TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TÂM LINH Ở QUẬN TÂY H
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG HOẠT ĐỘNG
DU LỊCH TÂM LINH Ở QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI
HIỆN NAY
Mã số đề tài: ĐTSV.2020.07
Chủ nhiệm đề tài : Trần Thị Huyền Lớp : ĐH Chính trị học 16A Cán bộ hướng dẫn : TS Đỗ Thu Hường
Hà Nội, 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG HOẠT ĐỘNG
DU LỊCH TÂM LINH Ở QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
7 Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ DU LỊCH TÂM LINH 6
1.1 Khái quát về Phật giáo và giá trị văn hóa Phật giáo ở Việt Nam 6
1.1.1 Khái quát quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam 6
1.1.2 Giá trị văn hóa Phật giáo ở Việt Nam 9
1.2 Khái quát về du lịch tâm linh 15
1.2.1 Khái niệm du lịch, tâm linh và du lịch tâm linh 15
1.2.1.1.Khái niệm du lịch 15
1.2.1.2 Khái niệm tâm linh 16
1.2.1.3 Khái niệm du lịch tâm linh 17
1.2.2 Đặc điểm của du lich tâm linh ở Việt Nam 18
Tiểu kết chương 1: 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TÂM LINHTẠI QUẬN TÂY HỒ HIỆN NAY 22
2.1 Khái quát về quận Tây Hồ 22
2.1.1 Giới thiệu về quận Tây Hồ 22
2.1.2 Tình hình Phật giáo ở quận Tây Hồ 23
2.1.3 Tiềm năng và điều kiện để khai thác giá trị văn hóaPhật giáo trong phát triển Du lịch tâm linh tại quận Tây Hồ 25
2.2 Thực trạng khai thác giá trị văn hóa Phật giáo trong hoạt động du lịch tâm linh tại Quận Tây Hồ 28 2.2.1.Khai thác các giá trị văn hóa Phật giáo tại các ngôi chùa ở quận Tây Hồ 28
Trang 42.2.1.1.Du lịch tham quan 28
2.2.1.2 Du lịch tham quan kết hợp với thiện nguyện 35
2.2.1.3 Khai thác các giá trị văn hóa Phật giáo quận Tây Hồ tại các lễ hội Phật giáo 37
2.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lực phục vụ du lịch tâm linh tại quận Tây Hồ hiện nay 38
2.2.2.1 Cơ sở vật chất của dịch vụ lưu trú 38
2.2.2.2 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch tâm linh 40
2.3 Đánh giá thực trạng khai thác giá trị văn hóa Phật giáo tại Quận Tây Hồ 41 2.3.1 Những mặt đạt được 41
2.3.2 Những mặt hạn chế 47
*Tiểu kết chương 2: 50
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DU LỊCH TÂM LINH Ở QUẬN TÂY HỒ HÀ NỘI HIỆN NAY 51
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc khai thác giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ du lịch tâm linh tại Quận Tây Hồ Hà Nội 51
3.1.1 Đối với quản lý nhà nước 51
3.1.2 Đối với các chùa 53
3.1.3 Đối với khách du lịch 54
3.2 Một số giải pháp và kiến nghị phát huy giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ du lịch tâm linh tại Quận Tây Hồ, Hà Nội 55
3.2.1 Một số giải pháp 55
3.2.1.1.Định hướng bảo tồn, và khai thác giá trị văn hóa Phật giáo Hà Nội 55 3.2.1.2.Giải pháp về công tác tổ chức, quản lý 58
3.2.1.3 Giải pháp về xây dựng, quảng bá các chuyên tour du lịch đến chùa 59 3.2.1.4 Nâng tầm lễ hội và tăng cường khai thác giá trị văn hóa Phật giáo trong các lễ hội Phật giáo tại Quận Tây Hồ Hà Nội 60
3.2.2 Khuyến nghị 62
Tiểu kết chương 3: 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ II sau công nguyên và gắn bó mật thiết với lịch sử dân tộc ta Tuy là một tôn giáo ngoại sinh nhưng Phật giáo trong quá trình hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, đã thực sự gần gũi, thân thiết với người dân Việt Nam Theo dòng lịch sử của dân tộc, Phật giáo
đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh người Việt Nam
Đặc biệt Hà Nội là một trong những trung tâm Phật giáo của nước ta trong lịch sử (xa nhất có thể biết là sự có mặt của chùa Khai quốc vào thể kỷ VI – nay
là chùa Trấn Quốc) cũng như hiện tại (với chùa Quán Sứ vào nửa đầu thế kỷ XX – nơi đặt trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam) Phật giáo Hà Nội trong dòng chảy văn hóa này đã tạo nên những nét đặc trưng riêng, thấm đẫm tinh thần Phật giáo trong lối sống, ứng xử của con người Hà thành Giá trị văn hóa Văn hóa Phật giáo Hà Nội được thể hiện qua những ngôi chùa, trong nghệ thuật Phật giáo
và trong những lễ hội chùa đặc sắc, mang lại sức hút thúc đẩy du lịch phát triển Đặc biệt là kể từ 1/8/2008 khi tỉnh Hà Tây sát nhập vào Hà Nội thì số lượng di tích lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng của Hà Nội trở thành lớn nhất cả nước (Hà Nội đứng đầu cả nước về số lượng di tích Việt Nam với 3840 di tích trên tổng số gần 40.000 di tích Việt Nam trong đó có 1164 di tích trên tổng số gần 3500 di tích cấp quốc gia ở Việt Nam) Trong các di tích đó thì các ngôi chùa của Phật giáo đóng góp nhiều nhất Ngoài ra, thủ đô cũng có rất nhiều các lễ hội truyền thống gắn liền với sinh hoạt Phật giáo.Đó là điều mà ngành du lịch Hà Nội nói riêng
và du lịch Việt Nam nói chung cần tiếp tục khám phá và thấu hiểu những giá trị quý báu của văn hóa Phật giáo để khai thác tốt hơn
Quận Tây Hồ với 18 ngôi chùa lớn nhỏ tọa lạc trên 8 phường, đặc biệt những ngôi chùa xung quanh Hồ Tây là di tích lịch sử nổi tiếng trong và ngoài nước như chùa Kim Liên được đánh giá là một trong 10 di tích kiến trúc cổ đặc sắc nhất Việt Nam và là Bông Sen vàng trên mặt nước Tây Hồ Như vậy với những điều kiện những giá trị văn hóa Phật giáo Hà Nội nói chung và quận Tây
Hồ nói riêng thì du lịch tâm linh trở thành một loại hình du lịch quan trọng của
Trang 6thành phố Mặc dù hiện nay nguồn tài nguyêndu lịch tâm linh Phật giáo của quân Tây Hồ phong phú nhưng lại chưa được nghiên cứu thật đầy đủ, sản phẩm
du lịch tâm linh Phật giáo chưa được khai thác có hiệu quả Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc giới thiệu với du khách trong và ngoài nước về những giá trị văn hóa Phật giáo tại quân Tây Hồ nơi ngôi trường
mà tôi đang học, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa Phật giáo Hà Nội nói chung, từ đó thúc đẩy việc khai thác những giá trị này, tương xứng với tiềm năng và lợi thế của du lịch Hà Nội và quận Tây Hồ Trên
cơ sở đó tôi lựa đề tài “Giá trị văn hóa phật giáo trong hoạt động du lịch tâm linh ở quận Tây Hồ, Hà Nội hiện nay”
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Cho đến nay các công trình nghiên cứu về vấn đề văn hóa và văn hóa Phật giáo ở Việt Nam rất phong phú như: Nguyễn Đăng Duy với Văn hóa tâm linh; Văn hóa tâm linh Nam Bộ; Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; Mai Thanh Hải với Tôn giáo thế giới và Việt Nam; Nguyễn Duy Hinh với Người Việt Nam với Đạo giáo; Tâm linh Việt Nam; Hồ Văn Khánh với Tâm hồn - khởi nguồn cuộc sống văn hóa tâm linh, Phan Ngọc với Bản sắc văn hóa Việt Nam; Minh Chi với Phật giáo và tâm linh; tác giả Văn Quảng với Văn hóa tâm linh Thăng Long - Hà Nội các công trình đã nghiên cứu về khái niệm văn hóa, cấu trúc văn hóa, văn hóa tâm linh và những giá trị của văn hóa Phật giáo tuy nhiên các công trình chưa đi sâu vào giá trị văn hóa Phật giáo với phát triển du lịch tâm linh hiện nay
Về các công trình, đề tài nghiên cứu về du lịch văn hóa tâm linh ở Việt Nam như: Nguyễn Thị duyên với đề tài Nghiên cứu phát triển du lịch tâm linh tỉnh Nam Định trong công trình này tác giả đã phân tích tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch tâm linh ở tỉnh Nam Định và đưa ra một số giải pháp để phát triển du lịch tâm linh ở tỉnh này
Công trình nghiên cứu tác giả Nguyễn Trùng Khánh với đề tài Nghiên cứu loại hình du lịch tâm linh ở Việt Nam, tác giả đã phân loại du lịch tâm linh trên
cơ sở nguồn tài nguyên và động cơ du lịch, đồng thời xây dựng được cơ sở lý
Trang 7thuyết trên phương diện du lịch cho những nghiên cứ chi tiết hơn như nghiên cứu phát triển du lịch gắn với Phật giáo, tín ngưỡng dân gian
Luận văn Khai thác văn hóa Phật giáo Khmer phục vụ phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh của Hà Thế Linh, công trình nghiên cứu này tác giảđã phân tích những giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch tâm linh ở tỉnh Trà Vinh
và đưa ra những giải pháp nhằm khai thác loại hình du lịch này phát triển một cách bền vững trong tương lai
Về vấn đề du lịch tâm linh ở Hà Nội, đã có một số công trình nghiên cứu như: Nguyễn Vinh Phúc với Du lịch Hà Nội hướng tới 1000 năm Thăng Long, Nguyễn Phạm Hùng với Tượng đài Hà Nội và du lịch văn hoá, Du lịch tôn giáo
và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, Khai thác món ăn dân tộc trong các khách sạn ở Hà Nội, Tiềm năng du lịch phố cũ Hà Nội, Du lịch đêm Hà Nội; Đa dạng văn hóa và sự phát triển du lịch ở Việt nam; Đoàn Thị Thùy Trang đề tài Tìm hiểu hoạt động du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội (khảo sát trên địa bàn quận Đống Đa) và Trương Sỹ Tâm với đề tài Nghiên cứu phát triển loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) Đây là những công trình đã nghiên cứu đến những giá trị văn hóa Hà Nội nói chung, văn hóa Phật giáo nói riêng và đã đưa ra những tiềm năng về loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng quận huyện trên địa bàn Hà Nội
