1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Lich su 10 chu de Nhung thanh tuu van hoa Viet Nam tu the ky X den nua dau the ky XIX

91 23 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 19,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phố cổ Hội An còn nổi tiếng có một ngôi chùa Cầu có kiến trúc vô cùng độc đáo được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII.. TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII[r]

Trang 2

KÍNH CHÀO

QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN HỌC SINH

Trang 3

NHỮNG THÀNH TỰU VĂN

HÓA VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 4

TÔN GIÁO

Trang 5

TÔN GIÁO

Nho giáo ( 儒教 ), còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là 

một  hệ  thống đạo  đức, triết  học  xã  hội, triết  lý  giáo dục và triết  học  chính  trị do Khổng  Tử đề  xướng  và  được các  môn  đồ  của  ông  phát  triển  với  mục  đích  xây  dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu  Á là Trung  Quốc, Đài  Loan, Nhật  Bản, Triều Tiên, Hàn  Quốc và Việt  Nam.  Những  người  thực  hành 

theo  các  tín  điều  của  Nho  giáo  được  gọi  là  các nhà

Nho, Nho sĩ hay Nho sinh

Trang 6

TÔN GIÁO

Phật giáo (chữ Hán:  佛教 ) là một loại tôn giáo bao gồm một loạt các truyền thống, tín ngưỡng và phương pháp tu tập dựa trên lời dạy của một nhân vật lịch sử là Tất-đạt-đa Cồ-đàm ( 悉達多瞿曇 ). Tất-đạt-đa Cồ-đàm thường được gọi là Phật hay Bụt. Theo sách vở Phật giáo cũng như các tài  liệu  khảo  cổ  đã  chứng  minh,  Tất-đạt-đa  Cồ-đàm  đã sống  và  giảng  đạo  ở  vùng  đông  Ấn  Độ  từ  khoảng thế  kỉ thứ 6 TCN đến thế kỉ thứ 4 TCN

Trang 7

cơ  bản  trong  các  mối  quan  hệ  và  chi  phối  nội  dung giáo dục, thi cử.

 Đạo phật còn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và rất phổ biến

 Đạo giáo tuy không phổ cập nhưng hòa lẫn với các tín ngưỡng dân gian

 Nhưng vào cuối thế kỉ XVI, Phật giáo và Đạo giáo suy dần.  Thời  Lê  sơ,  Nho  giáo  được  nâng  lên  địa  vị  độc tôn và vị trí đó được duy trì cho đến thế kỉ XIX

Trang 8

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Nho giáo từng bước suy yếu. Phật giáo, Đạo giáo có điều  kiện  khôi  phục  vị  trí  của  mình  nhưng  không được như thời Lý, Trần

Thiên  chúa  giáo  bắt  đầu  xuất  hiện và  lan  truyền  ở nước ta

Thế  kỉ XVII,  chữ  Quốc  ngữ  được  sáng  tạo  nhưng không được truyền bá rộng rãi

Trang 9

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

 Nhà  Nguyễn  chủ  trương  độc  tôn  Nho  giáo,  hạn  chế hoạt  động  của  các tôn  giáo,  đặc  biệt  là  Thiên  chúa giáo. Tín ngưỡng dân gian tiếp tục phát triển

 GIáo dục Nho giáo được củng cố. Năm 1807, đã diễn 

ra khoa thi Hương đầu tiên dưới triều Nguyễn và năm 

1822,  khoa  thi  Hội  đầu  tiên  được  tổ  chức  nhưng  số người  đi  thi  và  đỗ  đạt  không  nhiều  so  với các  thế  kỉ trước

Trang 10

GIÁO DỤC

Trang 11

THẾ KỈ X - XV

Hình thức thi cử:

+) Thời Lê sơ, quy chế thi cử được ban hành rõ ràng:

cứ 3 năm một kì thi Hội chọn Tiến sĩ.

+) Riêng thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), đã tổ chức 12 khoa thi Hội.

GIáo dục Đại Việt từng bước được hoàn thiện và phát triển, trở thành nguồn đào tạo, quan chức và người tài cho đất nước

Trang 12

THẾ KỈ X - XV

Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và

phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070 tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam.

Trang 13

THẾ KỈ X - XV

Giáo dục Đại Việt từng bước được hoàn thiện và phát triển, trở thành nguồn đào tạo quan chức và người tài cho đất nước.

Năm 1484, nhà nước quyết định dựng bia, ghi tên tiến

sĩ Nhằm:

+) Khuyến khích nhân tài

+) Giúp nhân dân noi gương hiền tài, ngăn ngùa điều ác +) Làm cho đất nước hưng thịnh, bền vững lâu dài.

