1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư

101 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư

Trang 1

Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên với tất cả chân thành, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Thầy Hà Duy Khánh

- người trực tiếp hướng dẫn tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm luận văn Bên cạnh đó, Thầy còn là người đã động viên tôi rất nhiều để tôi

có thể vượt qua những khó khăn trong thời gian nghiên cứu, xin gửi đến Thầy lời tri ân, lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn Khoa xây dựng - Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, tập thể Lãnh đạo, cán bộ, các nhà khoa học, c ng qu Thầy Cô Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, đã tận tâm truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập Tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn vì sự giúp đỡ đó

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Anh, chị trong ngành, các nhà đầu tư đã giúp đỡ và cung cấp số liệu nhiệt tình trong quá trình khảo sát để hoàn thành bộ

số liệu nghiên cứu phân tích, cũng như cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Mặt dù bản thân đã tập trung cố gắng nghiên cứu nhưng trong thời gian làm chuyên đề luận văn với tiến độ tương đối ngắn nên khó tránh khỏi những sai sót nhất định Rất mong được sự góp ý chân thành từ quý Thầy, cô và các bạn nhằm hoàn chỉnh hơn cho luận văn, đồng thời là cơ sở để nghiên cứu mở rộng sau này

Học viên thực hiện Luận văn

Trang 2

Số liệu thu thập ở giai đoạn 1 được tổng hợp và phân tích bằng kiểm định Cronbach’s Alpha và ANOVA nhằm xác định và đánh giá các tiêu chí của hiệu quả

dự án Thông qua 3 dự án thực tế do Nhà nước đầu tư và 3 dự án do tư nhân đầu tư, việc đối sánh hiệu quả đầu tư các dự án xây dựng được thực hiện dựa vào 6 tiêu chí lớn và 17 bộ chỉ số phụ Kết quả cho thấy dự án do Nhà nước đầu tư tốt hơn dự án

do tư nhân đầu tư ở một vài chỉ số KPIs, nhưng ngược lại chúng lại tệ hơn ở các KIPs còn lại

Từ khóa: đối sánh hiệu quả, KPIs, dự án xây dựng, An Giang

BENCHMARKING EFFECTIVENESS OF CONSTRUCTION PROJECTS USING GOVERNMENT BUDGET AGAINST OTHER PROJECTS USING

PRIVATE BUDGET

Benchmarking the effectiveness of construction investment projects is an important research topic in order to recommend the local managers when selecting the investment type for the projects under their management in order to maximize the effectiveness of the project The main purpose of this study is to develop a set of KPIs to measure the effectiveness of projects in An Giang province and analyze SWOT matrix The study has conducted data collection through 2 stages by a structured survey questionnaire and a work sampling sheet Data collected in the first stage were synthesized and analyzed by Cronbach’s Alpha and ANOVA tests

Trang 3

iv

to identify and evaluate project performance criteria Through three actual projects invested by the government budget and three projects invested by the private budget, the comparison of investment effectiveness of construction projects has been done based on 6 major criteria and 17 sets of sub-criteria The results indicated that the projects invested by the government budget are better than projects invested

by the private budget in some KIPs, but they are also worse in the remaining KIPs

Keywords: benchmarking, effectiveness, KPIs, construction projects, An

Giang

Trang 4

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề:

Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, trong những năm gần đây nguồn ngân sách cân đối chi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nhà ở, trường học phục vụ phát triển kinh tế ngày càng tăng lên, nên cần phải hệ thống quản l đầu tư công mới được xây dựng, chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch tập trung sang hệ thống phân cấp, quá trình chuyển đổi chậm ảnh hướng đến nhiều dự án quan trọng

bị chậm tiến độ và quá trình thực hiện dự án điều chỉnh nhiều lần, làm tăng tổng mức đầu tư so ban đầu được phê duyệt, tuy nhiên khi Luật Đầu tư công được thông qua đã nâng cao năng lực phối hợp trong quản l đầu tư công

Như vậy, đầu tư từ ngân sách nhà nước có vai trò hết sức quan trọng, góp phần vào tăng trưởng GDP của đất nước và tạo ra tác động lan tỏa, mở rộng các hình thức đầu tư, đặt biệt là thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng để đảm bảo thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra Thực tế tại Việt Nam, do mô hình kinh tế kế hoạch tập trung chuyển đổi chậm (đến năm 2015 Luật Đầu tư công có hiệu lực), nên việc quản l đầu tư công kém hiệu quả, nên hàng loạt các dự án đầu tư công có dấu hiệu không hiệu quả khắp các bộ, ngành, địa phương

Thời báo Tài chính Việt Nam [1] đăng, theo thống kê tại các báo cáo gửi về

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 25/8/2017, có 43 dự án của các doanh nghiệp (các tổng công ty, công ty) thuộc các bộ, 21 dự án thuộc các địa phương, 8 dự án thuộc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước với tổng mức đầu tư được phê duyệt sau c ng khoảng 42.744 tỷ đồng, là các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả theo một số tiêu chí do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất Cụ thể, số dự án có tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng so với mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt là 15 dự án Số dự án có doanh thu, lợi nhuận thực tế thấp hơn trong báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt là 25 dự án Số dự án đầu tư dở dang, chưa đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng kế hoạch đầu tư là 29 dự án Số dự án đầu tư đã đi vào hoạt động nhưng không đảm bảo công suất thiết kế, không b đắp

Trang 5

Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái kinh tế toàn cầu (vào khoảng giai đoạn 2007–2012), các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước gặp khó khăn Nền kinh

tế thế giới suy thoái, phục hồi chậm và các điều kiện ngân sách khó khăn, nên tình trạng phân bổ ngân sách cho dự án kéo dài gây chậm tiến độ Điều chỉnh dự án tăng tổng mức đầu tư trong các dự án đầu tư công còn phổ biến, làm ảnh hưởng không tốt tới phân tích lợi ích – chi phí Tuy nhiên, để phát triển đất nước thì đầu tư công

có tầm quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu thiếu hụt cơ sở hạ tầng, tác động tích cực tới tăng trưởng (ở các nước thu nhập thấp và trung bình), tạo ra nguồn vốn công

có lợi cho khu vực tư nhân (giảm chi phí sản xuất) và tác động tới quá trình tăng trưởng chung

C ng với cả nước, v ng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có An Giang luôn được các Bộ ngành Trung ương h trợ vốn đầu tư phát triển về hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông, hạ tầng nông nghiệp – thủy lợi góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, tỉnh cũng phải đối mặt với nhiều thách thức về tình hình biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long, xâm nhập mặn, sạt

lở, thiên tai, sẽ ảnh hưởng đến việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng của tỉnh

Bên cạnh đó, An Giang còn là tỉnh nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Đông Nam giáp TP Cần Thơ, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang và Tây Bắc giáp Campuchia Kinh tế tỉnh An Giang trong những năm qua phát triển khá nhanh, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn vừa qua gần 9,42%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh khu vực thương mại - dịch vụ và giảm dần khu vực nông nghiệp, nên An Giang quan điểm

Trang 6

3

và định hướng đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách đầu tư dự án có trọng tâm, trọng điểm Ưu tiên đầu tư phát triển các dự án hạ tầng giao thông, hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, y tế, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư, tập trung nội lực là chính, đồng thời tranh thủ ngoại lực đầu tư, trong đó tập trung đẩy mạnh thu hút đầu tư, lựa chọn danh mục và lập đề cương dự án kêu gọi đầu tư theo hình thức PPP,… tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong mối quan hệ tổng thể của tỉnh với v ng kinh tế trọng điểm và khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang [2] cho biết tổng vốn đầu tư thực tế huy động vốn 05 năm 2011-2015 như:

Bảng 1.1: Tổng hợp nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015

Số

TT Danh mục công trình

Kế hoạch theo QĐ 1636/QĐ- UBND 16/9/

2011

Kế hoạch theo QĐ1768/

UBND 16/8/

QĐ-2013

Tổng vốn huy động giai đoạn 2011-

2015

So sánh

KH theo

1636 với vốn huy động 2011-

2015 (%)

So sánh

KH theo

1768 với vốn huy động 2011-

2015 (%)

Trang 7

4

và đang triển khai, đã thu hút vốn đầu tư 12.177 tỷ đồng/tổng vốn huy động 24.650

tỷ đồng và cao hơn nguồn vốn ngân sách địa phương đầu tư của chương trình (chỉ huy động được 8.206 tỷ đồng), đã phát huy hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương Bênh cạnh đó do nhận thức các Sở, Ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố, chỉ chú trọng vào các công trình sử dụng ngân sách nhà nước, nên nhu cầu vốn đầu tư có nguồn gốc ngân sách Nhà nước vẫn còn khá cao so với khả năng huy động là hạn chế, trong khi chưa chủ động tìm các nhà đầu tư để triển khai các công trình thuộc ngành quản l