Tuy nhiên về công trình nghiên cứu về giá trị Phật giáo đối với việc phát triển du lịch tâm linh ở Hà Nội và quậnTây Hồ chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp tuy nhiên những công trình là cơ sở lý luận để tác giả tiếp tục nghiên cứu giá trị Phật giáo với phát triển du lịch tâm linh ở Quận Tây Hồ hiện nay
3 M ục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 M ục đích của đề tài
Khảo sát, làm rõ thực trạng việc khai thác những giá trị văn hóa Phật giáo trong du lịch tâm linh ở Hà Nội từ năm 2010 đến nay Từ đó đềxuất các giải pháp kiến nghị nhằm khai thác và bảo tồn giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ phát triển du lịch quận Tây Hồ
Trang 83.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Hà Nội tại
quận Tây Hồ, du lịchtâm tinh
- Làm rõ thực trạng thực trạng việc khai thác những giá trị văn hóa Phật giáo trong du lịch tâm linh ở quận Tây Hồ
- Rút ra nhận xét và đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm khai thác và
bảo tồn giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ phát triển du lịch ở quận Tây Hồ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu
Những giá trị văn hóa Phật giáo ở quận Tây Hồ như kiến trúc, điêu khắc,
lễ hội và thực trạng khai thác những giá trị này trong du lịch tâm linh
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
V ề không gian: Chủ yếu tập trung nghiên cứu nhữnggiá trị văn hóa Phật
giáo ở quận Tây Hồ
V ề thời gian: Nghiên cứu từ năm 2017 đến nay khi Luật du lịch được
thông qua
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Là phương pháp chính được sử
dụng trong đề tài Trên cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn khác nhau có liên quan tới đề tài nghiên cứu, người viết sẽ xử lý, chọn lọc
để có những kết luận cần thiết, có được tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu
nhằm có một cái nhìn tổng quan nhất về loại tài nguyên giá trị còn đang bị bỏ
ngỏ này
Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: Phương pháp này giúp định hướng, thống kê, phân tích để có cách nhìn tương quan, phát hiện ra các yếu tố và sự ảnh hưởng của yếu tố tới hoạt động du lịch trong đề tài nghiên
cứu; việc phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin và số liệu mang lại cho đề tài cơ sở trong việc thực hiện các mục tiêu dự báo, các định hướng và giải phápphát triển du lịch trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 9- Các phương pháp liên ngành như chính trị học, tôn giáo học, xã hội học, sử
học
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu tiềm năng và thực trạng khai thác giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch văn hóa tâm linh của quận Tây Hồ và từ đó đưa ra các giải pháp mang tính thực tế nhằm khai thác tài nguyên du lịch văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch tâm linh một cách hiệu quả
7 K ết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề
tài có kết cấu chủ yếu gồm 3 chương
Trang 10CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ DU LỊCH
TÂM LINH 1.1 Khái quát về Phật giáo và giá trị văn hóa Phật giáo ở Việt Nam
1.1.1 Khái quát quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo là một tôn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ ra đời từ thế kỷ VI trước công nguyên với nội dung cơ bản là triết lý nhân sinh về nỗi khổ của con người
và cách tu luyện diệt khổ, giải thoát Cốt lõi của triết lý đó là tứ diệu đế: khổ đế, diệt đế, tập đế và đạo đế Phật giáo chủ trương bình đẳng giữa các giai tầng xã hội và đề cao lòng từ bi bác ái Từ rất sớm, Phật giáo đã lan toả hoà bình đến các miền đất rộng lớn, nhất là ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á trong đó có Việt Nam
Theo nhiều công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam Phật giáo
du nhập vào nước ta từ đầu công nguyên.Đáng chú ý trong thời kỳ đầu chủ yếu
sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam trực tiếp từ Ấn Độ sang bằng đường biển Một số tăng sỹ Ấn độ và Trung Á sang truyền giáo ở Việt Nam như: Marajavaka, K’sudara đến Việt Nam, sau đó là Khương Tăng Hội, Lương Cương, tiếp đó Dharmadeva, dưới thời vua Asoka đã có những tăng đoàn truyền giáo từ Ấn Độ sang Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam
Đến thế kỷ V, tại Việt Nam Phật giáo đã được truyền đến nhiều nơi Đã xuất hiện những nhà sư Việt Nam có danh tiếng như: Huệ Thắng, Đạo Thiền, Đạo Cao và Pháp Minh
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ thế kỷ VI đến đến thế kỷ X đa số các công trình vẫn coi là giai đoạn truyền giáo Tuy nhiên, có thể thấy từ thế kỷ VI, ảnh hưởng của các nhà truyền giáo Ấn Độ giảm dần, trong khi đó các nhà truyền giáo Trung Quốc tăng lên, nhất là một số thiền phái trung Quốc du nhập ảnh hưởng rõ nét tại Việt Nam như: Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi với 18 đời và 29 vị
sư tổ, kể từ người đầu tiên là Pháp Hiền (626) đến người cuối cùng là Y Sơn (1216), Thiền phái Vô Ngôn Thông với 15 đời và 40 vị sư tổ, kể từ người đầu tiên là Cảm Thành (860) đến người cuối cùng là Ứng Vương (1287)
Trang 11Trong gần mười thế kỷ đầu truyền bá vào Việt Nam mặc dù trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược và đô hộ nhưng do điều kiện hiện thực tương hợp, Phật giáo đã du nhập một cách hoà bình vào xã hội Việt Nam Bước đầu Phật giáo đã tạo ảnh hưởng trong nhân dân và có những chuẩn bị cho sự phát triển mới trong giai đoạn đất nước độc lập tự chủ
Việc nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ sau một ngàn năm Bắc thuộc đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển một bước mới Từ thế kỷ X Phật giáo đã trở thành quốc giáo Tuy vậy nó vẫn mang đậm yếu tố dân gian Ở kinh
đô Hoa Lư chùa chiền xuất hiện nhiều chùa như chùa Bà Ngô, chùa Tháp…và nhiều cột kinh Phật, hình tượng Phật đã quen thuộc với người Việt Nam
Từ thế Kỷ X - XIV dưới thời Lý - Trần, Phật giáo phát triển đến mức cực thịnh, hầu hết các đời vua đều sùng Phật, xây dựng chùa tháp, tô tượng, đúc chuông, dịch kinh phật Đông đảo quần chúng nô nức theo Phật giáo, dân chúng quá nửa là sư Rất nhiều chùa, tháp có quy mô lớn với kiến trúc độc đáo như chùa Phật Tích, chùa Diên Hựu, chùa Phổ Minh, chùa Quỳnh Lâm… Giai đoạn này Phật giáo có vai trò rất lớn đối với văn hoá (như thơ ca, kiến trúc, điêu khắc), đối với đường lối đối ngoại, đặc biệt Phật giáo có vai trò lớn đối với những thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược chống Tống thời Lý và ba lần chống quân Nguyên Mông thời Trần
Sang thế kỷ XV, cùng với sự xác lập của triều đình phong kiến nhà Lê đã tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo Mất vị trí quốc giáo nhưng Phật giáo vẫn lan toả trong tầng lớp bình dân và những làng quê
Thời kỳ biến động thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII cũng là thời kỳ hậu Nho, Phật giáo lại được sùng mộ Thế kỷ XVII, vua Quang Trung có quan tâm chấn hưng Phật giáo, đã xuống chiếu xây cất chỉnh đốn các chùa lớn như chùa Bút Tháp, Tây Phương, Kim Liên, Keo, Hương Tích, Trấn Quốc…
Sang thế kỷ XIX, thời Nguyễn Phật giáo vẫn được phát triển nhưng dưới
sự kiểm soát của nhà nước Đầu thế kỷ XX, đất nước rơi vào tay thực dân Pháp Trước trào lưu ảnh hưởng phương Tây đến cả phương Đông trong đó có Việt Nam Đã dẫn đến phong trào chấn hưng Phật giáo, Phật giáo từ đó mới bắt đầu
Trang 12khởi sắc Cũng từ đây Phật giáo đi vào hoạt động có tổ chức khác với sự rời rạc, lỏng lẻo trước đó Một loạt tổ chức Phật giáo ra đời trong thời kỳ này ở ba miền, nhưng trong đó có 6 tổ chức quan trọng của tăng ni và cư sỹ, đó là:
Ở Miền Nam có hai tổ chức: Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học do nhà sư Khánh Hòa lập năm 1930 và Hội Tăng già Nam Việt lập tháng 6 năm 1951
Ở Miền Trung có hai tổ chức: An Nam Phật Học Hội do ông Lê Đình Thám lập năm 1932 và Hội Tăng già Trung Việt thành lập năm 1949
Ở Miền Bắc có hai tổ chức:Hội phật giáo bắc kỳ do ông Nguyễn Năng Quốc lập năm 1934 và Hội chỉnh lý Tăng ni Bắc Việt do nhà sư Tố Liên lập năm
1949, sau nay năm 1950 đổi thành hội Tăng già Bắc Việt
Sau 1954, đất nước bị chia cắt, tình hình Phật giáo ở hai miền có sự khác nhau
Ở miền Bắc, tháng 3 năm 1958, “Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam” ra đời đã quy tụ giới Phật giáo miền Bắc trong một tổ chức duy nhất, vừa hoạt động tôn giáo, vừa hoạt động yêu nước Có thể nói đây là bước chuyển quan trọng trong tiến trình gắn bó với dân tộc của giới phật tử miền Bắc, Phật giáo có điều kiện chuyển mình
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước hòa bình độc lập thống nhất
