Yêu cầu đối với báo in trong việc thông tin về vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp .... Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh t
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN VĂN TIẾN
BÁO IN VỚI VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát: Báo Nhân dân, Báo Lao động, Báo Người Lao động, Báo Tuổi trẻ từ tháng 1 năm 2015 đến 30 tháng 9 năm 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 60320101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Trí Nhiệm
Hà Nội, 2016
Trang 2THEO Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỘNG KHOA HỌC
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Hoàng Đình Cúc
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả công bố trong luận văn hoàn toàn chính xác, chưa từng công bố trong bất cứ tài liệu nào, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Tiến
Trang 4DN Doanh nghiệp ĐKKD Đăng ký kinh doanh TNHH Trách nhiệm hữu hạn
LĐ Lao động NLĐ Người lao động CNVCLĐ Công nhân viên chức lao động CNLĐ Công nhân lao động
NSDLĐ Người sử dụng lao động BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế TƯLĐTT Thỏa ước lao động tập thể LĐLĐ Liên đoàn lao động
CĐ Công đoàn CSR Trách nhiệm xã hội (Corporate Social
Responcibiltity) XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 5Biểu đồ 2: Tổng số thể loại tác phẩm trên từng báo về CSR 40
Biểu đồ 3: Thể loại tin, bài, phóng sự trên báo Nhân dân 41
Biểu đồ 4: Thể loại tin, bài, phóng sự trên báo Lao động 41
Biểu đồ 5: Thể loại tin, bài, phóng sự trên báo Tuổi trẻ 42
Biểu đồ 6: Thể loại tin, bài, phóng sự trên báo Người Lao động 42
Biểu đồ 7: Số lượng tin, bài, phóng sự phản ánh về nâng cao sự hiểu biết và trách nhiệm của NLĐ trong các doanh nghiệp về việc thực hiện CSR 50
Biểu đồ 8: Số lượng tác phẩm báo in biểu dương các DN thực hiện tốt CSR 59
Biểu đồ 9: Sử dụng lao động không đúng quy định trên các báo khảo sát 64
Biểu đồ 10: Làm ảnh hưởng, gây hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường 67
Biểu đồ 11: Thể loại phóng sự của các báo trong diện khảo sát 72
Trang 6MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÁO IN VỚI VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 11 1.1 Một số khái niệm liên quan 11 1.2 Các thuyết về hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 18 1.3 Tổng quan về hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam 23 1.4 Vai trò của báo in với vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 30 1.5 Yêu cầu đối với báo in trong việc thông tin về vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 33 Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC TÁC PHẨM CỦA BÁO IN VỚI VẤN
ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 35 2.1 Giới thiệu những tờ báo khảo sát 35 2.2 Những nội dung đề cập liên quan đến vấn đề thực hiện trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp 39 2.3 Hình thức thông tin 70 2.4 Đánh giá thành công và hạn chế, nguyên nhân của thành công và hạn chế 73 Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CỦA BÁO IN VỚI VẤN ĐỀ THỂ HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 88 3.1 Những vấn đề đặt ra 88 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả của báo in với vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội 93 KẾT LUẬN 111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội, các thành phần kinh tế được tự do phát triển theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Chính vì vậy, trong thời gian qua đã có sự bùng nổ về số lượng doanh nghiệp và chính các DN đã đóng phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội
Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc định hướng phát triển, trong đó có vấn đề quản lý, xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế quản lý… dẫn đến tình trạng phát triển nóng, nhiều DN
đã lợi dụng sự chưa chặt chẽ của pháp luật đã gây tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của xã hội như sử dụng, thậm chí là bóc lột trẻ em; lao động cưỡng bức; chưa đảm bảo quyền lợi và các điều kiện làm việc của lao động nữ; chưa đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ; chăm sóc sức khoẻ; bảo vệ môi trường; xâm hại đến thân thể, uy tín, danh dự của người lao động…
Bên cạnh sự đóng góp tích cực, các DN cũng đã vi phạm những sai lầm, thậm chí là nghiêm trọng (Công ty Vedan ) đối với xã hội, tiềm ẩn nguy cơ DN hưởng lợi nhưng xã hội phải khắc phục hậu quả do chính các DN gây ra
Để đảm bảo các DN sản xuất, kinh doanh tốt và thực hiện tốt trách nhiệm đối với xã hội, Đảng, Nhà nước, các cơ quan liên quan đã ban hành chủ trương, đường lối, chính sách, luật pháp, qui định để buộc các DN thực hiện tốt CSR của mình
Để thực hiện tốt CSR của các DN phải có sự nhận thức sâu sắc và hành động từ hai phía: doanh nghiệp và người lao động Phía DN phải nắm được các qui định; NLĐ phải thấy được trách nhiệm và quyền lợi của mình để thực
Trang 8hiện và bảo vệ Vì vậy, việc cung cấp thông tin, tuyên truyền, vận động, nâng cao trình độ, giám sát các hoạt động của DN vô cùng quan trọng Chỉ khi các
DN nhận thức sâu sắc CSR của mình, NLĐ thấy được quyền lợi và nghĩa vụ của mình thì xã hội mới bền vững
Báo chí nói chung, báo in nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc tác động đến việc thực hiện CSR của các DN Bằng thông tin một cách chính xác, nhiều chiều, kịp thời báo chí giúp các DN thực hiện tốt nhiệm
vụ của mình đồng thời giám sát chặt chẽ (báo chí giám sát, tạo diễn đàn để công luận giám sát…) việc thực hiện trách nhiệm của các DN buộc các DN phải tuân thủ pháp luật, các qui định…
Có thể nói, trong thời gian qua, báo chí nói chung, báo in nói riêng đã đóng góp tích cực việc tuyên truyền, phân tích để các DN nhận thức tốt hơn
về CSR của mình; đồng thời cũng đưa ra công luận những vi phạm pháp luật của DN trong việc thực hiện CSR
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về tác động, hoặc nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin của báo chí đối với việc thực hiện CSR của DN Chúng tôi cho rằng, hiện nay vấn đề thực hiện CSR của DN
là hết sức cấp bách và cần phải có các biện pháp hữu hiệu để các DN không những thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của mình mà không gây hậu quả xấu cho NLĐ, môi trường, môi sinh và những vấn đề xã hội khác
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn một loại hình quan trọng trong các phương tiện truyền thông đại chúng - đó là báo in - để khảo sát
dưới góc độ: “Báo in với vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam trong hiện nay” (Khảo sát: các tác phẩm của
báo in về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trên Báo Nhân dân, Báo Lao động, Báo Tuổi trẻ, Báo Người Lao động từ tháng 1 năm 2015 đến 30 tháng 9 năm 2015)
