Ngày nay, thếgiới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đó là xu hướng pháttrển mới, dựa trên hệ thống vật lý mạng, là sự kết hợp của công nghệ mới trongcác lĩnh vực vật lý
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 3
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 3
1 Phân công lao động và sử dụng lao động 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Tác dụng 4
1.3 Các hình thức phân công lao động 4
2 Cách mạng khoa học công nghệ và phát triển kinh tế tri thức 5
2.1 Cách mạng khoa học công nghệ 5
2.1.1 Khái niệm 5
2.1.2 Khái quát lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp 5
2.2 Kinh tế tri thức 8
2.2.1 Sự hình thành và bản chất của kinh tế tri thức 8
2.2.2 Đặc điểm của nền kinh tế tri thức 8
II THỰC TRẠNG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM 8
1 Tác động của cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức đến phân công lao động và sử dụng lao động nói chung 8
2 Những cơ hội và thách thức đặt ra cho lao động Việt Nam trong bối cảnh cách mạng khoa học công nghệ và phát triển kinh tế tri thức 11
2.1 Cơ hội 11
2.2 Thách thức 12
3 Đổi mới phân công và sử dụng lao động trong bối cảnh cách mạng khoa học công nghệ và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 15
III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỔI MỚI PHÂN CÔNG VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM 19
1 Đối với chính phủ 19
2 Đối với hệ thống đào tạo và dạy nghề 20
3 Đối với Doanh nghiệp 21
4 Đối với người lao động 21
KẾT LUẬN 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 2MỞ ĐẦU
Các cuộc cách mạng khoa học công nghệ và sự phát triển của kinh tế trithức đã tạo những chuyển biến quan trọng trên phạm vi toàn cầu Ngày nay, thếgiới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đó là xu hướng pháttrển mới, dựa trên hệ thống vật lý mạng, là sự kết hợp của công nghệ mới trongcác lĩnh vực vật lý, số hóa, tự động hóa và sinh học, tạo ra những khả năng hoàntoàn mới và có tác động sâu sắc tới các hệ thống chính trị, xã hội và kinh tế củathế giới
Chỉ trong hơn một thập kỷ trở lại đây, thế giới đã chứng kiến những sựnhảy vọt về công nghệ thông tin, internet và tự động hóa, cách mạng số, pháttriển dựa trên tri thức và trí tuệ nhân tạo
Bên cạnh những ưu điểm và tác động tích cực, cuộc cách mạng côngnghiệp mới cũng đang đặt ra cho các nước, các chính phủ, doanh nghiệp vàngười lao động nhiều vấn đề cần giải quyết và cần chuẩn bị Trong đó vấn đềphân công và sử dụng lao động là vấn đề quan trọng hàng đầu Với mỗi cuộccách mạng khoa học công nghệ, việc phân công và sử dụng lao động có sự khác
biệt rõ rệt, trong phạm vi tiểu luận này của học viên trong môn học Những vấn
đề kinh tế chính trị đương đại, học viên nghiên cứu chủ yếu trong cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển của kinh tế tri thức với Chủ đề tiểu
luận: “Đổi mới phân công và sử dụng lao động trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam”.
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1 Phân công lao động và sử dụng lao động
1.1 Khái niệm
Phân công lao động xã hội là việc chuyên môn hóa người sản xuất, mỗi
người chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm nhất định, hay nói cách khác: Sựphân công lao động xã hội là cách điều chỉnh hạn chế một cách thích ứng những
cá nhân vào những lĩnh vực nghề nghiệp đặc thù
Trình độ phát triển lực lượng sản xuất của một xã hội biểu hiện rõ nhất ởtrình độ phân công lao động xã hội Nói cách khác, sự phát triển lực lượng sảnxuất là điều kiện quyết định trình độ phân công lao động xã hội; đặc biệt là sựphát triển của công cụ lao động Đồng thời, phân công lao động, bản thân nó, tácđộng trở lại đến sự phát triển ngày càng có năng suất cao Trong lịch sử, ở thời
kỳ công trường thủ công, phân công lao động đóng vai trò đòn bẩy mạnh mẽ đốivới sản xuất và tăng năng suất lao động, mặc dù kỹ thuật vẫn dựa trên cơ sở thủcông
Sử dụng lao động: nói đến sử dụng lao động là đề cập đến vấn đề người lao
động và người sử dụng lao động Theo Luật Lao động 2012, người lao động làngười từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng laođộng, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ giađình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cánhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
1.2 Tác dụng
Sự phân công lao động trong xã hội làm cơ sở chung cho mọi nền sản xuấthàng hóa, chính sự phân công lao động trong xã hội làm cho sức lao động trởthành hàng hóa
Sự phân công lao động đặt cơ sở cho việc hình thành những nghề nghiệpchuyên môn, những ngành chuyên môn nhằm nâng cao sức sản xuất
Sự phân công lao động theo vùng với ngành sản xuất chuyên môn hóa đặctrưng sẽ là yếu tố quyết định sự khai thác có hiệu quả và phát huy thế mạnh củavùng Sự phân công lao động trong xã hội khi đã phát triển đến một trình độ nào
đó thì sẽ dẫn đến sự phân công lao động ở tầm vi mô – các xí nghiệp, các hãngsản xuất – điều này làm cho các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm bị chia nhỏ, sảnphẩm được hoàn thiện về chất lượng, dễ dàng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹthuật Sự phân công lao động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làm việc sảnxuất đi vào chuyên môn hóa, nâng cao tay nghề của người sản xuất, tăng năngsuất lao động xã hội
1.3 Các hình thức phân công lao động
Có 3 hình thức phân công lao động:
Phân công lao động theo công nghệ: là phân công loại công việc theo tính
chất quy trình công nghệ, ví dụ: ngành dệt, may cơ khí Hình thức này cho phép
Trang 4xác định nhu cầu công nhân theo nghề tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyênmôn của công nhân
Phân công lao động theo trình độ: là phân công lao động theo mức độ phức
tạp của công việc, hình thức này phân công thành công việc giản đơn và phứctạp (chia theo bậc) Hình thức này tạo điều kiện kèm cặp giữa các loại công nhântrong quá trình sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm, trình độ lành nghề củacông nhân
Phân công lao động theo chức năng: là phân chia công việc cho mỗi công
nhân viên của doanh nghiệp trong mối quan hệ với chức năng mà họ đảm nhận
Ví dụ: công nhân chính, công nhân phụ, công nhân viên quản lý kinh tế, kỹthuật, hành chính… Hình thức này xác định mối quan hệ giữa lao động gián tiếp
và lao động trực tiếp và tạo điều kiện cho công nhân chính được chuyên mônhóa cao hơn nhờ không làm công việc phụ
2 Cách mạng khoa học công nghệ và phát triển kinh tế tri thức
2.1 Cách mạng khoa học công nghệ
2.1.1 Khái niệm
Trong nghiên cứu lý luận, hiện nay có nhiều cách quan niệm về cách mạng
khoa học công nghệ (hay công nghiệp), ở đây, theo cách tiếp cận của kinh tế
chính trị Mác – Lênin có thể thấy rằng, khi lực lượng sản xuất phát triển, tiến bộkhoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất có những thay đổi mang tính độtbiến, triệt để làm thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và kỹthuật, tại một thời điểm nhất định thì khi đó xuất hiện một cuộc cách mạng côngnghiệp
Cách mạng khoa học công nghiệp được hiểu đó là những bước phát triểnnhảy vọt về chất trình độ tư liệu lao động trên cơ sở những phát minh đột phá về
kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát triển của nhân loại kéo theo sự thayđổi căn bản về trình độ phân công lao động xã hội cũng như tạo bước phát triểnnăng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp dụng một cách phổ biến những tính năngmới trong kỹ thuật – công nghệ đó vào đời sống xã hội
Cách mạng khoa học công nghiệp theo nghĩa hẹp: là cuộc cách mạng tronglĩnh vực sản xuất, tạo ra sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế - xã hội, vănhóa và kỹ thuật, xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới Cáchmạng khoa học công nghiệp theo nghĩa hẹp thường dùng để chỉ cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ nhất diễn ra ở Anh, vào nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷXIX Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp này là chuyển từ lao động thủcông, quy mô nhỏ lên lao động sử dụng máy móc, quy mô lớn
Cách mạng khoa học công nghiệp theo nghĩa rộng: là những cuộc cáchmạng diễn ra ngày càng sâu rộng trong lĩnh vực sản xuất, dẫn đến những thayđổi cơ bản các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và kỹ thuật của xã hội loàingười với mức độ ngày càng cao Như vậy, theo nghĩa rộng thì “Cách mạngcông nghiệp” bao quát tất cả các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử đềuđược đặc trưng bằng sự thay đổi về chất của sản xuất và sự thay đổi này đượctạo ra bởi các tiến bộ đột phá của khoa học công nghệ
2.1.2 Khái quát lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp
Trang 5Về mặt lịch sử, cho đến nay, loài người đã trải qua ba cuộc cách mạng côngnghiệp và đang bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạngcông nghiệp 4.0) Cụ thể:
Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất khởi phát từ nước Anh, bắt đầu từ
giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX Tiền đề của cuộc cách mạng này xuấtphát từ sự trưởng thành về lực lượng sản xuất cho phép tạo ra bước phát triểnđột biến về tư liệu lao động, trước hết trong lĩnh vực dệt vải sau đó lan tỏa ra cácngành kinh tế khác của nước Anh Nội dung cơ bản của cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ nhất là chuyển từ lao động thủ công thành lao động sử dụng máymóc, thực hiện cơ giới hóa sản xuất bằng việc sử dụng năng lượng nước và hơinước Những phát minh quan trọng tạo tiền đề cho cuộc cách mạng này là: Phátminh máy móc trong ngành dệt như thoi bay của John Kay (1733), xe kéo sợiJenny (1764), máy dệt của Edmund Cartwright (1785)… làm cho ngành côngnghiệp dệt phát triển mạnh mẽ Phát minh máy động lực, đặc biệt là máy hơinước của James Watt là mốc mở đầu quá trình cơ giới hóa sản xuất Các phátminh trong công nghiệp luyện kim của Henry Cort, Henry Bessemer về lò luyệngang, công nghệ luyện sắt là những bước tiến lớn đáp ứng cho nhu cầu chế tạomáy móc Trong ngành giao thông vận tải, sự ra đời và phát triển của tàu hỏa,tàu thủy… đã tạo điều kiện cho giao thông vận tải phát triển mạnh mẽ
Nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, C.Mác đã khái quáttính quy luật của cách mạng công nghiệp qua ba giai đoạn phát triển là: hiệp tácgiản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp C.Mác khẳng định đó là bagiai đoạn tăng năng suất lao động xã hội; ba giai đoạn phát triển của lực lượngsản xuất gắn với sự củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; đồngthời cũng là ba giai đoạn xã hội hóa lao động và sản xuất diễn ra trong quá trìnhchuyển biến từ sản xuất nhỏ, thủ công, phân tán lên sản xuất lớn, tập trung, hiệnđại
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào nửa cuối thế kỷ XIX đến
đầu thế kỷ XX Nội dung của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai được thểhiện ở việc sử dụng năng lượng điện và động cơ điện, để tạo ra các dây chuyềnsản xuất có tính chuyên môn hóa cao Nội dung của cuộc cách mạng này làchuyển nền sản xuất cơ khí sang nền sản xuất điện – cơ khí và sang giai đoạn tựđộng hóa cục bộ trong sản xuất Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai là sựtiếp nối cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, với những phát minh về côngnghệ và sản phẩm mới được ra đời và phổ biến như điện, xăng dầu, động cơ đốttrong Kỹ thuật phun khí nóng, công nghệ luyện thép Bessemer trong sản xuấtthép đã làm tăng nhanh sản lượng, giảm chi phí và giá thành sản xuất Ngànhsản xuất giấy phát triển kéo theo sự phát triển của ngành in ấn và phát hành sách,báo Ngành chế tạo ô tô, điện thoại, sản phẩm cao su cũng được phát triểnnhanh Sự ra đời của những phương pháp quản lý sản xuất tiên tiến của H.For vàTaylor như dây chuyền, phân công lao động chuyên môn hóa được ứng dụngrộng rãi trong các doanh nghiệp đã thúc đẩy nâng cao năng suất lao động Cuộccách mạng công nghiệp lần thứ hai cũng đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc tronggiao thông vận tải và thông tin liên lạc
Trang 6Cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt đầu từ khoảng những thập niên 60
của thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX Đặc trưng cơ bản của cách mạng này là sửdụng công nghệ thông tin, tự động hóa sản xuất Cách mạng công nghiệp lần thứ
ba diễn ra khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và số hóa vi mô đượcxúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máytính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990) Đến cuối thế
kỷ XX, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học côngnghệ cao Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đã chuyển từ công nghiệpđiện tử - cơ khí, sang công nghệ số Sản phẩm được sản xuất hàng loạt với sựchuyên môn hóa cao, cùng với sự phát triển của cách mạng Internet, máy mócđiện tử, điện thoại di động Những tiến bộ kỹ thuật công nghệ nổi bật trong giaiđoạn này là: hệ thống mạng, máy tính cá nhân, thiết bị điện tử sử dụng côngnghệ số và robot công nghiệp
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được đề cập lần đầu tiên tại Hội chợ
triển lãm công nghệ Hannover (CHLB Đức) năm 2011 và được Chính phủ Đứcđưa vào “Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao” năm 2012 Gần đây tạiViệt Nam cũng như trên nhiều diễn đàn kinh tế thế giới, việc sử dụng thuật ngữcách mạng công nghiệp lần thứ tư với hàm ý có một sự thay đổi về chất tronglực lượng sản xuất trong nền kinh tế thế giới Cách mạng công nghiệp lần thứ tưđược hình thành trên cơ sở cuộc cách mạng số, gắn với sự phát triển và phổ biếncủa Internet kết nối vạn vật với nhau (Internet of Things – IoT) Cách mạngcông nghiệp lần thứ tư được phát triển ở ba lĩnh vực chính là vật lý, công nghệ
số và sinh học Biểu hiện đặc trưng là sự xuất hiện các công nghệ mới có tínhđột phá về chất so với các công nghệ truyền thống
Trong lĩnh vực vật lý thông tin, có nhiều công nghệ mới xuất hiện và nhanhchóng được áp dụng một cách phổ biến Công nghệ in 3D, Big Data,Blockchain… chẳng hạn Công nghệ in 3D là công nghệ tạo ra một đối tượngvật lý bằng cách in theo các lớp từ một bản vẽ hay một mô hình 3D có trước.Cùng với công nghệ in 3D, trong lĩnh vực vật lý còn có sự phát triển của cảmbiến – bộ cảm biến là thiết bị điện tử cảm nhận trạng thái hay quá trình vật lý,hóa học ở môi trường khảo sát và biến đổi thành tín hiệu điện tử để thu thậpthông tin về trạng thái hay quá trình đó Thông tin sau đó sẽ được xử lý để rút ratham số định tính hoặc định lượng, phục vụ cho các nhu cầu nghiên cứu, nhu cầukinh tế - xã hội, môi trường và dân sinh Ngoài ra, trong lĩnh vực vật lý còn có
sự phát triển của công nghệ xe tự hành, hiện đang được thử nghiệm ở giai đoạncuối và sẽ được thương mại hóa trong tương lai gần, khi đó sẽ dẫn đến nhữngthay đổi lớn trong lĩnh vực giao thông vận tải và bảo vệ môi trường
Về công nghệ số nhưng công nghệ nổi bật là Internet kết nối vạn vật, dữliệu lớn, trí thông minh nhân tạo và chuỗi khối Internet phát triển giúp kết nốivạn vật thông qua mạng wifi, mạng viễn thông băng thông rộng (3G, 4G)Bluetooth, Zigbee, hồng ngoại… sẽ hình thành các hệ thống thông minh và các
hệ thống thông minh này kết nối với nhau, để hình thành hệ thống thông minhlớn hợp nhất như: nhà thông minh, văn phòng thông minh, thành phố thôngminh, đô thị thông minh, công nghiệp thông minh, nông nghiệp thông minh…
Dữ liệu lớn (Big Data) là một tập hợp dữ liệu rất lớn và phức tạp, được xử lý để
Trang 7lấy các thông tin thích hợp phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,văn hóa hoặc môi trường Công nghệ Blockchain cho phép một cơ sở dữ liệuđược chia sẻ trực tiếp không thông qua trung gian, trong tương lai Blockchain sẽđược sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: bầu cử, khai sinh, kết hôn, xácnhận tài liệu, văn bằng…
Về công nghệ sinh học, nổi bật là các công nghệ về gen và tế bào, côngnghệ phức hợp y sinh – thông tin (kết hợp thông tin với các bộ phận cơ thểsống) Sự phát triển của công nghệ sinh học tổng hợp trong tương lai sẽ chophép các nhà khoa học tạo ra các AND, cấy ghép để tạo ra những bộ phận thaythế trong cơ thể người, giúp chữa những căn bệnh nan y như ung thư, huyết áp,tiểu đường… từ đó giúp kéo dài tuổi thọ con người, công nghệ gen thậm chí cóthể tạo ra những giống, loài động, thực vật kể cả con người, có thể chống chọiđược với điều kiện môi trường tự nhiên khắc nghiệt Công nghệ gen cũng giúpngành nông nghiệp gia tăng sản lượng lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầugia tăng dân số nhanh chóng
Như vậy, mỗi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện có những nội dungcốt lõi về tư liệu lao động Sự phát triển của tư liệu lao động đã thúc đẩy sự pháttriển của văn minh nhân loại Theo nghĩa đó, vai trò của cách mạng công nghiệp
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thúc đẩy phát triển
2.1.3 Vai trò của cách mạng công nghiệp đối với phát triển
Vai trò của các cuộc cách mạng công nghiệp đối với phát triển có thể đượckhái quát như sau:
Một là, thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
Hai là, thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất.
Ba là, thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển
2.2 Kinh tế tri thức
2.2.1 Sự hình thành và bản chất của kinh tế tri thức
Từ những năm cuối của thế kỷ XX, khoa học và công nghệ có bước pháttriển nhảy vọt, đặc biệt là xuất hiện cách mạng thông tin, cách mạng tri thức và
sự bùng nổ của công nghệ cao làm ra đời nền kinh tế tri thức Nền kinh tế trithức đã cuốn mọi quốc gia, dù là nước phát triển hay đang phát triển
Kinh tế tri thức là lĩnh vực mà ở đó mỗi sản phẩm hay toàn bộ sản phẩmđược tạo bởi nguồn gốc là tri thức chiếm tỷ trọng chủ yếu (70 – 75% trở lên)Bản chất của nền kinh tế tri thức: là nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thứccho phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm cả việc khai thác kho tri thức toàn cầu,cũng như làm chủ, sáng tạo ra tri thức đáp ứng nhu cầu riêng của mình (UNDP –2014) Trong nền kinh tế tri thức, hoạt động chủ yếu nhất là sáng tạo ra tri thức,quảng bá tri thức và sử dụng tri thức, biến tri thức thành giá trị Sức lao động trởthành động lực trực tiếp nhất của sự phát triển
2.2.2 Đặc điểm của nền kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức bao gồm một số đặc điểm sau:
Một là, hoạt động kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức.
Hai là, sáng tạo và đổi mới là động lực phát triển “phát minh trở thành một
nghề đặc biệt”
Trang 8Ba là, hoạt động kinh tế có tính toàn cầu hóa, mạng thông tin là kết cấu hạ
tầng quan trọng nhất
Bốn là, sự di chuyển cơ cấu lao động theo hướng gia tăng số lao động trí
tuệ và dịch vụ Sự chuyển đổi về cơ cấu các ngành kinh tế
Năm là, nền kinh tế dựa trên sự học tập và nhân lực tài năng
Sáu là, tri thức hóa các quyết sách kinh tế.
II THỰC TRẠNG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM
1 Tác động của cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức đến phân công lao động và sử dụng lao động nói chung
Các cuộc cách mạng công nghiệp có những tác động vô cùng to lớn đến sựphát triển lực lượng sản xuất của các quốc gia Và đồng thời, tác động mạnh mẽtới quá trình điều chỉnh cấu trúc và vai trò của các nhân tố trong lực lượng sảnxuất xã hội Về tư liệu lao động, từ chỗ máy móc ra đời thay thế cho lao độngchân tay cho đến sự ra đời của máy tính điện tử, chuyển nền sản xuất sang giaiđoạn tự động hóa, tài sản cố định thường xuyên được đổi mới, quá trình tậptrung hóa sản xuất được đẩy nhanh Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sảnxuất dưới tác động của công nghệ thông tin hiện đại đang tạo ra những biến đổi
to lớn trong phân công lao động xã hội, cụ thể là:
Phân công lao động dưới tác động của công nghệ thông tin đang thay đổitheo hướng tăng lao động trí óc, giảm lao động chân tay, mà điển hình là sự xuất
hiện một dạng lao động mới - lao động thông tin Đây là loại lao động liên quan
trực tiếp đến thông tin, đến các quy trình, như đầu vào, đầu ra, xử lý thông tin.Những người lao động trong lĩnh vực thông tin rất đa dạng, đa ngành nghề; họ
có thể là những nhân viên văn phòng, người lập trình, chuyên gia, kỹ sư, nhànghiên cứu, doanh nhân, nhà phân tích Nhiệm vụ của họ là sản xuất, xử lý,trao đổi thông tin, cung cấp những cơ sở cho việc ra quyết định Đòi hỏi đối vớilao động thông tin là không chỉ nắm vững khả năng thao tác, mà còn phải có khảnăng thích ứng và sáng tạo với những thay đổi liên tục của công việc, nhằm thuđược hiệu quả tối đa Như vậy, phân công lao động trong nền kinh tế mới khôngcòn phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên, ngành nghề được đào tạo,nguồn lao động dồi dào hay lượng tư bản lớn như trước đây, mà ngày càng dựanhiều hơn vào lực lượng lao động có năng lực sáng tạo, khả năng vận dụng kiếnthức, trong đó lao động thông tin là một loại lao động trực tiếp sản xuất ra trithức
Đi kèm với sự xuất hiện của lao động thông tin là sự biến đổi nhanh chóngtrong cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế Việc thu hẹp những ngành nghề trongcác lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và xu hướng mở rộng, phát triển các loạingành nghề mới thuộc lĩnh vực hoạt động dịch vụ tất yếu kéo theo sự thay đổi
về cơ cấu lao động Số lao động trong các lĩnh vực có liên quan đến thông tin và
xử lý thông tin tăng nhanh, đặc biệt là trong các lĩnh vực phần mềm máy tính,nghiên cứu triển khai, phân tích, đo lường, giáo dục - đào tạo và hàng loạt cácngành khác Cơ cấu lao động biến đổi theo hướng tăng đội ngũ lao động chất
Trang 9xám Vai trò của người điều hành sản xuất ngày càng trở nên hết sức quan trọng,quyết định sự thành bại của các công ty, các tổ chức kinh tế Như vậy, ngoàiviệc đem lại những lợi ích to lớn, như thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc,tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều, tạo những cơ hội có việc làm mới thìnền sản xuất mới, với những đòi hỏi khắt khe về năng lực và kỹ năng lao độngcũng sẽ loại trừ những cá nhân không đáp ứng được những yêu cầu đó.
Có thể thấy, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nòng cốt làcách mạng công nghệ thông tin đã góp phần làm biến đổi nội dung và tính chất
của lao động Về nội dung, lao động đang chuyển dần từ lao động thủ công, lao động cơ khí sang lao động thông tin, lao động trí tuệ Về tính chất, lao động
đang biến đổi theo hướng ngày càng mang tính xã hội hoá sâu sắc Lao độngđược xã hội hoá thể hiện ở việc tổ chức sản xuất trực tiếp giữa các đơn vị sảnxuất diễn ra trên một quy mô lớn với sự phân công lao động vừa đảm bảo khảnăng chuyên môn hoá, vừa có khả năng phi chuyên môn hoá một cách rộng rãi
Sự biến đổi nội dung và tính chất của lao động dưới tác động của cuộc cáchmạng trong công nghệ thông tin đặt ra một câu hỏi là, phải chăng bản chất củalao động đang có sự thay đổi? Chúng ta biết rằng, trong các nền sản xuất dựatrên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, lao động là một sự bắt buộc, bịthúc bách bởi những nhu cầu bên ngoài lao động và trở thành cái mà C.Mác gọi
là “lao động bị tha hoá” Ngày nay, với sự thay đổi nội dung và tính chất của laođộng, chúng ta có thể hy vọng rằng, lao động không còn là một thứ nô dịch, laođộng đang dần trở về đúng với bản chất đích thực của nó, tức là lao động đã thực
sự trở thành một nhu cầu, là hoạt động tự do và sáng tạo của con người Côngnghệ thông tin đã và đang tạo tiền đề cho việc thay đổi vị trí, chức năng của conngười trong quá trình sản xuất Với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiềuchức năng mà con người trực tiếp đảm nhận trong chu trình sản xuất trước đâyđược chuyển giao dần cho máy móc Điều này đã giúp con người có thể giảmthiểu thời gian cho các hoạt động vật chất và dành nhiều thời gian hơn cho cáchoạt động tinh thần, sáng tạo và hưởng thụ Con người không còn bị cột chặt vàoguồng máy sản xuất như trong nền kinh tế công nghiệp, mà họ được tự do hơntrong các hoạt động của mình Công nghệ thông tin cùng các công nghệ kháccủa cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang góp phần tạo ra một hệ thống
"khoa học - kỹ thuật - sản xuất" thống nhất Với hệ thống này, lao động ngàycàng mang nhiều nội dung khoa học, trí tuệ và sáng tạo
Song, cần phải lưu ý rằng, điều đó không có nghĩa là những tiến bộ củacông nghệ nói chung và công nghệ thông tin nói riêng là nguyên nhân duy nhấtquyết định sự thay đổi bản chất của lao động Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng, bảnchất của lao động là sáng tạo, nhưng dưới chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất, cái bản chất tốt đẹp đó của lao động đã bị tha hoá Bởi vậy, nếu chỉ căn cứvào sự phát triển của các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mà khẳng địnhtrong nền kinh tế thông tin, lao động đã trở về với bản chất sáng tạo ban đầu của
nó thì chưa thoả đáng Ở điểm này, chúng ta cần phải lưu ý tới quan điểm củathuyết kỹ trị khi thuyết này cho rằng, sự phát triển của kỹ thuật sẽ quyết địnhtoàn bộ sự phát triển của các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Trong thực tế,điều đó đã không diễn ra đúng như vậy; bởi lẽ, trong xã hội vẫn còn tồn tại sự
Trang 10đối kháng về lợi ích giữa người giàu với người nghèo, giữa các nước phát triểnvới các nước kém phát triển.
Mâu thuẫn lớn nhất hiện nay của xã hội tư bản, kể cả các nước tư bản pháttriển cao nhờ công nghệ thông tin như nước Mỹ, vẫn là mâu thuẫn giữa tính chất
xã hội hoá cao độ của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệusản xuất Mặc dù, chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh nhất định trong phânphối và đa dạng hoá các hình thức sở hữu do sự bắt buộc của sản xuất, song bảnchất của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa vẫn không hề thay đổi Dù cho một bộphận dân cư có sự chuyển dời về địa vị xã hội, hoặc được cải thiện về mặt đờisống… thì nhìn tổng thể, quyền lực vẫn thuộc về những nhà tư bản lớn, nhữngnhóm người có khả năng thao túng kinh tế quốc gia, thậm chí cả nền kinh tế thếgiới
Trong nền kinh tế hiện đại, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã phát triểnvượt bậc và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên bình diện quốc tế vẫn còn tồntại khá phổ biến Mặc dù lực lượng sản xuất đã có bước phát triển nhảy vọt vềchất, song quan hệ sản xuất vẫn chưa có những thay đổi tương ứng, phù hợp với
sự phát triển của lực lượng sản xuất cả ở tầm quốc gia lẫn quốc tế Tuy một sốcường quốc tư bản hàng đầu đã có những điều chỉnh trong chính sách phát triển,nhưng đó vẫn chỉ là những cải biến để thích ứng và mang tính cục bộ Nhìn tổngthể, chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất ở nhữngquốc gia này vẫn tiếp tục được duy trì và đây chính là nguồn gốc của những mâuthuẫn gay gắt trong xã hội tư bản Hơn nữa, ngày nay, sự thống trị của sở hữu tưnhân tư bản chủ nghĩa không còn bó hẹp trong các nước tư bản chủ nghĩa, mà đãbao trùm trên phạm vi toàn cầu, thông qua các công ty đa quốc gia, xuyên quốcgia Người nắm giữ các công ty này đều là những tập đoàn tư bản lớn của cácnước tư bản phát triển Họ có đủ tiềm lực để nắm bắt, chiếm lĩnh những thànhtựu mới nhất của khoa học và công nghệ, đặc biệt là những thành tựu của côngnghệ thông tin Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, trong thời đại thôngtin, kinh tế tri thức ngày nay, ai nắm giữ được thông tin người đó sẽ chiến thắng
và giữ quyền thống trị Các nước tư bản phát triển đang làm được điều đó và dovậy, mâu thuẫn giữa con người với con người trong thời đại thông tin ngày naychưa thể bị triệt tiêu Bởi vậy, hoàn toàn không nên ảo tưởng rằng, sự phát triểncủa khoa học và công nghệ hiện đại có thể làm thay đổi được bản chất của chủnghĩa tư bản Chính ở đây, những nghiên cứu sâu hơn về tác động của công nghệhiện đại, trong đó có công nghệ thông tin, trong tương quan với các biến đổi xãhội khác là một đòi hỏi cấp thiết
2 Những cơ hội và thách thức đặt ra cho lao động Việt Nam trong bối cảnh cách mạng khoa học công nghệ và phát triển kinh tế tri thức
Nói đến bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và phát triểnkinh tế tri thức hiện nay đó chính là việc đề cập đến cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ tư Đối với Việt Nam, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cónhững ảnh hưởng to lớn, mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít tháchthức trong vấn đề liên quan đến lao động Việt Nam
2.1 Cơ hội
Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra rất nhiều cơ hội làm việc mới, hứa hẹn
Trang 11khả năng gia tăng năng suất và nâng cao thu thập cho người lao động Cụ thể:
Thứ nhất, Việt Nam hiện vẫn là quốc gia có lợi thế về số lượng lao động
trẻ và lao động giá rẻ Cách mạng 4.0 có thể dẫn đến xu hướng chuyển dịch cácngành công nghiệp truyền thống sử dụng nhiều lao động từ các nước phát triểnsang các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam ( K ergroach, 2017).Nếu như xu hướng chuyển dịch này là rõ ràng thì Việt Nam thì tỷ lệ thấtnghiệp của Việt Nam sẽ không ở mức quá cao Tuy nhiên lợi thế về lao độnggiá rẻ sẽ mất dần đi khi chúng ta dân số dần bị già hoá Do vậy về mặt dài hạn,tăng trưởng cần dựa vào sự gia tăng của chất lượng lao động
Thứ hai, nhiều nhà phân tích cho rằng những cơ hội việc làm mới sẽ được
tạo ra trong cách mạng 4.0 Đặc biệt nhu cầu đối với những lao động có khảnăng kết hợp giữa máy móc với những kiến thức về kỹ thuật điện tử, điềukhiển và thông tin hay chính là kiến thức STEM (Tomas Volek; MartinaNovotnas, 2017) Cuộc cách mạng này sẽ tạo ra những thay đổi trong cơ cấulao động giữa các ngành mà ở đó chúng ta có thể kỳ vọng nhu cầu sử dụng laođộng trong các ngành công nghiệp sản xuất truyền thống sẽ giảm đi trong khinhu cầu lao động trong ngành dịch vụ có sự tăng lên Sự tăng lên của cầu laođộng trong những ngành dịch hứa hẹn sẽ góp phần tăng thu nhập cho người laođộng
Thứ ba, cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra áp lực và đồng thời là cơ hội để
lao động phải Việt Nam không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng cũng như tạo
áp lực đổi mới lên hệ thống giáo dục đào tạo để có thể đáp ứng nhu cầu vềnhân lực trong thời kỳ mới Những cơ hội việc làm mới được tạo ra đòi hỏingười lao động phải có trình độ và kỹ năng tương ứng như các kỹ năng giảiquyết vấn đề, teamwork, giao tiếp, công nghệ thông tin…là những kỹ năng màđại bộ phận lao động Việt Nam đang thiếu và yếu Để đáp ứng được những yêucầu công việc mới đòi hỏi sự nỗ lực của bản thân người lao động và đặc biệt sựđổi mới và phát triển của hệ thống giáo dục đào tạo
Thứ tư, năng suất lao động trong cách mạng 4.0 có xu hướng được cải
thiện do việc giảm nhu cầu sử dụng lao động là con người mà thay bằng máymóc và robots Với công nghệ phát triển, các nhà máy sản xuất có thể tránhđược những lỗi phát sinh bởi máy móc do có khả năng phân tích và dự đoántrước các lỗi kỹ thuật Hiệu quả sản xuất có thể sẽ được cải thiện nhanh hơn docác dịch vụ kho vận được nâng cấp, giảm tiêu hao năng lượng và sử dụngnguyên liệu…, từ đó tiết kiệm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp trong khidoanh thu có xu hướng tăng do đáp ứng được tốt hơn nhu cầu của người tiêudùng Người lao động lúc này được sử dụng một cách hiệu quả hơn và chỉcho những công việc mà thực sự đòi hỏi sự có mặt của con người Năng suấtcủa người lao động tăng lên tạo cơ hội để Việt Nam tạo ra những đột phá trongcải thiện tiền lương và thu nhập cho người lao động
Như vậy nếu Việt Nam có thể tận dụng được những lợi thế này do cáchmạng công nghiệp 4.0 mang lại thì đó sẽ là cú huých rất lớn giúp người laođộng có được những công việc làm tốt hơn, giúp cải thiện năng suất và thunhập của họ
2.2 Thách thức