công tác

bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2005 đến năm 2015

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo công tác bảo tồn

và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2005 đến năm 2015

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: địa bàn tỉnh Quảng Ninh

- Thời gian nghiên cứu: trong 10 năm, từ năm 2005 đến năm 2015

Trang 14

- Phạm vi nội dung: Chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - ênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh về văn hóa

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung và các di tích lịch sử, văn hóa nói riêng

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Phương há lịch sử được sử dụng để mô tả quá trình lãnh đạo của Đảng bộ

tỉnh Quảng Ninh về công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử,

văn hóa thời kỳ 2005 - 2015 Phương há logic được sử dụng để phân tích,

đánh giá nêu ra những kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh trong lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa thời kỳ 2005 - 2015

Bên cạnh đó, luận văn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, đồng đại, lịch đại, so sánh, thống kê, điền dã và khảo sát thực tế

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Tổng kết, đánh giá thành tựu, hạn chế và bước đầu đúc kết một số kinh

nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo công tác bảo

tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2005 đến năm 2015

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, bảo tồn, quảng bá và khai thác giá trị các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trang 15

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết như sau:

Chương 1: Công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn

hóa của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2010

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đẩy mạnh công tác bảo tồn và

phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2015

Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Trang 16

Chương 1 CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH

TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010

1.1 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch

sử, văn hóa ở Quảng Ninh trước năm 2005

1.1.1 Nh ng yếu tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh

1.1.1.1 Đi u kiện tự nhiên

Quảng Ninh là tỉnh biên giới, thuộc khu vực Đông Bắc của Việt Nam Phía Bắc giáp Trung Quốc với đường biên giới dài 132,8km Phía Nam giáp thành phố Hải Phòng, ranh giới là sông Bạch Đằng Phía Tây giáp các tỉnh ạng ơn, Bắc Giang và Hải Dương Phía Đông giáp biển với 250km chiều dài Tỉnh nằm trong giới hạn toạ độ 106 – 108o

kinh Đông, 20o40’21” vĩ Bắc Điểm cực Bắc là dãy núi cao thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành

Mô, huyện Bình iêu Điểm cực Nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn Điểm cực Tây là sông Vàng Chua ở xã Bình Dương

và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều Điểm cực Đông trên đất liền là m i Gót ở Đông Bắc phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái

Quảng Ninh là cửa ng quan trọng, là đầu mối giao lưu kinh tế giữa tỉnh với vùng đồng bằng sông Hồng trù phú c ng như giao lưu với thế giới bên ngoài, đặc biệt là Trung Quốc

Thành phố Hạ ong của Quảng Ninh là một đỉnh của tam giác tăng trưởng vùng đồng bằng sông Hồng, có cửa ng quốc tế Móng Cái và các cảng biển quan trọng, có lợi thế về thị trường và giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế Đây không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là một địa chỉ du lịch thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan với di sản địa chất thế giới Vịnh Hạ ong đã được UNE CO công nhận

Trang 17

Quảng Ninh là vùng đất có kiến tạo địa chất trẻ hơn các khu vực khác

à một tỉnh miền núi vùng Đông Bắc nhưng Quảng Ninh có đầy đủ các dạng địa hình như đồi núi, đồng bằng, ven biển và cả hệ thống đảo và thềm lục địa Hơn 80% diện tích là đồi núi Phía Bắc có dãy núi Thập Vạn Đại ơn ngăn cách với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), bao gồm các đỉnh Cao Xiêm 1.330m, Quảng Nam Châu 1,057m, Nam Châu ĩnh 1506m, Ngàn Chi 1.166m ở các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên Phía Tây Bắc có dãy núi hình cánh cung chạy từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía Bắc thành phố Uông Bí và thấp dần xuống ở phía Bắc huyện Đông Triều Vùng núi này

là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ Bên ngoài là hơn hai nghìn hòn đảo lớn nhỏ nằm trong vịnh Hạ ong và Bái Tử ong, trong đó có 1.030 đảo có tên, còn lại hơn một nghìn hòn đảo chưa có tên Trong vùng, đồi núi và vịnh đảo chạy song song, đối xứng nhau qua đường bờ biển

Có thể chia địa hình Quảng Ninh thành các khu vực:

- Vùng Đông Triều - Móng Cái được xem là xương sống của tỉnh với các dãy núi cánh cung chạy theo hướng Tây - Đông ở phía Nam và hướng Tây Bắc - Đông Nam ở phía Bắc

- Vùng đồi duyên hải chiếm diện tích nhỏ Đây được cho là vùng thềm biển c với dải đồi cao khoảng từ 25 - 50m chạy dọc theo biển từ Cẩm Phả đến Móng Cái

- Vùng đồng bằng chiếm diện tích nhỏ, được bồi đắp bởi phù sa các sông suối trong tỉnh và hệ thống sông Thái Bình

- Biển và địa hình bờ biển là dạng địa hình đặc trưng và quan trọng nhất của tỉnh Quảng Ninh Vùng biển Quảng Ninh là phần phía Tây Bắc của vịnh Bắc Bộ, rộng 6000 km2

Trang 18

Khí hậu ở Quảng Ninh thuộc kiểu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của miền Bắc Việt Nam Một năm có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông Mùa Hạ nóng, ẩm, mưa nhiều, gió thịnh hành là gió Đông Nam Mùa Đông lạnh, khô hanh, ít mưa, gió Đông Bắc Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 210C Độ ẩm không khí trung bình năm là 84% ượng mưa hàng năm lên tới 1.700 - 2.400

mm Do là tỉnh địa đầu của miền Bắc, Quảng Ninh chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc và bão tố mạnh hơn so với các tỉnh khác ở Bắc Bộ Trong những ngày gió mùa Đông Bắc, ở vùng núi cao Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà nhiệt độ

có khi xuống dưới 00

C

Vùng biển Quảng Ninh thuộc vịnh Bắc Bộ là vịnh nông, lại có hệ thống đảo chắn gió và sóng nên thuận lợi cho quá trình lắng đọng phù sa, tạo nên các bãi triều rộng