Sự thiếu thông tin, nhận thức chưa đầy đủ của các cấp quản l địa phương về đầu tư các công trình bằng ngân sách nhà nước và các công trình do tư nhân đầu tư Công tác quản l đầu tư và thu hút đầu tư của tỉnh chưa xác định được chính xác những loại dự án nào là phải d ng ngân sách đầu tư sẽ hiệu quả, những dự án nào giao khu vực tư nhân đầu tư sẽ hiệu quả Do đó, việc đối sánh hiệu quả đầu tư các

dự án do nhà nước đầu tư, so với khu vực tư nhân đầu tư là cấp thiết, nhằm để kiến nghị cấp lãnh đạo chính quyền địa phương trong lựa chọn dự án để đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn và những dự án cần phải kêu gọi các thành phần kinh

tế đầu tư là điều cần thiết trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới

Hiện ở Việt Nam, tác giả Tô Trung Thành [3] đã nghiên cứu phân tích đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân, góc nhìn từ mô hình thực nghiệm VECM và tác giả

Nguyễn Bảo Ngọc [4] đã nghiên cứu về các vấn đề về đo lường thành công của dự

án xây dựng và đề xuất sử dụng KPIs; nghiên cứu dựng lại là chỉ phân tích đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân hoặc đưa ra các công thức tính toán, chưa nghiên cứu đối sánh hiệu quả đầu tư các dự án do nhà nước đầu tư so với khu vực tư nhân đầu tư

1.2 Tính cấp thiết của đề tài:

Về mặt khoa học: Đề tài muốn khảo sát và tìm hiểu về nhận thức của các

cấp quản l địa phương, đưa ra những nhận định và phân tích để có những đối sánh lựa chọn, quyết định lựa chọn loại hình đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hay tư nhân đầu tư một cách chính xác có cơ sở khoa học, nhằm sử dụng nguồn lực từ

Trang 8

5

ngân sách của địa phương một cách trọng tâm trọng điểm hiệu quả nhất, phát huy hiệu quả đầu tư

Về mặt thực tiễn: nghiên cứu giúp chính quyền địa phương, các cấp quản lý

địa phương, lựa chọn được loại hình đầu tư hợp lý nhất cho những dự án thuộc cấp mình quản lý nhằm phát huy hiệu quả dự án góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, cũng như thực hiện hoàn thành các mục tiêu kế hoạch 05 năm cấp chính quyền địa phương Từ đó, đưa ra các tiêu chí, phương pháp lựa chọn những dự án nào ngân sách nhà nước đầu tư sẽ hiệu quả, những dự án nào thì khu vực tư nhân đầu tư

sẽ hiệu quả

1.3 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chính của đề tài là đối sánh hiệu quả dự án xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và dự án do tư nhân đầu tư (nhà đầu tư) trên địa bàn tỉnh An Giang Từ đó, các mục tiêu thành phần bao gồm:

- Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng dự án dựa trên các văn bản pháp luật và thực tiễn áp dụng

- Xây dựng bộ tiêu chí đo lường đánh giá hiệu quả xây dựng các dự án (Key Performance Index, KPI)

- Áp dụng bộ KPI này vào một số dự án đầu tư xây dựng điển hình bao gồm dân dụng, cầu đường và thủy lợi ở An Giang

- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và rủi ro của các dự án xây dựng điển hình ở trên nhằm so sánh hiệu quả với nhau

1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tƣợng nghiên cứu: Đề tài được thực hiện khảo sát trên các đối tượng là

các Ban quản l dự án Đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh và nhà đầu tư (có dự án do mình làm chủ đầu tư) sử dụng vốn ngân sách hoặc vốn doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn tỉnh

Trang 9

6

Phạm vi nghiên cứu: v ng thực hiện bài nghiên cứu được hạn chế ở tỉnh An

Giang với những dự án trong các lĩnh vực như giao thông, y tế và cấp nước, vì quá trình lựa chọn đầu tư các loại lĩnh vực này trong giai đoạn hiện nay tỉnh An Giang đang tập trung ngân sách đầu tư, trong khi nhiều doanh nghiệp cũng tìm hiểu cơ hội đầu tư, cũng có những dự án đã đầu tư trong lĩnh vực này

1.5 Đóng góp của đề tài:

Đóng góp thứ 1: kết quả của đề tài có thể làm cơ sở để lựa chọn dự án nào

cần đầu tư bằng ngân sách, những dự án nào do tư nhân đầu tư , đồng thời cũng là

cơ sở để các cơ quan nhà nước, nhà đầu tư tiếp cận ra quyết định lựa chọn dự án đầu tư cho ph hợp

Đóng góp thứ 2: nghiên cứu xác định hình thức đầu tư trên cơ sở các tiêu

chí, phương pháp lựa chọn ph hợp với từng loại dự án Từ đó giúp các cấp quản l địa phương và nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư ph hợp, để phát huy hiệu quả đầu tư cao nhất và đảm bảo dự án triển khai đúng mục tiêu đề ra

Trang 10

7

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về đối sánh

Meek và nhóm tác giả [5], cho biết tổng quan về đối sánh như sau:

- Đối sánh là một quá trình học hỏi được kiến tạo để tạo điều kiện cho những người tham gia quá trình này có thể so sánh những hoạt động, hay dịch vụ, sản phẩm của họ với người khác hay tổ chức khác, nhằm tìm hiểu ch mạnh ch yếu trong tương quan so sánh với nhau, để tự cải thiện hoặc điều chỉnh hoạt động của mình Đối sánh có nhiều yếu tố rất có giá trị có thể nêu ra như:

Phạm vi đối sánh bao gồm nhiều mảng hoạt động khác nhau Bất cứ trường nào cũng có thể tìm ra ít nhất một vài lĩnh vực mà mình có thế mạnh và có thể thành công, thay vì bị đánh giá dựa trên một nhóm các tiêu chí chọn lọc từ bên ngoài

Cách tiếp cận của việc đối sánh được xây dựng dựa trên các chỉ số định lượng và định tính, các thước đo quá trình, cho thấy những vị trí dẫn đầu hay tụt hậu Những thứ đó có thể giúp chúng ta biết rằng liệu những kinh nghiệm hay có đang được áp dụng hay không mà không cần phải chờ đo lường thành quả mới biết

- Đối sánh bên trong để tích lũy kinh nghiệm của quá trình trước khi thử áp dụng hoặc là đối sánh bên ngoài hoặc là đối sánh chức năng Nếu áp dụng ph hợp, đối sánh sẽ chứng minh là một trong những công cụ hiệu quả nhất giúp tạo sự đột phá trong việc cải thiện hiệu năng Do đó, đối với những hoạt động cải thiện hiệu năng cụ thể, nhà quản l cần chọn và áp dụng các quá trình đối sánh ph hợp, các kiểu đối sánh phổ biến nhất hiện nay:

 Chuẩn đối sánh với bên ngoài

 Chuẩn đối sánh chức năng

 Chuẩn đối sánh về tính cạnh tranh

 Chuẩn đối sánh về quá trình

 Chuẩn đối sánh về kết quả hoạt động

 Chuẩn đối sánh chiến lược

 Chuẩn đối sánh quốc tế

 Chuẩn đối sánh bên trong

Trang 11

8

 Chuẩn đối sánh tổng quát

Bill Cockburn [6] cho biết, đối sánh là một công cụ đa năng và có thể áp dụng riêng công cụ này hoặc áp dụng kết hợp với những công cụ cải thiện năng suất, cho đến nay, kỹ thuật đối sánh vẫn được đánh giá là công cụ hữu ích nhất trong chuẩn đối sánh các thành viên của Đối sánh hoặc là hoạt động c ng một ngành hoặc các đối thủ trực tiếp được so sánh, từ đó có thể thấy chúng ta có thể áp dụng Đối sánh dưới nhiều hình thức khác nhau Do đó, nó giúp các đơn vị tập trung vào quá trình thực hiện Đối sánh trước khi áp dụng nó và thực tế, quá trình Đối sánh thường diễn ra như sau:

- Thường xuyên so sánh về mặt hiệu năng (các chức năng hoặc các quá trình) với những công ty phát triển nhất về hiệu năng

- Nhận biết các l hổng về hiệu năng

- Tìm kiếm các phương pháp mới để cải thiện hiệu năng

- Thực hiện các phương pháp cải thiện hiệu năng

- Giám sát tiến độ thực hiện và đánh giá các lợi ích đạt được

2.2 Hiệu quả thực hiện

Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án: phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội nhằm

so sánh lợi ích giữa phương án thực hiện đầu tư dự án với phương án giữ nguyên hiện trạng, không thực hiện đầu tư, các yếu tố tác động đến xã hội trong quá trình thực hiện dự án như h trợ tái định cư, bình đẳng giới, lao động, tạo việc làm và các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực

Về môi trường của dự án: đánh giá tác động môi trường theo pháp luật về

môi trường Trường hợp dự án sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm yếu tố đầu vào (thuộc các lĩnh vực như năng lượng, điện, nước ), phân tích chi tiết về tác động của

dự án đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên và biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực

Về kỹ thuật: ph hợp của phương án kỹ thuật, công nghệ với quy mô, công

suất của dự án, các tiêu chuẩn, định mức và yêu cầu kỹ thuật đầu vào; tính sẵn có và khả năng ứng dụng thực tiễn của công nghệ được lựa chọn

Trang 12

9

Về tài chính: phải ph hợp và tính chính xác của các yếu tố tài chính đầu

vào, các chỉ tiêu tài chính và phương án tài chính sơ bộ của dự án, sự ph hợp của các hình thức ưu đãi, bảo đảm đầu tư; đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước xem xét sự ph hợp của giá trị phần vốn, khả năng cân đối và bố trí vốn, cách thức, kế hoạch và tiến độ giải ngân cho nhà đầu tư

Về quốc phòng, an ninh (nếu có): Trường hợp dự án có tác động về quốc

phòng, an ninh, phân tích chi tiết nội dung này và đề xuất biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực

2.3 Nghiên cứu trong nước:

Việt Nam trong những năm qua có nhiều khác vọng phát triển, với tầm nhìn của Cộng đồng kinh tế ASEAN hướng đến tự do hóa thương mại, nên đất nước sẽ chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng của đất nước mình đồng bộ hơn đồng thời kết nối với khu vực Tuy nhiên, vẫn có những khó khăn nhất định về nguồn lực và mục tiêu

ở các quốc gia, không chỉ riêng Việt Nam, những năm qua, hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta không ngừng tăng nhanh cả về quy mô, lĩnh vực xây dựng với sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội Tuy nhiên, tác động này là thấp nhất so với đầu tư

từ các khu vực khác, nên cần tiếp tục hoàn thiện chính sách đầu tư công và chính sách đầu tư của Việt Nam trong thời gian tới, cụ thể:

Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Lê Hoàng Phong [7] đã phân tích tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: Góc nhìn thực nghiệm từ

mô hình ARDL, cho biết sau hơn 25 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, với tốc độ tăng trưởng trung bình 7,15%/năm trong giai đoạn 1990-2012 Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm tra hiệu ứng của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1988-2012 Trên cơ sở mô hình đa biến được phác họa từ hàm sản xuất, bằng cách tiếp cận phân phối trễ tự hồi quy (ARDL: Autoregressive Distributed Lag), nghiên cứu cho thấy tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn không có nghĩa thống kê, nhưng có tác động thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn Tuy nhiên, tác động này là thấp nhất so với đầu tư từ các khu vực khác Từ các phát

Trang 13

10

hiện của nghiên cứu, bài viết đề xuất một vài kiến nghị hoàn thiện chính sách đầu tư công của Việt Nam trong thời gian tới

Tô Trung Thành [3] đã phân tích đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân, góc nhìn

từ mô hình thực nghiệm VECM, cho biết yêu cầu tái cấu trúc đang đặt ra cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển 2011-2020, trong đó, trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công Bài viết với mục đích nghiên cứu liệu đầu tư công ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực đến đầu tư tư nhân sẽ đóng góp vào kiến nghị chính sách một cách thiết thực, đồng thời bổ sung khoảng trống trong nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam Tác giả sử dụng mô hình VECM với số liệu thu thập từ 1986-

2010 để ước lượng các hàm phản ứng và các hệ số co giãn Theo đó, hiện tượng đầu

tư công “lấn át” đầu tư tư nhân được thể hiện rõ nét Trung bình sau một thập niên, 1% tăng vốn đầu tư công ban đầu sẽ khiến đầu tư tư nhân bị thu hẹp 0.48% Đồng thời, tác động đến GDP của đầu tư công là thấp so với tác động của đầu tư tư nhân Bài viết hàm trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế, cần giảm dần tỷ trọng đầu tư công, đồng thời tăng cường mạnh mẽ hiệu quả và chất lượng của đầu tư khu vực nhà nước

Đào Thông Minh và Lê Thị Mai Hương [8] đã nghiên cứu tác động của vốn đầu tư tư nhân, lao động và cơ sở hạ tầng đến tăng trưởng kinh tế v ng Đồng bằng sông Cửu Long, cho biết: nghiên cứu sử dụng tập dữ liệu 13 tỉnh, thành v ng ĐBSCL giai đoạn 2009 - 2013 với 65 quan sát, áp dụng mô hình hồi quy bằng phương pháp ước lượng (FEM) đối với biến phụ thuộc tăng trưởng kinh tế, các biến độc lập lần lượt là cơ sở hạ tầng, vốn và lao động Kết quả, cụ thể như sau: vốn đầu

tư tư nhân (K), lực lượng lao động (L); các biến cơ sở hạ tầng bao gồm: năng lượng điện tiêu thụ trong lĩnh vực công nghiệp, sản xuất, xây dựng (IP); chiều dài đường

bộ (ITr) có mối quan hệ đồng biến và tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế tại khu vực ĐBSCL giai đoạn 2009 – 2013

Trang 14

11

Thủ tướng Chính phủ [9] phê duyệt Đề án cơ cấu lại đầu tư công giai đoạn

2017 – 2020 và định hướng đến năm 2025, có đề ra mục tiêu, định hướng đầu tư như sau:

- Cơ cấu lại đầu tư công giai đoạn 2017 - 2020 và một số định hướng đến năm

2025 nhằm chuyển đổi và hình thành cơ cấu đầu tư hợp l , nâng cao hiệu quả kinh

tế - xã hội của đầu tư công và chất lượng thể chế quản l đầu tư công; thu hút tối đa

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển, đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu, phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm

- Cơ cấu lại đầu tư công giai đoạn 2017 - 2020 và định hướng đến năm 2025 tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, các công trình, dự án trọng điểm, có sức lan tỏa rộng và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, tạo đột phá thu hút nguồn vốn khu vực tư nhân trong và ngoài nước theo hình thức đối tác công tư (PPP) và bảo đảm phát triển hài hòa giữa các v ng, lãnh thổ”

Nguyễn Bích Lâm [10] phân tích chỉ tiêu vốn đầu tư trong kinh tế vĩ mô và thống kê tài sản Quốc gia cho biết đầu tư công có vai trò vô c ng quan trọng trong phát triển đất nước nói chung, trong tăng trưởng và phát triển kinh tế nói riêng ở nước ta Hàng năm, Thủ tướng Chính phủ gặp các nhà doanh nghiệp để giải quyết những vướng mắc trong hoạt động đầu tư nhằm tạo ra một môi trường thông thoáng, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và vốn đầu tư phát triển chi trực tiếp vào hoạt động sản xuất, tạo ra thu nhập mới cho nền kinh tế và cả những khoản chi mang bản chất của chính sách xã hội, không tham gia vào quá trình sản xuất Trong thời gian qua, qua phản ánh thực trạng của nền kinh tế, ngành Thống kê đã thu thập, tính toán và công bố chỉ tiêu vốn đầu tư phát triển trên cả phương diện thực hiện và nguồn vốn Tuy vậy, khái niệm vốn đầu tư phát triển không ph hợp với khái niệm vốn đầu tư trong kinh tế vĩ mô và khái niệm tích lũy tài sản trong thống kê tài khoản quốc gia, điều này đã gây ra sự nhầm lẫn cho những người d ng tin, đặc biệt là

Trang 15

2.4 Nghiên cứu ngoài nước:

Trên thế giới, hiện tại trong ngành xây dựng có tính cạnh tranh ngày càng cao, có nhu cầu quan trọng đối với các nhà quản l để không ngừng nâng cao hiệu quả và hiệu quả của công ty, nên người quản l cần biết các biện pháp hiệu suất nào

là quan trọng nhất trong việc xác định thành công chung của công ty, như nghiên cứu về nâng cao năng suất lao động, hiệu suất thời gian thi công dự án, đo lường và

so sánh hiệu suất của tổ chức với hiệu suất của các tổ chức tương tự khác trong các hoạt động kinh doanh, đo lường hiệu suất quản l an toàn trên các công trường xây dựng Với các nước phát triển có điều kiện gần giống Việt Nam, các nguyên nhân thường được đề cập đến nhiều nhất là quá trình mua sắm trong xây dựng mà luôn luôn dẫn đến thời gian và chi phí vượt quá trong các dự án Vì vậy, để cải thiện hiệu suất của các dự án, cần xác định nguyên nhân và chi phí của việc xây dựng