đã tạo cơ duyên rất thuận lợi cho giới Phật giáo thực hiện một Phật sự lớn đã đặt
ra từ lâu Sau hai năm chuẩn bị, tháng 11 năm 1981, Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo đã tổ chức tại thủ đô Hà Nội với 165 đại biểu tăng ni, cư sỹ trong cả nước đã về dự Đại hội đã tổ chức ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông qua Hiến chương và chương trình hoạt động của giáo hội với đường lối "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội" và bầu ra Hội đồng Chứng minh gồm 50 vị hòa thượng; Hội đồng Trị sự gồm 50 vị tăng ni và cư sỹ tiêu biểu là cơ quan lãnh đạo của Giáo hội Sự kiện này cực kỳ trọng đại trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
Thống nhất Phật giáo và việc ra đời Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đáp ứng tình cảm, nguyện vọng của tuyệt đại đa số tăng ni, phật tử, lại được đảm bảo bằng chính sách tôn trọng tự do tin ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã không ngừng trưởng thành ngày càng
Trang 13khẳng định vị trí của mình trong lòng dân tộc Hiện nay tổ chức Giáo hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được xây dựng theo cơ cấu gồm cấp trung ương, cấp tỉnh, huyện và cơ sở, trong đó cấp trung ương và cấp tỉnh giữ vài trò chủ chốt, ở cấp trung ương có Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự
Tính đến năm 2019 thì ở Việt Nam cóTăng Ni: 53.941 Tăng Ni, gồm: 38.629 Bắc tông; 8.574 Nam tông Khmer, 1.754 Nam tông kinh (1.100 chư Tăng, 654 Tu nữ); 4.984 Khất sĩ; Khoảng gần 50 triệu tín đồ và những người có niềm tin yêu mến Đạo Phật Có18.466 Tự viện, gồm: 15.846 Tự viện Bắc Tông;
454 chùa Nam Tông Khmer; 106 chùa Nam tông Kinh; 541 Tịnh xá, 467 Tịnh Thất, 998 Niệm Phật đường, 54 Tự viện Phật giáo Người Hoa [5]
1.1.2 Giá trị văn hóa Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo truyền vào Việt Nam đến nay đã khoảng 20 thế kỷ, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận một cách trân trọng có chọn lọc và đã trở thành tôn giáo của dân tộc trên cơ sở đạo đời không thể phân ly Trong suốt hơn hai ngàn năm lịch sử Phật giáo luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của xứ sở và có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước ngay từ buổi đầu
Sự gắn bó lâu đời giữa Phật giáo và dân tộc đã tạo cảm hứng cho nhà thơ
Hồ Dzếnh viết nên ý thơ”
“Trang sử Phật,
Đồng thời là trang sử Việt Nam
Trải bao độ hưng suy
Có nguy mà chẳng mất…” [11, 58]
Có một đặc điểm là, bất kỳ dân tộc nào cũng có nền văn hóa riêng của mình, không ai có quyền phủ nhận, bác bỏ hay coi thường hoặc chụp lên nó một nền văn hóa khác Dân tộc Việt Nam là một dân tộc vốn có một nền văn hóa lâu đời Là một hệ tư tưởng không giáo điều, khiêm tốn khép mình, nên khi vào nước ta Phật giáo sẵn sàng tiếp thu truyền thống bản địa, không buộc người Việt phải từ bỏ những gì vốn có trong nền văn hóa bản xứ Do đó, nó đi sâu vào tâm hồn của con người một cách tự nhiên Về phía dân tộc, dĩ nhiên là nhận thức
Trang 14rằng cần tiếp thu Phật giáo để làm phong phú thêm đời sống văn hóa của mình Hơn thế nữa, dân tộc ta luôn phải đối mặt với âm mưu đồng hóa văn hóa của kẻ thù phương Bắc, tư tưởng Phật giáo sau khi đã bản địa hóa, kết hợp những yếu
tố dân tộc là bức tường thành kiên cố, chặn đứng mọi sự tiến công, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Trong quá trình tồn tại và phát triển Phật giáo đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến nền văn hóa dân tộc, đặc biệt trên các sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật, kiến trúc
Phật giáo tuy là một tôn giáo ngoại nhập nhưng Phật giáo có vai trò to lớn đến đời sống sinh hoạt tín ngưỡng, phong tục tập quán của người Việt Nam cho đến nay Từ lâu, những ngôi chùa đã trở nên quen thuộc, trở thành một phần không thể thiếu được với cộng đồng làng xã Việt Nam Hiện nay, hơn bao giờ hết, các ngôi chùa vẫn phát huy được vai trò tích cực của mình trong việc đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, văn hóa tinh thần của nhân dân Có nhiều ngôi chùa hay quần thể di tích Phật giáo đã trở thành những trung tâm văn hóa vùng, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tham quan vãng cảnh của nhân dân cả nước và du khách nước ngoài như: di tích Chùa Hương, danh thắng Yên Tử, Thiền viện Tây Thiên, chùa Mía, chùa Dâu, chùa Keo các ngôi chùa Khmer, không những thế ngôi chùa còn đi vào thơ cả của nhiều thi sĩ về cảnh đẹp nên thơ của các ngôi chùa
Trong nhân dân vẫn lưu truyền câu nói "trẻ vui nhà, già vui chùa" Nhưng ngày nay lại khác, trong những dịp lễ hội sóc hay vọng có rất đông người đi lễ chùa thuộc hầu hết các lứa tuổi, đặc biệt là tầng lớp thanh niên Đây là một điều đáng mừng Điều này có tác dụng giáo dục to lớn, bởi vì đến với ngôi chùa là đến với không gian văn hóa tâm linh tôn nghiêm, thành kính, từ đó mỗi người đều tìm thấy cho mình những nhu cầu tinh thần cần thiết Đối với thế hệ trẻ đây thực sự là cơ hội tốt để họ giữ gìn một hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống
Có thể thấy rằng kho tàng Phật giáo được lưu giữ đến ngày nay là hệ thống chùa chiền Các chùa Phật giáo Việt nam với những nét kiến trúc đặc trưng của mỗi thời đại là minh chứng cụ thể cho lịch sử phát triển của đạo Phật Việt Nam Kiến trúc Phật giáo Việt Nam vừa chịu ảnh hưởng của kiến trúc Phật
Trang 15giáo Ấn Độ lại vừu chịu ảnh hưởng kiến trúc Phật giáo Trung Quốc Với sự ảnh hưởng của hai dòng kiến trúc nay đã tạo cho chùa Việt Nam sự đa dạng về kiến trúc, điêu khắc Chùa Việt mô phỏng chùa Hang Ấn Độ nên hình thành kiến trúc chuôi vồ rất phổ biến trong chùa làng Vốn mô hình một hang đá như Ajanta (Ấn Độ) gồm có một tiền đường và một hậu cung đặt biểu tượng Phật và một số tăng phòng vây quanh, chuyển sang kiến trúc nhà gỗ nhà ở thì gian nhà ba gian được nối thêm một chuôi vồ, các thiền phòng thành những hành lang nhà tổ Ở mỗi miền của nước ta chùa ngoài những đặc điểm chung giống nhau thì lại có những đặc điểm rất riêng về kiến trúc, điêu khắc
Ở miền Bắc, với lợi thế thiên nhiên có những đặc điểm tự nhiên hùng vĩ,
có núi có sông, có chỗ nhô cao có nơi trũng thấp, nhiều cảnh đẹp sơn thủy hữu tình thích ứng với việc dựng chùa Các ngôi chùa thường được dựng tại những nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp, ngoài ra còn phải có môi trường xã hội thuận tiện và cho các sư tăng tu dưỡng và giáo hoá chúng sinh Những điều kiện tự nhiên hòa hợp với điều kiện môi trường xung quanh tạo nên thế tổng thể kiến trúc chùa nổi bật trên trong toàn cảnh
Kiến trúc mở đầu của một ngôi chùa là Tam quan với 3 cửa biểu thị 3 cách nhìn về thế gian của Phật giáo Qua cổng tam quan là vào bên trong chùa là Tam bảo với ba tào Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện phần lớn gắn với nhau theo kiểu chữ Công hoặc chữ Đinh tạo nên một không gian nội thất chung, cũng có khi theo kiểu chữ Tam nhưng lại xây nối hai đầu thành chữ Công Ngoài
ra có nhiều khu vực phụ mà đa phần là hành lang ở hai bên và thường có hậu ở đường đằng sau, để tất cả quy thành hình chữ Quốc Hành lang thường bày tượng La Hán và để những đồ phục vụ lễ hội hàng năm Hậu đường có thể chia từng phần làm nhà Tổ, nhà Tăng và điện Mẫu Những khu nhà này có thể xây riêng ở bên trong hoặc bên cạnh khung hình chữ quốc Một số chùa thờ thần địa phương và Thánh hình thành kiểu kiến trúc tiền Phật hậu thần hay tiền Phật hậu Thánh
Một kiến trúc không thể thiếu khi nói đến kiến trúc chùa là Tháp Tháp Phật giáo chia làm hai loại: tháp mộ và tháp chùa hay tháp điện Kiến trúc tháp
Trang 16nổi tiếng như: Tháp chùa Dâu, chùa Một Cột, Tháp phổ Minh, Tháp Báo Thiên vòi vọi…
Các ngôi chùa Khmer ở miền Nam có một hình tứ giác nhiều tầng bậc, chỉ thờ một tượng Thích Ca và trang trí nhiều bích họa kể về lịch sử tu hành của Phật Tổ Trên các thềm bậc có những tháp vây quanh và một cửa cổng rất đặc sắc với hai apxara hai bên góc như chùa Xvay Ton ở An Giang Kiến trúc chùa như vậy làm người ta liên tưởng đến cổng tháp Sanchi nổi tiếng của Ấn Độ
Chùa ở vùng Huế được xây dựng dưới thời Nguyễn, bên cạnh các hương
tự và quan tự như Thiên Mụ, Thánh Duyên, Giác Hoàng, Diệu Đế…Những ngôi chùa này pha nét kiến trúc cung đình
Trong các ngôi chùa cần phải nói đến một số lượng rất lớn tượng Phật có giá trị về nghệ thuật điêu khắc, trong đó có những pho tượng đẹp nổi tiếng, như tượng A Di Đà (chùa Phật Tích), tượng Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn (chù Mễ Sở và chùa Bút Tháp), bộ tượng La Hán (chùa Tây Phương)
Đạo Phật hòa nhập vào nền văn hóa của dân tộc Việt Nam như sữa hòa với nước, đến mức không phân biết được đâu là yếu tố đạo Phật, đâu là yếu tố của dân tộc Đặc biệt là ngôi chùa - Chùa không phải là của riêng ai mà là của nhân dân, là trung tâm văn hóa của làng, của nhiều làng hay của một vùng, nếu