1.1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ ong đã hai lần được UNE CO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo Quảng Ninh có nhiều Khu kinh tế, trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực Năm 2010, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 7 ở Việt Nam

Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước à một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản,( trữ lượng than chiếm 90% tổng sản lượng than của cả nước) Nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh Quảng Ninh với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ ong 2 lần được

Trang 19

Tổ chức UNE CO tôn vinh; với các di tích lịch sử, văn hóa Yên Tử, bãi cọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan ạn, Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ tạo thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa tâm linh Quảng Ninh được xác định là một điểm của vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, là cửa ng quan trọng của hành lang kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc xếp cho tàu hàng vạn tấn, tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữa nước ta với các nước trên thế giới Quảng Ninh có hệ thống cửa khẩu phân bố trên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư; là cửa ng giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu vực

Quảng Ninh có 21 thành phần dân tộc, song chỉ có 6 dân tộc có số dân trên một nghìn người là: Kinh, Dao, Tày, án Dìu, án Chỉ, Hoa; hai dân tộc

có trên trăm người là Nùng và Mường, mười bốn dân tộc còn lại có số dân dưới 100 người Trong các dân tộc đông người, người Việt (Kinh) chiếm 89% tổng số dân Trong số các dân tộc thiểu số có nguồn gốc lâu đời, người Dao

có hai nhóm chính là Thanh Y, Thanh Phán, thường cư trú ở vùng núi cao Họ còn giữ được bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ, y phục, lễ hội và phong tục tập quán truyền thống Người Tày, người án Dìu, án Chỉ ở vùng núi thấp và chủ yếu sống bằng nông nghiệp với nghề thủ công ở các thị trấn miền đông, một số khác sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp, đánh cá, làm nghề rừng

C ng như các địa phương khác, cư dân sống ở Quảng Ninh c ng có những tôn giáo, tín ngưỡng để tôn thờ là Phật giáo, Thiên Chúa giáo, thờ cúng

tổ tiên và một vài tín ngưỡng dân gian khác Về tín ngưỡng dân gian, phổ biến nhất đối với cư dân sống ở Quảng Ninh là thờ cúng tổ tiên, thờ các vị tướng lĩnh nhà Trần có công với nước, các vị thành hoàng, các vị thần ( ơn thần, Thổ thần, Thuỷ thần) và thờ các Mẫu (Mẫu iễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải)

Trang 20

1.1.1.3 Truy n th ng lịch sử, văn hoá

Nói đến Quảng Ninh, người ta không thể không nói đến kho tàng văn hoá khổng lồ mà tỉnh đang bảo tồn và phát triển Đó là 541 di sản văn hoá vật thể gồm những đình, chùa, đền, miếu, danh lam thắng cảnh và hơn 2.800 hồ

sơ di sản văn hoá phi vật thể là những phong tục, tập quán, trò chơi dân gian… Các di sản văn hoá của Quảng Ninh được trải dài theo cả thời gian: Từ khi con người đặt chân đến vùng đất này ở giai đoạn đồ đá, đồ đồng (cách ngày nay hàng ngàn năm) đến các triều đại ý, Trần, ê, Nguyễn, giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ Và theo cả không gian, với sự phân bố từ miền núi tới hải đảo, từ Trà Cổ (Móng Cái) tới Đông Triều Bên cạnh đó, Quảng Ninh

có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống, m i dân tộc lại có những bản sắc văn hoá riêng

Được ví như “nước Việt Nam thu nhỏ”, Quảng Ninh có địa hình đa dạng, phức tạp, hội tụ các dạng địa hình tiêu biểu của cả nước là biển đảo, đồng bằng, trung du và miền núi Những điều kiện tự nhiên phong phú này đã tạo cho Quảng Ninh những thắng cảnh nổi tiếng mà ít địa phương nào trong

cả nước có được Trong đó, dạng địa hình biển đảo là dạng địa hình đặc trưng, chi phối, tạo cho Quảng Ninh hình ảnh tự nhiên kỳ vĩ, không thể lẫn lộn, là nền tảng tạo nên Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ ong, quần đảo Cô Tô, bãi tắm Trà Cổ, Vườn quốc gia Bái Tử ong… Dạng địa hình trung du có hồ Yên ập (Hoành Bồ), hồ Yên Trung (Uông Bí), thác ựng Xanh (Uông Bí), thác Mơ (Yên Hưng), rừng thông (Yên Hưng) Dạng địa hình đồi núi có rừng nguyên sinh Yên Tử, Khu Bảo tồn Đồng ơn - Kỳ Thượng Bên cạnh

đó, Quảng Ninh còn là một cái nôi cư trú của người Việt Cổ với ba nền văn hoá tiền sử kế tiếp nhau từ hậu kì đá c đến sơ kỳ kim khí cách ngày nay ít nhất một vạn năm Hàng ngàn hiện vật đã được tìm thấy trong các vùng đất của Quảng Ninh, khẳng định sự tồn tại của các nền văn hoá oi Nhụ, văn hoá Cái Bèo, văn hoá Hạ ong Tất cả đều chứng minh r ràng rằng: Từ hàng

Trang 21

nghìn năm trước, trên đất Quảng Ninh này đã tồn tại một nền văn hoá ở vào

“cửa ng ” của nền văn minh Việt cổ Bên cạnh các di tích khảo cổ, Quảng Ninh còn có một số lượng đáng kể di tích lịch sử - văn hoá quan trọng Di tích thương cảng Vân Đồn từ xa xưa đã nổi tiếng trong lịch sử, đã và đang trở thành đề tài nghiên cứu hấp dẫn của các nhà sử học trong và ngoài nước Khu

di tích lịch sử Bạch Đằng - nơi ghi dấu chiến công oanh liệt của cha ông trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông, bảo vệ đất nước Ngoài ra còn các cụm

di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh, di tích chống Mỹ cứu nước…

