Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến các chỉ tiêu sinh hóa của cây lạc trồng trên đất cát .... Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
VÕ THÚY MÃI
ẢNH HƯỞNG CỦA KALI VÀ LƯU HUỲNH ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LẠC TRỒNG TRÊN ĐẤT CÁT TẠI HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Bình Định - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
VÕ THÚY MÃI
ẢNH HƯỞNG CỦA KALI VÀ LƯU HUỲNH ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LẠC TRỒNG TRÊN ĐẤT CÁT TẠI HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60420114
Người hướng dẫn: TS HOÀNG MINH TÂM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy TS Hoàng Minh Tâm đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Quy Nhơn, phòng Đào tạo sau đại học, thầy, cô đang giảng dạy tại khoa sinh - KTNN đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban lãnh đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ, anh chị trong bộ môn Khoa học đất đã dành cho tôi thời gian tốt nhất và hỗ trợ mọi mặt trong nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới bạn bè, anh, chị của lớp Cao học sinh học thực nghiệm K18 đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn này
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả sự giúp
đỡ quý báu này
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài Error! Bookmark not defined 3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined 4 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Nguồn gốc, phân bố của cây lạc 5
1.2 Vai trò, vị trí của cây lạc 6
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây lạc 6
1.2.2 Giá trị kinh tế của cây lạc trên thị trường 7
1.2.3 Vai trò của cây lạc trong việc cải tạo đất 8
1.3 Yêu cầu sinh thái của cây lạc 8
1.3.1 Yêu cầu về nhiệt độ 8
1.3.2 Yêu cầu về ánh sáng 9
1.3.3 Yêu cầu về nước 9
1.3.4 Yêu cầu về đất 10
1.4 Yêu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây lạc 11
1.4.1 Vai trò của đạm (N) đối với cây lạc 11
1.4.2 Vai trò của lân (P) đối với cây lạc 12
1.4.3 Vai trò của kali (K) đối với cây lạc 12
Trang 51.4.4 Vai trò của các nguyên tố trung và vi lượng đối với cây lạc 13
1.5 Tình hình sản xuất lạc trên Thế giới và ở Việt Nam 16
1.5.1 Tình hình sản xuất lạc trên Thế giới 16
1.5.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 19
1.5.3 Tình hình sản xuất lạc ở Bình Định 21
1.6 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài 23
1.6.1 Kết quả nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài 23
1.6.2 Kết quả nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Công thức thí nghiệm 29
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 30
2.3.3 Kỹ thuật canh tác áp dụng 30
2.3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 32
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 37
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến các chỉ tiêu sinh hóa của cây lạc trồng trên đất cát 37
3.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến hàm lượng nước tổng số trong lá cây lạc 37
Trang 63.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến hàm lượng diệp lục trong lá cây lạc 39
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây lạc trên đất cát 44
3.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến số lượng và khối lượng nốt sần của cây lạc 44 3.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến chiều cao cây và số cành cấp 1 của cây lạc trồng trên đất cát 48 3.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến chỉ số diện tích lá của cây lạc trên đất cát 49
3.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến các yếu tố cấu thành năng suất lạc trồng trên đất cát 51
3.3.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến tổng số quả
và số quả chắc trên cây lạc trồng trên đất cát 52 3.3.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến khối lượng
100 quả và 100 hạt của cây lạc trên đất cát 54
3.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến năng suất thực thu và chất lượng hạt lạc 55 3.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh đến hiệu quả kinh tế sản xuất lạc trên đất cát 58 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc trên Thế giới (2010
3.1 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến hàm
lượng nước tổng số trong lá cây lạc trên đất cát 37
3.2 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến hàm
lượng diệp lục trong lá cây lạc giai đoạn 3 – 4 lá thật 40
3.3 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến hàm
lượng diệp lục trong lá cây lạc giai đoạn bắt đầu ra hoa 41
3.4 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến hàm
lượng diệp lục ở giai đoạn hình thành quả của cây lạc 43
3.5 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến số lượng
3.6 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến khối
lượng nốt sần của cây lạc trồng trên đất cát 46
3.7 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến chiều
cao và số cành cấp 1 của cây lạc trên đất cát 48
3.8 Ảnh hưởng của kali và lưu huỳnh đến chỉ số diện tích lá
3.9 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến số quả và 52
Trang 9số quả chắc trên cây của cây lạc trồng trên đất cát
3.10 Ảnh hưởng của kali và lưu huỳnh đến khối lượng 100 quả
3.11 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến năng
suất và tỷ lệ nhân của cây lạc trên đất cát 55
3.12 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến chất
3.13 Ảnh hưởng của liều lượng kali và luu huỳnh đến hiệu quả
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3.1 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến hàm
lượng nước tổng số trong lá cây lạc trên đất cát 38
3.2 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến hàm
lượng diệp lục tổng số trong lá cây lạc trên đất cát 44
3.3 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến số
lượng nốt sần của cây lạc trồng trên đất cát 45
3.4 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến khối
lượng nốt sần của cây lạc trồng trên đất cát 47
3.5 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến chỉ số
diện tích lá của cây lạc trồng trên đất cát 50
3.6 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến số quả
và số quả chắc trên cây lạc trồng trên đất cát 52
3.7 Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến khối
lượng 100 quả và 100 hạt của cây lạc trồng trên đất cát 54 3.8 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón kali và lưu huỳnh
