+ Ưu điểm: Việc thay đổi các mức ấn định lãi suất tiền gửi sẽ có tác động trực tiếp và nhanh chóng đến khối lượng tiền tệ và tin dụng của nền kinh tế + Nhược điểm: làm cho các tổ chức t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN HỢP TÁC QUỐC TẾ
THẢO LUẬN TRÌNH BÀY CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG LIÊN HỆ THỰC TẾ VIỆC THỰC HIỆN
CÁC CHÍNH SÁCH NÀY Ở VIỆT NAM
Trang 2A. Nhóm công cụ trực tiếp 3
Lãi suất tiền gửi: 3
Khung lãi suất tiền gửi và cho vay hoặc lãi suất cơ bản 3
Hạn mức tín dụng đối với các tổ chức tín dụng 4
Phát hành tiền trực tiếp cho Ngân sách và cho đầu tư 4
B. Nhóm công cụ gián tiếp 4
Nghiệp vụ thị trưởng mở (Open market operation) 5
Dự trữ bắt buộc (Reserve requirements) 8
Chính sách chiết khấu (Discount policy) 10
Liên hệ thực tế việc thực hiện chính sách tiền tệ tại Việt Nam 11
A. Dấu ấn điều hành chính sách tiền tệ 11
Năm 2019 11
Năm 2020 15
Quý I, II năm 2021 16
B. Khó khăn trong điều hành chính sách tiền tệ 19
C. Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng thời gian tới 21
Kết luận 22
Các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
A Nhóm công cụ trực tiếp
Công cụ trực tiếp là công cụ mà thông qua chúng NHTW có thể tác động trực tiếp đến các mục tiêu mà không phải qua một biến số trung gian nào khác Các công cụ trực tiếp mà NHTW có thể sử dụng thường là
Trang 3* Lãi suất tiền gửi:
- Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thu hút được nhiều tiền gửi, làm gia tăng nguồn vốn để cho vay Nếu lãi suất thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rộng cung cấp tín dụng của các NHTM và các tổ chức tín dụng
- Khi NHTW thay đổi các mức ấn định lãi suất tiền gửi, các NHTM và các tổ chức tín dụng phải tuân thủ các mức lãi suất ấn định này, từ đó sẽ làm thay đổi khối lượng tiền tệ, tin dụng trong nền kinh tế
+ Ưu điểm: Việc thay đổi các mức ấn định lãi suất tiền gửi sẽ có tác động trực tiếp và
nhanh chóng đến khối lượng tiền tệ và tin dụng của nền kinh tế
+ Nhược điểm: làm cho các tổ chức tín dụng mất đi tính linh hoạt và quyền tự chủ kinh
doanh, giảm khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng, dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn nhất thời ở ngân hàng nhưng lại thiếu vốn cho đầu tư hoặc có thể khuyến khích dân chúng dùng tiến vào dự trữ ngoại tệ, bất động sản trong khi ngân hàng hụt hằng về tiền mặt cũng như nguồn vốn cho vay
* Khung lãi suất tiền gửi và cho vay hoặc lãi suất cơ bản
- NHTW có thể tác động tới khối lượng tiền cung ứng bằng cách quy định và điều chỉnh khung lãi suất (giới hạn tối đa và tối thiểu) hoặc quy định điều chỉnh lãi suất cơ bản và biến
độ dao động
+ Ưu điểm: Biện pháp này giúp ngân hàng thương mại được quyền lựa chọn mức lãi suất
tiền gửi hoặc lãi suất cho vay phù hợp với điều kiện cụ thể của mình trong giới hạn không lãisuất hay biển độ giao động của lãi suất cho phép để kinh doanh, nâng cao được tính độc lập,
tự chủ của mỗi ngân hàng, mỗi tổ chức tín dụng
+ Nhược điểm: Tuy nhiên, trong kinh tế thị trường, lãi suất rất nhạy cảm với đầu tư, nên