Không chỉ thế, Quảng Ninh còn là một vùng đất giàu có về di sản văn hoá phi vật thể với hơn 2.800 hồ sơ Đó là 64 lễ hội truyền thống mang đặc trưng của từng vùng miền; là hàng loạt những di sản khác nhau, bao gồm: Ngữ văn dân gian (gồm có: ử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đối, truyện cổ tích, truyện trạng ); nghệ thuật trình diễn dân gian (gồm: Âm nhạc, múa hát, sân khấu ); tập quán xã hội (bao gồm luật tục hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác); tri thức dân gian (bao gồm tri thức về thiên nhiên, đời sống con người, lao động sản xuất, y, dược học cổ truyền, ẩm thực, trang phục); nghề thủ công truyền thống… Đặc biệt, các lễ hội ở Quảng Ninh là những giá trị văn hoá phi vật thể quý báu tồn tại trong đời sống văn hoá tinh thần của người Quảng Ninh Trong đó, phải kể đến những lễ hội rất độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số như: Hội làng của đồng bào Dao ở xã Bằng Cả (Hoành Bồ); lễ hội oóng Cọ; lễ hội đình ục

Nà của đồng bào Tày xã ục Hồn (Bình iêu), lễ hội đình Trà Cổ (Móng Cái), lễ hội Vân Đồn (xã Quan ạn, huyện Vân Đồn), lễ hội Tiên Công, lễ hội Bạch Đằng (TX Quảng Yên), hội chùa Quỳnh âm, hội đền An inh (huyện Đông Triều)

Ngoài ra, văn hoá Quảng Ninh còn có nét đặc sắc riêng với nền “văn hoá công nhân mỏ” được hình thành và phát triển gần 150 năm nay, gắn liền với quá trình lao động, đấu tranh cách mạng Văn hoá vùng Mỏ là sự kết hợp

Trang 22

của hai yếu tố: Những nét văn hoá truyền thống chắt lọc tinh hoa của khắp các vùng miền trong cả nước và văn hoá hiện đại ra đời từ cuộc sống công nghiệp

và mang đậm hơi thở của cuộc sống công nghiệp hiện đại, góp phần làm cho kho di sản văn hoá của Quảng Ninh ngày càng thêm phong phú, đa dạng

Những vốn quý về văn hoá này đã và đang khẳng định những giá trị khác biệt của Quảng Ninh Và việc bảo tồn, phát huy giá trị những di sản văn hoá quý báu này chính là chiếc cầu nối quan trọng để Quảng Ninh cùng với cả nước bước vào hội nhập với thế giới

1.1.2 Công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa

ở tỉnh Quảng Ninh trước năm 2005

1.1.2.1 Một s v n lý luận chung v bảo tồn và phát huy giá trị các

di tích lịch sử, văn h

* Khái niệm di tích lịch sử, văn h

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy

Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 và uật Di sản văn hóa (sửa đổi bổ sung) năm 2009 tại chương I, điều 4, mục 3 có ghi: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có di tích lịch sử văn hóa, khoa học.” [42, tr.31]

C ng tại chương IV, điều 28, mục 1 của Luật Di sản văn hóa năm 2001 quy định về di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; công trình xây dựng, địa điểm gắn sự kiện lịch sử tiêu biểu của của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; quần thể các công trình kiến trúc hoặc các công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử [42, tr.41-42]

Trang 23

Di tích lịch sử, văn hóa là kết quả hoạt động lao động sáng tạo của con người Vì vậy, cần có chiến lược trong quá trình hoạch định đường lối, chủ trương trong quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa Luật Di sản văn hóa năm 2001 và uật Di sản văn hóa sửa đổi bổ sung năm

2009 tại chương I, điều 4, mục 11,12,13 chỉ rõ:

Bảo quản di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm

hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Tu bổ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm

tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Phục hồi di tích di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đó [42, tr.32]

Tại Chương IV, Mục 1, Điều 29 ghi rõ: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây được gọi chung là di tích) [42, tr.45]

Tại chương IV, điều 34 Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật Di sản văn hóa sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về việc bảo quản, tu bổ, phục hồi

di tích phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Giữ vững tối đa các yếu tố cấu thành di tích; lập quy hoạch, dự án trình

cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố cấu thành gốc của di tích Đối với di tích cấp tỉnh phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp tỉnh; đối với di tích cấp Quốc gia và di tích Quốc gia đặc biệt, phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; công bố công khai quy hoạch, dự án đã được phê duyệt tại địa phương nơi có di tích [42, tr.49]

Trang 24

Nghị định 98/2010/NĐ-CP, ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và uật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, quy định về nguyên tắc xác định phạm

vi và cắm mốc giới các khu vực bảo vệ di tích như sau:

(1) Việc xác định khu vực bảo vệ I của di tích được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

Đối với di tích là công trình xây dựng, địa điểm gắn với các sự kiện lịch sử, thân thế sự nghiệp của danh nhân thì phạm vi khu vực bảo vệ I phải bao gồm các khu vực có công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu những sự kiện tiêu biểu của sự kiện lịch sử, những công trình lưu niệm gắn với danh nhân liên quan đến di tích đó;

Đối với di tích là địa điểm khảo cổ thì phạm vi khu vực bảo vệ I phải bao gồm khu vực đã phát hiện các di tích, di vật, địa hình, cảnh quan có liên quan trực tiếp tới môi trường sinh sống của chủ thể đã tạo nên địa điểm khảo cổ đó;

Đối với di tích là quần thể các công trình kiến trúc nghệ thuật hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ thì phạm vi khu vực bảo vệ I phải bao gồm các khu vực có công trình kiến trúc, sân, vườn, ao, hồ và cả các yếu tố khác liên quan đến di tích đó;