đến chất lượng hạt lạc trồng trên đất cát 57
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là đất nước có hình chữ S với đường bờ biển dài 3.620 km không kể các đảo, do đó kéo theo diện tích đất cát ven biển cũng rất lớn khoảng 562.936 ha chiếm tỷ lệ 1,8 % tổng diện tích đất đai toàn quốc (Nguyễn Khang, Viện QHTKNN – 2000) theo thống kê đến năm 2000
Bình Định là một tỉnh thuần nông thuộc vùng sinh thái Duyên hải Nam Trung bộ với tổng diện tích đất tự nhiên 602.506 ha, nằm sát biển Đông Trong đó, đất cát biển có diện tích khoảng 2.789 ha chiếm 0,46% diện tích đất
tự nhiên
Đất cát vùng Duyên hải Nam Trung bộ nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng cơ bản là cát, có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng cát mịn cao, hàm lượng sét vật lý thấp, sức chứa ẩm đồng ruộng chỉ khoảng từ 2,5 đến 12,5%, hàm lượng các chất tổng số thấp, các chất dễ tiêu nghèo Do đó, khả năng giữ dinh dưỡng của đất cát ven biển là rất kém Do vậy, để phát triển nông nghiệp bền vững trên đất cát nói chung và đất cát ở tỉnh Bình Định nói riêng thì việc lựa chọn cây họ đậu, đặc biệt cây lạc trong cơ cấu cây trồng hàng năm là rất cần thiết Theo thống kê của ngành nông nghiệp năm 2014, Bình Định có diện tích trồng lạc vào khoảng 8,4 nghìn ha (chiếm 29,8% so với diện tích trồng lạc toàn vùng), là tỉnh có diện tích trồng lạc đứng thứ hai vùng Duyên hải Nam Trung bộ sau Quảng Nam (10,2 nghìn ha) Năng suất lạc ở Bình Định đạt cao nhất vùng Duyên hải Nam Trung bộ (29,9 tạ/ha) Hiện nay, lạc được xem là đối tượng cây trồng chủ lực và góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương
Lạc (Arachis hypogaea.L) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu có
giá trị kinh tế cao, hạt lạc từ lâu đã được sử dụng làm thực phẩm cho con
Trang 12người và là nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp chế biến Hạt lạc có hàm lượng dầu cao (dầu thô từ 40 - 60%), trong thành phần sinh hóa của hạt lạc còn có Protein thô (26 - 34%), Gluxit (6 - 22%), Xellulose (2 - 4,5%) Bên cạnh việc đem lại hiệu quả kinh tế cao, lạc còn là cây trồng có vai trò cải tạo đất lý tưởng nhờ các vi khuẩn nốt sần sống cộng sinh ở rễ Đồng thời, thân và
lá lạc cũng là loại phân xanh rất tốt vì thành phần dinh dưỡng trong thân lá lạc cao hơn nhiều một số loại phân hữu cơ khác, đặc biệt là đạm (trong thành phần của thân lá lạc có chứa 4,45% N, thân lá cây phân xanh có 3,30% N, phân chuồng có 1,80% N) Ngoài ra, lạc cũng là cây có khả năng tạo tính đa dạng hóa cho sản xuất nông nghiệp bằng các hình thức trồng thuần, trồng xen canh, trồng gối vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và che phủ bảo vệ đất chống xói mòn rửa trôi Đồng thời, các sản phẩm phụ (thân lá, vỏ quả,…) của cây lạc đều có thể làm thức ăn cho chăn nuôi rất tốt
Ở Việt Nam và thế giới từ năm 1995 đến nay, diện tích gieo trồng lạc tăng chậm Diện tích gieo trồng lạc của Việt Nam ổn định xung quanh 250.000 ha/năm và sản lượng tăng dần từ 334.500 tấn vào năm 1995 lên 485.800 tấn vào năm 2010 Tương tự như nhiều quốc gia trên thế giới, năng suất lạc ở nước ta tăng trong những năm gần đây là nhờ đầu tư nghiên cứu chọn tạo giống mới nên đã đưa vào sản xuất nhiều giống lạc mới năng suất cao, chất lượng tốt và chống chịu với điều kiện bất lợi của ngoại cảnh như: MD7, MD9, L08, L12, L14, L18, LVT, L23, L26,… đồng thời nghiên cứu áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật (mật độ, phân bón, che phủ đất,…) hợp lý cho mỗi giống và mùa vụ trên từng vùng sinh thái cụ thể
Để sản xuất lạc trên đất cát ở Bình Định đem lại hiệu quả kinh tế cao thì còn rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu giải quyết như: phân bón, nước tưới, giống, mật độ,… Kết quả nghiên cứu của dự án SMCN/2007/109 “Các
Trang 13hệ thống trồng trọt và chăn nuôi bền vững và mang lại lợi nhuận cho vùng Duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp
Quốc tế của Australia (ACIAR) tài trợ được thực hiện từ năm 2009 đến năm
2013 tại tỉnh Bình Định bởi Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung
bộ đã đi đến một số nhận xét sau: i) Thiếu hụt một trong hai nguyên tố kali và lưu huỳnh đã làm giảm năng suất lạc trên đất cát từ 12,71 - 35,23%, ii) Bón
bổ sung 60 kg K2O/ha đã làm năng suất lạc trên đất cát tăng 6,33 tạ/ha, và iii) Bón bổ sung 20 kg S/ha làm năng suất lạc tăng từ 1,17 - 2,86 tạ/ha so với không bón
Xuất phát từ những nhận xét trên, nhằm hướng đến sản xuất lạc bền vững và hiệu quả trên đất cát ở vùng duyên hải miền Trung nói chung và ở
tỉnh Bình Định nói riêng thì việc triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu “Ảnh
hưởng của kali và lưu huỳnh đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc trên đất cát tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định”
là rất cần thiết
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được liều lượng kali và lưu huỳnh thích hợp có tác động tích cực đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng và phát triển của cây lạc, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lạc trên đất cát tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả thu được của đề tài sẽ góp phần cung cấp thêm những dẫn liệu khoa học mới về các chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc trên đất cát khi xử lý các liều lượng kali và lưu huỳnh khác nhau; là cơ sở
Trang 14khoa học giúp các nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật, người nông dân và chủ trang trại mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất lạc trên đất cát
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác lạc trên đất cát Khuyến cáo sử dụng kali và lưu huỳnh cho cây lạc trên đất cát nhằm mục tiêu tăng năng suất và tăng thu nhập cho người sản xuất
4 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1 Tổng quan tài liệu
Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Kết luận và đề nghị
Phụ lục
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc, phân bố của cây lạc
Lạc có tên khoa học là Arachis hypogaea.L, có nguồn gốc từ Trung và
Nam Mỹ [11], [13] Cây lạc thuộc chi Arachis, họ đậu Fabaceae, bộ Poales Những cây trồng thuộc nhóm này có đặc trưng quan trọng là có hoa trên mặt đất nhưng quả thì nằm dưới mặt đất
Vào thế kỷ 16 người Bồ Đào Nha đã mang lạc từ Brazil đến Tây châu Phi và sau đó là Tây Nam Ấn Độ
Cây lạc đã được giới thiệu đến Trung Quốc và các nước ở Tây Thái Bình Dương như Indonesia, Madagascar do thương nhân người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 17 và một loạt các nhà truyền giáo người Mỹ trong thế kỷ 19 và sau đó lan rộng ra khắp châu Á