Simon Beatham và các cộng sự [12] đã phân tích với sự ra đời của khái niệm

về chỉ số hiệu suất chính (KPI) cho kết quả tài chính, để đáp ứng với báo cáo Latham và Egan, ngành xây dựng của Anh đã phát triển một bộ KPIs riêng, tuy nhiên, việc sử dụng hiệu quả này còn hạn chế Bài báo này xem xét các KPI xây dựng này và kết luận rằng hầu hết các KPI được sử dụng là sự kiện bài đăng, các

Trang 16

13

biện pháp chậm trễ không cung cấp cơ hội thay đổi Kết quả là KPI đang được sử dụng trong ngành như một công cụ tiếp thị, không phải là một phần không thể thiếu trong quản l kinh doanh Bài viết này phân biệt giữa ba loại biện pháp và đề xuất một khuôn khổ để sử dụng hiệu quả trong một hệ thống đo lường hiệu suất tổng thể dựa trên thay đổi được thúc đẩy bởi kết quả

Van Truong Luu và các cộng sự [13] đã nghiên cứu về cải thiện hiệu quả quản l dự án của các nhà thầu lớn bằng cách sử dụng phương pháp đo điểm chuẩn, cho biết cách tiếp cận điểm chuẩn có thể được áp dụng để đánh giá và cải thiện quản l dự án xây dựng Một khung nghiên cứu khái niệm thường được phát triển

để thực hiện một nghiên cứu điểm chuẩn về hiệu suất quản l dự án (PMP) từ quan điểm của nhà thầu Ba nhà thầu lớn điển hình tham gia vào nghiên cứu này để xác nhận phương pháp nghiên cứu Bài báo được cung cấp trong 09 chỉ số hiệu suất chính (KPIs) có thể được áp dụng để đo PMP và đánh giá các nhà thầu tiềm năng cũng như khả năng của họ bằng cách yêu cầu các chỉ số này Những phát hiện cho thấy rằng cách tiếp cận điểm chuẩn có thể giúp các công ty xây dựng học hỏi từ những thực hành tốt nhất của người khác và tiến hành cải tiến liên tục

Hee-Sung Park và các cộng sự [14] về điểm chuẩn của năng suất xây dựng, cho biết năng suất xây dựng đã là một nguyên nhân gây ra mối lo ngại lớn trong cả ngành xây dựng và giới hàn lâm Mặc d nhiều công ty đã phát triển hệ thống theo dõi năng suất của mình dựa trên kinh nghiệm và hệ thống kế toán của họ, không có thành công nào trong việc thiết lập các định nghĩa phổ biến và phát triển một công

cụ khảo sát thu thập dữ liệu năng suất chuẩn ở các cấp thích hợp Nghiên cứu này được bắt đầu để thiết lập một tập hợp phổ biến các chỉ số năng suất xây dựng và các định nghĩa tương ứng của chúng Theo kết quả của n lực nghiên cứu này, hệ thống

đo lường năng suất xây dựng (CPMS), có chứa một danh sách các tài khoản trực tiếp và gián tiếp và 56 thành phần dữ liệu được nhóm thành 7 loại chính, được phát triển Hệ thống đo lường năng suất xây dựng là một công cụ thu thập dữ liệu năng suất xây dựng tiêu chuẩn và cung cấp một khuôn khổ để báo cáo các chỉ tiêu ngành cho năng suất xây dựng chuẩn Đầu vào từ 73 chuyên gia trong ngành đã được sử

Trang 17

14

dụng để xác định 56 yếu tố đo lường và định nghĩa tương ứng của chúng Những phát hiện sơ bộ từ mẫu ban đầu của 16 dự án công nghiệp cho thấy rằng các chỉ số năng suất có thể được tạo ra và có nghĩa đối với việc đo lường năng suất xây dựng Do kích thước mẫu nhỏ, nhiều hơn kết luận sơ bộ chung sẽ không thích hợp Dựa trên các phân tích, CPMS được phát triển được cho là một công cụ thu thập dữ liệu năng suất hợp l và khi có đủ dữ liệu sẽ có khả năng tạo ra các tiêu chuẩn công nghiệp hợp l

James Sommerville [15] về cách tiếp cận bảng điểm đến điểm chuẩn cho tổng xây dựng chất lượng, cho biết việc áp dụng các tiêu chuẩn được phát triển từ một cách tiếp cận bảng điểm cho một chương trình quản l chất lượng toàn diện (TQM) được thảo luận Chương trình nhằm mục đích đạt được chất lượng trong một tổ chức có hoạt động chính là tập trung vào một số dự án xây dựng Các biện pháp thẻ điểm sáng tạo được phát triển và thực hiện trong nhóm xây dựng Morrison được xem xét, báo cáo và các lợi ích thu được từ việc thực hiện bảng điểm được thảo luận Điểm chuẩn thực, ảo được thiết lập và sử dụng làm chỉ số trong bảng điểm của tổ chức xây dựng này Từ việc thực hiện bảng điểm, rõ ràng là các biện pháp vượt trội là kết hợp các kết quả khảo sát khách hàng nội bộ và bên ngoài bao gồm việc lập bản đồ các n lực thực tế tập trung vào nhận thức của khách hàng và

vô số các bên liên quan khác trong dự án xây dựng

Albert P C Chan, Daniel WM [16] đã phát triển một mô hình chuẩn cho hiệu suất thời gian thi công dự án tại Hồng Kông, cho biết thời gian thi công đã được công nhận bởi các nhà nghiên cứu xây dựng và các chuyên gia trong ngành công nghiệp trong ba thập kỷ qua là một trong những tiêu chí hiệu quả quan trọng nhất của nhiều dự án thành công Điều này đặt ra một mối quan tâm toàn cầu ngày càng tăng về điểm chuẩn các biện pháp thực hành tốt nhất của hiệu suất thời gian thi công (CTP) để sử dụng bởi khách hàng, tư vấn và các nhà thầu trong ngành xây dựng Các mô hình thời gian thống kê có nguồn gốc trước đây được xem xét lần đầu trong bài báo này Một cuộc khảo sát câu hỏi sau đó đã được thực hiện để xác định một tập hợp các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thời gian xây dựng của các dự án

Trang 18

15

nhà ở công cộng cao tầng ở Hồng Kông Dữ liệu được thu thập từ một mẫu đại diện của 56 tiêu chuẩn 'các khối nhà ở kiểu Harmony' thông qua các bảng câu hỏi được gửi Nhiều bài tập hồi quy được thực hiện để phân tích dữ liệu dự án và thiết lập mô hình dự báo Kết quả cho thấy thời gian xây dựng tổng thể của các dự án như vậy có thể được mô hình hóa trên cơ sở tập hợp các yếu tố phạm vi, phương pháp xây dựng

và sơ đồ nhà ở được lựa chọn Thời gian dự đoán tính từ mô hình phát triển sau đó được so sánh và đánh giá theo thời gian thực tế đạt được tại ch Khái niệm chỉ số CTP, đại diện cho thời lượng dự đoán của các dự án riêng lẻ liên quan đến thời gian quan sát thực tế của chúng, được áp dụng như một phương tiện hữu ích để đánh giá

và đo điểm chuẩn CTP của chúng Các ứng dụng thực tế của mô hình phát triển cũng được giải thích Một mô hình dự đoán thời gian xây dựng khác được dự kiến

sẽ được xây dựng cho các khối nhà ở khu vực tư nhân ở Hồng Kông để so sánh địa phương và quốc tế

Mohammad S El-Mashaleh và các cộng sự [17] đã phân tích hiệu suất Công

ty xây dựng bằng cách sử dụng đo điểm chuẩn, cho biết trong ngành xây dựng có tính cạnh tranh cao ngày nay, có nhu cầu quan trọng đối với các nhà quản l để không ngừng nâng cao hiệu quả của công ty Cụ thể hơn, các nhà quản l cần phải biết các biện pháp hiệu suất nào là quan trọng nhất trong việc xác định thành công chung của công ty Điểm chuẩn, khi được thực hiện đúng cách, có thể xác định chính xác cả hai công ty thành công và l do cơ bản cho thành công của họ Tuy nhiên, điểm chuẩn nghiêm ngặt trong ngành xây dựng vẫn còn là một lĩnh vực mới Bài viết này phân tích và phê bình cả các biện pháp và số liệu sử dụng truyền thống trong ngành xây dựng và các mô hình điểm chuẩn được phát triển cho đến nay của ngành Dựa trên kết quả phân tích này, các mô hình điểm chuẩn sử dụng phân tích

dữ liệu được đề xuất cung cấp những cải tiến đáng kể so với các mô hình hiện tại Các mô hình được đề xuất đo lường hiệu suất của công ty xây dựng trên cơ sở toàn công ty, phân tích thương mại giữa các chỉ số hiệu suất khác nhau và kết hợp các tài nguyên mà các Công ty xây dựng chỉ ra Các mô hình cũng cung cấp hướng dẫn của