Đối với danh lam thắng cảnh thì phạm vi khu vực bảo vệ I phải bảo đảm cho việc giữ gìn toàn vẹn cảnh quan thiên nhiên, địa hình, địa mạo và các yếu tố địa lý khác chứa đựng đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù, các dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất hoặc các công trình kiến trúc liên quan đến danh lam thắng cảnh đó;

Đối với di tích gồm nhiều công trình xây dựng, địa điểm phân bố trên phạm vi rộng thì phải xác định khu vực bảo vệ I cho từng công trình xây dựng, địa điểm

(2) Khu vực bảo vệ II là khu vực bao quanh hoặc tiếp giáp với khu vực bảo vệ I để bảo vệ cảnh quan và môi trường – sinh thái của di tích và là khu vực được phép xây dựng các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị của di tích

Trang 25

Việc xác định không có khu vực bảo vệ II được áp dụng trong trường hợp di tích đó nằm trong khu vực dân cư hoặc liền kề các công trình xây dựng

Số

TT

Tên địa phương

Di tích xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt

Di tích xếp hạng cấp Quốc gia

Di tích xếp hạng cấp Tỉnh

Di tích được Kiểm kê, phân loại

Tổng cộng

Bảng th ng kê 1: Danh mục di tích lịch sử, văn h và d nh thắng

t ên ịa bàn tỉnh Quảng Ninh (Nguồn: Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Ninh)

Trang 26

Có thể khẳng định, bản sắc văn hóa của Quảng Ninh chính là những di tích - di sản lịch sử, văn hóa mà cha ông đã để lại trên mảnh đất này, tiêu biểu trong số đó là di tích Yên Tử, khu di tích nhà Trần (Đông Triều), di tích Chiến thắng Bạch Đằng và di tích thương cảng cổ Vân Đồn

Khu di tích danh thắng Yên Tử là nơi gắn liền với sự nghiệp tu hành

của Tam tổ Trúc âm, đánh dấu sự ra đời của Thiền phái Trúc âm Đức vua Trần Nhân Tông là người sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Thiền phái Trúc âm đã hội tụ đầy đủ những tinh thần của Phật giáo, nhưng chứa đựng được những nét độc đáo của Việt Nam Vì vậy Yên Tử c ng được xem là kinh đô Phật giáo Việt Nam Từ Yên Tử, giáo lý Trúc Lâm phát triển rộng ra khắp vùng Đông Bắc, dựng lên 800 ngôi chùa lớn nhỏ, trong đó có những chùa nổi tiếng như: Quỳnh âm, Côn ơn, Thanh Mai… với 15.000 chúng tăng độ trì Khu di tích danh thắng Yên Tử đã được xếp hạng đặc cách là Di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 15 VH/QĐ ngày 13/3/1974

Khu di tích nhà Trần (Đông T i u) là một trong những vùng ẩn tích

chứa nhiều di sản văn hóa đặc sắc của thời Lý - Trần Kết quả nghiên cứu khoa học gần đây đã khẳng định: kinh đô Thăng ong và Thiên Trường Nam Định là hai trung tâm chính trị, còn Đông Triều là một trung tâm văn hóa đặc sắc của nhà Trần Ngày 28/4/1962, Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch) ra Quyết định số 313 xếp hạng khu di tích đền thờ lăng miếu các vua Trần là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

Khu di tích chiến thắng Bạch Đằng là nơi ghi dấu những chiến công

oanh liệt của quân và dân nhà Trần, đặc biệt là ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông vào thế kỷ thứ 13 Đại thắng giặc Nguyên Mông năm 1288 trên sông Bạch Đằng đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một biểu tượng hào hùng, ý chí quật cường, tinh thần bách chiến bách thắng về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân

Trang 27

Khu di tích thương cảng V n Đồn là thương cảng đầu tiên của nước

Đại Việt, chiếm một vị trí đặc biệt, là đầu mối ngoại thương sớm nhất trong lịch sử nước ta Tên gọi Vân Đồn xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam là vào thời Lý (1010- 1225) Vùng biển Vân Đồn được đặc biệt coi trọng

vì có một vị trí xung yếu trên đường hải vận Trung Quốc - Việt Nam, kéo dài xuống Đông Nam Á Chính vì vậy, nơi đây sớm trở thành trung tâm của con đường giao lưu kinh tế, văn hoá từ Bắc vào Nam Từ sau khi thương cảng được thành lập, các thương nhân nước ngoài đến đây buôn bán ngày càng nhiều và thường xuyên hơn Vân Đồn nổi lên là một trung tâm mậu dịch bán

và bang giao nổi tiếng trong khu vực

V s lượng di tích

V phân b : Các di tích được phân bố trên địa bàn toàn tỉnh; mật độ

trung bình khoảng 43,4 di tích/huyện, thị xã, thành phố Tuy nhiên, do đặc trưng

về địa hình, lịch sử, tự nhiên nên mật độ di tích tại từng địa phương có sự khác biệt, đặc biệt, hai địa phương tập trung số lượng lớn di tích như thị xã Quảng Yên và thị xã Đông Triều với 307 di tích, chiếm gần 50% số lượng di tích toàn tỉnh Các địa bàn Hạ ong, Vân Đồn, Móng Cái, Hoành Bồ c ng có nhiều di tích, mặc dù số lượng ít hơn, chỉ bằng 1/3 hai địa phương trên, tuy nhiên, c ng chiếm số lượng 199 di tích bằng 33% tổng số Nằm ở vị trí thứ ba là Uông Bí, Tiên Yên và Cẩm Phả chỉ có 72 di tích, bằng 12%, con số này vẫn tỏ ra vượt trội

so với các địa phương ít di tích nhất gồm: Huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Hà, Cô Tô có 30 di tích bằng 5% tổng số di tích toàn tỉnh

Yếu tố địa hình có tác động rất lớn, có tính quyết định đến việc di tích

có phân bố nhiều hay không tại một địa phương Nhìn chung, khu vực miền Tây tỉnh Quảng Ninh, mặc dù chỉ có 5 địa phương nhưng có số lượng di tích lớn hơn, chiếm đến 425 di tích, bằng 70%, so với khu vực miền Đông 183 di tích, bằng 30% Các huyện thuộc khu vực miền núi do nguyên nhân về địa hình và dân cư thưa hơn khu vực đồng bằng, ven biển nên con số di tích khá