Ở Việt Nam, lịch sử trồng cây lạc chưa được xác minh rõ ràng, sách
“Văn đài loại ngữ” của Lê Quí Đôn cũng chưa đề cập đến cây lạc
Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét đoán thì danh từ “Lạc” có thể do từ Hán
“Lạc hoa sinh” (có người cho rằng người Hán đã phiên âm từ "Arachis") là từ
mà người Trung Quốc gọi cây lạc Do vậy, cây lạc có thể từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế kỷ 17-18
Trước thế kỷ 19, cây lạc ở Nam và Bắc Mỹ được người Châu Âu khai thác chủ yếu được dùng làm thức ăn gia súc
Nhà khoa học Mỹ gốc Phi George Washington Carver (1864-1943), là người đầu tiên khuyến cáo nông dân nghèo ở châu Mỹ trồng rộng rãi cây lạc để làm lương thực cải thiện đời sống Ông đã đưa ra trên 100 công thức chế biến lạc làm thực phẩm, mỹ phẩm, sản phẩm công nghiệp, nhờ đó ông đã nhận được Huân chương Spingarn của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của
Trang 16người da màu (NAACP) Từ đó cây lạc phát triển mạnh mẽ ở Nam, Trung và Bắc Mỹ
Hiện nay, cây lạc có khoảng 1000 giống khác nhau được trồng khắp các nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Do ít mẫn cảm với thời gian chiếu sáng và
có tính chịu hạn tốt cho nên lạc được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới từ
40 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam (Nigam et al, 1991)
1.2 Vai trò, vị trí của cây lạc
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây lạc
Lạc là nguồn thực phẩm giàu protein, lipid và các loại vitamin nhóm B Hạt lạc có nhiều chất hữu cơ bay hơi đã tạo nên vị ngọt điển hình và mùi thơm đặc trưng của hạt lạc
Hạt lạc có thành phần các chất dinh dưỡng như sau: lipit 44 – 56 %, protein khoảng 25 – 34 %, gluxit khoảng 6 – 25 %, xellulose 2 – 4,5 %, nước 9,2 %, 68 mg % P, ngoài ra trong hạt lạc còn chứa một số loại vitamin như A, các nhóm vitamin B (B1,2,3,6), PP … [12], [21], [44]
Dầu lạc là thành phần quan trọng của hạt lạc mang tính chất quyết định chất lượng của hạt lạc Dầu lạc gồm các glycerid của nhiều acid béo bão hòa
và chưa bão hòa, với tỉ lệ thay đổi tùy theo vùng canh tác và chất lượng chăm bón Dầu lạc chứa các vitamin hòa tan trong dầu, trong đó nhiều nhất là vitamin E - một yếu tố quan trọng trong tổng hợp hormone sinh dục, chống lão hóa Hai acid bão hòa có trong dầu lạc là acid arachidic (C20) và acid lignoxeric (C24) thấy trong bơ ca cao và trong bơ sữa bò Đây là hai acid béo bão hòa dạng cis nên không gây nguy hiểm cho tim mạch Ngoài những thành phần trên, frampton và boudreaux còn thấy là một chất tan trong nước của hạt lạc có tác dụng cầm máu Các vitamin như thiamine (vitamin B1) trong lạc đã rang chiếm 0,23 mg % Nó là một phần của coenzyme thiamin
Trang 17pyrophosphate rất quan trọng trong phản ứng giải phóng năng lượng từ carbohydrate, chất béo và alcool (rượu, bia) [11], [12]
Ở nhiệt độ thường, dầu lạc tồn tại ở trạng thái lỏng màu vàng nhạt, có độ nhớt thấp, có hương và mùi vị như hạt dẻ
Protein là thành phần quan trọng của hạt lạc Protein chiếm khoảng 21 – 36% thành phần hạt lạc, trong lạc có đến 90 – 95% là 2 loại globulin: Arachin (chiếm ¾) và Conarachin (chiếm ¼) hợp thành Ngoài ra protein hạt lạc còn chứa các loại axit amin không thay thế như: phenylalanine, valin, loxin, methyonine, lyzine, treonine [6]
Năng lượng: 100g hạt lạc 590 Calo > đậu tương (411 Calo) > Gạo (356 Calo) > Trứng vịt (189 Calo)
1.2.2 Giá trị kinh tế của cây lạc trên thị trường
Lạc có giá trị kinh tế cao trong nhiều lĩnh vực và mang lại một nguồn lợi kinh tế đáng kể cho người nông dân Là cây công hiệp ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao nên cây lạc hiện nay được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi, công nghiệp và thực phẩm
Trong chăn nuôi thường dùng khô dầu lạc, thân, lá lạc và tận dụng các phụ phẩm của dầu lạc làm thức ăn xanh cho gia súc Khô dầu lạc có thành phần dinh dưỡng tương đối tốt so với các loại khô dầu khác Khô dầu lạc là nguồn thức ăn giàu prôtêin và vỏ quả (sản phẩm phụ) dùng để nghiền thành cám dùng cho chăn nuôi Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương với cám gạo dùng để nuôi lợn, gà, vịt công nghiệp rất tốt
Do có giá trị dinh dưỡng cao lạc từ lâu con người đã sử dụng hạt lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng Sử dụng trực tiếp như quả non dùng để luộc, quả già dùng để rang, nấu hay dùng gián tiếp như ép dầu để làm dầu
ăn và khô dầu để chế biến nước chấm và thực phẩm khác Gần đây nhờ có công nghiệp thực phẩm phát triển, người ta chế biến thành rất nhiều mặt hàng
Trang 18thực phẩm có giá trị từ lạc như rút dầu, bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc, kẹo lạc Đồng thời, Việt Nam là 1 trong 4 quốc gia (Việt Nam, Trung Quốc, Mỹ, Achentina) có giá trị xuất khẩu lạc cao nhất thế giới mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ quan trọng cho đất nước
1.2.3 Vai trò của cây lạc trong việc cải tạo đất
Cũng như các loại cây họ đậu khác, lạc có ý nghĩa to lớn trong việc cải tạo đất do khả năng cố định đạm (N) của vi khuẩn cố định đạm cộng sinh
trên rễ cây tạo thành nốt sần, đó là vi khuẩn Rhizobium vigna Rhizobium vigna có thể tạo nốt sần ở rễ một số cây họ đậu nhưng với lạc thì tạo được
nốt sần lớn và khả năng cố định đạm cao hơn cả Nhờ khả năng cố định đạm, sau khi thu hoạch lạc thành phần hóa tính của đất trồng được cải thiện
rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và khu hệ vi sinh vật háo khí trong đất được tăng cường có lợi đối với cây trồng sau
Trong các hệ thống cố định nitơ sinh học, cố định nitơ cộng sinh giữa vi
khuẩn nốt sần (Rhizobium) và cây bộ đậu là quan trọng nhất, ước tính đạt trên
80 triệu tấn mỗi năm, tương đương với lượng phân đạm vô cơ được sản xuất trên toàn thế giới năm 1990
Theo Nguyễn Minh Hiếu (2003), lạc có khả năng cung cấp cho đất khoảng 72 – 124 kg N/ha/năm [17]
Đồng thời, thân và lá lạc là nguồn phân hữu cơ để cải tạo thành phần cơ giới của đất (5 -10 tấn lá/ha)
1.3 Yêu cầu sinh thái của cây lạc
1.3.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Tùy từng giai đoạn khác nhau mà cây lạc cần nhiệt độ tương ứng Nhưng nhìn chung cây lạc thích hợp với khí hậu nhiệt đới giống khí hậu của Việt Nam Nhiệt độ trung bình thích hợp cho cây lạc phát triển là từ 25 – 350C
Trang 19Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm từ 32 – 340C, với nhiệt độ này khoảng 4 – 5 ngày hạt sẽ nảy mầm Nhiệt độ tối thiểu để hạt nảy mầm là 120C