Trang 19

16

người quản l trong việc xác định các nguồn lực Công ty cụ thể có thể được phân

bổ lại để cải thiện hiệu suất tổng thể của Công ty

Adnan Enshassi [18] đã phân tích năng suất lao động xây dựng điểm chuẩn, cho biết năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng dự án, để nâng cao năng suất lao động, sản xuất cần được đo lường thường xuyên, sau đó so sánh với các tiêu chuẩn được chấp nhận Mục tiêu của nghiên cứu này là để đo lường năng suất lao động ở dải Gaza, Palestine, bằng cách sử dụng phương pháp đo điểm chuẩn Dữ liệu sản xuất được thu thập từ chín

dự án xây dựng khác nhau nằm ở dải Gaza, đối với m i dự án, các giá trị cho năng suất cơ sở, chỉ số gián đoạn, chỉ số hiệu suất và chỉ số quản l dự án được tính toán, dựa trên mục tiêu, năng suất cơ sở của các công trình xây dựng ở dải Gaza thì lao động từ 0,29 đến 0,80 giờ làm việc trên một mét vuông Các giá trị tính toán được

sử dụng để phát triển mối tương quan giữa hai điểm chuẩn của dự án (tức là các chỉ

số quản l dự án và gián đoạn) AS chỉ có bốn trong số chín dự án được thực hiện tốt, đề nghị phát triển một tiêu chuẩn điểm chuẩn cho từng công ty xây dựng địa phương ở Palestine có thể dẫn đến một sự cải tiến trong năng suất xây dựng đất nước Kết quả của nghiên cứu này sẽ cải thiện năng suất xây dựng quốc gia ở Palestine và nêu lợi ích của việc cải thiện tiêu chuẩn đo điểm chuẩn

Per-Erik Josephson và các cộng sự [19] đã phân tích đối sánh chi phí làm lại (Đối sánh Rework Cost) trong ngành xây dựng Thụy Điển, cho biết một số nghiên cứu điều tra nguyên nhân của việc xây dựng một số dự án trong ngành xây dựng Thụy Điển, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu với sự hợp tác của R & D West, một nhóm các công ty xây dựng ở Thụy Điển để đo chi phí trong các dự án xây dựng Rework đã trở thành một đặc điểm của quá trình mua sắm trong xây dựng mà luôn luôn dẫn đến thời gian và chi phí vượt quá trong các dự án Vì vậy, để cải thiện hiệu suất của các dự án, cần xác định nguyên nhân và chi phí của việc xây dựng Nghiên cứu được trình bày trong bài viết này xác định, phân tích và thảo luận về nguyên nhân, độ lớn và chi phí của 7 dự án xây dựng của Thụy Điển Kết quả cho thấy chi phí cho các dự án nghiên cứu điển hình là 4,4% giá trị xây dựng của giai đoạn quan

Trang 20

17

sát, và thời gian cần thiết để sửa chữa chúng là 7,1% tổng thời gian làm việc Các

l i xây dựng tạo ra rework được phân tích thêm theo nguồn gốc, chủng loại và vị trí, nguyên nhân của việc xây dựng lại đã được xác định và thảo luận, và các hành động phòng ngừa được đề xuất

Edmond W.M Lam và các cộng sự [20] đã phân tích điểm chuẩn hệ thống thiết kế-xây dựng trong mua sắm, cho biết việc đánh giá tiêu chuẩn có thể là một cách hiệu quả của các tổ chức để cung cấp dịch vụ tốt hơn thông qua cải tiến liên tục Khái niệm về điểm chuẩn đã được áp dụng rộng rãi cho ngành công nghiệp xây dựng trong những năm gần đây để tăng cường hiệu suất của dự án, đặc biệt đối với một dự án xây dựng cung cấp bởi một phương thức mua sắm thiết kế, xây dựng và việc xác định các yếu tố thành công quan trọng có thể kích hoạt các nhà lãnh đạo nhóm dự án để thực hiện những cải tiến trong một số lĩnh vực cụ thể Bài viết này nhằm mục đích thiết lập một khuôn khổ khái niệm của các yếu tố thành công quan trọng (CSFs) cho các dự án thiết kế-xây dựng trong xây dựng Từ khuôn khổ, người

ta đưa ra giả thuyết rằng sự thành công dự án của một dự án thiết kế-xây dựng là một chức năng của sự tương tác giữa các đặc điểm dự án, thủ tục dự án, chiến lược quản l dự án, tham gia dự án liên quan đến bầu không khí làm việc của dự án và môi trường của dự án Các CSFs để xác định có thể cung cấp các học viên và các học giả với một sự hiểu biết tốt hơn về điều hành một dự án thiết kế-xây dựng thành công để phát triển một chuẩn mực cho quá trình giao hàng dự án D & B

Sherif Mohamed [21] đã phân tích về BQM & T điểm chuẩn và cải thiện năng suất xây dựng, cho biết sự thành công của ngành công nghiệp sản xuất và dịch

vụ đã thu hút sự chú của các học viên xây dựng và các nhà nghiên cứu về giá trị của nó trong việc đo lường và cải thiện hiệu suất của ngành Để cải thiện hiệu suất xây dựng, cần phải có các phép đo chính xác và phản ánh thực hành, xu hướng và năng suất hiện tại Bài viết này đã kiểm tra việc áp dụng khái niệm điểm chuẩn để xây dựng trên ba cấp độ - nội bộ, dự án và bên ngoài Các tổ chức được khuyến khích tham gia tích cực vào việc chấm điểm dự án để đánh giá hiệu suất của họ, đo lường mức năng suất và xác nhận cơ sở dữ liệu ước lượng chi phí của họ Ngoài ra,

Trang 21

18

các tổ chức phải cởi mở hơn để đánh giá những gì đã thành công trong các ngành khác và đánh giá nếu nó có khả năng thích ứng với xây dựng Cuối c ng, điểm chuẩn nên được xem là một phần tích hợp của một quá trình liên tục nhằm cải thiện năng suất xây dựng Môi trường điểm chuẩn được triển khai đầy đủ trong ngành, như được đề xuất trong tài liệu này, sẽ cải thiện đáng kể chất lượng của việc ra quyết định liên quan đến quá trình thiết kế và xây dựng

E.Palaneeswaran và MM Kumaraswamy [22] về điểm chuẩn thực hành lựa chọn nhà thầu trong ngành công nghiệp xây dựng-một mô hình đề xuất, cho biết điểm chuẩn thực hành tốt nhất đã được chứng minh hữu ích trong các lĩnh vực kinh doanh và sản xuất Tuy nhiên, điểm chuẩn không được thành lập trong ngành công nghiệp xây dựng nói chung và trong các tổ chức Chính phủ nói riêng Một nghiên cứu về các phương pháp lựa chọn nhà thầu được sử dụng bởi các khách hàng khác nhau khẳng định sự đa dạng của các phương pháp trong thực tế Bài viết này nhằm mục đích khuyến khích cải tiến liên tục trong lựa chọn nhà thầu cho các dự án xây dựng

Refaat H Abdel-Razek và các cộng sự [23] đã phân tích năng suất lao động: điểm chuẩn và biến đổi trong các dự án Ai Cập, cho biết bài viết này tập trung vào việc cải thiện năng suất lao động xây dựng ở Ai Cập, cụ thể là đo điểm chuẩn và giảm sự thay đổi năng suất lao động Sử dụng dữ liệu năng suất lao động từ các hoạt động xây dựng trên 11 dự án xây dựng ở Ai Cập, một số biện pháp đánh giá năng suất lao động xây dựng được trình bày, tính toán và sau đó được sử dụng để đánh giá năng suất của thợ và xác định các dự án tốt nhất và kém thay đổi năng suất lao động Các tiêu chuẩn bao gồm chỉ số gián đoạn (DI), tỷ lệ hiệu suất (PR) và chỉ số quản l dự án (PMI) Sự thay đổi năng suất lao động của các dự án được nghiên cứu, tính toán bằng cách sử dụng hệ số biến động năng suất Sự tương quan giữa sự thay đổi về năng suất lao động và hiệu suất dự án cũng được kiểm tra theo thống kê

Sherif Mohamed [24] về cách tiếp cận Scorecard để đánh giá tiêu chuẩn an toàn tổ chức Văn hóa trong xây dựng, cho biết việc áp dụng công cụ bảng điểm để