nhiều khi khung lãi suất do NHTW quy định trở nên gò bó, cứng nhắc, không theo kịp những diễn biến của thị trường
* Hạn mức tín dụng đối với các tổ chức tín dụng
- Đây là biện pháp NHTW khống chế mức cho vay tối đa đối với NHTM và tổ chức tín dụng Trên cơ sở quy mô, tình hình hoạt động cũng như khả năng huy động vốn của từng tổ chức tín dụng NHTW tiến hành phân chia hạn mức tín dụng cho từng tổ chức tín dụng, đó chính là mức tối đa mà mỗi ngân hàng, mỗi tổ chức tín dụng được phép vay từ NHTW
Trang 4+ Ưu điểm: Việc sử dụng biện pháp này tạo cho NHTW dễ dàng đạt được mục tiêu kiểm
soát khối lượng tiền cung ứng
+ Nhược điểm:Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, với sự biến động thường xuyên
của cung và cầu tiền vay, biện pháp này tỏ ra không còn linh hoạt phù hợp với sự biến động của nền kinh tế
- Bên cạnh việc quy định hạn mức tín dụng đối với các tổ chức tín dụng NHTW còn quyđịnh hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế Trong trường hợp này NHTW có thể quy định giới hạn khối lượng tín dụng, giá các tổ chức tín dụng được cung cấp cho nền kinh tế Công
cụ này được sử dụng để kiểm soát chặt chẽ sự mở rộng tín dụng khi mà NHTW thực hiện chính sách thất chặt tiền tệ
* Phát hành tiền trực tiếp cho Ngân sách và cho đầu tư
- Khi ngân sách Nhà nước bị thiểu hụt, NHTW phát hành tiền để bù đắp sự thiếu hụt ấy
+ Ưu điểm:Biện pháp này làm gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông và hậu quả là gia
tăng lạm phát.Vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội có thể được thực hiện thông qua con đường tín dụng ngân hàng Việc NHTW phát hành tiến trực tiếp cho đầu tư là một biện phápcần thiết trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, dư thừa tiềm năng kinh tế và sẽ mang lại hiệuquả tích cực nếu việc phát hành tiền được sử dụng để khai thác tiềm năng về tài nguyên và con người
+ Nhược điểm: gia tăng tỷ lệ lạm phát.
B Nhóm công cụ gián tiếp
Công cụ gián tiếp là công cụ mà sự tác động của chúng đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ được thực hiện thông qua một biến số khác thuộc về sự kiểm soát của NHTW và qua
cơ chế tự điều tiết của các lục lượng thị trường
* Nghiệp vụ thị trưởng mở (Open market operation)
Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất, bởi vì chúng là những nhân tố chủ yếu làm thay đổi lãi suất và khối lượng tiền cơ sở, là nguồn chủ yếu làm thay đổi cung tiền Như vậy, nghiệp vụ thị trưởng mở không tác động trực tiếp mà tác động gián tiếp đến cung tiền và lãi suất thị trường thông qua lãi suất liên ngân hàng và tiền cơ sở đến cung tiền và lãi suất thị trường Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán các chứng khoán ngắn hạn của NHTW trên thị trưởng mở
Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Trang 5Nếu muốn gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông, mở rộng tín dụng NHTW tiến hành mua giấy tờ có giá trên thị trường Ngược lại khi muốn giảm mức cung ứng tiền, thu hẹp tín dụng NHTW phát hành và bản các giấy tờ có giá.