và tối đa là 41 – 420C, ở nhiệt độ này sự nảy mầm diễn ra chậm chạp và cây non phát triển yếu ớt [6], [11], [19]
Quá trình sinh trưởng của cây lạc cần nhiệt độ thích hợp là 23 – 300C, quá trình này sẽ kéo dài từ 30 - 40 ngày
Nhiệt độ thích hợp cho cây ra hoa là 24 – 330C, tối ưu nhất là 290C vào ban ngày và 230C vào ban đêm ở nhiệt độ này hệ số ra hoa là 21% Nếu nhiệt
độ <200C cây không ra hoa [6], [11]
Nhiệt độ thích hợp để quả lạc chín là 25 – 280C [11]
1.3.2 Yêu cầu về ánh sáng
Lạc là cây ngắn ngày song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu
và đối với nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ Số giờ nắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc
Ở thời kỳ nảy mầm, ánh sáng kìm hãm tốc độ hút nước của hạt, sự sinh trưởng của rễ và tốc độ vươn dài của trục phôi Ở thời kỳ kết quả, tia ở ngoài ánh sáng phát triển chậm và quả chỉ có thể phát triển trong bóng tối Quá trình
nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng
1.3.3 Yêu cầu về nước
Nước là yếu tố quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất cây lạc Lạc có khả năng chịu hạn tương đối nhưng nếu thiếu nước sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển và đặc biệt là năng suất cây lạc
Trong toàn bộ quá trình sinh trưởng của cây lạc cần lượng nước tối thiểu
là 400 – 800 mm, và độ ẩm cần thiết trong đất là 60 – 70% [6], [11]
Trang 20Hạt lạc nảy mầm tốt nhất khi đất có độ ẩm là 70 – 80%, nếu độ ẩm quá lớn (>90%) hay quá thấp (<60%) hạt lạc khó nảy mầm hoặc ẩm độ dưới 40 – 45% hạt không nảy mầm được
Thời kì trước ra hoa của cây lạc không yêu cầu nhiều nước Nếu thiếu nước ở giai đoạn này chỉ làm chậm sự sinh trưởng của cây, để cây phục hồi cần tưới đủ nước Độ ẩm thích hợp cho giai đoạn này là 60 – 65% [11], [32] Lạc mẫn cảm nhất với hạn trong thời kì ra hoa rộ, nếu trong giai đoạn này lạc bị thiếu nước sẽ ảnh hưởng lớn đến hệ thống rễ của cây cũng như khả năng thụ tinh của hoa lạc Kết quả nghiên cứu của Viện KHNN Trung Quốc cho thấy rằng: thời gian ra hoa kết quả chỉ chiếm 35 – 43,5% thời gian sinh trưởng của lạc, nhưng cần lượng nước bằng 48 – 61,5% nhu cầu nước của cả chu kì sinh trưởng Thời kì chín của quả chiếm 23 – 34% thời gian sinh trưởng nhưng nhu cầu nước chiếm 14,5 – 32,5% tổng nhu cầu nước [7], [11], [12]
Độ ẩm đất đạt 80 – 85% lạc ra hoa thuận lợi Nếu thiếu nước ở giai đoạn này sẽ làm giảm lượng hoa rõ rệt, thời gian ra hoa kéo dài và số hoa hữu hiệu để hình thành quả bị giảm Do số lượng hoa giảm nên kéo theo khả năng đâm tia cũng bị giảm xuống, giảm số lượng cũng như chất lượng
và kích thước quả
1.3.4 Yêu cầu về đất
Cây lạc không đòi hỏi khắt khe về độ phì của đất mà chỉ yêu cầu về tính chất vật lí của đất Đất trồng lạc phải bảo đảm tơi xốp để thuận lợi cho sự phát triển của rễ, đảm bảo đủ oxy cho vi khuẩn nốt sần phát triển và hoạt động, tia quả đâm xuống đất dễ dàng để tạo quả và dễ dàng cho việc thu hoạch tránh tình trạng sót quả dưới đất dẫn đến giảm năng suất lạc chủ quan
Trang 21Theo York và Codwell (1951), đất trồng lạc lý tưởng là đất phải thoát nước nhanh, có màu sáng, tơi xốp, phù sa pha cát, có đầy đủ canxi và một lượng chất hữu cơ vừa phải
Cây lạc có thể chịu được pH của đất từ 4,5 – 9 nhưng pH trong đất thích hợp cho cây lạc phát triển là gần trung tính và hơi chua (pH = 5,5 – 7)
1.4 Yêu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây lạc
1.4.1 Vai trò của đạm (N) đối với cây lạc
Nitơ là thành phần quan trọng cấu tạo nên các axit amin để tổng hợp nên protein và N còn tham gia vào cấu tạo của axit nucleic, chlorophyl, phytohormon, phytocrom, vitamin và enzime để tham gia cấu tạo nên các
bộ phận của cơ quan sinh trưởng và cơ quan phát triển của cây Do vậy nếu thiếu N sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp các chất, thành phần, bộ phận của cây làm cây sinh trưởng kém có hiện tượng lá vàng, thân có màu
đỏ, chất khô tích lũy bị giảm, số quả và khối lượng quả đều giảm đáng kể Thiếu đạm ở giai đoạn cuối trong quá trình phát triển của cây có thể dẫn tới quả và hạt lạc ngừng phát triển
Nhờ có vi khuẩn cố định đạm tại rễ mà cây lạc có khả năng tự túc đạm cho bản thân, do vậy lượng đạm cung cấp cho cây lạc thấp hơn những loại cây khác Lượng đạm cần bón cho cây lạc chỉ khoảng 20 – 30 kg N/ha vào giai đoạn gieo và cây con (2 - 3 lá) [28] Tùy loại đất mà lượng đạm cần bón là khác nhau: đất nhẹ thì bón ít (khoảng 30 kg N/ha), đất cát cần bón nhiều hơn Nếu bón vượt quá chuẩn sẽ làm giảm năng suất lạc [28]
Cây lạc cần vừa đủ đạm, thừa hay thiếu đạm đều ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng cũng như phát triển của cây lạc dẫn đến năng suất và chất lượng lạc không cao Nếu cây thiếu đạm dẫn đến hiện tượng cây yếu mềm, cao vóng lên, cuống lá dài và màu xanh của lá không tươi Nếu thừa đạm dẫn
Trang 22đến quá trình sinh trưởng diễn ra mạnh, thân và lá tốt quá mức dẫn đến hiện tượng hoa ra ít do vậy cây ít quả, năng suất không cao [14]
1.4.2 Vai trò của lân (P) đối với cây lạc
Trong cây, P là thành phần chủ yếu cấu tạo nên nucleoproteit – là thành phần cấu tạo nên nhân tế bào, đồng thời nó cũng tham gia vào thành phần các chất hữu cơ quan trọng khác
Cây lạc cần P trong suốt quá trình sinh trưởng, nhưng lượng P bón từng giai đoạn là không nhiều, cần bón phối hợp 20 kg N + 30 kg P2O5/ha sẽ làm tăng khối lượng nốt sần và rễ phát triển tốt nhất [14]
Cây lạc được bón phân lân đầy đủ phát triển tốt, cân đối, ra hoa sớm và tập trung, tăng tỷ lệ ra hoa hữu hiệu Nếu cây lạc thiếu lân thì bộ rễ phát triển kém, hoạt động cố định N cũng giảm vì lượng vi khuẩn cố định đạm giảm, tăng hàm lượng cacbohydrat, giảm hàm lượng nước Triệu chứng thiếu lân biểu hiện sau 4 tuần, cây còi cọc, lá nhỏ, dày lên, những lá già xanh đậm lại, vàng và sau đó rụng đi [7], [14], [23]
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, lân là yếu tố cơ bản hạn chế năng suất lạc, bón lân là mấu chốt ở nhiều vùng trồng lạc
1.4.3 Vai trò của kali (K) đối với cây lạc
Kali trong cây tồn tại ở 2 dạng là muối vô cơ hòa tan và muối của axit hữu cơ trong tế bào, do vậy K không tham gia trực tiếp vào cấu tạo của cây nhưng có tác dụng quan trọng trong quá trình trao đổi chất cũng như quá trình quang hợp của cây hay sự phát triển của quả Kali làm tăng khả năng giữ nước của tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc, tăng tính chống đổ cho cây, tăng tính chịu hạn và khả năng chống chịu với sâu bệnh hại cho cây lạc
Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs (1996), cây thiếu kali có hiện tượng là thân cây chuyển sang màu đỏ sẫm và lá chuyển sang màu xanh nhạt Tác hại
Trang 23lớn nhất của thiếu kali là cây bị lùn, khả năng quang hợp và hấp thu N giảm, tỉ
lệ quả 1 hạt tăng, trọng lượng hạt giảm và năng suất giảm rõ rệt [22]
Hàm lượng kali trong cây thay đổi theo tuổi của cây Lạc hút một lượng kali lớn, hàm lượng K2O trong cây lên tới 4% trong 6 -8 tuần sinh trưởng đầu tiên và đạt 2,15% trong thời kì ra hoa, tạo quả sau đó giảm dần cho tới lúc thu hoạch Khi cây có hàm lượng K2O còn 0,75% thì cây xuất hiện triệu chứng thiếu K
Bộ rễ của cây lạc có khả năng khai thác được chất dinh dưỡng trong một khối lượng đất lớn cho nên lạc vẫn đạt được năng suất khá ở những điều kiện hàm lượng kali trong đất không cao Do vậy, việc bón kali cho cây còn tùy thuộc vào loại đất trồng
1.4.4 Vai trò của các nguyên tố trung và vi lượng đối với cây lạc
Ca, Mg và S là những nguyên tố trung lượng có vai trò quan trọng trong sinh trưởng và phát triển của cây lạc
* Canxi (Ca):
Canxi là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình trồng lạc Canxi vừa có vai trò trong điều chỉnh pH đất vừa là nguyên tố dinh dưỡng cho cây Canxi có vai trò chủ chốt là tham gia vào sự hình thành tế bào, canxi kết hợp với axit pectinic tạo thành pectan canxi Ngoài ra, canxi còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành màng tế bào, hoạt hóa nhiều enzime, trung hòa các axit trong cây Do đó, thiếu canxi làm ức chế sự nảy mầm và sinh trưởng của hạt phấn bị ức chế, mô phân sinh dễ bị hại, thân mầm bị đen, quả phát triển kém, vỏ quả giòn, tỉ lệ đậu hoa giảm, bộ rễ bị rối loạn nếu nghiêm trọng dẫn đến rụng lá, ngọn héo và có thể chết cây [6], [28]
Cây lạc cần canxi nhiều nhất trong giai đoạn ra quả, cây hút canxi qua rễ, tia quả và cả vỏ quả khi quả đang hình thành
Trang 24Canxi là yếu tố ít di động, trong cây nó tập trung chủ yếu trong lá (80 – 90% lượng canxi hấp thu), hàm lượng canxi trong lá lạc ở mức tới hạn là 2% Bón canxi còn có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt động, làm tăng pH đất, các dạng canxi có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hấp thu canxi của lạc
Việc bón vôi cho lạc trên đất nhẹ cần hết sức lưu ý vì khi bón lượng vôi quá cao sẽ làm cho lượng canxi tích lũy tăng lên, ảnh hưởng xấu đến sự hút đạm và kali của cây
* Magie (Mg):
Mg là nguyên tố khoáng có nhiều vai trò sinh lý quan trọng đối với cây lạc Mg đã có tác dụng rất tốt đến sự phát triển thân, lá, cành và khả năng tích lũy chất khô, khối lượng nốt sần, năng suất quả Khi được bón MgSO4, hàm lượng protein trong hạt lạc ít thay đổi nhưng hàm lượng dầu có xu hướng tăng
Khi thiếu Mg cây lạc thường bị bệnh đốm nâu và hàm lượng diệp lục trong lá giảm
* Lưu huỳnh (S):
S tham gia vào thành phần của nhiều axit amin quan trọng như xystein, systin, methyonin; các axit amin này tham gia vào quá trình hình thành nên protein.Thiếu S làm quá trình sinh trưởng, phát triển của lạc bị gián đoạn cây phát triển không bình thường, lá có màu vàng nhạt Khi cây đủ S quả lạc bám chắc vào thân hơn góp phần làm tăng năng suất lạc
Các yếu tố vi lượng là thành phần không thể thiếu của nhiều loại enzyme
có liên quan trực tiếp đến hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng và vitamin trong cây [19] Ngoài ra, các yếu tố vi lượng còn tham gia vào việc hình thành và hạn chế sự phân giải diệp lục, thúc đẩy sự phát triển của cây trồng, tăng khả năng chống chịu của cây trồng đối với hạn hán, với nhiệt độ
Trang 25thấp và nồng độ dung dịch đất cao Các yếu tố vi lượng gồm: đồng (Cu), kẽm (Zn), Molipden (Mo), Bo, … Cây chỉ cần một hàm lượng rất ít, nhưng không
có nghĩa là không cần Nếu thiếu các nguyên tố vi lượng cây sẽ sinh trưởng, phát triển chậm, ra hoa, tạo quả kém dẫn đến năng suất không cao
* Đồng (Cu):
Cu là thành phần cấu tạo nên các enzyme (polyphenol oxydaza, ascocbin oxydaza, xytocrom oxydaza, …) tham gia tích cực vào các phản ứng oxy hóa khử mà đặc biệt là các phản ứng tối trong quá trình quang hợp Ngoài ra, đồng còn tham gia vào chuỗi vận chuyển điện tử trong pha sáng của quang hợp Trong cây hàm lượng N và Cu tỷ lệ nghịch với nhau, hàm lượng N càng cao thì hàm lượng Cu càng thấp do đó sự thiếu hụt của đồng cũng được biểu hiện rõ rệt
* Kẽm (Zn):
Cũng giống như đồng, kẽm tham gia vào cấu trúc của hơn 70 enzyme, đặc biệt là các enzyme tham gia vào sự hoạt hóa enzyme sinh tổng hợp tryptophan – chất tiền thân của auxin Ngoài ra, kẽm cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp protein
Thiếu kẽm gây rối loạn trao đổi phytohormon dẫn đến cây sinh trưởng, phát triển không bình thường như sinh trưởng chậm, hình thành hạt kém, số hoa và tia quả giảm
Bón kẽm cho cây giúp cây tăng cường khả năng hút K, Si, Mn, Mo và tăng tính chống chịu bệnh phytothora cho cây
* Molipden (Mo):
Mo có vai trò rất quan trọng trong sự cố định N và đồng hóa nitrat vì Mo tham gia cấu tạo nên enzyme Nitrogenaza Khi cây đủ Mo thì số lượng và khối lượng nốt sần tăng do vậy cường độ cố định N của vi khuẩn nốt sần cũng tăng lên Do đó, Mo rất quan trọng trong trường hợp cây thiếu N
Trang 26* Bo:
Bo là nguyên tố có vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển gluxit trong cây Thiếu Bo sự trao đổi hydratcacbon và protein bị giảm (ngưỡng thiếu Bo là 25ppm) Bo có vai trò quan trọng trong quá trình thụ phấn, thụ tinh Thiếu Bo dẫn đến số lượng hoa giảm, tỷ lệ hoa có ích cũng giảm mạnh,
số quả trên cây giảm dẫn đến năng suất giảm
Thừa Bo cây lạc không hấp thụ được sắt gây hiện tượng cháy rìa điển hình
1.5 Tình hình sản xuất lạc trên Thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Tình hình sản xuất lạc trên Thế giới
Vào khoảng 500 năm trước, cây lạc được du nhập vào châu Âu nhưng không được chú trọng phát triển Khoảng 125 năm gần đây khi ngành công nghiệp ép dầu được ra đời thì cây lạc mới thực sự được phổ biến và trồng rộng rãi trên thế giới
Hiện nay, lạc là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao và có vai trò quan trọng trong đời sống người dân nhiều nước trên thế giới, do đó việc phát triển cây lạc ngày càng được chú trọng đầu tư Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật càng làm cho năng suất của cây lạc được nâng cao và mang lại nguồn lợi lớn cho các nước
Trang 27Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc trên thế giới