Trang 22

19

đánh giá văn hóa an toàn của tổ chức trong xây dựng Họ lập luận rằng công cụ này

có khả năng cung cấp một phương tiện để chính sách an toàn của tổ chức thành một tập hợp rõ ràng các mục tiêu trên bốn quan điểm: quản l , vận hành, khách hàng và học tập Những mục tiêu này sau đó được hoàn thiện thêm thành một hệ thống các biện pháp hiệu quả có thể truyền đạt hiệu quả chiến lược về an toàn cho toàn bộ tổ chức Bốn quan điểm đã được phát triển để cho tất cả các bên liên quan, có một cái nhìn toàn diện về an toàn được sử dụng để phản ánh và thực hiện chiến lược Bài báo lập luận rằng bằng cách chọn và đánh giá các biện pháp thích hợp, theo từng quan điểm, các yêu cầu có thể được xác định và các hành động đối với các mục tiêu

đã xác định có thể được căn chỉnh và tạo điều kiện thuận lợi Do đó, phương pháp tiếp cận bảng điểm cân bằng được đề xuất nên cho phép các tổ chức xây dựng theo đuổi, cải tiến hiệu suất an toàn gia tăng Công việc đang tiến hành được báo cáo ngắn gọn để cung cấp thông tin chi tiết về khả năng ứng dụng của phương pháp này

Dayana B Costa và các cộng sự [25] đã phân tích các sáng kiến điểm chuẩn trong ngành xây dựng: Bài học kinh nghiệm và cơ hội cải tiến, cho biết đo điểm chuẩn là một quá trình có hệ thống để đo lường và so sánh hiệu suất của một tổ chức với hoạt động của các tổ chức tương tự khác trong các hoạt động kinh doanh chính Các bài học kinh nghiệm từ các công ty khác có thể được sử dụng để thiết lập các mục tiêu cải tiến và thúc đẩy các thay đổi trong tổ chức Quá trình đo điểm chuẩn có thể tạo ra các tưởng, nhưng chỉ trong một môi trường tiếp thu; các Công

ty chia sẻ những thực tiễn tốt và so sánh hiệu suất của họ với những người khác có lợi nhất Gần đây, các nhóm ngành ở nhiều quốc gia khác nhau đã khởi xướng chương trình benchmark tập trung chủ yếu vào các biện pháp thực hiện xây dựng Bài viết này mô tả phạm vi của những sáng kiến và thảo luận về những bài học kinh nghiệm và các cơ hội cải tiến đã được xác định trong thiết kế và thực hiện của họ

DP Fang và các cộng sự [26], đã nghiên cứu điểm chuẩn về quản l an toàn xây dựng ở Trung Quốc, cho biết thông tin để đo lường hiệu suất quản l an toàn trên các công trường xây dựng ở Trung Quốc bằng phương pháp đánh giá các điều kiện an toàn vật l , cũng như các hồ sơ tai nạn, trong khi không chú đến các yếu

Trang 23

20

tố quản l ảnh hưởng đến an toàn, để xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quản l an toàn và phát triển một phương pháp đo hiệu suất quản l an toàn trên các công trường xây dựng, dựa trên dữ liệu khảo sát và phỏng vấn được thu thập về các yếu tố quản l an toàn trong 82 dự án xây dựng ở Trung Quốc, chỉ số quản l an toàn như một phương tiện đánh giá hiệu quả quản l an toàn theo thời gian thực Các yếu tố định lượng được so sánh với chỉ số hiệu suất an toàn vật l thường được chấp nhận, lấy từ hồ sơ kiểm tra điều kiện an toàn vật l , tỷ lệ tai nạn và sự hài lòng của nhóm quản l dự án Hồi quy tuyến tính đa hệ số đã được tiến hành và kết quả cho thấy hiệu suất quản l an toàn tại ch liên quan mật thiết đến yếu tố tổ chức, yếu tố kinh tế và các yếu tố liên quan đến mối quan hệ giữa quản l và lao động tại

ch Dựa trên nghiên cứu điểm chuẩn này, một phương pháp đánh giá an toàn thực

tế đã được phát triển và sau đó được thực hiện trên sáu dự án xây dựng Kết quả cho thấy phương pháp này có thể là một công cụ hiệu quả để đánh giá quản l an toàn đối với các dự án xây dựng

Trang 24

tư nhân đầu tư và tiếp tục hoàn chỉnh bảng câu hỏi khảo sát và thang đo (nếu có góp

ý của các Chuyên gia), tiến hành khảo sát chính thức Cụ thể qua các bước sau:

Lập đề cương

Khảo sát và thu thập số liệu (giai đoạn 1) Mục đích: xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư dự án, như: về an sinh xã hội, về môi trường, về kỹ thuật, về tài chính, về quốc phòng, an ninh (nếu có)

Kiểm tra tính hợp lệ của kết quả

Trang 25

22

3.2 Quy trình thu thập số liệu giai đoạn 1

Khảo sát và thu thập số liệu (giai đoạn 1), mục tiêu là xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư dự án Cụ thể qua các bước sau:

Yes No

Sơ đồ 3.2: Quy trình thu thập số liệu giai đoạn 1

Thành lập bảng câu hỏi

Xác định các vấn đề nghiên cứu

Trang 26

23

3.3 Cách thức lấy mẫu

3.3.1 Phương pháp lấy mẫu:

Bảng câu hỏi khảo sát ở giai đoạn này được thiết kế nhằm mục đích xác định thông tin các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư; bảng câu hỏi được thiết kế dưới dạng trắc nghiệm, người trả lời chỉ việc lựa chọn phương án mà họ cho là đúng nhất rồi đánh dấu (X) Bảng câu hỏi là một công cụ được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu khảo sát, thu nhập thông tin phản hồi từ các bên tham gia vào các dự án xây dựng tại tỉnh An Giang như Chủ đầu tư, nhà đầu tư, các nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công, bằng cách gửi Bảng câu hỏi chính thức đến các bên tham gia dự án,

cụ thể:

- Gửi bảng câu hỏi các đơn vị như Chủ đầu tư (Khu vực Nhà nước); Chủ đầu

tư (Khu vực tư nhân); các tổ chức tư vấn (tư vấn lập dự án, tư vấn khảo sát địa chất,

tư vấn thiết kế, tư vấn đo đạc và khảo sát địa hình, tư vấn giám sát khảo sát ) và nhà thầu thi công;

- Thu thập bảng câu hỏi các đơn vị đã phân phát và kiểm tra dữ liệu đầu vào sau khi thu thập được từ các bảng câu hỏi đã gửi cho các bên tham gia dự án ở trên Trường hợp dữ liệu đầu vào không đúng, không đầy đủ thì phải tiến hành lặp lại công việc tổng hợp dữ liệu một lần nữa bảo đảm dữ liệu thu được sau c ng phải chính xác, đầy đủ, trung thực

- Tiến hành phân tích dữ liệu và thực hiện các bước tiếp theo

3.3.2 Xác định kích thước mẫu khảo sát:

Bollen KA [34] đa phần chúng ta lấy mẫu trên cơ sở tiêu chuẩn 5:1, nên để đảm bảo phân tích dữ liệu ít nhất 5 quan sát cho 1 biến đo lường, khi phân tích Cronbach’s Alpha hay One – Way Analysis of Variance (ANOVA) chạy trên phần mềm SPSS Như vậy với phần nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu

tư xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân

Trang 27

24

đầu tư, đã thiết kế bảng câu hỏi khảo sát có 17 biến cần khảo sát được lập trong bảng câu hỏi nên số lượng mẫu cần phải thực hiện khảo sát tối thiểu 85 mẫu (17 x 5

= 85); tuy nhiên, việc thu thập với kích thước mẫu càng lớn thì kết quả nghiên cứu

sẽ cho độ chính xác càng cao vì đáp ứng được các yêu cầu về mẫu, nên trong nghiên cứu này đã tiến hành lấy 200 mẫu

3.3.3 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát

Bảng câu hỏi khảo sát trong giai đoạn này được thiết kế nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư, độ tuổi, thời gian tham gia hoạt động xây dựng, lĩnh vực tham gia hoạt động xây dựng, vị trí công tác, cụ thể như sau:

- Phần 1: Gồm các thông tin chung (họ và tên; đơn vị, địa chỉ)

- Phần 2: Nội dung khảo sát, gồm: tham đo mức độ ảnh hưởng (1) = Không ảnh hưởng, (2) = Ảnh hưởng ít, (3) = Ảnh hưởng trung bình, (4) = Ảnh hưởng nhiều, (5) = Ảnh hưởng rất nhiều, để người tham gia dễ dàng đánh giá với 5 mức độ ảnh hưởng, từ “không ảnh hưởng” (1) đến “rất ảnh hưởng” (5) theo bảng liệt kê 17 yếu tố ảnh hướng đến hiệu quả đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư

Phần 3: Gồm các thông tin cá nhân như: độ tuổi, thời gian tham gia hoạt động xây dựng, lĩnh vực tham gia hoạt động xây dựng, vị trí công tác

3.3.4 Mã hóa dữ liệu

Trên cơ sở tham khảo các chính sách liên quan như: Luật đầu tư; Luật đầu tư công; Luật xây dựng; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 06 năm 2015 của Chính phủ về quản l dự án đầu tư xây dựng; Thông tư số 02/2016/TT-BKHĐT ngày 1 tháng 3 năm 2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 2 năm 2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và Thông tư số 09/2018/TT-BKHĐT ngày 28/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 28

25

hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và rút kết kinh nghiệm thực tế dự án triển khai trên địa bàn tỉnh An Giang; nghiên cứu sách, báo, tìm đọc các tài liệu có liên quan trong thư viện, internet và các nghiên cứu trước đây

đã thực hiện để đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư; tiến hành tham khảo kiến chuyên gia và trên cơ sở góp của các Chuyên gia và hoàn chỉnh lại theo góp , tiến hành khảo sát chính thức, sau đó để thuận tiện trong việc xử l và nhập dữ liệu trong xử l thống kê để kiểm định độ tin cậy của thang đo hệ số ronbach’s Alpha và phân tích One – Way Analysis Tiến hành mã hóa các nhân tố thành các k hiệu mục đích đơn giản và dễ hiểu Các nhân tố được mã hóa như sau:

Bảng 3.1: Mã hóa yếu tố ảnh hướng đến hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn

ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư

hóa

3 Đóng góp về kinh tế của dự án khi thực hiện đầu tư XA3

4 Làm thay đổi điều kiện sinh thái khi dự án xây dựng XA4

5 Tổ chức thi công gây bụi, tiếng ồn ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường XA5

7 Công nghệ thiết bị dự án sử dụng và biện pháp thi công ảnh hưởng đến

8 Tuân thủ tiêu chuẩn, định mức và yêu cầu kỹ thuật XA8

9 Sai khác về kỹ thuật liên quan đến năng lực nhà thầu thi công và nhà

Trang 29

26

hóa

12 Chênh lệch thời gian thực hiện so với phê duyệt XA12

13 Chênh lệch chi phí so với phê duyệt lúc đầu XA13

14 Khả năng bố trí và giải ngân vốn dự án trong thời gian thực hiện đầu tư XA14

15 Lợi nhuận, lợi ích đạt được sau khi trừ đi các khoản chi phí trong suốt

16 Khu vực dự án có đồng bào dân tộc thiểu số XA16

17 Dự án xây dựng cập gần biên giới, gần khu vực phòng thủ XA17

- Nếu Sig ở bảng ANOVA < 0.05, chúng ta kết luận có sự khác biệt có nghĩa thống kê giữa trị trung bình về mức độ hài lòng của các nhóm khảo sát khác

Trang 30

27

nhau Tuy nhiên, để phân tích ANOVA thì phải có 03 nhóm trở lên (theo đề tài nghiên cứu có 04 nhóm), nên khi thu thập số liệu và phân tích anova thuộc trường hợp này, cần tiếp tục phân tích sâu anova để biết một nhóm có sự khác biệt với 03 nhóm còn lại như thế nào, để kết luận cuối c ng

Nguyễn Bảo Ngọc [38] việc sử dụng KPI trong hoạt động xây dựng là các điều khoản chung cho các biện pháp thực hiện đo lượng hiệu suất dự án Theo Báo cáo Latham và Báo cáo Egan đã phát triển bộ KPI riêng để đo lường hiệu suất thực hiện và KPIs được ứng dụng khá rộng rãi để đo lường hiệu quả trên công trường, đo năng suất lao động, đo lường tổng thể thành công của các dự án PPP, các lợi ích tiềm năng cho doanh nghiệp xây dựng áp dụng đúng KPIs đó là:

- Bằng các chỉ tiêu được định lượng hóa và đo lường được KPIs nhận ra các vấn đề đang tồn tại, sẽ chỉ ra vấn đề nào cần giải quyết ngay, vấn đề nào cần theo dõi thêm trong các dự án sắp tới

- KPIs đo được sự hài lòng của khách hàng, năng suất, an toàn, dự đoán được

- thời gian và chi phí, thời gian thi công

- KPI giúp nhìn ra điểm mạnh, điểm yếu để từ đó xây dựng các lợi thế cạnh tranh riêng

- KPI giúp xác định các phương pháp để giảm chi phí và loại bỏ chi tiêu không cần thiết trong các dự án

- KPI thích hợp để trở thành một tiêu chí chấm điểm phần năng lực, kinh nghiệm trong chấm thầu, đấu thầu

Trang 31

28

- KPI là một trong những cơ sở đáng tin cậy để chủ đầu tư ra các quyết định chọn lựa đối tác, các doanh nghiệp xây dựng sẽ n lực trong việc theo dõi cũng như cải thiện các KPIs chiến lược của đơn vị mình để thu hút khách hàng tiềm năng

Các KPI của ngành xây dựng là các KPI được đo qua các giai đoạn khác nhau của một dự án xây dựng, các giai đoạn để cung cấp các dữ liệu cần thiết để được sử dụng trong việc tính toán các chỉ số KPI Các KPI sự hài lòng của khách hàng, sản phẩm và dịch vụ, tính chuyên nghiệp, năng suất, khuyết tật, an toàn, khả năng dự đoán - thời gian và chi phí, thời gian xây dựng và các tiêu chuẩn Do đó, có thể d ng KPIs để đo lường thành công dự án, với các tiêu chí như: lợi ích cho xã hội; môi trường, cảnh quan; kỹ thuật; chất lượng; an toàn lao động; tài chính

Việc sử dụng phương pháp tính toán cho bộ KPIs để đánh giá các tiêu chí của dự án như: lợi ích cho xã hội; môi trường, cảnh quan; kỹ thuật; chất lượng; an toàn lao động; tài chính được tính như sau:

Bảng 3.2: Công thức KPIs để đo lường thành công dự án

thức để tính KPIs Nguồn tham khảo

I KPI-1: Lợi ích cho xã hội

1 Việc làm mới do dự án mới

được tạo ra

Phước Minh Hiệp [39]

3 Đóng góp về kinh tế của dự

II KPI-2: Môi trường, cảnh quan

4 Làm thay đổi điều kiện sinh

5

Tổ chức thi công gây bụi,

tiếng ồn ảnh hưởng đến

cảnh quan môi trường

Trang 32

29

thức để tính KPIs

Nguồn tham khảo III KPI-3: Kỹ thuật

7

Công nghệ thiết bị dự án sử

dụng và biện pháp thi công

ảnh hưởng đến công suất và

chất lượng công trình

8 Tuân thủ tiêu chuẩn, định

9

Sai khác về kỹ thuật liên

quan đến năng lực nhà thầu

thi công và nhà quản l dự

án

12 Chênh lệch thời gian thực

hiện so với phê duyệt

Thời gian xây dựng = Ngày hoàn thành thực tế - Ngày bắt đầu thực tế

Nguyễn Bảo Ngọc [38]; Naoum [26];

A P Chan và Chan [27]

IV KPI-4: Chất lƣợng

6 Chất lượng vật tư, vật liệu

10

Mức độ hài lòng của khách

hàng/ đơn vị sử dụng về dự

án sau khi hoàn thành

V KPI-5: An toàn lao động

11

Số vụ tai nạn lao động xảy

ra trong suốt thời gian thực

hiện dự án thực hiện dự án

Tỷ lệ tai nạn = (Tổng số vụ tai nạn trên công trường được báo cáo) / (Tổng sô công nhân làm việc hoặc tổng ngày công trong một dự án cụ thể) x 1.000 Việc thực hiện an toàn lao động ở cấp

dự án được đo bằng một năm điểm năm, (Từ 1 = '' hiệu suất rất xấu '' đến 10 = '' hiệu suất rất tốt '')

DP Fang; X

Y Huang và Jimmie Hinze[16] Van Truong Luu, Soo-Yong Kim, Tuan-Anh Huynh[19]

VI KPI-6: Tài chính

13 Chênh lệch chi phí so với

phê duyệt lúc đầu

Van Truong Luu, Soo-

Trang 33

30

thức để tính KPIs

Nguồn tham khảo

Yong Kim, Tuan-Anh Huynh [19]