Trang 15

THẾ KỈ X - XV

Tứ thư Bách gia chư tử

Trang 16

• Dịch sách chữ Hán

Trang 17

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Sách giáo khoa

• Sách chuyên đề về Bắc Sử,

Nam sử, cổ thi

• Sách người Việt: Nhất thiên

tư, tam thiên tự, ngũ thiên

tự, sơ học vân tân, ấu học

ngũ ngôn thi

• Sách Trung Quốc: Thiên tự

văn, hiếu kinh, Minh tâm

bảo giám, Minh đạo gia

huấn, tam tự kinh

• Học thêm: Tứ thư, Ngũ kinh

Chính sách giáo dục

• Trường học thời

Nguyễn là nơi học sinh đến học chữ Nho và Nho giáo

• Chữ Nôm phát triển, xuất hiện các tác phẩm văn học chữ Nôm

Trang 18

THẾ KỈ XVI - XVIII

Sách giáo khoa trng các khoảng thời gian có gì giống và khác nhau?

Trang 19

VĂN HỌC

Trang 20

TỪ THẾ KỈ X – XV

 Sự phát triển của nên giáo dục đã góp phần tạo nên sự phát triển của văn học thế kỉ này

 Ban  đầu văn  học  mang  nặng  tư  tưởng  phật  giáo.  Từ  thời Trần, văn học dân tộc ngày càng phát triển, đó là khi hàng loạt  những  bài  thơ,  bài  hịch  bài  phú  nổi  tiếng  như:  Nam Quốc  sơn  hà,  Hịch  tướng  sĩ,  Phú  sông  Bạch  Đằng cùng nhiều những tập thơ Hán ra đời

Vừa thể hiện tài năng văn học vừa toát lên niềm tự hào dân tộc và lòng yêu nước

 Ở thế kỉ XV, văn học chữ Hán và chữ Nôm đều phát triển với sự xuất hiện của hàng loạt tập thơ của Nguyễn Trãi, lê Thánh Tông, Lý Tử Tấn,  Có nội dụng ca ngợi đất nước

Trang 21

TỪ THẾ KỈ X – XV

 Ở  thế  kỉ  XV,  văn  học  chữ  Hán  và  chữ  Nôm  đều  phát triển với sự xuất hiện của hàng loạt tập thơ của Nguyễn Trãi, lê Thánh Tông, Lý Tử Tấn,  Có nội dụng ca ngợi đất nước

Những tác phẩm nổi tiếng để đời của Nguyễn Trãi còn giá trị

cho đến ngày nay

Trang 22

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

 Từ thế kỉ XVI – XVII, cùng với sự suy thoái của Nho giáo, văn học chữ Hán đã dần mất đi vị thế vốn có của 

nó trong thời Lê sơ

 Tuy nhiên, đã có một số nhà thơ và hội thơ xuất hiện ở Đàng  Trong  (lúc  đó  nước  ta  đang  bị  chia  cắt  thành  2 miền),  cùng  với  đó là  sự  xuất  hiện  của  một  số  nhà nghiên cứu biên soạn các tập thơ văn, một số người viết truyện kí,… đã góp phần làm cho văn học thêm phong phú

Trang 23

Bạch Vân Quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm

 Cũng trong Thế kỉ XVI – XVII đã xuất hiện nhiều nhà thơ  Nôm  nổi  tiếng như  Nguyễn  Bỉnh  Khiêm,  Phùng Khắc  Khoan,  Đào  Duy  Tử,…  với  nhiều  tác  phẩm  nổi tiếng mà cho đến tận bây giờ vẫn còn được lưu giữ:

Sấm Trạng Trình của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Hợp tuyển thơ văn của

Phùng Khắc Khoan

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Trang 24

 Không chỉ có các nhà thơ mà cả nhân dân, với những tài năng  của  mình,  họ  đã  sáng  tạo  hàng  loạt những bài  ca dao, tục ngữ,… vừa ca ngợi về cuộc sống, quê hương; vừa nói lên những tâm tư của họ và còn phản ánh những phong tục quê hương

 Văn học dân gian ngày càng phát triển cả ở những vùng dân  tộc  ít  người  làm  cho  kho  tàng  văn  học  thêm  đa dạng, phong phú

 Để rồi  từ  đó,  thơ  ca  chữ  Nôm  ngày  càng  được  trau chuốt và hình thành nên những áng thơ Nôm bất hủ như 

: Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc,

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Trang 25

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

 Trong  khi  văn  học  chữ Nôm  ngày  càng  phong  phú  và hoàn thiện thì văn học chữ Hán lại kém phát triển

 Cũng vì văn học chữ Nôm ngày càng phát triển đã xuất hiện  những  tác  phẩm  văn  học chữ  Nôm  xuất  sắc  như Truyện  Kiều  của  Nguyễn  Du  và  1  số  bài  thơ  của  Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan

     

Trang 26

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

     Trong  văn  học  chữ  Nôm:  phần  lớn  các  thể  loại  là  thơ (thơ Nôm Đường luật, truyện thơ, ngâm khúc, hát nói, ) và văn biền ngẫu; thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dân tộc

     

Trang 27

NGHỆ THUẬT

Trang 28

TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XV

Trang 29

TỪ THẾ KỈ X-XV

Nghệ thuật có những bước phát triển mới

Trong những thế kỉ X – XIV, những công trình nghệ thuật phật giáo được xây dựng ở khắp mọi nơi như: chùa Một Cột (Diên Hưu), chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dam, tháp Bao Thiên, tháp Phổ Minh,

Trang 30

TỪ THẾ KỈ X-XV

Chùa Một Cột

Trang 31

TỪ THẾ KỈ X-XV

Chùa Báo Thiên

Trang 32

TỪ THẾ KỈ X-XV

Tháp Báo Thiên

Trang 33

TỪ THẾ KỈ X-XV

Chùa Quỳnh Lâm

Trang 34

TỪ THẾ KỈ X-XV

Chuông Quy Điền

Trang 35

TỪ THẾ KỈ X-XV

Vạc Phổ Minh

Trang 36

TỪ THẾ KỈ X-XV

Chùa Hoa Yên

Trang 37

TỪ THẾ KỈ X-XV

Chùa Đồng

Trang 38

TỪ THẾ KỈ X-XV

Thành nhà Hồ

Trang 39

TỪ THẾ KỈ X-XV

Tháp Chăm

Trang 40

TỪ THẾ KỈ X-XV

Xuất hiện nhiều tác phẩm điêu khắc mang những họa tiết hoa văn độc đáo như rồng mình trơn cuộn trong lá đề, bông cúc nhiều cành, bệ chân cột hình hoa sen nở,… cùng nhiều bức phù điêu có hình các cô tiên, vũ nữ vừa múa vừa đánh đàn

Tác phẩm điêu khắc rồng mình

cuộn trong lá đề

Mẫu điêu khắc thời Lý

Trang 41

TỪ THẾ KỈ X-XV

Đặc biệt đây là thời kỳ cực thịnh của gốm sứ  

Thịnh hành hai loại gốm chính, là: (1) Gốm trang trí

kiến trúc, thường là đất nung để mộc, hoặc phủ một

lớp men có giá trị độc đáo.

Trang 42

TỪ THẾ KỈ X-XV

(2) Còn như gốm gia dụng, thì đủ thể loại Nào bát đĩa, ấm,

âu, chén, vại, chum, vò

Trang 47

TỪ THẾ KỈ X-XV

Hát đúm

Trang 48

TỪ THẾ KỈ X-XV

Cải lương

Trang 49

TỪ THẾ KỈ X-XV

Hát xoan

Trang 50

TỪ THẾ KỈ X-XV

Cùng với đó là sự phát triển của âm nhạc với nhiều nhạc

cụ như trống cơm, sáo tiêu, đàn tranh, chiêng trống,… Các nghệ nhân sáng tác nhiều bản nhạc để tấu hát trong các buổi lễ hội.

Ca múa được tổ chức trong các lễ hội, ngày múa ở khắp các làng bản miền xuôi cũng như miền ngược Cùng với các điệu ca, điệu múa, còn có các buổi so tài đầu vật như đấu vật, đua thuyền, đá cầu

Trang 51

TỪ THẾ KỈ X-XV

Đua thuyền

Trang 52

TỪ THẾ KỈ X-XV

Đi cà kheo

Trang 53

TỪ THẾ KỈ X-XV

Đời sống nhân dân rất phong phú, đa dạng, phát triển đầy đủ toàn diện về tất cả mọi mặt

Trang 54

TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN THẾ KỈ XVIII

Trang 55

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Trong giai đoạn này, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc tiếp tục phát triển với những công trình có giá trị như chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên Huế), tượng Phật Bà Quân Âm nghìn tay nghìn mắt  ở  chùa  Bút  Tháp  (Bắc  NInh),  các  tượng  La  Hán  ở  chùa Tây  Phương  (Hà  Tây)…;  xuất  hiện  một  số  tượng  nhân  vật (vua,chúa,…), tranh vẽ chân dung

Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt

Trang 56

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Các tượng La Hán ở chùa Tây Phương (Hà

Tây)

Trang 57

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Cùng với văn học dân gian, một trào lưu nghệ thuật dân gian được hình thành. Trên các vì, kèo ở những ngôi đình làng, các nghệ nhân đã khắc lên những cảnh sinh hoạt thường ngày của nhân dân như đi cày, đi bừa, đấu vật, hát xướng v.v  Trình độ nghệ  thuật  tuy  đơn  giản  nhưng  phản  ánh  được  cuộc  sống  của dân thường