Khi NHTW mua các giấy tờ có giá sẽ tạo ra các hiệu ứng
+ Lãi suất liên ngân hàng giảm ngay lập tức, qua đó tác động làm cho lãi suất thị trường ngắn hạn giảm theo
+ Dự trữ của hệ thống NHTM tăng ngay lập tức, qua đó làm tăng tiền cơ sở Tiền cơ sở tăng, thông qua cơ chế tạo tiền gửi, làm cho cung tiền tăng lên
Ngược lại, khi NHTW bán chứng khoán sẽ tạo ra các hiệu ứng
+ Lãi suất liên ngân hàng tăng ngay lập tức, qua đó tác động làm cho lãi suất thị trường ngắn hạn tăng theo
+ Dự trở của hệ thống NHTM giảm ngay lập tức, qua đó làm giảm khối lượng tiền cơ sở.Tiền cơ sở giảm, thông qua cơ chế tạo tiền gửi, làm cho cung tiền giảm xuống
Như vậy, thông qua các nghiệp vụ của thị trường mở, NHTW có thế kiểm soát được mức lãi suất thị trường ngắn hạn và mức cung tiền trong nền kinh tế
Thông thường, nghiệp vụ thị trường mở bao gồm 2 loại:
+ Nghiệp vụ chủ động (dynamic open market operations): là nghiệp vụ được tiến hành nhằm mục đích chủ động thay đổi mức dự trữ và tiến cơ sở Chẳng hạn, NHTW thấy tổng lượng tiền cung ứng vào lưu thông không đủ để kích thích nền kinh tế phát triển nên quyết định thực hiện nghiệp vụ thị trường mở để tăng lượng tiền đưa vào lưu thông
+ Nghiệp vụ bị động (defensive open market operations); là nghiệp vụ được tiến hành nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tố ảnh hưởng một cách không có lợi đến tổng lượng tiền trong lưu thông Chẳng hạn, khi tiền gửi của Kho bạc và các NHTM và các tổ chức tín dụng tại NHTW được dự đoán là giảm xuống, điều này đồng nghĩa với sự tăng lên của tổng lượng tiền trong lưu thông, NHTW sẽ phải tiến hành bán chứng khoản trên thị trường mở
Ưu, nhược điểm của nghiệp vụ thị trường mở
- Ưu điểm:
Trang 6Các công cụ của nghiệp vụ thị trường mở có những lợi thế nhất định so với các công cụ khác trong chính sách của NHTW Những lợi thế này bao gồm tính chính xác với tổng dự trữ và cơ số tiền dự trữ và cơ số tiền tệ có thể bị ảnh hưởng bởi tính linh hoạt của nghiệp vụ thị trường mở và thực tế là quyền lực đối với sự thay đổi hoàn toàn trong tay của NHTW.+ Tính chính xác: Hoạt động thị trường mở giúp cho NHTW quản lý chính xác tổng dự trữ ngân hàng và cơ số tiền tệ, đặc biệt khi chúng được tính bình quân tuần hoặc tháng dựa trên số liệu hàng ngày Nếu NHTW muốn bơm bao nhiêu tiền dự trữ vào hệ thống ngân hàng
nó thực hiện đơn giản bằng cách mua bấy nhiêu tiền chứng khoán Chính phủ Mức chính xáccao này không thể đạt được khi sử dụng các công cụ lãi suất tái cấp vốn hoặc dự trữ bắt buộc Chẳng hạn, nếu NHTW muốn giảm dự trữ thông qua chính sách tái cấp vốn, tất cả những gì nó có thể làm là tăng lãi suất tái cấp vốn và thậm chí có thể phát hành một thông báo khiển trách các ngân hàng không chịu vay với khối lượng lớn tại NHTW Trong một chừng mực nào đó, những hành động này sẽ tạo ra một sự suy giảm trong dự trữ và cơ số tiền tệ không thể dự báo trước được
Luận chứng tương tự được đưa ra với khía cạnh liên quan đến thay đổi trong dự trữ bắt buộc Trước hết, một sự thay đổi trong dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến cung tiền thông qua
số nhân tạo tiền hơn là thông qua dự trữ ngân hàng và cơ số tiền tệ Mặt khác, ngay cả một
sự thay đổi nhỏ của tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng tạo ra sự thay đổi khá lớn trong dự trữ yêu cầu
và dự trữ vượt mức Về nguyên tắc, NHTW có thể áp dụng những thay đổi thường xuyên và nhỏ trong dự trữ bắt buộc Tuy nhiên, cả NHTM và NHTW đều phản đối biện pháp như vậy bởi nó không thực sự thuận lợi và có thể gây ra những xáo trộn đối với hoạt động của ngân hàng
+ Tính linh hoạt: NHTW có thể tham gia vào thị trường mở hàng ngày, mua và bán với
số lượng lớn chứng khoán Chính phủ thông qua mạng lưới phân phối của nó Vì lý do này NHTW dễ dàng thay đổi cung bậc của chính sách tiền tệ và thậm chí đảo hướng của nó thông qua các hoạt động của thị trường mở (chỉ trong thời gian ngắn nếu muốn) Điều tương
tự không đúng với những thay đổi trong chính sách tái cấp vốn và dự trữ bắt buộc là những thứ mà công chúng có thể nhận thức rõ ràng Chẳng hạn, nếu NHTW tăng lãi suất tái cấp vốn hoặc dự trữ bắt buộc thì đây là một hành động hạn chế cung tiền Do vậy, hành động củaNHTW được xem như là dấu hiệu một nhu cầu về hạn chế tiền tệ Hướng ngược lại của việc giảm lãi suất tái cấp vốn hoặc dự trữ bắt buộc trong thời gian tiếp theo sẽ làm NHTW lúng túng Bằng cách như vậy, nó sẽ bị công chúng coi là sai lầm Hậu quả là nó không đảo ngược được hướng của công cụ chính sách tới tận khi có những bằng chứng tin cậy cho thấy
Trang 7rằng một sự thay đổi trong chính sách là cơ bản Vì lý do này mà công cụ nghiệp vụ thị trường mở có thể được NHTW thực hiện nhiều lần mỗi ngày trong khi đó với hai công cụ trên thì chỉ được sử dụng một vài lần trong năm.