ở đó là một ngôi chùa lớn, một tổ đình Chùa là nơi tổ chức các lễ hội tôn giáo, đồng thời là trường học, là nhà thương, là nơi tạm nghỉ của khách qua đường, thậm chí còn là nơi trọ thường xuyên của những của những kẻ không nhà, không cửa
“Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông” [20,58]
Đúng vậy ngôi chùa hiện nay không chỉ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân mà còn là nơi lưu giữ những giá trị về mặt kiến trúc và nghệ thuật rất đặc sắc của cha ông ta cho đến nay nó vẫn còn những giá trị đối với xã hội Việt Nam hiện nay
Phật giáo du nhập vào Việt Nam tạo ra nền văn học, nghệ thuật Phật giáo đặc sắc, sự ảnh hưởng phật giáo không ngừng ở phạm vi từ ngữ mà nó còn lan
Trang 17rộng, ăn sâu vào những ca dao dân ca và thơ ca của người dân Việt Nam Ca dao dân ca là một thể loại văn vần truyền khẩu, dễ hiểu trong dân gian, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, bao gồm nhiều đề tài khác nhau, và đều thấm nhuần tư tưởng đạo lý của Phật giáo Có thể nói trong tâm hồn của mỗi con người Việt Nam đều có chứa đựng ít nhiều triết lý nhà phật và những hình ảnh
về ngôi chùa, về phật Danh từ chuyên môn của Phật Giáo như: trí tuệ, từ bi, thiện ác, nhân quả, nghiệp báo nếu tách rời ra khỏi nền văn học Việt Nam thì văn hóa Việt tộc trở nên khô cằn không còn sức sống tinh anh nữa Chúng ta cũng có thể đơn cử ra đây một vài câu tục ngữ để chứng minh giá trị sự hội nhập của văn hóa Phật Giáo trong văn hóa Việt, điển hình như những từ ngữ: “Tội nghiệp quá!”; “Hằng hà sa số”, “Ta bà thế giới”, ”Lù khù như ông Cù độ mạng”
Ca dao là những câu hò tiếng hát theo giọng điệu tự nhiên, phát xuất từ tâm hồn mộc mạc đầy tình cảm của người bình dân Việt Nam, được lưu truyền trong dân gian Những câu ca dao này mang tính chất tư tưởng, tình cảm của dân tộc nhằm diễn tả luân lý, đạo đức, tình ý, phong tục, tập quán, trạng thái thiên nhiên, đặc tính xã hội của từng thời kỳ Tư tưởng Phật Giáo thâm nhập vào ca dao Việt Nam tự bao giờ và tản mát khắp tâm hồn của người bình dân, không có ranh giới thời gian cũng như không có khu biệt không gian Điển hình như những bài ca dao sau đây đượm nhuần tư tưởng của Phật Giáo:
Ai ơi! Hãy ở cho lành,
Kiếp này không được, để dành kiếp sau
Hay để nói về triết lý vô thường của kiếp người:
Cuộc đời đâu khác loài hoa,
Sớm còn tối mất nở ra lại tàn
Nền văn học bác học của dân tộc Việt Nam đã được ảnh hưởng nền văn hóa Phật Giáo Văn hóa Phật giáo đã dung hòa vào văn hóa Việt vô cùng phong phú được biểu hiện qua các tác phẩm văn học như: Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều, Truyện Kiều của Nguyễn Du, cho đến Văn Học Lý Trần đều thấm nhuần các tư tưởng của đạo Phật như nhân sinh là cõi mộng, thuyết nhân
Trang 18quả, lý vô thường
Bên cạnh đó, các Thiền sư Việt phần nhiều đều có sáng tác thi văn, biểu hiện tính sáng tạo độc lập, sự nội chứng trác tuyệt và phong cách tự tại an nhiên Qua các triều đại anh hùng của lịch sử như Lý, Trần, thi ca Phật giáo rạng ngời với tên tuổi của những Thiền sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Chiếu, Huyền Quang Có thể nói rằng các tác phẩm văn học đầu tiên của nước ta trước thế kỷ
15 hầu hết đều mang nội dung Phật giáo
Không chỉ có vậy, Phật giáo còn là khởi nguồn cho vô số lễ hội của Việt Nam mà mỗi một lễ hội đều là một bảo tàng văn hóa dân tộc Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc biệt, bản thân nó là một kho lịch sử khổng lồ, tích tụ vô số những lớp phù sa văn hóa, là bảo tàng sống về sinh hoạt văn hóa, chứa đựng các giá trị tinh thần sâu sắc Trong lễ hội là kho tàng phong tục tín ngưỡng, là ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội,
là những lớp văn hóa trầm tích và được lưu giữ suốt chiều dài lịch sử Lễ hội xuất phát từ tôn giáo tín ngưỡng sẽ thỏa mãn các nhu cầu của con người về đời sống tâm linh, đời sống văn hóa Có thể điểm qua những lễ hội Phật giáo tiêu biểu như Đại lễ Vesak (rằm tháng tư), Lễ Vu lan, Lễ Phật thành đạo
Bên cạnh các giá trị văn hóa kể trên, khi nói đến Phật giáo chúng ta không thể bỏ qua ẩm thực chay của văn hóa Phật giáo Phong tục ăn chay đang mở rộng khắp nơi, ngay cả Châu Âu ngày càng có nhiều người nhận ra lợi ích từ việc ăn chay Các nhà khoa học đều cho rằng ăn chay rất hợp vệ sinh và không kém phần bổ dưỡng Trên tinh thần đó, nên nguời Việt Nam dù không phải là Phật tử cũng thích ăn chay, và tập tục này đã ảnh hưởng sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội Việt Nam từ xưa đến nay Ở Việt Nam, tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế và các thành thị khác đều có các cửa hàng ăn chay
Như vậy, trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, sức ảnh hưởng của Phật giáo đã trở thành một yếu tố quan trọng được ngưng kết lại trong đạo đức, văn học, trong kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, lễ hội, ẩm thực Đó chính là những giá trị văn hóa trường tồn đã đóng góp chung vào kho tàng văn hóa của dân tộc
Trang 191 2 Khái quát về du lịch tâm linh
1.2.1 Khái niệm du lịch, tâm linh và du lịch tâm linh
1.2.1.1.Khái niệm du lịch
Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên cho đến nay trên thế giới và ở Việt Nam có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch
Năm 1963, Hội nghị Liên Hợp Quốc Tế về Du lịch ở Rôma đã định nghĩa
“Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ, hiện tượng, các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi thường xuyên của họ hay ngoài nước của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.”
Theo Pirogiơnic (1985) thì “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi
cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa”
Hay định nghĩa theo Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Cannada tháng 6/1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”
Theo Luật du lịch (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan , tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Mặc dù có quan niệm khác nhau nhưng các khái niệm về du lịch đều có điểm chung đó là hiểu du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch, hành trình và lưu trú của họ ở ngoài nơi cư trú để thoả mãn các
Trang 20nhu cầu khác nhau: hoà bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác và quá trình tổ chức các điều kiện
về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người du lịch
và đạt được mục đích số một của mình là thu lợi nhuận
1.2.1.2 Khái niệm tâm linh
Tâm linh gồm chữ “tâm” và chữ “linh” tạo nên Theo từ điển Hán Việt của tác giả Thiều Chửu, “tâm” có nghĩa là tim (lòng), thuộc về thế giới bên trong “Linh” có rất nhiều nét nghĩa như: “linh” trong linh hoạt, nhạy bén; “linh” trong thần linh; người chết cũng được gọi là “linh”; “linh” còn dùng để nói đến những ứng nghiệm, bói toán Tác giả Hoàng Phê cũng cho rằng tâm linh là “tâm hồn, tinh thần” hoặc là “khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm” [44,tr.897]
Đại Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa về tâm linh, coi tâm linh là khả năng cảm nhận, đoán định một cách khoa học, hợp lý trước các biến cố tốt và không tốt có thể xẩy ra với mình Giáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu luận bàn sự tồn tại đáng ghi nhận về văn hóa tâm linh ở các quốc gia phương Đông Rằng, tâm linh là điều có thật trong ý niệm, quan niệm, cần hướng nó đến sự tốt đẹp, trong sáng, cho con người, vì con người
Tác giả Nguyễn Đăng Duy: “Tâm linh là cái linh thiêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [15; tr.11]
Còn theo tác giả Sơn Nam trong bài Nói thêm về tâm linh trong liên hệ với văn hóa Việt Nam thì tâm linh được hiểu là: “Tâm linh tồn tại trong mọi mặt đời sống từ xưa cho tới nay, từ trong truyền thuyết, các bài văn tế, các tác phẩm văn học, trong việc thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn cho tới những ca khúc về tổ quốc và cả những hành động, mọi việc làm, nghĩa cử cao đẹp của con người bình thường trong cuộc sống” [50, 15]
Tâm linh của con người ngưng đọng trong trí nhớ và con người luôn tâm niệm, thành kính về điều mình đã tin, đã làm Như vậy tâm linh được hiểu là
Trang 21một hình thái ý thức, tâm linh gắn liền với ý thức của con người và tâm linh là phần thiêng liêng trong ý thức của mỗi con người
1.2.1.3 Khái niệm du lịch tâm linh
Du lịch tâm linh là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Daniel H Olsen cũng cho rằng, du lịch tâm linh có thể bao gồm các yếu tố của du lịch tôn giáo, du lịch hành hương Khách du lịch tâm linh có thể hoặc không liên hệ rõ ràng với truyền thống tôn giáo quen thuộc [53, tr.36]