Trang 58

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Ngoài ra thời kì này cũng là lúc ra đời những kiến trúc độc đáo còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

Phố cổ Hội An

Trang 59

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Phố cổ Hội An trở thành một trong những địa điểm du

lịch nổi tiếng ở Việt Nam và cả quốc tế

Trang 60

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Phố cổ Hội An còn nổi tiếng có một ngôi chùa Cầu có kiến trúc

vô cùng độc đáo được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII

Trang 61

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Chùa Thiên Mụ

Trang 62

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

 Nghệ thuật sân khấu phát triển ở cả Đàng Ngoài, Đàng Trong. Nhiều làng có phường tuồng, phường chèo. Bên cạnh đó, phổ biến hàng loạt làn điệu dân ca mang tính địa phương đậm nét như quan họ, hát giặm, hò, vè, lí, 

si, lượn

 Nghệ thuật ca hát dân ca phát triển với nhiều làn điệu dân ca khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam

Phát triển phong phú và có nhiều nét mới

Trang 63

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Nghệ thuật  sân  khấu  phát  triển  ở  cả  Đàng  Ngoài,  Đàng Trong. Nhiều làng có phường tuồng, phường chèo. Bên cạnh  đó,  phổ  biến  hàng  loạt  làn  điệu  dân  ca  mang  tính địa phương đậm nét như quan họ, hát giặm, hò, vè, lí, si, lượn

Trang 64

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Hát quan họ

Trang 65

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Chèo

Trang 66

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Tuồng

Trang 67

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 68

 Về  kiến  trúc nổi  bật  lên  quần  thể  cung  điện  nhà  vua  ở Huế và các lăng tẩm.

 Rạp hát đầu tiên được xây dựng có sân khấu và phòng khán giả

Trang 69

Cố đô Huế

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 70

Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng thành Huế Hiện nay là

một trong những di tích kiến trúc thời Nguyễn trong quần thể di tích cố

đô Huế Ngọ Môn - có nghĩa là " cổng tý ngọ" - hướng về phía nam, là

cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của Hoàng thành Huế Chì dành riêng cho vua đi lại hoặc dùng khi tiếp đón các sứ thần.

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 71

Lăng Khải Định

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 72

Cột cờ Hà Nội

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 73

Làm tranh dân gian

Xuất hiện một nghề mới : in tranh dân gian

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 74

Làng tranh dân gian Đông Hồ

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 75

Căn cứ về Về nội dung, tranh dân gian Việt Nam có  thể chia 4 nhóm:

1.Tranh thờ: được các trung tâm làm tranh dân gian dành một tỉ lệ lớn Sử dụng ở các chùa, đền, điện, phủ v

à nhà dân để canh gác, trừ tà, yểm quỷ

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 76

2.Tranh chúc tụng: chủ yếu là tranh Tết

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 77

Tranh sinh hoạt: phong phú, vui vẻ, đôi khi có tính châm biếm nhẹ nhàng

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 78

Tranh minh hoạ - lịch sử: được chọn lọc để

miêu tả lí thú

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 79

NGHỆ THUẬT

Một số bức tranh dân gian đặc sắc

Trang 80

Các ngành nghệ thuật dân gian tiếp tục phát triển theo các hình thức cũ

NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trang 81

KHOA HỌC KĨ THUẬT

Trang 83

TỪ THẾ KỈ X-XV

Đại Việt sử lược Đại thành toàn pháp

Trang 84

Triết học Có một  số  bài  thơ,  tập  sách  của  Nguyễn  bỉnh 

Khiêm,  Lê  Quý  Đôn:  Cảnh  nhàn,  Dĩ  hoà  vi  quý, Quế đường thi tập

Y học Có  bộ  sách  y  dược  của  Hải Thượng  Lãn  Ông  Lê 

Hữu Trác

Kĩ thuật Biết dùng súng đại bác theo kiểu phương Tây, đóng 

thuyền chiến, xây thành lũy

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Trang 85

Súng đại bác kiểu Tây

Trang 86

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Súng thần cơ

Trang 87

TỪ THẾ KỈ XVI-XVIII

Thuyền chiến có lầu

Trang 89

Bấm để thêm nội dung

TÌM HIỂU VỀ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỦA CHÚNG TA

Ngày đăng: 23/11/2021, 22:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

 Hình thức thi cử: - Lich su 10 chu de Nhung thanh tuu van hoa Viet Nam tu the ky X den nua dau the ky XIX
Hình th ức thi cử: (Trang 11)
THẾ KỈ X-XV - Lich su 10 chu de Nhung thanh tuu van hoa Viet Nam tu the ky X den nua dau the ky XIX
THẾ KỈ X-XV (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w