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên báo chí thường xuyên xuất hiện các bài viết liên quan đến vấn đề thực hiện CSR của các DN (tuyên truyền, biểu dương, phê phán ) nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào về tác động (hoặc hiệu quả) của các phương tiện truyền thông đại chúng, của báo chí, của báo in đối với việc thực hiện CSR của các DN tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Có thể khẳng định: đề tài không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào đã nghiên cứu tại Việt Nam
Tuy nhiên, liên quan đến CSR đã có một số công trình nghiên cứu, một
số bài báo tiêu biểu như:
– TS Nguyễn Mạnh Quân, 2004, Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp”, NXB Lao động Xã hôi Đạo đức kinh doanh và văn
hóa DN là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi DN Đó là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong DN
– TS Lê Thanh Hà, 2006, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong vấn
đề tiền lương”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 290, ngày 15/05/2006 Tác
giả muốn đề cập tới vai trò của tiền lương như: các mức lương vừa thể hiện vị trí, công việc vừa thể hiện sự chia sẻ lợi ích giữa các tổ chức, các DN và người lao động vừa thể hiện sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân NLĐ
– Hoàng Long, 2007, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp – Động lực cho sự phát triển”, Báo Thương Mại, số 26/2007 Tác giả chứng minh tầm
quan trọng của CSR trong DN tới sự phát triển xã hội: chú ý phát triển cơ sở
hạ tầng cứng và mềm, giao thông vận tải, nhất là các hành lang kinh tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các ngành dịch vụ then chốt như tài chính – ngân hàng, viễn thông, các nguồn năng lượng mới và tái tạo được
Trang 10– Hồng Minh, 2007, “Trách nhiệm xã hội và đạo đức doanh nghiệp”, Báo Văn hoá và đời sống xã hội, số 2/2007 Đạo đức và CSR rõ
ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh Thật khó mà thuyết phục DN thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt
- Xây dựng các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội nhằm cải thiện môi trường và điều kiện làm việc của người lao động Chủ biên: PGS.TS Lê Văn Trình - Viện trưởng Viện nghiên cứu KHKT - Bảo hộ Lao động - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
- Báo cáo nghiên cứu CSR thuộc ngành dệt may và Da giày của Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) Chủ biên: TS Đào Quang Vinh
- Hỗ trợ DN thực hiện CSR của DN Chủ biên: TS.Nguyễn Lan Hương
- Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội)
- Nâng cao cạnh tranh của Việt Nam thông qua CSR doanh nghiệp Hội nghị Việt Nam - Đan Mạch tổ chức tại Việt Nam, tháng 1/2008
- Tuyên bố 10 điểm về CSR doanh nghiệp của Liên hiệp Công đoàn Đức và các tổ chức công đoàn thành viên Tháng 3/2009
- Trách nhiệm xã hội - nhìn từ góc độ công đoàn Chủ biên: ThS Mai Đức Chính - Phó Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam
- Báo cáo kết quả khảo sát 6 doanh nghiệp thực hiện CSR của Dự án Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam – DGB
- Vai trò của công đoàn nhằm thúc đẩy thực hiện CSR doanh nghiệp ở Việt Nam Chủ biên: TS Võ Văn Nhật (NXB Lao Động 2009)
- Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Việt Phương (năm 2009) về đề tài: Tác động của báo chí đối với việc bảo vệ môi trường tại Quảng Ninh có đề cập
Trang 11đến trách nhiệm của các DN trong việc bảo vệ môi trường và đánh giá tác động của báo chí trong việc nâng cao trách nhiệm của người dân, của DN trong việc bảo vệ môi trường
- Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và chiến lược truyền thông, kinh nghiệm quốc gia và quốc tế Tài liệu hội thảo của VCCI tháng 4/2009
- Hội thảo về thực hiện CSR của DN do VCCI Vũng tàu tổ chức, ngày 21/11/2009 Hội thảo có 80 đại biểu đến từ các DN nhỏ và vừa cùng chuyên viên các sở, ngành trong tỉnh Hội thảo đã trao đổi với đại biểu về việc thực hiện CSR của DN (CSR) trên cả 3 phương diện: Kinh tế, môi trường và xã hội Các chuyên gia nhấn mạnh, DN cần coi CSR là một chiến lược dài hạn Cách tiếp cận chiến lược CSR có vai trò ngày càng quan trọng tới khả năng cạnh tranh của DN, giúp tạo ra giá trị của DN, đồng thời chiếm được lòng tin và sự tôn trọng của người tiêu dùng, đối tác nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung
- Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập quốc tế Chủ biên: TS Lê Thanh Hà - Trường Đại học Lao động - Xã hội
- TS Lê Đăng Doanh - Viện Nghiên cứu phát triển, Một số vấn đề về
CSR ở DN Việt Nam, Tạp chí Triết học 13/07/2009 Theo tác giả CSR ở Việt
Nam đã được nhận thức và bước đầu được thực hiện và đó chính là cơ sở để chúng ta tin rằng, cùng với quá trình phát triển đất nước, trách nhiệm đó sẽ được đề cao cùng với sự hoàn thiện của khung pháp luật, bộ máy nhà nước, thể chế kinh tế thị trường và các thể chế của xã hội dân sự
- Luận án tiến sĩ của NCS Hoàng Thị Thanh Hương về đề tài: Áp dụng chiến lược CSR của DN (CSR) tại DN nhỏ và vừa Việt Nam: Nghiên cứu tình huống ngành may (ngày 30/07/2015), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Luận án cung cấp các bằng chứng các yếu tố lãnh đạo DN, yếu tố môi trường nội bộ và môi trường bên ngoài có ảnh hưởng thuận chiều đến CSR của DNNVV ngành may Luận án xác nhận cơ sở cho rằng CSR của các DNNVV
Trang 12ngành may đang ở mức ứng phó, thụ động hơn là chiến lƣợc Các bằng chứng này đƣợc xác nhận thông qua các phân tích định lƣợng Luận án đề xuất mô hình PDCA để áp dụng chiến lƣợc CSR tại các DNNVV ngành may Việt Nam Mô hình này cho phép liên kết CSR vào các chủ đề chiến lƣợc của DN
và mang tính cải tiến liên tục Điều này rất phù hợp với thực hiện CSR theo các giai đoạn phát triển bởi lẽ áp dụng CSR không phải là sự chuyển dịch ngay lập tức từ không đến có
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Thông qua việc khảo sát, đánh giá thực trạng các tác phẩm của báo in đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đồng thời đƣa ra các giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu quả thông tin của báo in về thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích, tác giả luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê tác phẩm báo in liên quan đến đề tài trong phạm vi khảo sát và thời gian khảo sát
- Đánh giá thực trạng của báo in với việc thực hiện CSR của DN
- Phân tích nguyên nhân thành công, hạn chế của báo in với việc thực hiện TNXH
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu quả thông tin của báo in với vấn đề thực hiện CSR của DN
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm của báo in với vấn
đề thực hiện CSR của các DN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 135.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn, trong quá trình nghiên cứu, tác giả lựa chọn những phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu
tài liệu nhằm mục đích hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu; tham khảo các công trình đã công
bố có liên quan đến đề tài
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: nhằm mục đích thống kê
số lượng tác phẩm liên quan đến đề tài nghiên cứu trong thời gian khảo sát của 4 tờ báo Nhân dân, Lao động, Tuổi trẻ và Người Lao động; phân nhóm nội dung liên quan đến vấn đề thực hiện CSR của các DN và hình thức thể hiện nội dung (chuyên mục, thể loại…)