Du lịch tâm linh cũng gắn với niềm tin, nâng cao đức tin, nâng cấp đời sống tâm linh của mỗi cá nhân theo hướng chân, thiện, mỹ tức con người luôn hướng tới chân lý (đúng đắn), cái đẹp về đạo đức (tức thiện) và cái đẹp (cả về mặt thể chất và tinh thần/tâm hồn) “Xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở, vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần” [6, tr.64] Du lịch tâm linh đến các thắng tích sẽ giúp con người tháo gỡ được các cảm xúc khổ đau, tài bồi tâm trí và tinh thần minh triết Du lịch tâm linh rất cần thiết cho con người trong xã hội hiện đại với nhiều bức xúc, ưu tư, trầm cảm, mất niềm tin, cảm thấy lạc lõng trong cuộc sống, bao gồm cả hành trình tìm kiếm các giá trị văn hóa truyền thống lẫn tìm lại chính mình Du lịch tâm linh ở một góc độ khác chính là việc quy ngưỡng các bậc khai sáng tôn giáo, các bậc hiền triết, trí tuệ siêu việt trong lịch sử nhân loại P J Abdul Kalam (1931-2015) cố Tổng thống Ấn Độ cho rằng, “Du lịch tâm linh hoàn toàn khác với việc tham quan các địa danh Du lịch tâm linh có nghĩa là thăm viếng trái tim và tâm trí của những bậc hiền triết” [6] Du lịch tâm linh nhấn mạnh sự tự nhận thức, chăm sóc sức khỏe và đổi mới (về mặt tinh thần)
Du lịch tâm linh tham quan nơi ở, làm việc của những người đặc biệt nổi tiếng ở phương diện cá nhân trong lịch sử Tham quan những địa điểm có ý nghĩa tôn giáo, nơi chiêm nghiệm, thiền định,…
Du lịch tâm linh là sản phẩm của sự kết hợp giữa cơ sở tín ngưỡng, văn hóa, di sản, doanh nghiệp và cộng đồng Tuy nhiên, để mang lại sự trải nghiệm
Trang 22du lịch tâm linh thực sự có ý nghĩa cho du khách, cần có sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng địa phương vào hoạt động nhằm cung cấp các dịch vụ thiết yếu và bổ sung như vận chuyển, ăn uống, mua sắm, tham gia của chính quyền địa phương trong kiến tạo và duy trì cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp, đảm bảo an ninh, an toàn cho du khách
Có thể nói một cách ngắn gọn du lịch tâm linh là một loại hình du lịch lấy yếu tố tâm linh là mục tiêu để thỏa mãn nhu cầu từ con người Vì thế du lịch tâm linh thường diễn ra các hoạt động khai thác giá trị văn hóa phi vật thể về tín ngưỡng, tôn giáo để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người, mang đến cho du khách những cảm xúc thiêng liêng, sâu thẳm trong tâm hồn Du lịch tâm linh là chuyến du lịch khám phá thế giới tâm linh để trở về với thế giới nội tâm, lắng nghe và tìm về những điều tốt đẹp.Đi sâu vào cuộc hành trình tâm linh này, người ta có thể rũ bỏ những ưu phiền, khổ đau để có được một tâm hồn tự do và hạnh phúc, lòng ngập tràn niềm vui sống cùng tình yêu thương bao la, vô tận…
Về bản chất, tâm linh gắn liền và biểu hiện những cái thiêng liêng, cao cả, siêu việt trong đời sống tinh thần, đời sống sinh hoạt xã hội của con người, nhất là những cư dân vùng Á đông nói chung trong đó ở Việt Namvăn hóa tâm linh đã tạo nên chiều sâu, sức sống cho nền văn hóa cộng đồng, dân tộc
1.2.2 Đặc điểm của du lich tâm linh ở Việt Nam
Thứ nhất, du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin và ở Việt Nam, trong đó Phật giáo có số lượng lớn nhất (chiếm tới 90%) cùng tồn tại với các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Cao đài, Hòa Hảo… Triết lý phương đông, đức tin, giáo pháp, những giá trị vật thể và phi vật thể gắn với những thiết chế, công trình tôn giáo ở Việt Nam là những ngôi chùa, tòa thánh và những công trình văn hóa tôn giáo gắn với các di tích là đối tượng mục tiêu hướng tới của du lịch tâm linh
Ở Việt Nam hàng năm có tới 8.000 lễ hội diễn ra trên khắp các vùng miền đất nước Cùng với đó cả nước có hơn 44.000 địa danh, danh thắng và di tích lịch sử, trong đó hơn một nửa là nơi có thể khai thác mô hình du lịch tâm linh [6] Như vậy với nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch tâm linh thể
Trang 23hiện ở bề dày văn hóa gắn với truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng Sự đa dạng và phong phú của các thắng tích tôn giáo và với số lượng lớn các tín ngưỡng, lễ hội dân gian được tổ chức quanh năm trên phạm vi cả nước Nhu cầu du lịch tâm linh của người Việt Nam đang trở thành động lực thúc đẩy du lịch tâm linh phát triển Ngày nay du lịch tâm linh ở Việt Nam đang trở thành xu hướng phổ biến
Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân những vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với nước, dân tộc (Thành Hoàng) trở thành du lịch về cội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớ nguồn Mới đây, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện nhân loại
Thứ hai, du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Thứ ba, số lượng khách du lịch tâm linh ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách du lịch, đặc biệt là khách nội địa Số khách du lịch đến các điểm tâm linh tăng cho thấy du lịch tâm linh ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.Nhu cầu và du lịch tâm linh ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ hoạt động gắn với tôn giáo mà ngày càng mở rộng tới các hoạt động, sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc và những yếu tố linh thiêng khác Hoạt động du lịch tâm linh ngày càng chủ động, có chiều sâu và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đại
Trang 24(Hải Dương); Tây Thiên (Vĩnh Phúc); Đền Trần-Phủ Dầy (Nam Định)…
Thứ năm, du lịch tâm linh có tính mùa vụ rõ nét Vào mùa cao điểm nhất
là dịp các sự kiện, lễ hội lớn được tổ chức tại các không gian văn hóa tâm linh vấn đề sức chứa là vấn đề cần được tính toán kỹ lưỡng cho hoạt động du lịch tâm linh Khách du lịch tâm linh trong nước có thành phần đa dạng (từ khách có khả năng chi trả thấp đến cao) Nhưng khách du lịch tâm linh ra nước ngoài thường là khách có khả năng chi trả cao và khi họ hoàn thành chuyến đi họ có những niềm tin và vị thế phát triển một cách vượt bật trong cộng đồng có cùng niềm tin về tôn giáo Đối với du khách tham gia vào các tuyến du lịch tâm linh
có sự phân hóa theo hoạt động và đặc điểm tôn giáo của họ Trước tiên nếu đoàn
du khách có cùng niềm tin tôn giáo và có mục đích thực hành nghi lễ tôn giáo thì tuyến du lịch tâm linh có bản chất là tuyến du lịch chuyên đề vì thế trong một hành trình du lịch tâm linh có thể xuất hiện nhiều điểm tham quan du lịch có tính chất văn hóa tâm linh khá tương đồng hoặc sự mâu thuẫn về niềm tin là rất hạn chế Ngược lại nếu đoàn du khách tham gia vào hoạt động du lịch tâm linh chỉ dừng lại ở mức độ tham quan và tìm hiểu và không có nhu cầu thực hành nghi lễ tôn giáo thì tuyến du lịch tâm linh rõ ràng có thể kết hợp nhiều điểm tham quan du lịch tâm linh có tính chất khác nhau và lúc này du lịch tâm linh là một biểu hiện thường gặp của loại hình du lịch văn hóa
Như vậy, du lịch tâm linh ngày càng được xã hội tiếp cận và nhìn nhận tích cực cả về khía cạnh kinh tế và xã hội Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đối với phát triển du lịch tâm linh và coi đó là một trong những giải pháp đáp ứng đời sống tinh thần cho nhân dân đồng thời với việc bảo tồn, tôn vinh những giá trị truyền thống, suy tôn những giá trị nhân văn cao cả
Tiểu kết chương 1:
Phật giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộcViệt Nam và đã trở thành bản chất và bản sắc của dân tộc Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng Phật giáo Hà Nội đã khẳng định những bước tiến vững chắc và xác lập vị thế quan trọng trong sự phát triển củaHà Nội, hình thành những giá trị văn hóa đa dạng và phong phú văn hóa Phật giáo Hà Nội Từ
Trang 25chùa chiền, nhạc lễ, lễ nghi, lễ hội đến các hoạt động trong đời sống tăng ni đều mang những nét riêng, đặc trưng và điển hình bởi các yếu tố văn hóa truyền thống chi phối, mà trong đó, dấu ấn văn hóa truyền thống của cư dân Hà Nội
Văn hóa Phật giáo nổi lên như một dòng văn hóa chủ đạo, đang ngày đêm hòa cùng nhịp sống của hàng nghìn, hàng vạn người dân nơi đây, đã đi vào đời sống và tâm thức của người Hà Nội một cách tự nhiên và cũng thật nhẹ nhàng, tạo nên một nét chấm phá rất riêng mà "chẳng nơi nào có được"
Du lịch tâm linh là một loại hình du lịch khai thác các giá trị tâm linh nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu du lịch của xã hội (nhu cầu tham dự vào không gian tâm linh, tìm hiểu văn hóa tâm linh và nhu cầu giải trí, thưởng thức, trải nghiệm.) mang lại những lợi ích kinh tế và bảo tồn các giá trị văn hóa tâm linh truyền thống của nơi đến
Phân tách nội hàm tên gọi của loại hình du lịch này, ta thấy nhu cầu của khách khi tham gia loại hình du lịch tâm linh có hai nhu cầu cơ bản là nhu cầu
du lịch và nhu cầu tâm linh Có khi nhu cầu tâm linh là động cơ chính, có khi nhu cầu du lịch là động cơ chính Tuy nhiên kết quả của khách du lịch tâm linh luôn luôn là cùng một mức độ mặc dù đi với động cơ nào đó là sự thỏa mãn