Trang 28Trên thế giới ngày nay có khoảng hơn 100 quốc gia trồng lạc, chủ yếu tập trung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ
Số liệu tập hợp trong bảng 1.1 cho thấy diện tích lạc trên thế giới năm
2014 đạt 25,67 triệu ha, tăng 40,73% so với trung bình thập niên 70, tăng 40,04% so với trung bình thập niên 80 và tăng 17,70% so với trung bình thập niên 90
Một số quốc gia có diện tích trồng lạc lớn trên thế giới (2014) như: Ấn
Độ (5,20 triệu ha), Trung Quốc (4,52 triệu ha), Nigeria (2,77 triệu ha), Sudan (2,10 triệu ha), Braxin (1,43 triệu ha)
Qua bảng 1.1, cũng cho thấy rằng năng suất lạc của các nước trên thế giới có sự chênh lệch rất lớn Cụ thể vào năm 2014: năng suất lạc trung bình của thế giới nhìn chung thấp Năng suất giữa các quốc gia trồng lạc trên thế giới chênh lệch nhau khá lớn: một số quốc gia có năng suất lạc cao như Israel đạt 73,90 tạ/ha; Mỹ đạt 44,07 tạ/ha; Trung Quốc đạt 34,91 tạ/ha, Braxin đạt 28,17 tạ/ha, Inđônêxia 22,04 tạ/ha, trong khi đó ở Chad chỉ đạt năng suất lạc 9,00 tạ/ha, Sudan 8,40 tạ/ha và Niger 5,18 tạ/ha
Sản lượng lạc trên thế giới cũng không ngừng tăng lên, nhưng có sự biến động qua từng năm: năm 2010 có sản lượng đạt 42,74 triệu tấn, nhưng đến năm 2011 sản lượng lạc chỉ còn 40,77 triệu tấn, đến năm 2012 con số này lại giảm còn 39,54 triệu tấn, sau đó sản lượng tăng đạt 42,85 triệu tấn và đến năm 2014 sản lưởng đạt 42,32 triệu tấn Các quốc gia khác nhau cũng có sự chênh lệch tương đối về sản lượng lạc Cụ thể năm 2014: Ấn Độ có sản lượng đạt 6,56 triệu tấn, Nigeria đạt 3,41 triệu tấn, Trung Quốc đạt 15,78 triệu tấn; trong khi đó Brazil đạt 0,40 triệu tấn, Chad đạt 0,41 triệu tấn, Israel đạt 0,02 triệu tấn
Như vậy, hướng sản xuất lạc trên thế giới trong những năm tới tốc độ phát triển sẽ chậm hơn so với nhiều năm trước Đồng thời, diện tích gieo
Trang 29trồng cũng có sự thay đổi do chính sách quản lý, thương mại và mục tiêu phát triển của từng nước đưa ra
Năng suất là yếu tố để phản ánh sự nghiên cứu về cây lạc và chính sách
là yếu tố quyết định tương lai của loại cây trồng này Những yếu tố quan trọng dẫn đến năng suất cao là:
- Cải tiến kỹ thuật canh tác và mở rộng diện tích ở các nước nhiệt đới và
á nhiệt đới, đặc biệt là các nước đang phát triển
- Chú trọng đến công tác chọn tạo giống mới có năng suất, phẩm chất cao hơn; giống phải phù hợp với từng điều kiện sinh thái, hình thành vùng sản xuất hàng hóa, cơ giới hóa sản xuất Thuốc trừ sâu, trừ cỏ, bệnh tốt hơn
- Chế biến, đi sâu vào lĩnh vực chế biến dầu thực vật, hỗ trợ và giúp đỡ các nước đang phát triển về xuất khẩu và nhập khẩu lạc nhân
Cây lạc chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ được gieo trồng với diện tích lớn mà còn vì hạt lạc được sử dụng rộng rãi để làm thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng đã và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng được mở rộng
1.5.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây lạc đã được trồng từ rất lâu đời nhưng chưa được quan tâm và phát triển Do vậy, trong nhiều năm năng suất và sản lượng lạc là rất thấp Trong những năm gần đây khi nền công nghiệp ép dầu phát triển mạnh
mẽ thì cây lạc đã được quan tâm phát triển hơn, nhưng so với một số loại cây công nghiệp khác thì năng suất, sản lượng và diện tích trồng lạc đều giảm đáng kể
Từ năm 1995 đến nay, diện tích gieo trồng lạc tăng chậm Diện tích gieo trồng lạc của nước ta ổn định xung quanh 250.000 ha/năm và sản lượng tăng dần từ 334.500 tấn vào năm 1995 lên 485.800 tấn vào năm 2010 [36] Tương
Trang 30tự như nhiều quốc gia trên thế giới, năng suất lạc ở nước ta tăng trong những năm gần đây là nhờ đầu tư vào công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới nên
đã đưa vào sản xuất nhiều giống mới năng suất cao, chất lượng tốt và chống chịu với điều kiện bất lợi của ngoại cảnh như: MD7, MD9, L08, L12, L14, L18, LVT, L23, L26, … đồng thời nghiên cứu áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật (mật độ, phân bón, che phủ đất …) hợp lý cho mỗi giống và mùa vụ trên từng vùng sinh thái cụ thể [3], [25], [26], [27] Không những thế, các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước và cấp ngành, các dự án trong nước và quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật trên cây lạc đã được triển khai thu hút sự tham gia đông đảo của các cán bộ nghiên cứu Công tác Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển cây lạc đã được tăng cường
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc tại Việt Nam từ
2007 – 2014
(1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Theo số liệu của FAOSTAT năm 2017 trong 10 năm từ năm 2007 –
2014 diện tích lạc của Việt Nam có chiều hướng giảm xuống từ 254,5 nghìn
ha vào năm 2007 giảm xuống còn 208,2 nghìn ha vào năm 2014, bên cạnh đó
Trang 31năng suất có sự tăng nhẹ: năm 2007 năng suất đạt 20,0 tạ/ha đến năm 2014 đạt 21,8 tạ/ha
Hơn 10 năm trở lại đây việc thực hiện chính sách chuyển đổi cơ chế quản lý trong sản xuất nông nghiệp đã dần giải quyết được vấn đề về lương thực, do đó người dân có điều kiện để chuyển một phần diện tích trồng lúa hoặc loại cây khác sang trồng lạc
Hiện nay, cây lạc phân bố chủ yếu ở 4 vùng lớn là: miền núi và Trung
du, Bắc bộ, đồng bằng Sông Hồng, khu Bốn cũ và miền Đông Nam bộ Cả 4 vùng chiếm đến ¾ diện tích và sản lượng của cả nước, ¼ còn lại rải rác ở các vùng khác trong cả nước.Theo số liệu thống kê ngành nông nghiệp 2014, vùng có diện tích trồng lạc lớn nhất là Bắc Trung bộ (61,1 nghìn ha), tiếp đến
là vùng Trung du miền núi phía Bắc (50,8 nghìn ha), Duyên hải Nam Trung
bộ (34,2 nghìn ha), đồng bằng sông Hồng (25,8 nghìn ha), đồng bằng sông Cửu Long (13,9 nghìn ha), Tây Nguyên (13,5 nghìn ha) và Đông Nam bộ (9,7 nghìn ha)
Nước ta nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa thích hợp cho cây lạc sinh trưởng, phát triển, không những thế nhờ tiến bộ của khoa học kĩ thuật
đã tạo ra nhiều giống lạc chống chịu sâu bệnh và mang lại năng suất cao, đặc biệt trình độ thâm canh của người dân ngày càng được nâng cao vì thế khả năng để nâng cao năng suất lạc là rất lớn
Trang 32Trong một vài năm gần đây, cây lạc dần trở thành loại cây chủ lực của một số huyện của tỉnh như: Phù Cát, Phù Mỹ, mang lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định cho người dân địa phương Do lạc là loại cây công nghiệp
có giá trị kinh tế cao và ổn định nên người dân địa phương ngày càng mạnh dạn thay thế những loại cây có giá trị thấp khác bằng cây lạc, kéo theo diện tích trồng lạc cũng như sản lượng và năng suất lạc của Bình Định ngày càng được mở rộng và gia tăng