- Phương pháp phân tích nội dung tác phẩm: đây là phương pháp quan
trọng trong việc phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tác phẩm trên 2
Trang 14bình diện nội dung và hình thức, là cơ sở để phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp
- Phương pháp quan sát: để có thêm cơ sở khách quan trong việc đánh
giá về những vấn đề báo chí phản ánh về việc thực hiện CSR của các DN, tác giả đã trực tiếp quan sát một số khu công nghiệp để tận mắt chứng kiến điều kiện làm việc; vấn đề bảo hộ lao động; điều kiện ăn ở, sinh hoạt của người lao động; vấn đề xử lý môi trường của doanh nghiệp…
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả luận văn tiến hành phương pháp
phỏng vấn sâu nhằm mục đích thu nhận những ý kiến đánh giá, nhận xét cả các chuyên gia, lãnh đạo một số cơ quan chức năng, lãnh đạo một số DN về những thành công, hạn chế của báo in với vấn đề thực hiện CSR của các DN
Ngoài những phương pháp trên, tác giả luận văn sẽ có nhiều thông tin hữu ích hơn nếu thực hiện thêm các phương pháp điều tra công chúng bằng bảng hỏi, tổ chức đối thoại – tọa đàm Nhưng vì điều kiện thời gian, vật chất
và năng lực nên tác giả không thực hiện được Đây là một hạn chế của tác giả trong việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận văn
Có thể khẳng định, tuy còn những hạn chế nhưng đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về báo in với việc thực hiện CSR của các DN ở Việt Nam trong thời gian qua Luận văn bước đầu có những đóng góp:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
như các khái niệm công cụ; chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề CSR của DN; những vấn đề báo in có thể tham gia vào vấn đề thực hiện CSR của các DN; vai trò của báo in đối với việc thực hiện CSR của các DN, …
Trang 15Thứ hai, qua việc khảo sát, phân tích đã đánh giá đƣợc thực trạng của
báo in (chủ yếu các tờ báo khảo sát) với vấn đề thực hiện CSR của các DN; phân tích đƣợc nguyên nhân thành công, hạn chế
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu quả thông
tin của báo in liên quan đến việc thực hiện CSR của các DN trong thời gian tới Theo tác giả, đây là những đóng góp quan trọng nhất của luận văn
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần khẳng định: báo chí nói chung và báo in nói riêng
có vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao nhận thức, tuyên truyền vận động và giám sát việc thực hiện CSR của các DN
Tuy nhiên, để thực hiện tốt vai trò của mình, các tác phẩm báo in phải đảm bảo các nguyên tắc thông tin, đạo đức truyền thông và thể hiện một cách hấp dẫn, sinh động có sức hấp dẫn đối với công chúng và phải có khả năng khơi mào tạo ra dƣ luận xã hội để xã hội góp phần vào việc giám sát việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về việc thực thi trách nhiệm của các cơ quan chức năng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Biểu hiện cụ thể ở các giải pháp nhằm giúp các cơ quan báo chí, đặc biệt là báo in tham khảo để nâng cao chất lƣợng, hiệu quả trong việc tuyên truyền về CSR của các DN Đồng thời, công trình cũng chỉ ra cho các DN thấy đƣợc những hạn chế, khuyết điểm của mình trong việc thực hiện CSR để khắc phục, sửa chữa
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo nhà báo, nhà báo, những ai quan tâm đến đề tài nghiên cứu
Trang 168 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
có kết cấu 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của báo in với vấn đề thực hiện trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng các tác phẩm của báo in với vấn đề thực hiện
trách nhiệm xã hội
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng,
hiệu quả thông tin của báo in với vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÁO IN VỚI VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Báo in
Báo chí nói chung, báo in nói riêng là hiện tượng xã hội có quá trình phát triển lâu đời, ngày càng chi phối rộng rãi và mạnh mẽ đến mọi tiến trình
xã hội Khái niệm báo chí được định nghĩa trên ba phương diện:
“Báo chí là một trong những hệ thống xã hội” (định danh),
“báo chí là một hoạt động chính trị - xã hội” (định tính) và “báo chí là thứ vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh chính trị tác động vào xã hội để tạo ra sự can thiệp gián tiếp vào đời sống chính trị, tham gia vào việc tập hợp lực lượng, giáo dục hệ ý thức và góp phần tích cực vào việc hình thành các khuynh hướng, các phong trào chính trị - xã hội” (mục đích) [25, tr.34 - 38]
Theo cuốn Cơ sở lý luận báo chí của tác giả Nguyễn Văn Dững (NXB Lao động, năm 2012):
Trong quá trình phát triển, khái niệm báo chí đã được hiểu theo nhiều nghĩa nhưng tựu trung lại, thông thường, có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Báo chí được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo mạng điện tử
và báo bảng điện tử - tức là những kênh truyền thông đại chúng sản xuất và quảng bá thông tin thường xuyên liên tục nhất, trên phạm vi rộng lớn, nhất định (và phi định kỳ) đều đặn và cập nhật nhất, tác động đến nhiều người nhất, đa dạng và phong phú nhất
Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký hiệu
Trang 18chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các
sự kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định [13, tr 101]
1.1.2 Doanh nghiệp
Khái niệm: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch, được đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” theo điều 4, Luật Doanh nghiệp số:
68/2014/QH13, ngày 26/11/2014 [31, tr 8]
Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế Pháp (Insee): “Doanh nghiệp là một tổ chức (tác nhân) kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra của cải vật chất hoặc các dịch vụ dùng để bán”
Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, bao gồm các tổ chức, đơn vị được thành lập theo quy định của Pháp luật có quy mô đủ lớn để tiến hành các hoạt động kinh doanh
Đặc điểm chung của các doanh nghiệp: (1) Là nơi tìm kiếm lợi nhuận
Là nhóm người có tổ chức và cấp bậc; (2) Tổ hợp các nhân tố sản xuất (đầu vào); (3) Sản xuất để bán (đầu ra); (4) Phân chia lợi nhuận: người lao động, người chủ nợ, người sở hữu, người cung ứng
Một số loại hình doanh nghiệp:
+ Doanh nghiệp Nhà nước: Là một tổ chức kinh doanh do Nhà nước
thành lập, vốn đầu tư và quản lý với tư cách chủ sở hữu Đồng thời là một pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật
+ Công ty Trách nhiệm hữu hạn: Là DN trong đó thành viên chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào DN Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại Điều 32 Luật DN Thành viên có thể là một tổ chức,
Trang 19cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi người Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phiếu Công ty có tư cách pháp nhân
kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận ĐKKD