Nếu điểm qua tất cả các lễ hội trong cả nước và các danh lam thắng cảnh thu hút khách du lịch hiện nay thì chúng ta thấy tỉ trọng của loại hình du lịch tâm linh trong tổng thể nền du lịch của nước ta là không nhỏ, nếu không muốn nói du lịch tâm linh chiếm một tỷ trọng ngang bằng với các loại hình du lịch khác cộng lại Qua đó ta thấy được tiềm năng du lịch tâm linh to lớn của Hà Nội
Trang 26CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TÂM LINHTẠI QUẬN TÂY HỒ
HIỆN NAY 2.1 Khái quát về quận Tây Hồ
2.1.1 Giới thiệu về quận Tây Hồ
Quận Tây Hồ được thành lập theo Nghị định số 69/ NĐ – CP ngày 28/10/1995 của Chính phủ với 08 đơn vị hành chính trực thuộc và chính thức hoạt động kể từ ngày 01/01/1996 Quận được xác định là trung tâm dịch vụ - du lịch, trung tâm văn hoá, là vùng bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của Thủ đô Hà Nội Quận nằm ở phía Tây Bắc của Hà Nội Diện tích 24,0km2, gồm 8 phường: Bưởi, Yên Phụ, Thuỵ Khuê, Tứ Liên, Quảng An, Nhật Tân, Xuân La, Phú Thương Phía đông giáp quận Long Biên; Phía tây giáp huyện Từ Liêm và quận Cầu Giấy; Phía nam giáp quận Ba Đình; Phía bắc giáp huyện Đông Anh Quận Tây Hồ có địa hình tương đối bằng phẳng, có chiều hướng thấp dần từ bắc xuống nam Dân số của quận đến nay là 16 vạn người
Quận Tây Hồ có Hồ Tây với diện tích khoảng 526 ha, nằm trọn trong địa giới Quận, là một cảnh quan thiên nhiên đẹp của Hà Nội và cả nước, phía bắc và phía đông là sông Hồng chảy từ phía bắc xuống phía nam Khu vực xung quanh
Hồ Tây có nhiều làng xóm tồn tại từ lâu đời với nhiều nghề thủ công truyền thống Với các công trình di tích lịch sử có giá trị, tập trung xung quanh Hồ Tây, tạo cho Tây Hồ trở thành một danh thắng nổi bật nhất của Thủ đô
Sau gần 15 năm xây dựng và trưởng thành, Quận Tây Hồ đã ngày một lớn mạnh Trong 5 năm 2001-2005 kinh tế trên địa bàn quận đạt tốc độ phát triển khá cao, giá trị sản xuất tăng bình quân 14,8%, trong đó: Kinh tế Nhà nước tăng 13,4%/năm; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,7%/năm; kinh tế ngoài quốc doanh tăng 16,9%/năm vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội II đề ra Năm
2020, quận đặt mục tiêu tăng 14,52% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn của một
số ngành chủ yếu do quận quản lý Trong đó, ngành dịch vụ tăng 16,51%; công nghiệp, xây dựng tăng 10,7%; nông nghiệp, thủy sản tăng 1% Tổng thu ngân
Trang 27sách Nhà nước trên địa bàn đạt 3.354,9 tỷ đồng [34]
Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế phát triển theo đúng định hướng: Dịch vụ - du lịch - công nghiệp - nông nghiệp Tỷ trọng giá trị sản xuất của các ngành: Dịch vụ 51,8%, công nghiệp 43,2%, nông nghiệp 5% [34]
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VII) về "Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Quận uỷ tập trung lãnh đạo các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân phối hợp chặt chẽ tổ chức nhiều hoạt động phong phú, có hiệu trong việc thực hiện Nghị quyết Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" được nhân dân hưởng ứng tích cực Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn "Gia đình văn hoá", "Tổ dân phố văn hoá", "Khu dân cư tiên tiến xuất sắc" tăng cả về số và chất lượng góp phần xây dựng nếp sống văn hoá người Hà Nội
Theo định hướng phát triển của Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, quận Tây
Hồ thuộc khu vực phát triển của Thành phố trung tâm Như vậy, trong tương lai, Tây Hồ sẽ là khu vực trung tâm của Thủ đô Hà Nội Với vị trí đó, Tây Hồ có điều kiện đặc biệt thuận lợi thu hút các nguồn lực trong đó có du lịch để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của Quận nói riêng và của Thủ đô Hà Nội nói chung
2.1.2 Tình hình Phật giáo ở quận Tây Hồ
Cũng như các địa phương khác trên cả nước, các tín ngưỡng, tôn giáo từng bước du nhập, hình thành và phát triển ở Hà Nội Các tôn giáo ở Hà Nội, tuy số lượng không nhiều, chiếm tỷ lệ không cao trong dân số, nhưng lại có vị trí đặc biệt quan trọng Trên địa bàn Thành phố hiện có 07 tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đang hoạt động, gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hồi giáo, Baha’i, Minh sư đạo Với tổng số 4.995 cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo (1.664 cơ sở tôn giáo, 2.556 cơ sở tín ngưỡng, 775 cơ sở đan xen tín ngưỡng, tôn giáo), khoảng 70 vạn tín đồ, 2500 chức sắc, hơn 5000 chức việc Trong đó, Phật giáo, Công giáo và Tin lành là 03 tôn giáo có số lượng cơ
sở tự viện, chức sắc, tín đồ nhiều nhất [tr1, 57]
Ở quận Tây Hồ có 02 tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo và một số
Trang 28điểm nhóm Tin Lành tại gia Hiện nay toàn quận có 71 cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trong đó có 18 chùa với 60 tăng ni và Ban Trị sự Phật giáo quận đã được kiện toàn bao gồm các vị chức sắc tham gia, nhiều vị tham gia đại biểu Hội đồng Nhân dân cấp phường đồng thời là thành viên của MTTQ Quận; 05 nhà thờ họ trong đó có 02 nhà thờ Sứ (Sứ Thượng Thụy – Phú Thượng; sứ An Thái – Bưởi),
ba nhà thờ họ đạo (Họ Phú Gia, Họ Phú Thọ, Họ Quảng Bá), số giáo dân chủ yếu tập trung ở năm phường đó là Phú Thượng, Bưởi, Quảng An, Yên Phụ, Thụy Khuê Ban đoàn kết công giáo quận có 09 thành viên đều là những người tiêu biểu trong các sứ họ đạo, hoạt động tích cực Trong tổng các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo thì có 30 di tích được xếp hạng (12 di tích hạng quốc gia; 18 di tích xếp hạng cấp thành phố)[tr 2,57]
Về Phật giáo quận Tây Hồ có 18 chùa tọa lạc trên 8 phường, tổng số có
50 vị Tăng Ni, nhiều chùa xung quanh Hồ Tây là di tích lịch sử nổi tiếng trong
và ngoài nước Công tác Phật sự của Phật giáo quận đạt được nhiều kết quả tốt đẹp Điển hình như: hoạt động Tăng sự: có 35 vị Tăng Ni an cư tại chùa Bà Đá, Ban trị sự đã xác nhận hồ sơ hợp lệ theo quy định các giới tử thụ giới tỷ khiêu cho đệ tử thượng tọa Thích Nguyên Hạnh trụ trì chùa Tảo Sách và hồ sơ thụ giới
Sa di cho đệ tử Đại đức Thích Nguyên Chính, xá nhận hồ sơ để bổ nhiệm trụ trì chùa Vạn Ngọc và chùa Tứ Liên Các công tác Phật sự như công tác giáo dục Tăng Ni: công tác Hoằng Pháp, công tác Nghi lễ, công tác văn hóa, công tác hướng dẫn Phật tử đặc biệt công tác từ thiện xã hội đạt được kết quả khả quan Các chùa trong quận thường xuyên giúp đỡ 40 cháu có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt với số tiền 1 tháng 1 cháu là 100.000đ; HT Thích Thanh Nhã ủng hộ 1000 xuất quà nhân dịp tết Mậu Tuất mỗi xuất giá trị 500.000đ tổng giá trị là 500 triệu đồng, ủng hộ tại địa phương 5 000.0000đ; Chùa Vạn Niên ủng hộ các cháu bệnh viện nhi trung ương, trường mầm non Thụy khuê, Xuân La 200 thùng sữa Thtrue Milk; Chùa Kim Liên đóng góp các quỹ của phường 5 triệu đồng, giáp tết Mậu Tuất phát 600 xuất quà ở trại tâm thần, Thụy An, Ba Vì – Hà Nội trị giá
180 triệu đồng, tổng số tiền làm từ thiện năm 2018 là 485.200 000đ; Chùa Tảo Sách và chùa Quảng Bá làm từ thiện tổng giá trị 300 triệu đồng; Chùa Võng thị
Trang 29ủng hộ các quỹ địa phương 10 triệu đồng; Chùa Mật Dụng làm từ thiện tổng kinh phí 50 triệu đồng; Đại đức Thích Nguyên Chính nhân dịp tết Mậu Tuất
2018 ủng hộ 500 xuất quà tại tỉnh Điện Biên giá trị 250 triệu đồng, trao 100 xuất quà tại bệnh viện Bạch Mai trị giá 100 triệu đồng, đóng góp với Hội Liên hiệp Thanh niên quận làm từ thiện trên tỉnh Lai Châu 10 triệu đồng [6, 57]
Với phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, Phật giáo quận Tây Hồ luôn động viên tăng ni, phật tử tại địa phương tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ Tổ quốc, bảo
vệ môi trường, xây dựng nếp sống văn hóa trong từng địa bàn dân cư Bên cạnh
đó, giới Phật giáo còn góp phần củng cố chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng, góp ý kiến cho các báo cáo chính trị của Đảng ở địa phương, tham gia các hoạt động chính trị xã hội như: ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc các cấp và nhiều đoàn thể xã hội khác Nhiều tấm gương người tốt, việc tốt của tăng ni, phật tử được Nhà nước tặng thưởng huân chương cao quý, được bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các cấp tặng nhiều phần thưởng
2.1.3 Tiềm năng và điều kiện để khai thác giá trị văn hóaPhật giáo trong phát triển Du lịch tâm linh tại quận Tây Hồ
Trên địa bàn quận có Hồ Tây rộng hơn 527,5ha mặt nước và 18,9km đường dạo xung quanh Đây là một trong những thắng cảnh đẹp của Thủ đô Hà Nội, được ví như: “Lá phổi xanh” của thành phố Hồ Tây thích hợp cho phát triển các loại hình dịch vụ và du lịch văn hóa tâm linh của Thủ đô với 64 di tích lịch sử, trong đó có 39 di tích được xếp hạng, như: Đền Đồng Cổ, chùa Trấn Quốc, phủ Tây Hồ Quận Tây Hồ có nhiều làng nghề truyền thống như: Đào Nhật Tân (57ha), quất cảnh Tứ Liên (15ha), trà sen Quảng An (16ha) Hằng năm, quận Tây Hồ thu hút hàng nghìn lượt người dân trong nước và ngoài nước tham quan