Bảng 1.3: Diện tích và sản lượng lạc tỉnh Bình Định từ năm
2010 – 2015 Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)
(Nguồn: niên giám thống kê Việt Nam, năm 2017)
Qua số liệu trong bảng 1.3, ta thấy từ năm 2010 đến năm 2015 diện tích đất trồng lạc có sự biến động lớn, vào năm 2010 Bình Định có diện tích trồng lạc đạt 8,3 nghìn ha, năm 2011 diện tích tăng lên 0,5 nghìn ha đạt 8,8 nghìn ha, năm
2012 đạt được 9,0 nghìn ha, đến năm 2013 diện tích đất trồng lạc tăng lên rất cao đạt 10,2 nghìn ha, sau đó giảm dần ở các năm sau: năm 2014 diện tích đất trồng lạc giảm 1,8 nghìn ha do đó diện tích đất trồng lạc chỉ còn 8,4 nghìn ha và sơ bộ đến năm 2015 diện tích đất trồng lạc đạt 8,7 nghìn ha Do diện tích đất trồng lạc
có sự biến động đáng kể nên sản lượng lạc của tỉnh Bình Định cũng có sự biến động lớn qua các năm từ 2010 đến 2015, cụ thể: sản lượng lạc năm 2010 đạt 23,2 nghìn tấn đến năm 2013 do diện tích trồng lạc tăng mạnh nên kéo theo sản
Trang 33lượng lạc trên toàn tỉnh cũng tăng mạnh đạt 30,1 nghìn tấn và sau đó giảm dần
Do vậy, Bình Định nên chú trọng trong việc chọn tạo giống lạc có năng suất cao để đưa vào sản xuất, cũng như tổ chức các buổi tập huấn để cung cấp cho người dân địa phương kỹ năng, phương pháp trồng lạc đạt hiệu quả kinh
tế cao
1.6 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
1.6.1 Kết quả nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài
1.6.1.1 Nghiên cứu về kali cho cây lạc
Kali là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng có ảnh hưởng nhất định đến sinh trưởng và phát triển của cây lạc
Để đạt được năng suất 2.875 kg/ha, ở Mỹ năm 1975 người ta bón 20 - 25
kg N, 50 - 60 kg P2O5, 50 - 80 kg K2O Trong khi đó ở Ấn Độ liều lượng bón
là 10 - 13 kg N, 20 - 26 kg P2O5, 0 - 60 kg K2O [3]
Tại Hàn Quốc, tổng hợp các kết quả nghiên cứu về phân bón, Shin và cộng sự (1985) [34] cho biết lượng phân kali thích hợp để bón cho cây lạc là
83 kg K2O/ha
Trang 34Theo Borkert và cs [33], Jonie While [39]: cây họ đậu có phản ứng với phân kali khi lượng kali trao đổi trong đất ở mức dưới 40 mg K2O/kg đất Cũng theo tác giả này thì bón kali ở mức trên 80 kg K2O/ha sẽ cho năng suất cây trồng cao nhất và đồng thời cũng góp phần trả lại lượng kali trong đất đã mất đi sau 5 năm thí nghiệm Abd - El - Hardi và cs (1990) [31] lại cho rằng: bón kali ở mức 70 kg K2O/ha cho năng suất cao nhất tại Hy Lạp (Egypt) Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng cũng thể hiện rõ khi chúng được bón với liều lượng và tỷ lệ phù hợp Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về
tỷ lệ N:K2O bón cho cây đậu đỗ nói chung và cây lạc nói riêng Pamplona và
cs (1990) [45] cho rằng: năng suất đậu tương đạt cao nhất ở mức tỷ lệ N:K2O bón là 1:2 (30 N và 60 K2O) Năng suất lạc tăng từ 16 - 21% trên một số loại đất của Ấn Độ ở công thức bón đạm và kali với liều lượng 25 N và 30 K2O Bón 60 kg K2O/ha kết hợp với 30 kg N cho năng suất lạc cao nhất [38]
Ở Hà Nam (Trung Quốc) bón kali có tác dụng làm tăng hàm lượng chất béo và amino axít trong hạt lạc Phần trăm aminoaxít cần thiết tăng từ 8,7% ở công thức không bón kali lên đến 9,4% ở các công thức có bón kali [46]
Cây lạc cần kali ngay từ đầu cho đến khi thu hoạch Lạc hút từ đất một lượng kali rất lớn, nhưng các loại đất ở Ấn Độ đều giàu kali Bón kali chỉ có hiệu quả khi kali dễ tiêu trong đất dưới 126 kg/ha (Dẫn theo Vũ Công Hậu, 1995) Kết quả thực nghiệm của Viện Nghiên cứu cây công nghiệp Guangdong
- Trung Quốc đã xác định lượng phân kali hợp lý để bón cho cây lạc tại Guangdong là từ 75 - 90 kg K2O/ha (Liang Xuanqiang, 1996) [40]
Tại Saurashtra - Ấn Độ, B Golakiya (1998) đã tiến hành đánh giá hiệu lực của phân kali trên các loại đất có hàm lượng lân tổng số từ 109 - 712 kg/ha, kết quả thực nghiệm ở 6 điểm đã xác định, ở lượng bón 80 kg K2O/ha năng suất lạc cao hơn so với lượng bón 40 và 120 kg K2O/ha
Trang 35Tại Cairo - Ai Cập, trên đất cát vừa mới cải tạo có hàm lượng kali trong tầng đế cày (0 - 20cm) là 210,6 ppm, Migawer và cộng sự (2001), đã xác định, khi bón 50 kg K2O/ha năng suất hạt của giống lạc Giza4 và Giza5 đạt bình quân 19,8 tạ/ha, cao hơn 9,4% so với lượng bón 25 K2O/ha
Kết quả thử nghiệm về hiệu lực phân bón đối với cây lạc trên các loại đất ở khu vực ven biển Phúc Kiến, Zhang Mingqing và Lin Xinjian đã xác định lượng phân kali tối ưu cần bón cho đất cát đỏ là 87 kg K2O/ha, cho đất lúa có nguồn gốc từ đất đỏ là 97 kg K2O/ha và cho đất cát mặn là 85 kg
K2O/ha Kết quả thực nghiệm của Viện Nghiên cứu Cây công nghiệp Quảng Đông đã xác định lượng phân kali hợp lý để bón cho cây lạc tại Quảng Đông
là từ 75 - 90 kg K2O/ha (Liang Xuanqiang, 1996)
Ngoài việc bón kali vào đất, ảnh hưởng của biện pháp phun phân kali trực tiếp lên lá cũng đã được thực nghiệm Tại Gujarat - Israel, Shahid Umar
và cộng sự (1999) đã tiến hành đánh giá hiệu lực của biện pháp phun KCl (nồng độ 1,0%) và K2SO4 (nồng độ từ 0,5 và 1,0%) lên lá vào thời điểm sau khi nảy mầm 25 và 60 ngày Kết quả, trên nền phân bón 50 kg K2O/ha, khi phun KCl 1% năng suất hạt của giống lạc GAUG10 đạt 19,6 tạ/ha, cao hơn 11,4% so với không phun và từ 4,8 - 9,5% so với phun K2SO4
1.6.1.2 Nghiên cứu về lưu huỳnh cho cây lạc
Lưu huỳnh giữ một vai trò quan trọng trong sự chuyển hóa của cây lấy dầu như là thành phần của protein và glucosinolates S cần thiết cho sự tạo thành protein, không những số lượng protein mà còn chất lượng protein bị ảnh hưởng bởi tính trạng S của cây ( Wrigley et al 1980) Trong điều kiện thiếu S, sự thụ tinh của hoa bị giảm Trong suốt thời gian phát triển quả , số lượng hạt trong quả giảm xuống Khi bị thiếu hụt trầm trọng, quả trở nên rỗng
Raghavaiah (1982) nghiên cứu hiệu lực của S và Ca đối với sinh trưởng năng suất và hấp thu dinh dưỡng của giống lạc TMV2, trên đất li mông cát đỏ
cả trong điều kiện nước trời và tưới nước Ông thấy bón 250 kg CaSO4 cho lạc có tưới (khi Ca trao đổi trong đất là 5,5 - 5,8 meq/100g đất) và cung cấp
Trang 36qua nước tưới 160 kg Ca và 25 kg S và bón 500 kg CaSO4/ha cho lạc trồng nhờ nước trời (Ca trao đổi trong đất là 1,42 - 1,50 mg/100g đất và S dễ tiêu rất thấp = 3ppm) thì năng suất cao hơn và lợi nhuận cũng nhiều hơn Singh (1970) bón S dưới dạng Sunfat amon cho đất và cát li mông thì năng suất quả tăng Verma (1973) cho biết bón 25 kg S/ha vào mùa mưa thì tỷ lệ bóc vỏ và năng suất quả đều tăng [15].
Theo Kamvar (1983) phương pháp tốt nhất để bón CaSO4 là rắc bột lên cây lạc thời kỳ chớm hoa và CaSO4 rơi xuống quanh cây lạc ở vùng quả [15] Kết quả nghiên cứu của chương trình thực nghiệm bón bổ sung S trên đồng ruộng ở Ấn Độ cho thấy năng suất thu hoạch cho những nơi đó đã tăng đáng
kể, trung bình tăng 17% đối với lúa gạo, 25% đối với lúa mì, 30% đối với cây các dầu và 32% đối với lạc
Kết quả nghiên cứu của chương trình "chất dinh dưỡng quan trọng thứ tư cho cây trồng" ở Trung Quốc tiến hành trên các loại cây lúa gạo, lúa mì, ngô
và hạt dầu cho thấy năng suất thu hoạch ở cây trồng được bón bổ sung phân lưu huỳnh đã gia tăng đáng kể, trong đó có năng suất lạc tăng đến 13% [15] Tóm lại: các thực nghiệm và nghiên cứu đều khẳng định cũng như chứng minh được tầm quan trọng của lưu huỳnh trong sản xuất nông nghiệp đang là mục tiêu và xu hướng của các nước trên thế giới hướng tới Các tác giả trên thế giới đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ và toàn diện về ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng bón đối với cây lạc Đó là những cơ sở thực tiễn giúp chúng ta nhìn nhận được vai trò quan trọng của việc bón phân cho lạc, đặc biệt là trên chân đất nghèo dinh dưỡng
1.6.2 Kết quả nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
1.6.2.1 Nghiên cứu về kali cho cây lạc
Đối với đất nghèo dinh dưỡng, bón kali rất có hiệu quả, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần năm 1991 cho thấy, hiệu suất của 1kg K2SO4 trên đất cát biển là 6 kg lạc vỏ và trên đất bạc màu là 8 – 10 kg lạc vỏ
Trang 37Trên đất bạc màu ở Hà Bắc, kali có hiệu lực rõ rệt đối với sinh trưởng và năng suất của cây lạc, bón 60 kg K2O/ha năng suất lạc tăng 23,8% so với nền bón 30 kg K2O/ha (Nguyễn Thị Dần, 1995) Kết quả thử nghiệm một số mô hình bón phân hợp lý trên đất bạc màu của Đoàn Văn Điểm và cs (1995) cho biết: bón kali tăng năng suất từ 1,57 tấn/ha lên 1,78 tấn/ha
Nguyễn Văn Bộ (1999) [20] cho biết: cũng như đối với lúa, bón phân cân đối cho lạc dù trên loại đất nào cũng đều làm tăng năng suất đáng kể Trên đất cát biển, bón cân đối đạm lân (30 kg N 60 - 90 kg P2O5) cho bội thu 2,5 - 3,2 tạ/ha, trên đất bazan bội thu 5,6 - 10 tạ/ha Bội thu do bón kali cao hơn so với bón lân và đạt 3,5 tạ/ha (60 - 90 kg P2O5/ha) Bón cân đối đạm - lân - kali làm tăng năng suất 6 tạ/ha Quy luật tương tự cũng thấy trên đất bạc màu, đất xám, bazan
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kali đến năng suất lạc vụ xuân trên đất bạc màu của Nguyễn Thị Hiền và cs (2001) [16] cho thấy: bón phân kali cho lạc trong vụ xuân trên đất bạc màu Bắc Giang đã có tác dụng làm tăng sự sinh trưởng và phát triển của cây lạc, đồng thời làm tăng sự tích luỹ N, P và K trong thân lá Cũng theo các tác giả này thì trên đất bạc màu, lượng kali bón ở mức 90 kg K2O/ha cho năng suất lạc cao nhất
Kali có hiệu quả cao trên đất bạc màu, các loại đất nghèo dinh dưỡng và
có hiệu lực kém trên đất phù sa, đất thịt hoặc đất cát pha Theo kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, thì kali tốt nhất dùng bón lót với lượng 40 - 60 kg K2O/ha [20] Phân kali có hiệu lực cao đối với lạc trồng trên đất cát thô ven biển, đất bạc màu vùng Trung du Bắc bộ, hiệu lực 1 kg
K2O trong các thí nghiệm là 5 - 11,5 kg quả khô [17]
Theo TS Lê Thanh Bồn với năng suất trung bình 1,5 - 2 tấn/ha lạc quả thì tỷ
lệ dinh dưỡng cân đối cho lạc là 20 - 30 kg N, 60 - 90 kg P2O5, 30 - 60 kg K2O [4]
Trang 38Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ phân bón đạm và kali cho lạc vụ thu đông trên đất gò đồi ở Bình Định của Hoàng Minh Tâm và cộng sự (2012) cho thấy: đối với đất xám bạc màu sử dụng mức bón/ha: 5 tấn phân chuồng + 500
kg vôi và 45 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O; đối với đất feralit sử dụng mức bón/ha: 5 tấn phân chuồng + 500 kg vôi và 30 kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg
K2O, đạt năng suất và cho hiệu quả cao nhất
Theo Hoàng Thị Thái Hòa và cs (2012), trên đất cát biển tỉnh Bình Định kali bón ở mức 60 kg K2O/ha kết hợp với 40 kg N trên nền 90 kg P2O5, 10 tấn phân chuồng và 500 kg vôi/ha đã cho năng suất lạc cao, đồng thời thu được hiệu quả kinh tế cao nhất và cải thiện được độ phì của đất
Theo Hồ Khắc Minh (2014), kết quả nghiên cứu xác định tổ hợp phân cân đối, hợp lý giữa vô cơ với hữu cơ cho lạc trồng trên đất cát biển tỉnh Quảng Bình cho thấy bón phân kali ở mức 80 K2O kết hợp với 40 kg N + 120
kg P2O5 + 500 kg vôi/ha + 10 tấn phân chuồng/ha vừa tăng năng suất và cho hiệu quả kinh tế cao nhất [20]
1.6.2.2 Nghiên cứu về lưu huỳnh cho cây lạc
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Chiến [21] từ năm 2005 đến 2007 trên đất cát biển huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa cho thấy: đối với lạc vụ xuân bón B năng suất hạt lạc tăng 12,8%, bón Zn tăng 12,1%, bón Mn tăng 11,7%, bón Cu tăng 13,4%, bón Mg tăng 14,6%, bón S tăng 18,5%, bón Mo tăng 12,5%; bón kết hợp Mg, S, B năng suất hạt tăng 25,1%, bón kết hợp Mo,
Cu, Mn, Zn năng suất hạt tăng 17,3%, bón kết hợp B, Mo, Zn, Cu, S năng suất hạt tăng 21,4%, bón kết hợp B, Mo, Zn, Cu, S, Mg năng suất tăng 27,0%
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống lạc: Giống LDH.01 được lấy từ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ
- Phân bón kali và lưu huỳnh
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
1- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến một số chỉ tiêu sinh hóa của cây lạc trồng trên đất cát;
2- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến sinh trưởng, phát triển của cây lạc trồng trên đất cát;
3- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến các yếu
tố cấu thành năng suất của cây lạc trồng trên đất cát;
4- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến năng suất và chất lượng của cây lạc trồng trên đất cát;
5- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh đến hiệu quả kinh tế sản xuất lạc trồng trên đất cát
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Công thức thí nghiệm
Công thức 1: Nền + 60 kg K2O + 30 kg S;
Công thức 2: Nền + 90 kg K2O + 30 kg S;
Công thức 3: Nền + 60 kg K2O + 20 kg S;
Trang 40Công thức 4: Nền + 90 kg K2O + 20 kg S;
*Nền phân bón cho 1ha: 8 tấn phân chuồng + 45kg N + 90 kg P2O5 + 9,38 kg CuSO4.5H2O + 1,00 kg (NH4)6Mo7O24.4H2O + 17,81 kg ZnSO4.5H2O + 1,43 kg H3BO3 + 500,0kg vôi bột
- Phơi hạt giống: Trong quá trình bảo quản, hạt giống đã hút ẩm vì thế
trước khi gieo cần phải phơi lại trong nắng nhẹ nhằm làm giảm độ ẩm trong hạt để tăng sức hút nước của hạt, đồng thời kích thích sự hoạt động của các enzim chuyển hóa trong quá trình nảy mầm Phơi quả trong nắng nhẹ trên các nong, nia tre
- Chọn hạt giống để gieo: Chọn những hạt to, mẩy, vỏ lụa sáng, loại bỏ
những hạt lép nhăn nheo, tróc vỏ hay bị trầy xước cơ giới
2.3.3.2 Làm đất
- Cày bừa 2 lần để đất tơi xốp, nhỏ và đủ ẩm Đất được làm sạch cỏ dại
và các tàn dư cây trồng ở vụ trước, được phơi ải kỹ Đất sau khi xử lý phải bằng phẳng, có khả năng giữ nước và thoát nước nhanh, thoáng khí để tạo điều kiện thuận lợi cho hạt nảy mầm