+ Công ty Cổ phần: Là công ty trong đó vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau Cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 55 và khoản 1 Điều 58 của Luật DN Cổ đông có thể là tổ chức,
cá nhân, số lượng cổ động tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
Có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của PL về chứng khoán
+ Công ty hợp danh: Là công ty trong đó phải ít nhất có 2 thành viên
hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp
và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
+ Doanh nghiệp tư nhân: Là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN
1.1.3 Khái niệm về trách niệm xã hội
Theo từ điển tiếng Việt “Trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao phải bảo đảm làm tròn, nếu không tốt thì phải gánh chịu hậu quả” [29; tr 1337]
Với một định nghĩa đơn giản nêu trên, chúng ta có thể hiểu: Trách nhiệm xã hội là một lý thuyết đạo đức mà một thực thể (tổ chức hay cá nhân) thực hiện các nghĩa vụ nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho xã hội CSR là
Trang 20nhiệm vụ của mỗi cá nhân cần phải thực hiện để duy trì sự cân bằng giữa nền kinh tế và hệ sinh thái
Như vậy có thể hiểu CSR là người đứng đầu một công ty hay một tổ chức, cơ quan, thực hiện đều phải làm, phải gánh vác hoặc nhận lấy về mình chịu hoàn toàn trách nhiệm cho nhóm người, cộng đồng dân cư ở một trình độ
phát triển nhất định, được hình thành trong quá trình lịch sử
1.1.4 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Bắt đầu xuất hiện từ năm 1953, cho đến nay thuật ngữ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responcibiltity - CSR) đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả, nhiều tổ chức đưa ra các định nghĩa khác nhau
Hội đồng kinh doanh thế giới về Phát triển bền vững (World Business
Council for Sustainable Development) đưa ra định nghĩa như sau: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng… theo cách
có lợi cho công ty cũng như sự phát triển chung của toàn xã hội”
Còn Ủy ban Châu Âu, Ủy ban điều hành các vấn đề xã hội và nghề
nghiệp định nghĩa: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm
mà doanh nghiệp kết hợp các yếu tố môi trường và xã hội trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp và trong mối tương tác với các bên hữu quan trên cơ sở tự nguyện”
Theo quan niệm của Hội đồng Thương mại thế giới: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết trong việc ứng xử hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng địa phương và của toàn xã hội nói chung” Mặc dù có thể có nhiều cách diễn giải khác nhau, tuy
Trang 21nhiên có thể hiểu CSR của các DN bao gồm 4 yếu tố cấu thành: (1) trách nhiệm với thị trường và người tiêu dùng; (2) trách nhiệm về bảo vệ môi trường; (3) trách nhiệm với người lao động; (4) trách nhiệm chung với cộng đồng
Và một trong những định nghĩa được nhắc đến nhiều nhất về CSR của các DN đó là định nghĩa do Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân
hàng Thế giới đưa ra: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động
và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội” [32]
Các DN có thể thực hiện CSR của mình bằng cách đạt một chứng chỉ quốc tế hoặc áp dụng những bộ quy tắc ứng xử (Code of Conduct – COC) CSR là nghĩa vụ mà một DN phải thực hiện đối với xã hội Có trách nhiệm với xã hội là tăng đến mức tối đa các tác dụng tích cực và giảm tới tối thiểu các hậu quả tiêu cực đối với xã hội
Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội
Nhiều lãnh đạo của DN cho rằng, CSR của các DN là tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn tật, trẻ em mồ côi, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt và thiên tai Điều đó là đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ, mặc dù các hoạt động xã hội là một phần quan trọng trong trách nhiệm của một công ty Quan trọng hơn, một DN phải
dự đoán được và đo lường được những tác động về xã hội và môi trường hoạt động của DN và phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêu cực
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn là cam kết của DN đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng NLĐ, gia đình họ, cộng đồng
và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ sao cho vừa tốt
Trang 22cho DN vừa ích lợi cho phát triển Nếu DN sản xuất xe hơi, phải tính toán được ngay cả năng lượng mà cơ sở tiêu thụ và tìm cách cải thiện nó; DN sản xuất giấy, phải xem chất thải ra bao nhiêu và tìm cách xử lý nó
Vì vậy ngày nay một DN có CSR liên quan đến mọi khía cạnh vận hành của một DN CSR bao gồm 4 khía cạnh: kinh tế, pháp lý, đạo đức và lòng bác ái
Khía cạnh kinh tế
Khía cạnh kinh tế trong CSR của một DN là phải sản xuất hàng hóa
và dịch vụ mà xã hội cần và muốn với một mức giá có thể duy trì DN ấy và làm thỏa mãn nghĩa vụ của DN với các nhà đầu tư; là tìm kiếm nguồn cung ứng lao động, phát hiện những nguồn tài nguyên mới, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, phát triển sản phẩm; là phân phối các nguồn sản xuất như hàng hoá và dịch vụ như thế nào trong hệ thống xã hội
Trong khi thực hiện các công việc này, các DN thực sự góp phần làm tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của DN
Đối với người lao động, khía cạnh kinh tế của DN là tạo công ăn việc làm với mức thù lao xứng đáng cơ hội việc làm như nhau, cơ hội phát triển nghề và chuyên môn, hưởng thù lao tương xứng, hưởng môi trường lao động
an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc
Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của DN là cung cấp hàng hoá và dịch vụ, trách nhiệm kinh tế của DN còn liên quan đến vấn đề về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối, bán hàng và cạnh tranh
Khía cạnh kinh tế trong CSR của một DN là cơ sở cho các hoạt động của DN Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chế hoá thành các nghĩa vụ pháp lý
Khía cạnh pháp lý
Trang 23Khía cạnh pháp lý trong CSR của một DN là DN phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan Những điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai trái Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân
sự và hình sự Về cơ bản, nghĩa vụ pháp lý bao gồm năm khía cạnh:
(1) Điều tiết cạnh tranh
(2) Bảo vệ người tiêu dùng
(3) Bảo vệ môi trường
(4) An toàn và bình đẳng
(5) Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi được chấp nhận Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình
Khía cạnh đạo đức
Khía cạnh đạo đức trong CSR của một DN là những hành vi và hoạt động
mà xã hội mong đợi ở DN nhưng không được quy định trong hệ thống luật pháp, không được thể chế hóa thành luật
Khía cạnh này liên quan tới những gì các công ty quyết định là đúng, công bằng vượt qua cả những yêu cầu pháp lý khắc nghiệt, nó chỉ những hành
vi và hoạt động mà các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi
từ phía các DN dù cho chúng không được viết thành luật
Khía cạnh đạo đức của một DN thường được thể hiện thông qua những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược của công ty Thông qua các công bố này, nguyên tắc và giá trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên trong công ty và với các bên hữu quan