Trang 28

khiêm tốn với 84 di tích thuộc 6 huyện, trong đó gần một nửa nằm trên địa bàn huyện Hoành Bồ thuộc khu vực miền Tây Cuối cùng, khu vực biển đảo gồm Cô Tô và Vân Đồn có 57 di tích, bằng 9,5% tổng di tích trên toàn tỉnh Tuy nhiên, do vị trí địa lý thuận lợi, phù hợp với giao thương, buôn bán từ thế

kỷ 11, nên Vân Đồn sở hữu một số lượng đáng kể di tích liên quan đến hệ thống thương cảng Vân Đồn

V loại hình di tích: Các di tích có thể phân chia thành 3 loại hình di tích: Loại hình khảo cổ: Quảng Ninh là một tỉnh có nhiều điều kiện tự nhiên

thuận lợi, những dấu vết về sự có mặt của con người trên mảnh đất này có từ rất sớm Những dấu vết được phát hiện cho thấy trong quá trình chinh phục tự nhiên và phát triển của con người Quảng Ninh đã tạo ra một không gian văn hóa với hàng trăm di sản trong đó có những di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử có giá trị quan trọng như Đầu Rằm, Bãi cọc Bạch Đằng, hang Đông Trong, Hòn Hai - Cô Tiên Những thành tựu của các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước đã tiến hành trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cho kết quả là gần 100 địa điểm khảo cổ được phát hiện thuộc về giai đoạn tiền sử và lịch sử Đây là những phát hiện quan trọng góp phần làm rõ về không gian văn hóa phong phú, đặc trưng cơ bản của từng giai đoạn phát triển, nhận thức r hơn về vai trò và vị thế của mảnh đất địa đầu Đông Bắc tổ quốc

Hiện nay, toàn tỉnh Quảng Ninh có 41 di tích khảo cổ, chiếm 6,7% tổng

số di tích Với đặc trưng riêng biệt về loại hình, các di tích khảo cổ tập trung tại những địa bàn có lịch sử tồn tại của người bản địa từ sớm, điển hình như thành phố Hạ Long, thị xã Quảng Yên và thành phố Móng Cái, Vân Đồn Trong khi đó, có những địa phương có nhưng rất ít, số lượng dưới 5 di tích/huyện như Tiên Yên, Ba Chẽ, Hải Hà, Đầm Hà, Cô Tô, Hoành Bồ, Đông Triều Dù vậy, con số này c ng là đáng kể nếu so với địa phương Bình iêu không có di tích khảo cổ

Trang 29

Loại hình di tích lịch sử: Đây là loại hình chiếm số lượng di tích nhiều

nhất, với 567 di tích, bằng 93% tổng số di tích trên toàn tỉnh Quảng Ninh Loại hình di tích lịch sử bao gồm: di tích cách mạng, lưu niệm sự kiện, lưu niệm danh nhân, di tích tôn giáo tín ngưỡng gồm đình, đền, miếu, nghè, nhà thờ họ, chùa, nhà thờ đạo Dựa trên đặc điểm của từng loại mà tương ứng với

số di tích kèm theo Ví dụ: di tích tôn giáo tín ngưỡng có 459 di tích, bằng 91% số di tích lịch sử và bằng 75,5% tổng toàn bộ di tích trong tỉnh Ngược lại, di tích lịch sử liên quan đến các thời kỳ cách mạng và lưu niệm danh nhân, sự kiện cụ thể lại chỉ bằng 19% và 17,7% lần lượt so với tổng loại hình

và tổng số lượng toàn tỉnh Xét về địa điểm phân bố, các di tích thuộc loại hình lịch sử tọa lạc tại khu vực miền Tây nhiều hơn gấp 3 lần khu vực miền đông, bằng 74% (422/567 di tích)

Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật: Loại hình kiến trúc nghệ thuật có

số lượng di tích ít nhất tại tỉnh Quảng Ninh Nguyên nhân là do những biến động lịch sử tác động không nhỏ đến sự tồn tại và biến đổi của di tích, đồng thời, yếu tố tự nhiên c ng ảnh hưởng lớn đến sự xuống cấp, hư hỏng của di tích Toàn tỉnh hiện chỉ có 17 di tích được xếp vào loại hình kiến trúc nghệ thuật Con số ít ỏi này, tập trung tại hai địa bàn đậm đặc về di tích là thị xã Quảng Yên và Đông Triều, 12/17 di tích, bằng 70% Toàn bộ các địa phương thuộc khu vực miền Đông, duy chỉ có thành phố Móng Cái và tuyến đảo có huyện Vân Đồn còn bảo lưu di tích kiến trúc nghệ thuật

Hiện trạng và tình trạng kỹ thuật của di tích các di tích lịch sử văn h ược chia thành các loại như s u:

Loại di tích là phế tích, chiếm khoảng 3% tổng số di tích

Loại di tích trong tình trạng xuống cấp trầm trọng, chiếm khoảng 20% tổng số di tích

Loại di tích có biểu hiện xuống cấp, chiếm khoảng 65% tổng số di tích Loại di tích hiện đang trong tình trạng bảo quản tốt: chiếm khoảng 12%

Trang 30

Hình thức sở hữu di tích: Có hai hình thức sở hữu:

Di tích thuộc quyền sở hữu tập thể: có 488 di tích, phân đều cho các loại hình (ngoại trừ di tích lịch sử loại nhà thờ họ) bằng 80,3% di tích của tỉnh Quảng Ninh