+ Khả năng tiên liệu: Nếu NHTW phải tác động đến các hoạt động kinh tế thông qua dự trữ bắt buộc, cơ số tiền tệ hoặc dự trữ vượt mức, sự thay đổi trong những biến số này nhất định phải do các quyết định của NHTW thay vì bị áp đặt bởi các lực lượng bên ngoài Tức
là, khả năng tiên liệu những thay đổi trong dự trữ, dự trữ vượt mức nằm trong sự kiểm soát
và quyết định của NHTW Đây cũng là tình huống đối với hoạt động thị trường mở: bằng cách tiên liệu các hoạt động như vậy NHTW có thể điều khiển ứng xử của tổng dự trữ ngân hàng và cơ số tiền tệ Một tình huống tương tự có thể được thực hiện đối với công cụ dự trữ bắt buộc, nó cho phép NHTW có thể kiểm soát dự trữ yêu cầu Tuy nhiên, điều này không đúng đối với công cụ lãi suất tái cấp vốn
Nhờ những ưu điểm trên mà nghiệp vụ thị trưởng mở được coi là công cụ hữu hiệu nhất trong các công cụ của chính sách tiền tệ Tuy nhiên, việc thực hiện công cụ này đòi hỏi sự phát triển của thị trường tài chính thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng Ngoài ra NHTW phải có khả năng dự đoán và kiểm soát sự biến động của lượng vốn khả dụng trong
có thể bị triệt tiêu một phần hay toàn bộ
+ Các NHTW không nhất thiết phải tăng hoặc giảm lượng cung ứng tín dụng và đầu tư khi dự trữ tăng lên hay giảm đi do tác động của các nghiệp vụ trên thị trường mở Có một số yếu tố ngăn cản các NHTM sử dụng tối đa số dự trữ dư thừa cho việc mở rộng tín dụng như: nhu cầu trả nợ NHTW, nhu cầu sử dụng tiền mặt tăng lên,
Trang 8+ Khi sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, NHTW thường mua bán với khối lượng chứng khoán lớn nên có thể gây ra sự biến động về lãi suất trên thị trường Trong trường hợp lãi suất thị trường giảm xuống thì khối lượng tín dụng không nhất thiết tăng lên tương ứng bởi
lẽ điều này còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, mức rủi ro và sự ổn định của môi trường đầu tư
* Dự trữ bắt buộc (Reserve requirements)
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải duy trì theo quy định của NHTW
Nó được xác định bằng tỷ lệ % nhất định trên tổng số dư tiền gửi của các NHTM và các tổ chức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định
Dự trữ bắt buộc được xác định theo công thức sau:
Tiền gửi dự trữ bắt buộc = Tổng số tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc x Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tuỳ theo điều kiện của từng nước, trong từng thời kỳ mà NHTW có những quy định về việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau Dự trữ bắt buộc có thể quy định cho tất cả các
tổ chức tín dụng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể được quy định chung cho toàn bộ các nguồn vốn huy động được của các tổ chức tín dụng, hoặc có thể chỉ được quy định đối với tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi ngắn hạn dưới một năm
Cơ chế tác động của dự trữ bắt buộc:
Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho các tổ chức tín dụng và quan trọng hơn là để NHTW kiểm soát quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM vàcác tổ chức tín dụng khác Sự thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến sự thay đổi số nhậntiền và qua đó tác động tới mức cung tiền Cụ thể:
+ Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng, các yếu tố khác không thay đổi, ngay lập tức dự trữ vượt mức của hệ thống ngân hàng giảm, làm giảm khả năng cho vay và đầu tư của tổ chức tín dụng, do đó làm giảm cung tiền trong ; lưu thông
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là bộ phận cấu thành mẫu số của hệ số nhân tiền Vì thế khi tỷ lệ
dự trữ bắt buộc tăng sẽ làm giảm hệ số nhân tiền, làm giảm khả năng tạo tiền và cung ứng tiền của hệ thống ngân hàng
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng làm tăng cầu dự trữ của các NHTM trên thị trường liên ngânhàng Trong điều kiện cung dự trữ không đời, sự tăng cầu dự trữ làm tăng lãi suất liên ngân hàng, từ đó dẫn đến tăng các mức lãi suất trên thị trường, giảm khối lượng cung tiền
Trang 9+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng sẽ làm tăng chi phi dầu vào cho các NHTM Khi đó, để cho vay có lãi, buộc các NHTM phải nâng lãi suất cho vay.
Ngược lại, nếu NHTW giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng, khả năng cho vay và đầu tư, dẫn đến khả năng tăng mức cung tiền trong nền kinh tế
Như vậy, thông qua công cụ dự trữ bắt buộc, NHTW tác động cả về khối lượng tín dụng
Ưu, nhược điểm của công cụ dự trữ bắt buộc
+ Các khoản tiền gửi do các NHTM tạo ra đều được giữ lại trong hệ thống Ngân hàng
Để khống chế hoặc mở rộng tín dụng cho nền kinh tế theo ý muốn, NHTW cần quy định tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc Khi tỷ lệ dự trữ pháp định tăng lên thì khả năng tín dụng giảm và ngược lại
+ Tuy nhiên, việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể gây nên lộn xộn không thể kiểm soát được của hệ thống NHTM như: NHTW muốn nhanh chóng giảm lượng tiền cung ứng nên đã nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 5% lên 10% làm cho các NHTM nhận thấy rằng họ không có đủ dự trữ để đáp ứng yêu cầu của NHTW đề ra và không có đủ dự trữ để đáp ứng các hoạt động của họ Vì thế lúc này NHTM sẽ tìm cách bán chứng khoán, thu hồi các món vay, vay từ các Ngân hàng khác…
+ Nếu chỉ một Ngân hàng làm như vậy thì không sao nhưng nhiều Ngân hàng đều làm như vậy thì hệ thống Ngân hàng sẽ khiến cho các ngân hàng rơi vào tình trạng bất ổn trong việc quản lý và đảm bảo tính thanh khoản đổng thời gia tăng chi phí Vì vậy, công cụ này không được khuyến khích sử dụng thường xuyên, nếu có sử dụng thì thay đổi với tỷ lệ nhỏ
Trang 10* Chính sách chiết khấu (Discount policy)
Chính sách chiết khấu thể hiện bằng quy chế cho vay của NHTW đối với các NHTM vaycác tổ chức tín dụng phi ngân hàng Quy chế này bao gồm những nội dung về điều kiện cho vay ngắn hạn dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá do các tổ chức tín dụng đưa đến Mục đích vay chiết khấu của các tổ chức tín dụng là để bù đắp thiếu hụt tạm thời nhu cầu thanh toán hoặc thiếu hụt dự trữ bắt buộc Những thay đổi trong chính sách chiết khấu của NHTW sẽ tác động đến khối lượng vay chiết khẩu của các ngân hàng thương mại, từ đó ảnh hưởng tới lượng tiền cung ứng và lãi suất thị trường
Cơ chế tác động của chính sách chiết khấu
NHTW thay đổi lãi suất chiết khấu và hạn mức chiết khấu, ảnh hưởng đến hoạt động đi vay của các tổ chức tín dụng như sau:
+ Hạn mức chiết khấu: Khối lượng dự trữ bổ sung cho các tổ chức tín dụng có thể bị thu hẹp hoặc nới rộng phụ thuộc vào hạn mức chiết khẩu của NHTW, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, làm thay đổi lượngtiền cung ứng Mặt khác, khi cung tiền thay đổi sẽ tác động làm cho lãi suất thị trường thay đổi
+ Lãi suất chiết khấu: Khi NHTW tăng lãi suất chiết khấu sẽ làm tăng chi phí đi vay của các tổ chức tín dụng, để kinh doanh có lãi, các tổ chức tín dụng phải tăng lãi suất cho vay, từ
đó làm giảm nhu cầu tín dụng Mặt khác, khi lãi suất chiết khẩu tăng, chi phí đi vay tăng buộc các tổ chức tín dụng hạn chế vay NHTW Để hồi phục dự trữ, các tổ chức tín dụng phảigiảm cung ứng tin dụng, khiến lãi suất thị trường tăng
Ưu, nhược điểm của chính sách chiết khấu:
+ Ưu điểm của công cụ chiết khấu là các khoản vay chiết khấu đều được đảm bảo bằng
các giấy tờ có giá, nên NHTW chắc chắn thu hồi được nợ khi đến hạn
Nhược điểm:
+ Tuy nhiên, tác dụng của chính sách chỉ có thể phát huy khi các tổ chức tín dụng có nhu cầu vay từ NHTW với mức lãi suất hợp lý Với sự phát triển của thị trưởng tài chính, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng có thể tìm kiếm được các nguồn cho vay thay thế làm cho sự phụ thuộc vào các khoản vay NHTW giảm đi, do đó làm giảm mức độ phát huy hiệu quả của công cụ này
Trang 11+ Ngoài ra, NHTW khó có thể kiểm soát được hoàn toàn những tác động của công cụ này bởi vì NHTW chỉ có thể thay đổi được lãi suất chiếu khấu và các điều kiện cho vay mà không kiểm soát được việc các tổ chức tín dụng quyết định vay từ mình bao nhiêu.
+ Công cụ này cũng không dễ khắc phục được sai sót như nghiệp vụ thị trường mở Chẳng hạn, nó cũng có thể gây ra những biến động lãi suất trên thị trường,
Nhìn chung, thông qua các công cụ gián tiếp, cho phép NHTW điều hành chính sách tiền
tệ một cách mềm dẻo, linh hoạt để đối phó với những đột biến của nền kinh tế Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ này đòi hỏi các nhà quản lý phải nắm bắt chính xác những tín hiệu của thị trưởng, có được những dự bảo, tiên đoán chính xác những biến động của nền kinh tế
Vì vậy, trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển, trình độ quản lý và điều hành chính sách tiền tệ còn hạn chế thì việc sử dụng các công cụ gián tiếp khó có khả năng mang lại kết quả như mong muốn
Liên hệ thực tế việc thực hiện chính sách tiền tệ tại Việt Nam
A Dấu ấn điều hành chính sách tiền tệ
* Năm 2019
Điều hành công cụ lãi suất
Với Việt Nam, xu hướng suy giảm kinh tế toàn cầu sẽ ảnh hưởng đáng kể đến kinh tế trong nước, do Việt Nam là nước có độ mở lớn trên thế giới (tổng kim ngạch xuất khẩu năm
2019 ước tính tương đương 200% GDP) Do đó, hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung sẽ chịu rủi ro nhất định dưới tác động kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại Theo
đó, không nằm ngoài xu hướng, trong năm 2019, NHNN Việt Nam công bố giảm một loạt các loại lãi suất điều hành
Cụ thể, ngày 16/9/2019, NHNN quyết định giảm 0,25 điểm phần trăm đối với một loạt lãi suất điều hành, bao gồm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng và lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) Đây là lần đầu tiên NHNN điều chỉnh lãi suất điều hành kể từ tháng 10/2017
Hai tháng sau, ngày 19/11/2019, NHNN tiếp tục ban hành 2 quyết định điều chỉnh giảm