Triển thực hiện Kế hoạch số 207/KH-UBND, ngày 11/11/2016 của UBND TP Hà Nội về phát triển du lịch, quận Tây Hồ đã triển khai nhiều hoạt động như: Dịch vụ du lịch “Cụm di tích đình, chùa Võng Thị và mô hình làng
Trang 30nghề sản xuất giấy dó” và thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Cùng với đó, quận tập trung cho công tác tuyên truyền, quảng bá, hợp tác, xúc tiến đầu tư và phát triển thị trường; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ, đầu tư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch Nhờ có vị thế đắc địa cùng cảnh quan thơ mộng, trong nhiều năm qua, nhất là những năm gần đây, vùng Hồ Tây đã trở thành địa chỉ hấp dẫn khá nhiều nhà đầu tư đến đầu tư hệ thống nhà hàng, khách sạn Trong số các khách sạn trên địa bàn, có nhiều khách sạn lớn, có khả năng tiếp nhận và phục vụ du khách có nhu cầu cao Hầu hết các cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú, dịch vụ lữ hành trên địa bàn quận đều có ý thức chấp hành pháp luật, thực hiện tốt việc tuyên truyền, phổ biến phòng chống
tệ nạn xã hội tại doanh nghiệp, chấp hành sự quản lý, hướng dẫn của các cơ quan chức năng quản lý về du lịch
Là trung tâm Phật giáo không chỉ vì trên mảnh đất này có số lượng chùa nhiều nhất, mật độ chùa dày nhất, mà hiện nay ở quận Tây Hồ còn bảo tồn được rất nhiều ngôi chùa cổ, cũng như bảo lưu nhiều nghi lễ Phật giáo truyền thống
và hoạt động Phật sự tôn nghiêm
Ngôi chùa ở Tây Hồ từ lâu đã trở thành điểm đến chiêm bái, vãn cảnh cho bao du khách thập phương Điều đáng nói ở đây là ngôi chùa trong di sản văn hóa Tây Hồ không phải là di tích của một thời đã qua như cung điện, lăng tẩm nhà Lý- Trần; chùa Tây Hồ cũng không chỉ là hồi quang của quá khứ mà còn là những thực thể sống động chứa đựng những dòng chảy văn hóa thâm trầm, nối quá khứ với hiện tại, nối con người nơi đây với sự ứng xử xã hội trong các mối tương quan với đất trời, với cộng đồng và tha nhân Như vậy có thể nói, những ngôi chùa ở Tây Hồ, Hà Nội đã trở thành địa chỉ hành hương thu hút không chỉ tăng ni, phật tử, mà còn rất nhiều du khách Hiện ở Tây Hồ có rất nhiều ngôi chùa và niệm phật đường lớn nhỏ, trong đó có những ngôi Tổ đình, cổ tự nổi tiếng từ hàng trăm năm như Chùa Vạn Niên, chùa Kim Liên, chùa Trấn Quốc, chùa Tảo Sách…Mỗi ngôi chùa ở Tây Hồ không chỉ là một công trình kiến trúc độc đáo hòa quyện giữa con người với cảnh quan thiên nhiên, mà còn là một địa chỉ lịch sử, văn hóa, tâm linh đặc sắc Nhiều ngôi chùa đã trở thành biểu tượng
Trang 31đặc trưng trong đời sống văn hóa tâm linh Hà Nội Hồ Tây được nhiều người ví
là “rốn tâm linh của Hà Nội”, vì không chỉ có vẻ đẹp hài hòa của sắc nước, mây trời mà hồ Tây còn ẩn chứa vẻ đẹp linh thiêng, cổ kính do những ngôi đình, chùa đem lại Các ngôi chùa nơi đây đều giữ được nét cổ kính của kiến trúc Á Đông, kiến trúc truyền thống của Việt Nam và nghệ thuật sinh vật cảnh Chùa chiền là một mảng kiến trúc quan trọng cùng với quang cảnh Hồ Tây, kiến trúc dân gian tạo nên Tây Hồ có bản sắc riêng
Đó là tính đa dạng trong hệ cảnh quan, kiến trúc, trang trí, nội thất của những ngôi chùa; là những giá trị trong nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật diễn xướng mang hơi thở của Phật giáo xứ Hà Nội nói chung và Phật giáo mảnh đất Tây Hồ nói riêng Sự đa diện trong sinh hoạt văn hóa thông qua các lễ hội, sinh hoạt của tăng chúng - phật tử, văn hóa ẩm thực phản ánh những ảnh hưởng của giáo lý nhà Phật, vẫn đang được luân chuyển một cách lặng lẽ trong đời sống thường nhật, trong mạch nguồn văn hóa Hà Nội, và đang chờ đợi du khách đến
Hà Nội cũng như Tây Hồ thẩm thấu và cảm nhận
Vì thế, ngoài những loại hình du lịch cụ thể đã được khai thác lâu nay như
du lịch thiện nguyện, tham quan danh lam thắng cảnh, chiêm bái, hành thiền chữa bệnh… văn hóa Phật giáo Tây Hồ hội đủ điều kiện để tổ chức thành Festival văn hóa tâm linh.Thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng kế hoạch đầu tư, xây dựng, cải tạo, chỉnh trang, quản lý, khai thác khu Hồ Tây thành điểm
du lịch, văn hóa tiên tiến, có điều kiện kinh doanh dịch vụ, văn hóa, thể thao du lịch, vui chơi giải trí và có hệ thống xử lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế Đây được coi như tín hiệu tốt để khơi dậy các giá trị văn hóa, lịch sử của hồ Tây
để biến nơi này thành điểm đến hấp dẫn
Ngành Du lịch Thủ đô đang cố gắng tạo nên một không gian văn hóa du lịch hồ Tây bằng việc khai thác các sản phẩm du lịch trên mặt hồ như phát triển dịch vụ thuyền buồm du lịch, trình diễn các loại hình nghệ thuật trên mặt nước với ánh sáng laser, pháo sáng, pháo hoa kết hợp tham quan các điểm du lịch tâm linh bên hồ Các làng nghề truyền thống xung quanh hồ Tây được kết nối với các điểm du lịch chính tại hồ Tây
Trang 32Một Tour du lịch đến với những ngôi chùa ở quận Tây Hồ bao gồm: lễ Phật, vãn cảnh, thưởng ngoạn vẻ đẹp về kiến trúc, điêu khắc Phật giáo trong khuôn viên ngôi chùa; thưởng thức ẩm thực chay Du khách sẽ được đắm chìm trong không gian linh thiêng, chiêm ngưỡng những nét độc đáo của kiến trúc Phật giáo truyền thống, được thưởng thức những món chay đặc sắc do ni sư chế biến Đặc biệt trên địa bàn quận hiện nay có các ngôi chùa cổ với kiến trúc đặc sắc đang là những điểm thu hút khách du lịch thập phương đến tham quan như:chùa Vạn Niên, Tảo Sách, Kim Liên, Trấn Quốc…
2 2 Thực trạng khai thác giá trị văn hóa Phật giáo trong hoạt động
du lịch tâm linh tại Quận Tây Hồ
2.2.1.Khai thác các giá trị văn hóa Phật giáo tại các ngôi chùa ở quận Tây Hồ
2.2.1.1.Du lịch tham quan
Hiện nay, du lịch Hà Nội nói chung và quận Tây Hồ đang có lợi thế không nhỏ trong chiến lược phát triển du lịch tâm linh, du lịch hành hương khi mà số lượng Phật tử ngày càng đông đảo
Du lịch tâm linh là điểm nổi trội của hoạt động du lịch ở quận Tây Hồ bởi
sự phong phú và đa dạng của các nguồn tài nguyên tâm linh vật thể và phi vật thể đã, đang khai thác và những nguồn tài nguyên tiềm năng chưa được khai thác Dựa trên nguồn tài nguyên đó, ngành du lịch quận đã xây dựng một số sản phẩm du lịch tâm linh tiêu biểu như sau:
Điểm đến của sản phẩm này là hệ thống các chùa với cảnh sắc và kiến trúc đặc sắc Đây là những bằng chứng sống ghi lại những tinh hoa văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, điêu khắc của các thời đại phong kiến trên ở Thăng Long –
Hà Nội
Loại hình này thể hiện qua các hoạt động chiêm nghiệm, tham quan, nghiên cứu Tại các ngôi chùa du khách trực tiếp chiêm ngưỡng, tìm hiểu kiến trúc, mỹ thuật, cảnh quan, hệ thống tượng thờ, phù điêu, các di vật Qua đó du khách có thêm những kiến thức về các giá trị về kiến trúc, điêu khắc của cha ông, biết thêm về hệ thống thờ tự, giáo lý, lễ nghi của Phật giáo và hơn nhất đối
Trang 33với họ là ý niệm linh thiêng về các đối tượng tâm linh được phần nào thỏa mãn
vì ngoài hoạt động quan sát, chiêm ngưỡng họ còn kết hợp với việc ngưỡng vọng, cầu khấn các biểu tượng thiêng liêng tại các ngôi chùa
Sản phẩm này không phụ thuộc vào thời vụ mà có thể tổ chức quanh năm
Du khách có tham gia vào chuyến đi vào bất cứ thời điểm nào họ mong muốn Tuy vậy, các điểm đến này cần đáp ứng được một số tiêu chuẩn nhất định về phạm vi không gian, bố trí cảnh quan, danh tiếng, vị trí các vị Phật - Thần - Thánh được thờ trong tâm thức người bản địa, những yếu tố lịch sử và số lượng
- chất lượng các tác phẩm nghệ thuậtđể có thể phát triển Đặc biệt nó cần phải có khả năng thu hút được du khách ở mức độ nhất định để mang lại lợi ích kinh tế cho người dân địa phương, chính quyền địa phương và cho các ngành dịch vụ
Một trong những sản phẩm khác của hoạt động du lịch tâm linh đó chính
là du lịch tham gia vào các nghi lễ tâm linh của Phật giáo tại các ngôi chùa ở quận Tây Hồ Đó là các hoạt động trong nghi lễ khai lễ, các hoạt động sau khi khai lễ và các hoạt động bên lề khác
Các di tích Phật giáo thường là nơi thờ Phật, các lễ thường là cầu an, cầu siêu, dâng hương, dâng hoa, thả đèn hoa đăng, thắp hương ngày rằm phóng sinh,
lễ Phật Đản, lễ tắm Phật Các nghi lễ này được tổ chức theo một nghi thức rất thiêng liêng với quy mô lớn nhỏ tùy theo khả năng tổ chức và điều kiện của các nhà chùa Người đứng đầu các nghi lễ này là các nhà sư và có sự hỗ trợ của các
bà vãi ở bản địa
Loại hình tham gia vào các nghi lễ tâm linh của địa phương gắn với Phật giáo này có đặc trưng cố định về thời gian do các nghi lễ Phật giáo đều được tổ chức theo lịch trình cụ thể mà đã đặt ra Do đó, sản phẩm này có tính mùa vụ và khách tham quan chỉ có thể tham gia tại những thời điểm đã được ấn định từ trước do chính quyền, những người đứng đầu cai quản các di tích và người dân bản địa nơi đó quyết định