Trang 24Tóm lại, theo tác giả luận văn trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chính là: những hoạt động giúp cho doanh nghiệp trở thành một “công dân” tốt trong cộng đồng của mình, cùng đóng góp vào sự phát triển chung và phát triển bền vững của toàn xã hội
1.2 Một số lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.2.1 Thuyết của Friedman
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là để tăng lợi nhuận
Quan điểm đầu tiên phải nói đến đó là quan điểm của Fiedman, gắn
hoạt động CSR với lợi nhuận Ông đã cho rằng: “Doanh nghiệp có một và chỉ một trách nhiệm xã hội đó là sử dụng những nguồn lực vốn có và tham gia vào các hoạt động để gia tăng lợi nhuận trong thời gian dài nhất có thể”
Trong quan niệm của Friedman, có hai điểm cần lưu ý đó là:
- Thứ nhất ông tuyên bố: thật sai lầm khi nói rằng DN phải có CSR, bởi theo ông, chỉ có con người mới có thể có trách nhiệm Theo quan điểm của ông, “Doanh nghiệp” chỉ là một chủ thể vô tri vô giác do con người tạo ra, do
đó không thể gắn công ty với trách nhiệm và đạo đức như một con người, và chỉ con người mới có điều đó
- Thứ hai ông nhấn mạnh bản chất “vì lợi nhuận” của DN Ông viết:
Ở những DN tự do, DN tư nhân, người quản lý DN là những người đại diện cho chủ sở hữu/ cổ đông đứng ra quản lý công ty Họ có trách nhiệm với những nhân viên dưới quyền họ
Họ được thuê để dẫn dắt công ty theo cách mà cổ đông muốn, đa phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt, đồng thời tuân thủ những quy tắc xã hội cơ bản vốn đã được thể hiện trong luật và các nguyên tắc đạo đức phổ biến [43]
Theo quan điểm này ông cho rằng người quản lý DN chỉ có trách nhiệm với cổ đông, chủ sở hữu của công ty Do đó, anh ta không được lấy
Trang 25nguồn lực của công ty để thực hiện các hoạt động xã hội nếu không mang lại lợi nhuận cho công ty
1.2.2 Thuyết “Triple bottom lines” của John Elkington
Từ khi xuất hiện khái niệm “Triple bottom lines” (bao gồm sự phát triển về kinh tế, con người và tự nhiên) do John Elkington (1977) khởi xướng thì mọi thứ hoàn toàn thay đổi Hiểu một cách đơn giản nhất, “Triple bottom lines” không chỉ tập trung vào những lợi nhuận kinh doanh mà còn quan tâm đến yếu tố môi trường và xã hội mà họ đóng góp hay phá hủy
Năm 1995, ông đã phát triển công thức 3Ps (People, Planet, Profit – Con người, Tự nhiên và lợi nhuận) sau này được Shell phát triển và hiện tại
mà còn phải có trách nhiệm với những ảnh hưởng do các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đó gây ra trên một khu vực địa phương cụ thể, cũng như trách nhiệm thể hiện sự đóng góp của mình như là một phần của cộng đồng dân cư đó
1.2.3 Thuyết của Archie B Carroll năm 1991
Carroll tuyên bố rằng có thể chia hoạt động CSR thành 4 cấp độ khác nhau Một trong 4 cấp độ đó đưa ra ý tưởng rằng công ty không chỉ có nhiệm
vụ kinh tế mà còn có nhiệm vụ pháp lý, nhưng cũng có trách nhiệm về đạo
Trang 26đức và các nghĩa vụ tự nguyện Do đó DN cần những hoạt động CSR để đảm bảo trách nhiệm của mình
Năm 1991 Carroll phát triển thành tháp CSR với 4 lĩnh vực kinh tế, pháp luật, đạo đức xã hội và các nghĩa vụ tự nguyện
Trách nhiệm kinh tế (Economic responsibilities) là cấp độ nền của tháp Cấp độ tiếp theo là trách nhiệm với pháp luật (Legal responsibilities), sau đó đến trách nhiệm đạo đức (ethical responsibilities) Và cấp độ trên cùng là trách nhiệm với những nghĩa vụ tự nguyện (philanthropic responsibilities), Carroll cho rằng đó chính là cấp độ cao nhất của CSR
Để hiểu rõ hơn về 4 cấp độ theo quan điểm của Carroll ta theo dõi phân tích dưới đây [24]:
Hành động một cách nhất quán nhằm
tối đa hóa lợi nhuận
Hành động phù hợp với yêu cầu của Chính phủ và pháp luật
Được cam kết để đạt được lợi nhuận
cao nhất có thể
Tuân theo quy định của địa phương, bang hay liên bang
Duy trì hiệu quả điều hành cao Trở thành công dân doanh nghiệp
theo pháp luật lâu dài
Một công ty thành công được định
nghĩa là một công ty luôn có lợi
nhuận
Một công ty thành công được định nghĩa là một công ty thực hiện tốt nghĩa vụ của mình
Duy trì vị trí cạnh tranh cao Cung cấp dịch vụ và hàng hóa ít nhất
là đáp ứng yêu cầu của pháp luật
Trang 27Trách nhiệm đạo đức Trách nhiệm từ thiện
Hoạt động phù hợp với sự mong đợi
của các tập tục xã hội và quy tắc đạo
đức
Thực hiện phù hợp với mong đợi xã hội về nhân đức và tự thiện
Công nhận và tôn trọng các quy tắc
đạo đức xã hội mới được thông qua
Ủng hộ những việc tốt và hoạt động nghệ thuật
Ngăn chặn sự xói mòn của đạo đức
nhằm đạt được mục đích của công ty
Nhà quản lý và nhân viên tham gia hoạt động từ thiện tự nguyện trong cộng đồng địa phương của họ
Một công dân tốt của công ty được
1.2.3 Quan điểm ngày nay về CSR:
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác và các thuyết mới về CSR Tổng hợp lại có thể đưa ra 7 vấn đề CSR cần quan tâm như sau:
Thứ nhất, vấn đề môi trường: DN phải đảm bảo hoạt động của mình
không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện
sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất, hoạt động kinh doanh của mình
Thứ hai, vấn đề người lao động: DN phải biết quan tâm đến NLĐ,
người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần
Trang 28Thứ ba, vấn đề bình quyền: DN phải tôn trọng quyền bình đẳng nam
nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người
Thứ tư, vấn đề sắc tộc tôn giáo: không được phân biệt đối xử về mặt
sắc tộc, không được phân biệt đối xử giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ
Thứ năm, vấn đề chất lượng sản phẩm: phải cung cấp những sản phẩm
có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khỏe người tiêu dùng
Thứ sáu, vấn đề lợi nhuận: phải biết dành một phần lợi nhuận của mình
đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng, bởi DN luôn tồn tại trong lòng một cộng đồng nào đó nên không thể chỉ biết có bản thân mình
Thứ bảy, vấn đề quốc tế: phải tham gia kiến tạo hòa bình và an ninh của
Quốc gia cũng như thế giới [24]
Còn theo PGS TS Đinh Thị Thúy Hằng trong cuốn PR – Lý luận và ứng dụng đã đưa ra 3 mức quan hệ của các hoạt động CSR [20]:
Mức thứ nhất: có tính chất nền tảng, bao gồm việc nộp thuế, tuân thủ
luật pháp, hoạt động trung thực
Mức thứ hai: công tác tổ chức, mục đích hạn chế tối đa những thiệt hại
cho xã hội (môi trường, phế liệu)
Mức thứ ba: công tác xã hội, ý thức trách nhiệm trước sức khỏe của
cộng đồng xã hội
Tuy những quan điểm về CSR chưa thống nhất với nhau, nhưng chúng đều có những điểm cơ bản giống nhau và mục đích chung là hướng tới sự phát triển chung của cộng đồng
Trang 291.3 Tình hình về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam
1.3.1 Nhận thức của công chúng về CSR của doanh nghiệp