14 Khả năng bố trí và giải ngân

vốn dự án trong thời gian

Đề xuất

15

Lợi nhuận, lợi ích đạt được

sau khi trừ đi các khoản chi

phí trong suốt vòng đời dự

án

VII KPI-7: An ninh – Quốc phòng

Saga [27] sơ lược về phân tích swot, như sau:

- Mô hình phân tích SWOT là một công cụ được sử dụng nhằm phân tích Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Thách thức (Threats) trong một dự án Thông qua phân tích SWOT, giúp một tổ chức, dự

án nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố bên trong và bên ngoài có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu đề ra, cụ thể như:

+ Điểm mạnh: đặc điểm của dự án mang lại lợi thế

+ Điểm yếu: đặc điểm của dự án bất lợi so với những dự án khác

+ Cơ hội: các yếu tố trong môi trường dự án có thể khai thác lợi thế của nó

Trang 34

31

+ Thách thức: các yếu tố trong môi trường có thể gây rắc rối cho dự án

- Việc xác định SWOT là quan trọng vì chúng có thể thông báo các bước sau này trong việc lập kế hoạch để đạt được mục tiêu Đầu tiên, các nhà ra quyết định nên xem xét liệu mục tiêu có thể đạt được hay không, với các SWOT Nếu mục tiêu không đạt được, họ phải chọn một mục tiêu khác và lập lại quy trình

- SWOT là một công cụ hữu ích khi chúng được áp dụng nhằm giải quyết vấn đề trong rất nhiều hoàn cảnh khác nhau Để có thể phân tích SWOT đầy đủ và khách quan nhất, được tiến hành phân tích trong một nhóm các quan điểm và mục tiêu khác nhau trong dự án hoặc tổ chức,… để có thể đóng góp những kiến

- Quá trình phân tích SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận gồm 2 hàng 2 cột và chia làm 4 phần M i phần tương ứng với những Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), và Nguy cơ (Threats)

Từ hình mô hình dưới ta có:

Bảng 3.3: Phân tích SWOT dự án

Liệt kê những điểm mạnh quan trọng

bên trong của dự án mang tính tích cực

hoặc có lợi giúp đạt được mục tiêu

Liệt kê những cơ hội quan trọng nhất từ bên ngoài của dự án mang tính tích cực hoặc có lợi giúp đạt được mục tiêu

Liệt kê những điểm yếu quan trọng nhất

bên trong dự án mang tính tiêu cực hoặc

gây khó khăn trong việc đạt được mục

tiêu của bạn

Liệt kê những nguy cơ quan trọng nhất

từ bên ngoài của dự án mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của dự án

Sau khi phân tích SWOT cung cấp những thông tin hữu ích cho việc xác định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, từ đó sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho việc kết nối các nguồn lực và khả năng của dự án để Chủ đầu (Nhà đầu tư) làm căn cứ trong việc ra quyết định, hoạch định kế hoạch, mục tiêu, cũng như xác định các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến các mục tiêu đó

Trang 35

32

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

Kết quả nghiên cứu được trình bày như sau: quy trình phân tích số liệu, mô tả mẫu, kiểm định độ tin cậy thang đo, thống kê mô tả trị trung bình, phân tích kiểm

định sự khác biệt ANOVA, phân tích chỉ số KPI, phân tích ma trận SWOT

4.1 Quy trình phân tích số liệu

Bước 1: Dữ liệu thu thập tiến hành mô tả mẫu

Bước 2: kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha Bước 3: Phân tích ANOVA để xác định có hay không có sự khác biệt đáng

kể giữa trị trung bình của hai hoặc nhiều hơn nhóm độc lập và chiều hướng liên hợp giữa chúng

Bước 4: Phân tích chỉ số KPI

Bước 5: Phân tích ma trận SWOT

Bước 6: Kết luận và kiến nghị

4.2 Mô tả mẫu kết quả khảo sát

Phân tích số liệu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư xây dựng các dự

án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư: thông qua bảng câu hỏi khảo sát được gửi trực tiếp đến 08 chuyên gia là: cơ quan quản l nhà nước, chủ đầu tư, nhà thầu và đơn vị tư vấn hoạt động trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn tỉnh An Giang

Tương tự phần khảo sát chuyên gia, 200 bảng câu hỏi khảo sát được gửi trực tiếp cho các cá nhân, tổ chức tham gia dự án như: cơ quan quản l nhà nước, chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị tư vấn hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và các đơn vị có liên quan trên địa bàn tỉnh An Giang, kết quả thu thập được 151 bảng câu hỏi tương ứng với 75,5% số bảng câu hỏi phát ra Như vậy, số lượng mẫu thu thập được 151 mẫu là đạt yêu cầu để tiến hành phân tích các bước tiếp theo

4.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo hệ số Cronbach’s Alpha

Phân tích kiểm tra độ tin cậy của thang đo được đánh giá qua hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo trong phiếu khảo sát, để loại các biến không ph hợp (các biến rác); hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha chỉ cho biết các đo lường có chặt

Trang 36

33

chẽ với nhau hay không qua các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau

Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc [35], hệ số Cronbach’s Alpha từ 0.7 đến gần bằng 0.8: thang đo lường sử dụng tốt, đồng thời các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 được xem là biến rác và sẽ bị loại khỏi thang đo

Scale Variance if Item Deleted

Corrected Item-Total Correlation

Squared Multiple Correlation

Cronbach's Alpha if Item Deleted

Trang 37

34

Scale Mean

if Item Deleted

Scale Variance if Item Deleted

Corrected Item-Total Correlation

Squared Multiple Correlation

Cronbach's Alpha if Item Deleted

Kết quả tính toán tại Bảng 4.2 nhận thấy hệ số Cronbach’s Alpha của thang

đo là 0.828, các hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát trong thang đo đều lớn hơn 0.3 (chỉ có biến XA7 các hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát trong thang đo đều nhỏ hơn 0.3 và có 01 trường hợp loại bỏ biến quan sát nào có thể làm cho Cronbach’s Alpha của thang đo này lớn hơn 0.28), nên các biến còn lại hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu về độ tin cậy của thang đo, chứng tỏ rằng thang đo lường của mẫu là tốt Vì vậy có thể khẳng định rằng thang đo mức độ xảy ra đủ tin cậy để thực hiện phân tích các bước tiếp theo, tuy nhiên thực tế thì biến XA7 xảy ra trong thực tế nên tiếp tục sử dụng điểm kiểm tra các bước tiếp theo

4.4 Phân tích ANOVA

Sử dụng ANOVA để phân tích nhằm kiểm định sự khác biệt trị trung bình giữa các biến định tính với định lượng Vì vậy để phân tích sự khác biệt về trị trung bình của nhiều nhóm tổng thể, thì phương pháp phân tích phương sai là một kiểm định ph hợp

Bảng 4.3: Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai

Trang 38

Bảng 4.4: Kiểm định trị trung bình ANOVA

Ngày đăng: 23/11/2021, 19:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tổng hợp nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 1.1 Tổng hợp nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 (Trang 6)
Sơ đồ 3.1:  Quy trình nghiên cứu - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 24)
Sơ đồ 3.2: Quy trình thu thập số liệu giai đoạn 1 - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Sơ đồ 3.2 Quy trình thu thập số liệu giai đoạn 1 (Trang 25)
Bảng 3.1: Mã hóa yếu tố ảnh hướng đến hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 3.1 Mã hóa yếu tố ảnh hướng đến hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn (Trang 28)
Bảng 3.2: Công thức  KPIs để đo lường thành công dự án - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 3.2 Công thức KPIs để đo lường thành công dự án (Trang 31)
Bảng 4.1: Hệ số Cronbach’s Alpha  Cronbach's Alpha  N - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.1 Hệ số Cronbach’s Alpha Cronbach's Alpha N (Trang 36)
Bảng 4.3: Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.3 Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai (Trang 37)
Bảng 4.4: Kiểm định trị trung bình ANOVA - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.4 Kiểm định trị trung bình ANOVA (Trang 38)
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA1 - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA1 (Trang 42)
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA7   Tukey HSD của biến XA7 - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA7 Tukey HSD của biến XA7 (Trang 43)
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA8  Tukey HSD của biến XA8 - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA8 Tukey HSD của biến XA8 (Trang 43)
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA13  Tukey HSD của biến XA13 - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA13 Tukey HSD của biến XA13 (Trang 44)
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến  XA15 - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA15 (Trang 44)
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA17  Tukey HSD của biến XA17 - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định sâu Tukey HSD của các biến XA17 Tukey HSD của biến XA17 (Trang 45)
Bảng 4.11: Thông tin tóm tắt dự án giao thông  Thông tin - Đối sách hiệu quả xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước so với các dự án do tư nhân đầu tư
Bảng 4.11 Thông tin tóm tắt dự án giao thông Thông tin (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w