Đây là một trong những sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh phi vật thể tiêu biểu ở Tây Hồ Ngôi chùa cũng là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống - là nơi lưu truyền, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Hiện nay toàn
Trang 34quận có 71 cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trong đó có 18 chùa, có 20 đình, 14 đền,
09 am miếu, 02 di tích cách mạng, 01 phủ, 02 di tích khác (Mộ bà Đoàn Thị Điểm, Nhà cụ An) [tr 2, 57] Hàng năm, trên địa bàn quận Tây hồ có khoảng 14
lễ hội truyền thống, được tổ chức bài bản, công phu, phản ánh nét văn hóa làng
xã đặc trưng của vùng Hồ Tây như lễ hội Đình Nhật Tân, Đình Yên Phụ, Đền Voi Phục, Đền Đồng Cổ, Phủ Tây Hồ… Các lễ hội truyền thống trên địa bàn quận mang đậm nét văn hóa truyền thống và bản sắc dân tộc, thể hiện sự tôn kính, ngưỡng mộ của nhân dân địa phương với các vị có công với nước, với dân, dẹp giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc
Hiện nay các công ty lữ hành đã tổ chức những tua du lịch tâm linh đến các ngôi chùa trên địa bàn quận và đã thu hút được lượng khách lớn đến tham quan, trải nghiệm góp phần phát triển kinh tế ở địa phương như Các công ty du lịch thường tổ chúc các tour đến với một số chùa nổi tiếng như: Vạn Niên, Tảo Sách, Kim Liên, Trấn Quốc Đến với tour du lịch này, du khách sẽ được đắm chìm trong không gian linh thiêng, chiêm ngưỡng những nét độc đáo của kiến trúc Phật giáo truyền thống, được thưởng thức những món chay đặc sắc do ni sư chế biến Sau đây xin điểm qua hoạt động tham quan du lịch của du khách tại một số ngôi chùa tiêu biểu nhất của quận Tây Hồ
* Chùa Vạn Niên
Là một kiến trúc Phật giáo, Chùa được tạo bởi công trình nghệ thuật bằng
gỗ với hoa văn họa tiết vừa bản địa, vừa tiếp nhận văn hóa phương Đông Các nếp nhà được xây dựng hướng Đông theo bố cục mặt bằng gồm tam quan, chùa chính điện Mẫu (thờ Bà chúa Liễu Hạnh), nhà tăng, nhà phụ Bao quanh kiến trúc là vườn cây cổ thụ tôn thêm vẻ đẹp và tạo sự u tịch, tĩnh lặng nơi cửa thiền, làm nên một tổng thể di tích văn hóa, nghệ thuật đặc sắc, hài hòa Chùa gồm năm gian bái đường và ba gian bảo điện nối nhau thành chữ Đinh Về lối bài trí, chùa cũng giống như nhiều chùa ở miền Bắc khác Trên cao có Tam Thế Phật, dưới là A Di Đà Phật, dưới nữa là Quan Âm, phía ngoài là Thích ca Sơ sinh Đặc biệt, hiện nay, trên nóc chùa vẫn còn ba chữ triện đắp nổi “Vạn Niên tự”, ý muốn chùa trường tồn mãi cùng với thời gian
Trang 35Hiện Chùa còn giữ bộ di vật cổ quý gồm hơn 40 pho tượng tròn và 10 đạo sắc phong thần của thời Lê, Tây Sơn; có bài ký trên chuông đồng “Vạn Niên Tự Chung” đúc vào thời Gia Long Trải qua 1000 năm lịch sử với những biến thiên của thời cuộc, chùa đã nhiều lần được tu sửa, đặc biệt từ năm 1992 đến nay, Chùa được trùng tu tôn tạo lớn Nhiều nhà sư danh tiếng của Việt Nam đã từng trụ trì ở đây như Lâm Tuệ Sinh, Lý Thảo Đường, Thích Viên Thành…
Năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Chùa Vạn Niên làm lễ an vị khánh thành Điện Phật ngọc Tượng Phật được tạc bằng khối ngọc tự nhiên quý hiếm từ Myanmar có chiều cao 1,3m, nặng 600 km Tượng phật thiêng có một không hai ở Việt Nam đã tạo thêm sự hấp dẫn của ngôi chùa cổ
Chùa tuy không lớn nhưng do nằm ở gần Hồ Tây nên cảnh quan thoáng đãng, trong lành Khác với các ngôi chùa khác ở đất Bắc, chùa Vạn Niên thường
là nơi để mọi người đến cầu bình an, sức khỏe và hạnh phúc cho gia đình, họ tộc chứ không phải là nơi để cầu tài cầu lộc Vì vậy, vào ngày thường, chùa thường vắng lặng, chỉ những ngày rằm và dịp lễ tết, chùa mới có đông du khách thập phương đến viếng cảnh chùa và lễ Phật Có lẽ nhờ vậy mà chùa luôn có không khí thanh tịnh rất hợp với khung cảnh của chốn thiền môn Với những giá trị lịch
sử và văn hóa độc đáo như trên, năm 1996, chùa đã được Bộ VHTT xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia Hiện, di tích này vẫn luôn được chính quyền
và nhân dân quận Tây Hồ gìn giữ, tu bổ tôn tạo ngày một khang trang hơn để giữ được nét đẹp truyền thống và cổ kính cho không gian văn hóa của Thủ đô
Hà Nội Hiện nay, chùa Vạn Niên thờ Phật và bà chúa Liễu Hạnh Qua hơn 1.000 năm lịch sử, với bao thăng trầm và biến cố, ngôi chùa đã nhiều lần được trùng tu Chùa Vạn Niên có phong cách kiến trúc thời Nguyễn, bao gồm: Tam quan, tiền đường, nhà Tổ, nhà khách, lầu Quan Âm… Câu đối ở hàng cột nhà bái đường đã nói rõ:
Trang 36Chùa Vạn Niên đang ngày một khang trang và được nhiều Phật tử gần xa biết đến Tuy có nhiều đổi mới nhưng chùa vẫn giữ được nét đẹp cổ kính và độc đáo về văn hóa kiến trúc giữa lòng thủ đô hiện đại và phát triển
* Chùa Trấn Quốc
Chùa Trấn Quốc có lịch sử 1500 năm, được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long - Hà Nội Cũng giống như hầu hết những ngôi chùa cổ trên đất nước Việt Nam, kiến trúc chùa Trấn Quốc gồm nhiều lớp, có nhà bái đường, nhiều tượng Phật được sơn son thếp vàng Chùa được thiết kế theo kiểu “nội công ngoại quốc”, tiền đường nhìn về phía tây Gác chuông chùa là một nhà ba gian, mái chồng diêm, nằm trên trục chính Phía sau tiền đường là nhà Tam bảo Đặc biệt, trong khuôn viên chùa Trấn Quốc còn có bảo tháp Lục độ đài sen được xây dựng trong 5 năm Bảo tháp gồm 11 tầng, cao 15 mét, diện tích mặt sàn 10,5 mét vuông Mỗi tầng tháp gồm 6 ô cửa vòm, có tượng Phật A Di Đà bằng đá quý Tổng số tượng của tháp có 66 pho và trên đỉnh có 9 tầng đài sen cũng bằng
đá quý (còn được gọi là Cửu phẩm liên hoa) Tháp được dựng đối xứng với cây
bồ đề
Nằm ở phía đông Hồ Tây, quận Tây Hồ, chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa ở Hà Nội mà có rất nhiều du khách đến tham quan và lễ bái Dưới thời Lý – Trần ngôi chùa này được chọn là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long Ngày nay, chùa Trấn Quốc không chỉ là điểm đến tâm linh của người dân Hà Nội mà còn là địa điểm tham quan của du khách trong và ngoài nước Chùa Trấn Quốc có diện tích tổng thể khoảng 3000m2 với nhiều cây xanh và có hồ nước phía trước, tạo nên khung cảnh nên thơ nhưng vẫn đầy
uy nghiêm của chốn tâm linh giữa lòng thủ đô Trấn Quốc là ngôi chùa được xây dựng theo hệ phái Bắc tông gồm 3 ngôi chính là: tiền đường, nhà thiêu hương, thượng điện nối với nhau tạo thành chữ Công Vào năm 1989 chùa Trấn Quốc được công nhận là Di tích Lịch Sử Văn hóa cấp quốc gia
Nằm trên một hòn đảo nhỏ ở phía Đông Hồ Tây, quận Tây Hồ, một ngôi chùa được mệnh danh là ngôi chùa linh thiêng bậc nhất Hà Thành, chùa Trấn Quốc cũng là nơi bảo tồn và lưu giữ bao nét đẹp của nền văn hóa dân gian mang
Trang 37đậm bản sắc dân tộc Việt không chỉ bởi vẻ đẹp của ngôi chùa mà còn bởi kiến trúc ngôi chùa qua thời gian, chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử, bao sự biến đổi của đời người
Chùa Trấn Quốc mang một màu sắc giản dị nhưng cũng rất đỗi thanh tao, trang nhã, đó là vẻ đẹp yên bình của một làng quê Việt Nam Bước vào cổng chùa là bước vào một thế giới khác-một nơi yên bình thật sự Điểm nổi bật của ngôi chùa là hình ảnh Bảo tháp lục độ đài sen nằm ngày bên trái cổng chùa được xây dựng vào năm 1998, bảo tháp có 11 tầng, cao 15m, mỗi tầng có 6 ô cửa hình vòm, trong mỗi ô lại đặt một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý, đỉnh tháp có đài sen 9 tầng được gọi là Cửu phẩm liên hoa, không phải ngẫu nhiên mà Bảo tháp lục độ đài sen trở thành biểu tượng của ngôi chùa
Khám phá kiến trúc của tháp, ta không khỏi ngạc nhiên khi nhận thấy rằng hình ảnh của tháp rất gần gũi với đời sống văn hóa con người Việt Nam, đó
là hình ảnh những pho tượng Phật được đặt trên đài sen, hình ảnh bông sen từ lâu đã trở thành biểu tượng của con người Việt Nam ta, đó là lối sống ngay thẳng, thanh cao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” từ bao đời nay vẫn vậy Hoa sen tượng trưng cho Phật tính chân, như tính sinh ở bùn mà không bị ô uế,
đó cũng là nét đặc trưng của Phật giáo bắt nguồn từ lối sống dân dã
Vào ngày rằm hay mùng một hàng tháng, người dân thủ đô đến chùa Trấn Quốc rất đông để cầu sức khỏe, may mắn cho gia đình Đặc biệt là những ngày đầu năm mới lượng khách du lịch đổ về hành hương, lễ Phật và vãn cảnh chùa rất lớn Giữa nền tĩnh lặng của hồ nước mênh mông, chùa Trấn Quốc có sự kết hợp hài hòa giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã
* Chùa Kim Liên
Chùa Kim Liên nay thuộc phường Nghi Tàm, quận Tây Hồ Chùa có từ thế kỷ XVII nhưng diện mạo chùa như hiện nay là do lần trùng tu vào năm 1792 với bố cục theo kiểu chữ "tam", gồm ba nếp, mỗi nếp có hai tầng mái Các đầu đao cong vút, mềm mại Trong chùa có một pho tượng quý khiến giới sử học hết sức quan tâm đó là pho tượng có hình dạng như một người trung niên, râu ba chòm, mình mặc áo cà sa, tay cầm hốt, đầu lại đội mũ dành cho vua quan
Ngoài pho tượng này, ở gian giữa chùa có bức hoành phi "Hoàng uẩn” (có