CSR là một vấn đề mới nổi ở Việt Nam Vấn đề này thực sự đặt ra ở Việt Nam từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới và tham gia quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa từ năm 1991 Trước đó, trong thời kinh tế bao cấp, Nhà nước độc quyền hoạt động kinh doanh thì khái niệm CSR gần như chưa được biết đến Trong thời kỳ đó, hàng hóa khan hiếm, cung không đủ cầu nên vấn đề thương hiệu vẫn chưa được quan tâm Người lao động tuân thủ chế độ lương thưởng do Nhà nước quy định, người tiêu dùng không có hàng hóa để dùng nên cũng không thể than phiền về chất lượng hàng hóa
Nhưng khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các công ty nước ngoài vào đầu tư tại Việt Nam, khi các công ty trong nước mọc lên như nấm sau mưa, khi cuộc chạy đua thương hiệu ngày càng gay gắt thì nhận thức của doanh nghiệp và người dân về vấn đề CSR ngày càng rõ rệt hơn
Hơn nữa, những vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường hay đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp như công ty Vedan xả nước thải ra sông Thị Vải, sữa nhiễm Melamine… đã gióng một hồi chuông cảnh tỉnh để các doanh nghiệp, Chính phủ và người dân nhận thức rõ hơn về vấn đề CSR Đã có một
số hội thảo đáng chú ý về vấn đề CSR như: “Diễn đàn châu Á về trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp lần thứ 6 tại TP Hồ Chí Minh năm 2007”, hội thảo
“Nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam thông qua trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” do VCCI tổ chức phối hợp cùng ĐSQ Đan Mạch năm
2008, hội thảo “Doanh nghiệp với trách nhiệm cộng đồng CSR Việt Nam 2009” do Masso Group cộng tác với VCCI tổ chức năm 2009 Ngoài ra, cũng
có một số chuyên trang, diễn đàn trên mạng viết nhiều về vấn đề CSR như: Diễn đàn trách nhiệm xã hội Việt Nam (http://www.vietnamforumcsr.net/)
Trang 30hay http://www.csr.vn/ và một số báo online như Tờ báo lưu hành nội bộ của FPT (www.chungta.com), Diễn đàn doanh nghiệp (www.dddn.com.vn) cùng một số báo và tờ báo khác nhau như: Saigon Times, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Lao động …
Về phía Nhà nước, Bộ luật Lao động đã được ban hành vào năm 1994, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 Xét về bộ máy quản lý Nhà nước chúng ta
có Cục Bảo vệ môi trường (thuộc Bộ Tài nguyên môi trường), Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm (thuộc Bộ Y tế) và Cục Cảnh sát môi trường - C36 (thuộc Bộ Công An) đã là những đơn vị giám sát và quản lý, phát hiện những vụ việc sai trái của doanh nghiệp để đưa ra công luận
Đặc biệt từ khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Chính phủ Việt Nam đã thể hiện mối quan tâm đặc biệt của mình về vấn đề này trong quyết định ban hành Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường (điều 1, Quyết định số 153/QĐ/CP-TT ngày 17 tháng 8 năm 2004)
Từ thực tiễn ta có thể thấy nhận thức của người dân về vấn đề CSR tuy
đã được cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp, quản lý Nhà nước còn lỏng lẻo, xử
lý chưa dứt điểm và vẫn gây nhiều bức xúc trong dư luận
1.3.2 Thực tế CSR trong các doanh nghiệp Việt Nam
Tại Việt Nam đang có một thực tế là có sự khác biệt rõ rệt trong việc thực hiện CSR Các khía cạnh về CSR của các DN lớn khác hoàn toàn so với việc thực hiện CSR của các DN nhỏ và vừa Những công ty lớn có sự nhận thức cao về tầm quan trọng của CSR và triển khai hoạt động này rất tốt Lý do
có thể đưa ra là phần lớn các công ty lớn đều hợp tác với những đối tác nước ngoài và các tập đoàn đa quốc gia Do đó, những công ty của Việt Nam phải
Trang 31đáp ứng các yêu cầu về CSR của đối tác nước ngoài Bên cạnh đó, lợi ích thu được từ các thị trường xuất khẩu cũng cung cấp thêm khả năng tài chính cho các công ty để tiến hành thực hiện CSR CSR được gắn kết với chính sách phát triển của công ty lớn này và họ chủ động thực hiện các chiến dịch bảo vệ môi trường, phát triển giáo dục, các chương trình ngăn ngừa thảm họa Các
DN lớn, có thương hiệu, có nhãn hiệu đăng ký, hoạt động trên lĩnh vực xuất khẩu đạt trình độ về CSR được các nhà nhập khẩu chấp nhận được Các DN này thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các tiêu chuẩn SA 8000, ISO 14000, bảo đảm trình độ vệ sinh và an toàn thực phẩm tốt Các DN này đã có chiến lược dài hạn để thực hiện ngày càng đầy đủ hơn CSR cả về bảo vệ môi trường, hạn chế lượng khí thải
Trong khi các công ty lớn chủ động trong các hoạt động CSR của mình thì các công ty nhỏ và vừa dường như lại thờ ơ đối với hoạt động CSR Khả năng tài chính hạn hẹp và công nghệ sản xuất lạc hậu là hai nguyên nhân chính khiến các DN này khó có thể đạt đến các chuẩn mực cao về bảo vệ môi trường,
an toàn thực phẩm, hợp đồng và bảo hiểm cho người lao động (Diễn đàn doanh nghiệp, 2010) Hiện nay cả nước có khoảng hơn 400.000 DN đang hoạt động, trong đó 97,5% là các DN nhỏ và vừa (www.antv.gov.vn ngày 19/3/2016) Bên cạnh đó có trên 3 triệu hộ kinh doanh gia đình, 5 triệu hộ nông dân có quy mô rất nhỏ Nhiều doanh nghiệp chưa có thương hiệu, chưa đăng ký chất lượng sản phẩm Trình độ hiểu biết về pháp luật và tuân thủ pháp luật của DN nhỏ còn nhiều hạn chế, CSR của DN lớn đã được đề cao và có nhiều tiến bộ, song tại các DN nhỏ, các hộ gia đình và hộ nông dân, việc tuân thủ luật lao động, các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế
Số lượng các DN phớt lờ các khía cạnh CSR và gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội đang tăng dần trong những năm gần đây Năm
2015, thanh tra 152 DN tại 12 tỉnh, thành (từ tháng 5-9/2015) đoàn thanh tra đã
Trang 32phát hiện 1.786 vi phạm (trung bình 12 vi phạm/ 1 DN) Đáng chú ý có tới 60
DN huy động làm thêm quá số giờ quy định, 22 DN không thực hiện đúng quy định về thời gian làm việc cho lao động nữ Về tiền lương, tiền công có 11 DN trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu Kết quả thanh tra phát hiện 112 DN (gần 80%) chưa trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho NLĐ và chưa thực hiện đầy đủ quy định phòng chống cháy nổ Về an toàn lao động, gần 70% chủ SDLĐ không tham gia huấn luyện ATLĐ hoặc tham gia không đầy đủ, 87 DN không tổ chức huấn luyện về ATLĐ cho NLĐ mới hoặc huấn luyện không đầy đủ Một số DN đã vi phạm nghiêm trọng những quy tắc CSR và gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với xã hội như: Trong năm 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xử phạt 520 tổ chức vi phạm về tài nguyên, môi trường với số tiền gần 60,7 tỷ đồng; cả nước đã xảy ra trên 3.400 vụ tai nạn lao động với gần 3.500 người bị tai nạn, trong đó nguyên nhân từ phía người SDLĐ chiếm 56,6% trong 6 tháng đầu năm 2015
Chiếm 97,5% trong tổng số các DN là DN nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong ngành kinh tế Việt Nam Sự đóng góp của các DN này vào việc tăng trưởng kinh tế là không thể phủ nhận nhưng những hậu quả mà họ gây ra cho môi trường, người lao động qua những việc làm thiếu trách nhiệm đối với xã hội cũng là một thực tế mà nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt
Các DN Việt Nam hiện nay vẫn chưa nhận thức rõ ràng về thực chất CSR là gì, lợi ích CSR có thể mang lại cho DN như thế nào Chính vì vậy mà những hoạt động CSR của các DN nếu có thì mới chỉ dừng lại ở các hoạt động mang tính chất bên ngoài, hình thức Đa số các hoạt động CSR mới chỉ mang tính chất là các hoạt động từ thiện, chưa đi vào chiều sâu, cốt lõi của vấn đề Có rất ít DN đưa CSR vào hẳn chiến lược phát triển lâu dài của DN mình Một hiện tượng khá phổ biến ở Việt Nam là các DN tích cực tham gia vào các hoạt động từ thiện như giúp đỡ nạn nhân của bão lụt, thiên tai hay tai
Trang 33nạn, đóng góp vào Quỹ xóa đói giảm nghèo của các tổ chức quần chúng khác nhau Bên cạnh mặt tích cực của sự đóng góp, do thiếu quy định pháp luật chặt chẽ về việc khấu trừ số tiền đóng góp vào chi phí trước thuế…, nên còn
có không ít ý kiến khác nhau về động cơ lành mạnh của sự đóng góp này và liệu có thể đồng nhất sự đóng góp với CSR hay không Bên cạnh ý kiến hoan nghênh, có không ít ý kiến cho rằng, một số DN có động cơ “đánh bóng hình ảnh” và có mục đích vụ lợi
Ở Việt Nam trong thời gian qua, hoạt động CSR của các DN Việt Nam chỉ tập trung vào mục tiêu thương hiệu và các lợi ích ngắn hạn Họ sử dụng các hoạt động CSR như một công cụ PR/ Marketing ngắn hạn, công cụ đo lường không phù hợp Các DN sử dụng các báo cáo hiệu quả tin tức làm thước đo hoạt động CSR Những báo cáo hiệu quả tin tức chỉ là những hiệu ứng truyền thông bên ngoài, chưa thể có đủ sức thuyết phục để trở thành một thước đo hoạt động CSR vì CSR là bao gồm những hoạt động rất rộng lớn và phải bắt nguồn từ bên trong
Khi đề cập khái niệm “CSR của doanh nghiệp”, rất nhiều DN chỉ đề cập các hoạt động xã hội bên ngoài tổ chức của mình chứ không tập trung nhiều vào các hoạt động bên trong DN Các DN ở nước ta luôn hào phóng với các khoản chi cho những hoạt động xã hội, hoạt động tài trợ giáo dục, sức khỏe…và có lẽ cũng an tâm rằng mình đang làm tốt CSR của mình [32]
1.3.3 Vai trò của trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp
Thực tế đã chứng minh các hoạt động CSR mang lại nhiều lợi ích cho
DN Lợi ích trước mắt mà DN có thể thấy ngay được đó là có thêm đơn đặt hàng từ những công ty mua hàng đòi hỏi các tiêu chuẩn về CSR Điều này đặc biệt quan trọng với DN các nước đang phát triển muốn xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Châu Âu, Châu Mỹ, nơi mà các tiêu chuẩn về CSR được đòi hỏi rất cao Còn lợi ích dài hạn là do chính công ty như cải thiện quan hệ
Trang 34trong công việc, giảm chi phí, tăng năng suất lao động, giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới, tăng doanh thu, tăng giá trị, thương hiệu và thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới …
Tựu chung lại có thể thấy CSR với các doanh nghiệp có 4 vai trò chính
đó là:
Vai trò thương hiệu
Thương hiệu luôn là niềm tự hào của DN và là giá trị cao nhất mà DN muốn vươn tới Song song với các hoạt động truyền thông khác, các hoạt động CSR cũng giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh thương hiệu của DN Và đặc biệt, CSR còn mang lại những giá trị thương hiệu lâu dài
và bền vững
Vai trò kinh tế
Những hoạt động CSR có thể mang lại những lợi ích dài hạn như cải thiện quan hệ trong công việc, giảm bớt tai nạn, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất lao động Ngoài ra, CSR còn giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng và các đối tác, tạo ra ưu thế trong cạnh tranh và thuận lợi trong việc kêu gọi đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Chính điều đó mang lại lợi nhuận cho DN và chính là vai trò kinh tế của các hoạt động CSR
Một khảo sát do Viện Khoa học Lao động và xã hội tiến hành gần đây trên 24 DN thuộc 2 ngành Dệt may và Da giày đã chỉ ra rằng: nhờ thực hiện các chương trình CSR, doanh thu của các DN này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 lên 35,8 triệu đồng/ lao động/ năm, tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97%
Ngoài ra hoạt động CSR còn giúp DN sử dụng một cách tốt nhất nguồn lực của mình và đảm bảo lợi ích của cổ đông Giáo sư Felipe Alfonso, Giám đốc trung tâm CSR thuộc Viện Quản trị Á Châu, nhận xét tại Hội thảo CSR
Trang 35Việt Nam 2009: “Hoạt động CSR mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các doanh nghiệp” Chẳng hạn như khi đưa ra những chương trình CSR về môi trường, giáo dục…, ngoài việc nâng cao ý thức cho cộng đồng thì DN cũng được lợi rất nhiều như tạo tính trung thành của nhân viên, không bị xáo trộn
về nguồn nhân lực, giảm chi phí điều hành, cao hơn hết là nâng tầm hình ảnh, thương hiệu Tại Philippines, 92% - 95% các DN có được khách hàng và sự hài lòng của nhân viên đều từ những hoạt động CSR vì vậy có đến 58% DN sẵn sàng đầu tư kinh phí hơn dự định ban đầu, xem hoạt động CSR là chiến lược của công ty và phải thông qua chiến lược này với các cổ đông
Vai trò truyền thông
Truyền thông luôn là một vấn đề mà các DN quan tâm là cách mà DN truyền tải thông điệp tới công chúng của mình Và chính những hoạt động CSR góp phần truyền tải thông điệp đó một cách dễ dàng và có hiệu quả hơn tới các nhóm công chúng
Vai trò truyền thông của các hoạt động CSR thể hiện ở chỗ các hoạt động CSR thường thu hút sự chú ý của giới truyền thông hơn các hoạt động thương mại Điều này xuất phát từ nhu cầu của công chúng muốn đón nhận những gì từ báo chí Báo chí chỉ là người cung cấp thông tin cho độc giả và trên một khía cạnh nào đó, cũng sẽ bị độc giả định hướng thông tin Do bản chất những hoạt động CSR là những hoạt động mà DN tự nguyện cống hiến cho xã hội, người được lợi trực tiếp là công chúng, nên sẽ dễ được công chúng đón nhận, giới truyền thông cũng quan tâm hơn, khi đưa tin cũng sẽ khách quan hơn những hoạt động thương mại mà chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho DN Hơn nữa, các bài viết về CSR thường được viết mang tính tích cực nhiều hơn vì các hoạt động CSR sẽ dễ có được sự đồng thuận trong quan điểm bài viết Hay nói cách khác là DN sẽ được ngợi ca nhiều hơn vì những hoạt động CSR của mình
Trang 36 Vai trò văn hóa - xã hội
Xét trên khía cạnh nào đó, DN hoạt động kinh doanh riêng biệt nhưng cũng là một phần của xã hội Môi trường xã hội bao gồm nhiều yếu tố tác động tới DN như khách hàng, nhà đầu tư, đối tác, người lao động… do vậy, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội cũng chính là sự đóng góp cho DN
Thông thường các hoạt động CSR thường đóng góp vào sự phát triển chung của cộng đồng, không gian sống mà công ty/ tổ chức đang hoạt động Điều này không chỉ giúp DN có được uy tín trong cộng đồng mà còn mang lại
sự phát triển bền vững cho DN thông qua sự phát triển của môi trường xã hội nói chung
Hơn nữa, những hoạt động CSR còn giúp cho DN tạo dựng mối quan
hệ với chính quyền địa phương nơi công ty hoạt động, với Quốc gia mà công
ty đó đang phát triển thị trường Điều này sẽ giúp cho DN tránh được những mâu thuẫn với Chính phủ và tạo sự đồng tình, ủng hộ của chính quyền trong các hoạt động kinh doanh khác