Di tích thuộc quyền sở hữu tư nhân: Di tích thuộc sở hữu tư nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh chiếm số lượng ít hơn di tích thuộc quyền sở hữu tập thể, với khoảng 120 di tích, chiếm 19,7% và tương đương 1/5 tổng số di tích toàn tỉnh Chiếm gần như toàn bộ trong số này là di tích lịch sử loại nhà thờ

họ 115/120 di tích và tập trung đến 88% số lượng tại thị xã Quảng Yên, nơi

có truyền thống thờ cúng các Tiên công và tổ tiên có công khai phá ra vùng đất và xây dựng quê hương

Hệ th ng di vật, cổ vật quản lý tại Bảo tàng Quảng Ninh

Bảo tàng Quảng Ninh là một thiết chế văn hóa quan trọng, là nơi lưu giữ, bảo quản số lượng tài liệu, hiện vật rất lớn và quý giá nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; qua đó, giới thiệu lịch sử, nét văn hóa độc đáo, con người và thiên nhiên Quảng Ninh một cách đặc sắc và sinh động Việc trưng bày

và lưu trữ hiện vật, phản ánh được đầy đủ những nét khác biệt về truyền thống, đời sống, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, thiên nhiên và con người Quảng Ninh trong suốt tiến trình 50 năm xây dựng và phát triển; là nơi phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng nhân dân

* Di sản văn h hi vật th

Tổng số danh mục di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã được kiểm kê là 200 di sản văn hóa phi vật thể, thuộc 04 loại hình: Ngữ văn dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian và lễ hội truyền thống (có 59 lễ hội),

Lễ hội truyền thống đều gắn cụ thể với những di tích đã được xếp hạng

di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh Các lễ hội cơ bản thường diễn ra dịp đầu năm tính theo âm lịch, có lễ hội diễn ra vào thời điểm

Trang 31

giữa năm như lễ hội Quan Lạn diễn ra tại khu di tích lịch sử đình, nghè, miếu, chùa Quan Lạn (huyện Vân Đồn), lễ hội đình Trà Cổ, tại di tích đình Trà Cổ (thành phố Móng Cái)…; dịp cuối năm như: lễ hội đình Yên Cư (thành phố

Hạ Long), lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tổ, đình Trới (huyện Hoành Bồ)…Thời gian lễ hội kéo dài tùy thuộc vào điều kiện và truyền thống của lễ hội Thông thường lễ hội tại di tích chính thức kéo dài từ 1-3 ngày, nhưng cá biệt có di tích như: khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử kéo dài 3 tháng, từ tháng Giêng đến hết tháng Ba âm lịch hàng năm Mật độ tập trung các lễ hội truyền thống tại di tích c ng có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương Trong khi khu vực Đông Triều (19 lễ hội), Quảng Yên (11 lễ hội) thì lại có những địa phương như Vân Đồn, Tiên Yên, Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Đầm Hà, Hải

Hà, Hoành Bồ chỉ có từ 1 - 3 lễ hội truyền thống

Một điểm đáng chú ý là, lễ hội thường diễn ra tại 1 di tích nhưng rất nhiều lễ hội có sự kết nối giữa các điểm di tích nằm trong cùng cụm/khu di tích, hoặc từ di tích này sang di tích khác như: lễ hội Tiên Công diễn ra tại di tích Miếu Tiên Công và các di tích nhà thờ họ tại đảo Hà Nam (thị xã Quảng Yên) Quảng Ninh có 59 lễ hội lớn, nhỏ diễn ra thường niên, trong đó, có các

lễ hội lớn được diễn ra trong dịp đầu năm như: ễ hội Yên Tử, lễ hội đền Cửa Ông, lễ hội Tiên Công, lễ hội chùa Lôi Âm, lễ hội đình ục Nà, lễ hội đình Đầm Hà, lễ hội đình àng Dạ, lễ hội chùa Quỳnh Lâm Bên cạnh đó, nhiều

di tích đã tổ chức các nghi lễ như: đền Cửa Ông, chùa Long Tiên, đền Trần Quốc Nguyễn, chùa Cái Bầu, chùa ôi Âm, đền Cái ân,…thu hút hàng chục nghìn lượt nhân dân và du khách thập phương về dự, chiêm bái

Tỉnh Quảng Ninh đã lập 03 hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể là: ễ cấp Sắc của tộc người Dao Thanh Phán (huyện Hoành Bồ); Then nghi

lễ tộc người Tày (huyện Bình Liêu) và di sản văn hoá phi vật thể Hát nhà tơ (hát, múa cửa đình) đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Năm 2016, ở Văn hóa, Thể thao và

Trang 32

Du lịch dự kiến lập 02 hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể ễ hội Tiên Công (xã Cẩm a, thị xã Quảng Yên) và ễ hội đền Cửa Ông, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia

1.1.2.3 Hoạt ộng bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa củ Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh t ước năm 2005

* Qu n i m củ Đảng

Bước vào thời kỳ đổi mới, do nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của văn hóa trong đó có di sản văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết sách, ban hành các văn bản pháp luật về quản lý di sản văn hóa

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII của Đảng xác định: Tiếp tục trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử và sửa chữa các công trình văn hóa Xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh Đấu tranh có hiệu quả chống văn hóa đồi trụy, mê tín dị đoan, đồi phong bại tục, chống các loại tuyên truyền phản động

Nhằm cụ thể hóa chủ trương này, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi) năm 1992 chủ trương: Nhà nước và xã hội cần bảo tồn, phát triển các di sản văn hoá dân tộc, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng chỉ r : “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh của đất nước Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc…

Trang 33

Khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước ta…”[16,tr.45]

Tại Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa VIII

(7/1998), lần đầu tiên Đảng đưa ra nghị quyết riêng về Xây dựng và phát tri n

n n văn h Việt Nam tiên tiến ậm à ản sắc dân tộc Nghị quyết Trung

ương 5, khóa VIII đã thể hiện sự phát triển về nhận thức và tư duy lý luận về văn hóa của Đảng

Đề cập đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, Nghị quyết khẳng định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể”[17,tr.38]

Ngày 12-8-1998, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số

38-CT/TW “V việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm B n

ch hành T ung ương Đảng khóa VIII” Tiếp sau đó, ngày 17-9-1998, Chính phủ ra “Chương t ình hành ộng của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban ch hành T ung ương Đảng (khóa VIII) v “X y dựng và phát tri n n n văn h Việt Nam tiên tiến, ậm à ản sắc dân tộc” Chương

trình đề cập đến Đề án bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc Nội dung cơ bản của Đề án gồm:

Một là, xây dựng phương án bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn

hóa vật thể, phi vật thể, bao gồm các di sản văn hóa dân gian truyền thống, chú trọng các di sản văn hóa quốc gia, di sản văn hóa đã được UNESCO công nhận, di sản cách mạng tiêu biểu và di sản cảnh quan thiên nhiên môi trường

Hai là, tiến hành tổng điều tra di sản văn hóa, từng bước quy hoạch có

phương thức bảo tồn và biện pháp quản lý

Trang 34

Ba là, có chương trình phiên dịch, giới thiệu kịp thời kho tàng văn hóa

Hán - Nôm

B n là, tiếp tục triển khai chương trình về văn hóa với 4 mục tiêu:

chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử; phát triển điện ảnh Việt Nam; phát triển văn hóa, thông tin cơ sở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; điều tra, sưu tầm, nghiên cứu và phát huy vốn văn hóa dân tộc (văn hóa phi vật thể)

Đây là những định hướng lớn trong hoạt động bảo tồn, bảo tàng trên quy mô cả nước

Trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm, mục tiêu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử của Đảng được thông qua các Đại hội trước, đặc biệt

là trong Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Quan điểm coi văn hóa là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội của Đảng là quan điểm khoa học, hiện đại và mang tính thực tiễn cao, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn với kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế hiện nay

Đề cập đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc, Đại hội nhấn mạnh:

“Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền… chú trọng gìn giữ, phát triển các di sản văn hóa phi vật thể, tôn tạo và quản lý tốt các di sản văn hóa vật thể, các di tích lịch sử; nâng cấp các bảo tàng [18,tr69]”

Ngày 29/6/2001, kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa X nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật Di sản Văn h , có hiệu lực từ ngày

01/01/2002 Với các điều khoản cụ thể, rõ ràng, phạm vi điều chỉnh của bộ luật bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể, quy định cụ thể việc kiểm kê,

Trang 35

sưu tầm vốn văn hóa truyền thống của người Việt và các tộc người thiểu số; bảo tồn các làng nghề truyền thống, các tri thức về y, nghệ sỹ bậc thầy trong các ngành nghề truyền thống; về quản lý bảo vệ và phát huy giá trị các di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia cùng việc xây dựng các bộ sưu tập và tổ chức các bảo tàng; việc mở hệ thống các cửa hàng mua bán cổ vật, lập các bảo tàng và sưu tập tư nhân; thống nhất việc sử dụng các nguồn thu và trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp ngân sách cho hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa…

Luật di sản Văn h được ban hành nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di

sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Đây r ràng

là một bước tiến, thể hiện sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân về tài sản văn hóa quốc gia, là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam

* Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn h của tỉnh Quảng Ninh t ước năm 2005

Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI (2001) xác định: “Bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Hướng dẫn các lễ hội địa phương nhằm phát huy giá trị văn hóa.” [23, tr.67]

Nhận rõ giá trị, ý nghĩa quan trọng của các di tích lịch sử, văn hóa của địa phương, Đảng bộ tỉnh luôn chú trọng đến công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa Đảng bộ tỉnh chỉ đạo Ủy ban nhân dân, sở Văn hóa – Thông tin thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ, tu bổ di tích, lập hồ sơ trình

Bộ Văn hóa thể thao (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận các di tích lịch sử cấp quốc gia, c ng như quyết định công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh

Trang 36

Qua hơn 5 năm thực hiện Luật Di sản văn hóa năm 2001 cho thấy, Đảng bộ, chính quyền đã ngày càng quan tâm đến công tác bảo tồn, quản lý

và khai thác giá trị các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh

Nhờ có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền thông qua các chủ trương chính sách đúng đắn, kịp thời nên đã tạo được sự quan tâm của toàn xã hội đối với việc bảo tồn, quản lý, khai thác các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh Một số vụ vi phạm xâm hại di tích được ngăn chặn, xử lý Nhiều di tích như: Di tích chiến thắng Bạch Đằng, Khu di tích danh thắng Yên Tử, Khu di tích thương cảng Vân Đồn, Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều, Khu di tích Đền Cửa Ông… được khai thác tốt, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao trách nhiệm công dân đối với di sản văn hoá dân tộc

Các cấp ủy, chính quyền đã chỉ đạo tốt hoạt động lễ hội, hội diễn văn nghệ quần chúng Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về văn hóa, ngăn ngừa văn hóa độc hại, chống các hủ tục lạc hậu và tệ nạn xã hội, tăng cường công tác quản lý, duy tu, trùng tu các di tích lịch sử, văn hóa đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân Tỉnh đã tổ chức tuyên truyền đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Tăng cường tuyên truyền giáo dục và ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, quản lý nhà nước về văn hóa Tăng cường quản lý các di tích, quản lý các hoạt động lễ hội, các dịch vụ văn hóa Chỉ đạo phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, cơ quan văn hóa Công tác quản lý, trùng tu, tôn tạo và phát huy các di tích lịch sử, văn hóa được quan tâm, góp phần nâng cao ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, trở thành nét sinh hoạt không thể thiếu trong đời sống cộng đồng

Bên cạnh đó, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa của Quảng Ninh trước năm 2005 còn một số hạn chế Các di tích lịch

sử, văn hóa trên địa bàn mặc dù được quan tâm nhưng chưa thường xuyên, kịp thời và còn mang nặng tính mùa vụ Do vậy, tình trạng xâm hại, lấn chiếm

Trang 37

đất đai di tích, khu vực khoanh vùng, bảo vệ di tích vẫn còn diễn ra tại một số địa phương, các cấp ủy địa phương chưa quan tâm và có báo cáo kịp thời nên việc giải quyết các vấn đề vướng mắc còn chậm, xử lý chưa dứt điểm

Nhiều địa phương có di tích do chưa nhận thức đầy đủ vai trò, ý nghĩa của việc bảo tồn, quản lý, khai thác di tích nên đã buông lỏng công tác quản

lý Xuất hiện các hình thức kinh doanh ở trong và ngoài di tích trái với quy định như chặn xe thu tiền, bán vé vào di tích, xây dựng các cơ sở dịch vụ lấn

át cảnh quan di tích; tổ chức hoạt động mê tín dị đoan như xem tướng số, bói toán, lên đồng gọi hồn, bắt tà, trừ ma…

Hoạt động khai thác, kêu gọi công đức, quản lý và sử dụng nguồn công đức chưa tuân theo nguyên tắc tiền thu được ở di tích phải phục vụ cho di tích, chưa đảm bảo nguyên tắc thu, chi theo quy định hiện hành Hoạt động quản lý di tích của một số địa phương còn mang nặng tính hình thức Tại một

số địa phương người trông coi di tích, địa phương tổ chức khuyến thiện, tự ý sửa chữa tu bổ các hạng mục nhưng không xin phép cơ quan có thẩm quyền làm ảnh hưởng tới các giá trị gốc của di tích…

Vì vậy, trong thời gian tiếp theo, Đảng bộ tỉnh cần có những lộ trình phù hợp để đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa của tỉnh đạt hiệu quả cao hơn

1.2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm

Trang 38

tảng tinh thần của xã hội là một trong những nhiệm vụ lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong những năm tới Đại hội chủ trương: tiếp tục phát triển và nâng cao hơn nữa chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: “Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa…Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng và các dân tộc Bảo tồn và phát huy văn hóa, văn nghệ dân gian Kết hợp hài hòa việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch”[ 18, tr.106-107]

Với quan điểm cụ thể này, Đảng khẳng định vai trò và mục đích của việc phát huy, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa; gắn phát triển văn hóa, bảo tồn các di tích lịch sử với phát triển kinh tế hạ tầng đồng bộ, kết hợp với văn hóa du lịch

Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2006 – 2010 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 31-7-2007 theo Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg nêu mục tiêu tổng quát là: Nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành; huy động sức mạnh của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển văn hoá, để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần, là động lực, là nhân tố góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2006 – 2010 còn nhằm ngăn chặn nguy cơ xuống cấp các di tích và sự huỷ hoại văn hoá phi vật thể Bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích, thắng cảnh và vốn văn hoá phi vật thể để trở thành những sản phẩm văn hoá có giá trị, phục vụ công tác giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống văn hiến, phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hoá của toàn xã hội nói chung và nhu cầu phát triển du lịch nói riêng

Trang 39

Chương trình đặt ra một số chỉ tiêu cụ thể trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc ta như đầu tư tu bổ, tôn tạo 70% di tích lịch sử cách mạng, 80% di tích kiến trúc nghệ thuật, danh thắng được công nhận di tích cấp Quốc gia; h trợ chống xuống cấp khoảng 1200 di tích khác được công nhận di tích quốc gia

Bộ Văn hóa – Thông tin là cơ quan quản lý, điều hành chương trình, chủ trì phối hợp các Bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt đầu tư và quản lý thực hiện các dự án của chương trình theo quy định hiện hành; Ủy ban nhân dân các tỉnh có trách nhiệm tổ chức triển khai, thực hiện chương trình trên địa bàn chủ động huy động thêm các nguồn lực khác để thực hiện các dự án của chương trình

Ngày 06-5-2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

581/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chiến lược hát t i n văn h ến năm 2020”, trong đó khẳng định: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là

nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hóa Tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc… Kết hợp hài hòa việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững Điều tra sưu tầm, xây dựng ngân hàng dữ liệu về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể tiêu biểu Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để bảo quản, giữ gìn lâu dài tài liệu, hiện vật tại các bảo tàng, cơ quan lưu trữ tư liệu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật ở Trung ương

và địa phương

Như vậy, chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ đã khẳng định rất r nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa và việc gắn kết việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế - du lịch Đó là cơ sở cho các ngành, các cấp liên quan có định hướng đúng trong công tác bảo tồn và phát triển văn hóa

Trang 40

1.2.1.2 Chủ t ương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2005-2010 đề ra chủ trương phát triển văn hóa:

Phát triển và đổi mới các hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội Giữ vững và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa Coi trọng nâng cao văn hóa trong kinh doanh và trong nhân cách m i người dân

Bổ sung, hoàn thiện các quy hoạch phát triển văn hóa – thông tin; từng bước xây dựng hệ thống các thiết chế văn hóa, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Bảo tồn di tích cách mạng, di tích lịch sử, di tích văn hóa; nghiên cứu, thí điểm về bảo tồn các làng, bản cổ tiêu biểu của các dân tộc;

Đẩy mạnh xã hội hóa trong các lĩnh vực: quản lý, tôn tạo và phát huy các di tích, danh thắng, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, hoạt động văn hóa thể thao quần chúng [24, tr60-61]

Bên cạnh đó, Đảng bộ tỉnh luôn xác định, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa, là nhiệm vụ quan trọng Điều đó được thể hiện qua những quan điểm cơ bản:

Thứ nh t, thực hiện tốt việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị là góp

phần quan trọng trong xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Lập quy hoạch bảo tồn, tôn tạo tổng thể, xây dựng các đề án tu bổ, huy động các nguồn vốn thực thi các đề án, khai thác gắn liền với bảo vệ môi trường cảnh quan Hoàn chỉnh hồ sơ khoa học về giá trị lịch sử văn hóa đối với một số di tích chưa được công nhận để đề nghị Trung ương xét công nhận, phát động

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:25

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w