1.4 Vai trò của báo in với vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trong một thế giới luôn có sự lệ thuộc lẫn nhau hiện nay, CSR là một vấn đề đang đặt ra với mỗi cá nhân, tổ chức Báo chí cách mạng Việt Nam là một bộ phận của công tác văn hóa - tư tưởng của Đảng Thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ đã được xác định của mình chính là phương thức để báo chí thực hiện CSR Báo chí cách mạng Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong công tác tuyên truyền của Đảng Các nhà báo được xem là chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa - tư tưởng Báo chí là công cụ sắc bén tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, là cầu nối, kịp thời phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, những nhu cầu
Trang 37cấp thiết của nhân dân Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới đã chỉ rõ:
Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời,
có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới Coi trọng đúng mức việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh, góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng; tiếp tục phát huy tiềm lực và ưu điểm, khắc phục những yếu kém, khuyết điểm, nâng cao chất lượng tư tưởng, tính hấp dẫn, mở rộng đối tượng độc giả, vươn lên hiện đại về mô hình tổ chức hoạt động, về cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ Báo chí phải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng
xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội [14]
Báo chí là một hoạt động đặc biệt mang đặc tính chính trị - xã hội Mỗi tác phẩm báo chí được công bố, phát hành rộng rãi đều trực tiếp hay gián tiếp tác động đến nhận thức, tâm tư, tình cảm và tư tưởng của quần chúng và hành
vi của cộng đồng Vì lẽ đó, người làm báo phải hoàn thành tốt CSR và nghĩa
vụ công dân của mình Chỉ khi mỗi nhà báo nhận thức được đầy đủ vai trò và
Trang 38CSR quan trọng của mình thì báo chí cách mạng Việt Nam mới thực hiện tốt CSR của báo chí trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Đối với vấn đề thực hiện CSR của các DN, báo chí nói chung, báo in nói riêng có vai trò quan trọng Vai trò của báo in đối với việc thực hiện CSR
xã hội của các DN được thể hiện:
Thứ nhất, góp phần xây dựng, hoàn thiện các chủ trương, đường lối của
Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước liên quan đến CSR của DN Đây
là nội dung quan trọng nhất liên quan đến sự phát triển của DN, sự phát triển bền vững về kinh tế- xã hội- văn hóa và quyền lợi chính đáng của NLĐ Thông qua việc đăng tải những quan điểm, chính kiến, phản biện của cơ quan báo chí, nhà báo; của công dân, báo chí cung cấp thông tin một cách đầy đủ, nhiều chiều, giúp các cơ quan chức năng có đầy đủ căn cứ khoa học, thực tiễn
để đưa ra những quyết định chính xác, phù hợp và khả thi
Thứ hai, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về CSR của các DN Chỉ khi nào DN và NLĐ hiểu và nắm rõ những nội dung trên mới thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình
Thứ ba, thông qua các tác phẩm báo chí được đăng tải góp phần nâng
cao nhận thức, trách nhiệm, nghĩa vụ của các DN đối với vấn đề thực hiện nghiêm túc các qui định về CSR Các DN thực hiện tốt CSR không chỉ đảm bảo quyền lợi của NLĐ mà còn vì uy tín, thương hiệu của DN và sự phát triển bền vững của đất nước, đặc biệt liên quan đến bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản…
Thứ tư, báo chí là kênh thông tin giám sát một cách có hiệu quả việc
thực hiện CSR của các DN Một thực tế, trong thời gian qua, những vụ việc liên quan đến gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nợ bảo hiểm y tế của người lao động v.v…đều do báo chí và người dân phát hiện Ngoài việc giám sát việc thực hiện CSR của các DN, báo chí đồng thời giám sát hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực thi nhiệm vụ Nhiều vụ việc các DN
Trang 39gây hậu quả nghiêm trọng là do sự buông lỏng quản lý, thậm chí là tiêu cực của một bộ phận cán bộ trong việc thực thi nhiệm vụ
Thứ năm, bên cạnh việc giám sát những biểu hiện vi phạm trong việc
thực hiện CSR, báo chí đồng thời biểu dương những DN thực hiện tốt trách nhiệm của mình, tạo nên một phong trào rộng lớn, có ảnh hưởng tích cực đến
sự phát triển của DN và xã hội
1.5 Yêu cầu đối về thông tin của báo in với vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Với vai trò và CSR của mình, báo chí - trong đó có báo in - thông qua tác phẩm báo chí phải góp phần để các DN thực hiện tốt hơn CSR của mình
Để thực hiện tốt vai trò của mình trong quá trình thông tin liên quan đến vấn đề thực hiện CSR của DN, tác phẩm báo in phải đảm bảo nguyên tắc:
Thứ nhất, báo in phải phản ánh một cách trung thực, khách quan, chính
xác những vấn đề liên quan đến CSR, phải có lý, có tình Bởi việc thực hiện CSR liên quan đến sự phát triển, uy tín, thương hiệu, đạo đức trong kinh doanh của DN
Thứ hai, báo in bảo vệ quyền lợi của NLĐ, vì sự phát triển bền vững
của đất nước nhưng phải tuân thủ các nguyên tắc không được gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của DN
Thứ ba, phải đảm bảo tính văn hóa, cân bằng, không được vì lợi ích cục
bộ, thiếu điều tra, thiếu chứng cứ đã thông tin gây tác động tiêu cực đến tư tưởng của công chúng, làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của DN, trong trường hợp nghiêm trọng hơn có thể làm DN phá sản, ảnh hưởng đến vấn đề kêu gọi, thu hút đầu tư…
Thứ tư, văn phong, ngôn ngữ phải đảm bảo chính xác, rõ ràng, dễ hiểu,
phù hợp với đối tượng tác động; ngôn ngữ, hình ảnh không được mang tính kích động hoặc xúc phạm đến người khác
Trang 40Thứ năm, phải đảm bảo tính liên kết giữa các yếu tố ngôn ngữ, hình
ảnh, đồ họa đồ họa; bố cục tác phẩm một cách khoa học, đảm bảo tính thẩm
mỹ và có sức thu hút công chúng
Tiểu kết chương 1
Để có cơ sở đánh giá thực trạng các tác phẩm của báo in với vấn đề thực hiện CSR của DN và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin của báo in về thực hiện CSR của DN, trong chương một tác giả đã tập trung giải quyết những nội dung cơ bản sau:
- Tìm hiểu những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu như báo chí, báo in, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp…
- Tìm hiểu các lý thuyết đề cập đến CSR của doanh nghiệp Đây là những lý thuyết quan trọng giúp tác giả có những kiến thức trong quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá
- Đánh giá một cách khái quát tình hình thực hiện CSR của DN ở Việt Nam trong thời gian qua Bên cạnh những đóng góp quan trọng, các DN vẫn còn những hạn chế cả về hiểu biết, nhận thức và hành động trong việc thực hiện CSR như chưa đảm bảo hài hòa lợi ích đối với người lao động, làm tác động tiêu cực đến môi trường, phát triển chưa bền vững v.v…
- Phân tích vai trò thông tin của báo in liên quan đến việc thực hiện CSR của doanh nghiệp Thông tin của báo in đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao CSR của DN trong cả nhận thức và hành động
- Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thông tin và sáng tạo các tác phẩm báo in liên quan đến CSR của DN, báo in phải tuân thủ các nguyên tắc
Có như vậy, thông tin của báo in mới góp phần đảm bảo hài hòa lợi ích giữa
DN với NLĐ, giúp DN nhận thức đúng và thực hiện tốt CSR của mình, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước