1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tư tưởng quản lý của khổng tử và việc vận dụng vào việc quản trị nhân lực trong bối cảnh việt nam

94 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 898,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể như sau: Tình hình nghiên cứu trong nước: Do ảnh hưởng lớn từ nền văn hóa phong kiến phương Đông, chính vì vậy các tư tưởng quản lý về Nho giáo nói chung và tư tưởng quản lý của

Trang 1

VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM

Mã số: ĐTCT.2017.81

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Bích Ngọc

Hà Nội, 2020

Trang 2

VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM

Hà Nội, 2020

Trang 3

M ỤC LỤC

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Giả thuyết nghiên cứu 7

7 Phương pháp nghiên cứu 7

8 Đóng góp mới của đề tài 8

9 Kết cấu của đề tài 9

CHƯƠNG 1 NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ CỦA KHỔNG T Ử 10

1.1 Một số khái niệm 10

1.1.1 Khái niệm tư tưởng 10

1.1.2 Khái niệm quản lý 11

1.1.3 Vai trò của quản lý 15

1.2 Hoàn cảnh ra đời tư tưởng quản lý của Khổng Tử 16

1.2.1 Bối cảnh lịch sử Trung Quốc thời Khổng Tử 16

1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội của Trung Quốc cổ đại 19

1.2.3 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử 22

1.3.Nội dung tư tưởng quản lý của Khổng Tử 28

1.3.1 Quan niệm về bản chất con người 28

1.3.2 Quan niệm về phân chia giai cấp trong xã hội 29

1.3.3 Quan niệm về phương pháp quản lý 30

1.4 Đánh giá tư tưởng quản lý của Khổng Tử 33

1.4.1 Ưu điểm tư tưởng quản lý của Khổng Tử 33

1.4.2 Những hạn chế trong tư tưởng quản lý của Khổng Tử 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ CỦA KHỔNG TỬ VÀO QU ẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 38

2.1 Đặc điểm và yêu cầu về nguốn nhân lực của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 38

2.1.1 Bối cảnh Kinh tế - Văn hóa – Xã hội 38

Trang 4

2.1.2 Đặc điểm về nguồn nhân lực của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 41

2.1.3 Yêu cầu nguồn nhân lực của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 46

2.2 Nội dung cơ bản của Quản trị nhân lực 49

2.2.1 Thu hút nguồn nhân lực 50

2.2.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 51

2.2.3 Duy trì nguồn nhân lực 52

2.3 Vận dụng phương pháp quản lý của Khổng Tử tại Việt Nam hiện nay 52 2.3.1 Vận dụng Đức trị của Khổng Tử tại Việt Nam 52

2.3.2 Vận dụng phương pháp nêu gương của Khổng Tử tại Việt Nam 56

2.4 Việc vận dụng tư tưởng quản lý của Khổng Tử vào quản trị nhân lực ở Việt Nam hiện nay 58

2.4.1 Vận dụng vào trong thu hút nguồn nhân lực 58

2.4.2 Vận dụng vào trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 62

2.4.3 Vận dụng vào trong duy trì nguồn nhân lực 68

2.5 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng quản lý của Khổng Tử vào quản trị nhân lực tại Việt Nam 73

2.5.1 Vận dụng Đức trị của Khổng Tử trong quản trị nguồn nhân lực tại Việt Nam 74

2.5.2 Vận dụng phương pháp nêu gương của Khổng Tử trong quản trị nguồn nhân lực tại Việt Nam 76

2.5.3 Vận dụng phương pháp giáo hóa của Khổng Tử trong quản trị nguồn nhân lực tại Việt Nam 80

2.5.4 Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vị trí quản lý của người phụ nữ trong quản trị nhân lực tại Việt Nam hiện nay 81

2.5.5 Một số giải pháp khác 82

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 85

K ẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 5

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21, nước ta bước vào giai đoạn đổi

mới và hội nhập mạnh mẽ Xu thế toàn cầu hóa với tính chất cạnh tranh ngày càng khốc liệt, con người đang được coi là nguồn tài sản vô giá và là yếu tố cơ

bản nhất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức Trong bối cảnh

đó quản trị nhân lực được coi là lĩnh vực đặc biệt quan trọng vì “mọi quản trị suy cho cùng cũng là quản trị con người” Thật vậy, quản trị nguồn nhân lực có

mặt trong bất kỳ một tổ chức hay một doanh nghiệp, các phòng ban, các đơn vị nào So với yếu tố khác của quá trình sản xuất thì quản trị nhân lực là vấn đề khó khăn phức tạp hơn nhiều vì mỗi con người có năng lực, kỹ năng, động cơ làm

việc…khác nhau, đòi hòi quản trị con người phải có tính khoa học và nghệ thuật Để đứng vững trong môi trường canh tranh gay gắt, đòi hỏi các tổ chức

phải xây dựng cho mình một đội ngũ cán bộ có chất lượng về năng lực, phẩm

chất, trình độ chuyên môn để đáp ứng với tình hình của tổ chức mình cũng như theo kịp với tiến bộ và trình độ khoa học – kỹ thuật của thế giới Việc quản lý tốt hay không luôn là vấn đề có ảnh hưởng đến sự tồn vong của một tổ chức Nhưng

để quản lý tốt cần những yếu tố nào; Yếu tố quản lý hiện đại hay truyền thống Quá trình phát triển các học thuyết quản lý trải qua hàng nghìn năm, những gì tích lũy của quá khứ là của cải cho tương lai

Các học thuyết quản lý Trung Quốc cổ đại ra đời cách đây hàng nghìn năm,

mặc dù còn có nhiều hạn chế do lịch sử, do bản chất giai cấp nhưng vẫn có nhiều giá trị tư tưởng quý báu, những giá trị tư tưởng này đã đóng góp một vai trò tích cực trong lịch sử Trung Quốc nói riêng và của các nước Á Đông nói chung, đặc biệt ở nước ta, một đất nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ nền văn hóa Trung Quốc trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc Trong số đó, không thể không kể đến tư tưởng quản lý của Khổng Tử Xét về tổng thể, tư tưởng này vừa

là tư tưởng triết học, vừa là tư tưởng chính trị - xã hội, nhưng đồng thời cũng là

tư tưởng về quản trị nhân lực trong đó đề cao quan niệm về chữ “Đức” và yếu tố giáo dục trong việc quản lý Theo dòng chảy tư duy chính trị va các ý nghĩa thời

Trang 6

đại, chúng ta dã vận dụng nhiều điểm tiến bộ trong tư tưởng của Khổng Tử trong công tác quản lý nói chung và quản trị nhân lực nói riêng

Xác định được vai trò to lớn của việc quản trị nhân lực trong thời kỳ mới, đồng thời cũng nhận thấy những giá trị lớn lao trong tư tưởng quản lý của

Khổng Tử cả về mặt lịch sử, lý luận và thực tiễn Nhóm tác giả quyết định chọn

đề tài “Tư tưởng quản lý của Khổng Tử và việc vận dụng vào việc quản trị nhân

tìm ra và vận dụng những ưu điểm trong tư tưởng quản lý của Khổng Tử từ đó

vận dụng vào việc quản trị nhân lực ở Việt Nam hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Xuất phát từ những ý nghĩa to lớn của tư tưởng quản lý của Khổng Tử đến

thực tiễn hoạt động quản lý, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng

của Khổng Tử và ảnh hưởng của nó đến hoạt động quản lý trên nhiều mặt, nhiều phương diện Cụ thể như sau:

Tình hình nghiên cứu trong nước:

Do ảnh hưởng lớn từ nền văn hóa phong kiến phương Đông, chính vì vậy các tư tưởng quản lý về Nho giáo nói chung và tư tưởng quản lý của Khổng Tử nói riêng đã được các học giả trong nước nghiên cứu từ rất lâu Có rất nhiều

những tác phẩm, công trình nghiên cứu về tư tưởng quản lý của Khổng Tử trong

đó có thể kể đến:

Trong cuốn "Khổng Tử" của Lý Trưởng Hải, Nhà xuất bản Văn học đã

phân tích về tư tưởng triết học Khổng Tử, trong đó nổi lên vấn đề quan niệm về điều nhân, lễ, nghĩa, trí, tín và đạo làm người quân tử

Tác phẩm "Nho giáo" của Trần Trọng Kim cũng đã đề cập đến tư tưởng

chính trị cơ bản của Khổng Tử về người quân tử, đạo vua tôi, phải thực hiện chính danh định phận

Tác phẩm "Khổng Tử" của Nguyễn Hiến Lê, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, T ứ thư bình giải của Lý Minh Tuấn, Nhà xuất bản Tôn giáo cũng làm nổi bật

được tư tưởng chính trị của Khổng Tử trong số các tư tưởng chính trị của Trung Hoa cổ đại

Trang 7

Việc nghiên cứu về nền triết học và tôn giáo Trung Hoa trong cuốn “Lịch

Hồ Chí Minh có đề cập đến địa vị Khổng Tử - nhà trí giả và nhà giáo dục văn hóa lớn trong lịch sử Trung Hoa Bên cạnh đó, Nguyễn Đăng Thục còn nghiên

cứu về triết học Khổng Tử xoay quanh vấn đề vũ trụ quan, thuyết chính danh, đạo nhân, và đặc biệt là triết lý nhân sinh quan với đạo trung thứ và chữ nhân là trung tâm của nó

Trong tác phẩm “Khổng học đăng" Phan Bội Châu đã trình bày rõ một số

phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo Tác giả đặc biệt đề cao những giá trị

của Nho giáo và coi đạo đức Nho giáo có vai trò cực kỳ to lớn trong việc giáo

dục, hoàn thiện nhân cách con người

Tác phẩm "Khổng giáo phê bình tiểu luận" của tác giả Đào Duy Anh lại

cho rằng, chúng ta phải có thái độ khách quan, toàn diện và khoa học khi nhận xét vai trò của Nho giáo trong xã hội Ông phê phán thái độ của một số tri thức ở Trung Quốc và Việt Nam coi Nho giáo chỉ là vô dụng, không phù hợp với khoa

học Đặc biệt ông đã nghiên cứu, phân tích tổng hợp những nội dung cơ bản của

Nho giáo để từ đó đi đến kết luận, Nho giáo “dẫu nó không thích hợp nữa ở đời

nay, mà công dụng nó, sự nghiệp nó, vẫn vẹn nguyên trong lịch sử, không ai có

Tác phẩm “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" của Trần

Văn Giàu, từ chỗ chỉ ra những điểm khác nhau cơ bản giữa đạo đức Nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam, tác giải khái quát một số đặc điểm của nền đạo đức truyền thống và nêu lên những tàn dư của đạo đức Nho giáo cần phải khắc

phục trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đó là chủ nghĩa gia

đình, chủ nghĩa đồng tộc, phương châm trị đạo “thân thân” gây trở ngại cho

thực hiện dân chủ, động viên, tài năng

Những tác phẩm, cuốn sách trên mới chỉ dừng lại những nghiên cứu chung

về thế giới quan, tư tưởng – chính trị xã hội của Khổng Tử nói riêng và đạo Nho nói chung, còn phần nhân sinh quan mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu bước đầu Để nghiên cứu sâu hơn ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử đến các khía

Trang 8

cạnh của đời sống xã hội có thể kể đến một vài công trình sau:

Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Hồng Doan (2014) “Vấn đề kế

đạo đức Hồ Chí Minh" đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng và nội dung chủ yếu

của việc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong

tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Loan (2013) “Quan niệm của

nho giáo sơ kỳ về xã hội lý tưởng và ý nghĩa hiện thời của nó" đã nghiên cứu

những mặt tích cực và hạn chế trong quan niệm của Nho giáo sơ kỳ về xã hội lý tưởng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay Đồng

thời đề xuất những giải pháp để kế thừa những mặt tích cực và khắc phục những

hạn chế đó

Luận văn Thạc sĩ Triết học Đỗ Minh Cương (2006) “Thuyết Đức trị của

về quản lý xã hội, khai thác thuyết Đức trị theo một hướng tiếp cận mới: triết

học trong quản lý xã hội, đồng thời cũng làm rõ ảnh hưởng của thuyết Đức trị đến phương thức quản lý xã hội ở nước ta hiện nay

Ngoài ra nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử đối với các vấn đề phát triển kinh tế và hiện đại hóa xã hội có các bài báo của tác giả Nguyễn Thanh Bình:

Nho giáo với vấn đề phát triển kinh tế và hoàn thiện con người (Tạp chí Giáo

dục lý luận, số 5 năm 2000); Khổng giáo với vấn đề hiện đại hóa xã hội của Lê

trên đây mới chỉ nghiên cứu một cách khái lược về ý nghĩa trong tư tưởng của

Khổng Tử với sự phát triển của đất nước nói chung, hay đi vào từng vấn đề riêng biệt như triết học, đạo đức, văn hóa, giáo dục mà chưa đi sâu nghiên cứu phân tích tư tưởng của Khổng Tử về quản lý và giá trị của nó đối với hoạt động

quản trị nhân lực ở nước ta hiện nay

Tình hình nghiên cứu nước ngoài:

Nghiên cứu về tử tưởng của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đến hoạt động

Trang 9

của đời sống xã hội có những tác phẩm nước ngoài như sau:

Cuốn Tứ thư thập chú của Chu Hy (do Nguyễn Đức Lân dịch và chú giải,

Nhà xuất bản Văn hóa, năm 1998) đã chú giải tư tưởng chính trị của Khổng Tử, làm nổi bật nhiều nội dung cơ bản về học thuyết Đức trị, mà trọng tâm là nhân,

lễ, nghĩ, chính danh

Gia sư nổi danh thế giới William James Durant đã dành gần 40 năm để

soạn bộ Lịch sử văn minh thế giới Do phạm vi đối tượng rộng lớn của bộ sách

mà phần Lịch sử văn minh Trung Quốc, William James Durant chỉ dành dung

lượng khiêm tốn về học thuyết chính trị - xã hội của các nhà nho sơ kỳ trong đó

có Khổng Tử Song có thể nói đó là sự đánh giá khá sâu sắc về những nội dung

cơ bản của Nho giáo, bởi lẽ tác giả đã đề cập đến những vấn đề như đạo đức của người cầm quyền, mẫu người lý tưởng, trật tự xã hội, phương thức xây dựng xã

hội lý tưởng như dưỡng dân, giáo dân, phân phối bình quân

Trong cuốn Đại cương triết học Trung Quốc, nhà nghiên cứu Phùng Hữu

Lan (Trung Quốc) đã khái quát tiến trình lịch sử triết học Trung Quốc, trong hai mươi tám chương của cuốn sách này ông đã trình bày những nội dung cơ bản

của các trường phái Triết học Trung Quốc, trong phần nói về các nhà Nho sơ kỳ

Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử ông đề cập đến những nội dung căn bản như Chính danh, Nhân nghĩa Những vấn đề này được tác giả đề cập đến với tư cách

là những nội dung cơ bản trong tư tưởng Khổng Tử nói nói chung mà chưa phải

là quan niệm của Khổng Tử về quản lý con người

Giáo sư Tào Thượng Bân, một học giả người Đài Loan, trong cuốn Tư

tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần đã bàn đến phạm trù Nhân, Lễ, Nghĩa,

Chính danh, Dân vị bang bản, Pháp Hậu vương trong mối quan hệ với tư tưởng nhân bản Theo ông đây là tư tưởng tiêu biểu cho tinh thần nhân bản của Khổng

Tử, là nguồn gốc tư tưởng của chủ nghĩa nhân sinh

Học giả Vi Chính Thông (Trung Quốc) trong cuốn Nho gia với Trung Quốc

ngày nay đã thể hiện một cách nhìn phản biện đối với ảnh hưởng của Nho giáo

đối với xã hội Trung Quốc trong truyền thống cũng như trong hiện tại Tác giả

cuốn sách đã dành phần lớn dung lượng để chỉ ra những vấn đề mà ông cho là

Trang 10

khiếm khuyết căn bản của tư tưởng đạo đức Nho giáo

Trong hội thảo khoa học quốc tế do Viện Hán Nôm kết hợp với Đại học Havard – Yenching (Mỹ) tổ chức năm 2006, các học giả đã thống nhất quan điểm cho rằng, nhiều nguyên lý quan trọng của Khổng Tử về xã hội và con người có sứ trường tồn cả trong lịch sử và ngày nay Chẳng hạn GS Đỗ Duy

Ninh (Đại học Havard – Yenching) đã khẳng định: "Tất cả năm giá trị cốt lõi

quát"

Như vậy tất cả các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đều chỉ

ra được nội dung cơ bản của tử tưởng Khổng Tử, phân tích những ưu điểm và

hạn chế của tư tưởng đó Đồng thời các tác phẩm, công trình nghiên cứu đều chỉ

ra được ý nghĩa, giá trị to lớn trong tư tưởng của Khổng Tử đến các mặt của đời

sống xã hội cả trong quá khứ và hiện tại Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, tác giả nhận thấy đến thời điểm hiện nay ở trong nước và trên thế giới chưa

có công trình nào nghiên cứu về Tư tưởng quản lý của Khổng Tử và việc vận dụng

vào việc quản trị nhân lực trong bối cảnh Việt Nam Vì thế, đây chính là vấn đề

mà chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu, luận giải và làm rõ

3 M ục tiêu nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu những nội dung cơ bản của tư tưởng quản lý của Khổng Tử,

chỉ ra được những điểm tích cực và hạn chế của tư tưởng quản lý của Khổng Tử, nghiên cứu và đề xuất giải pháp trong vận dụng tư tưởng quản lý của Khổng Tử vào quản trị nhân lực tại Việt Nam hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ hoàn cảnh ra đời tư tưởng quản lý của Khổng Tử

- Làm rõ nội dung cơ bản tư tưởng quản lý của Khổng Tử,

- Xem xét, đánh giá ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của tư tưởng quản lý

của Khổng Tử đối với việc quản trị nhân lực ở Việt Nam trong trong giai đoạn

hiện nay

- Đề xuất một số ý tưởng nhằm vận dụng tư tưởng quản lý của Khổng Tử vào quản trị nhân lực của Việt Nam hiện nay

Trang 11

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung học thuyết quản lý của Khổng Tử, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc vận dụng các tư tưởng quản lý của Khổng Tử vào công tác quản trị nhân lực hiện nay

5.2 Ph ạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Vận dụng tư tưởng quản lý của Khổng Tử vào công tác

quản trị nhân lực ở Việt Nam hiện nay

- Về thời gian: giai đoạn từ năm 2010 đến 2018

6 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Tư tưởng quản lý của Khổng Tử còn nguyên giá trị đối với công tác quản trị nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Giả thuyết 2: Tư tưởng quản lý của Khổng Tử không còn phù hợp với bối

cảnh Việt Nam hiện nay

7 Phương pháp nghiên cứu

Để có thể thực hiện đề tài này, nhóm tác giả dự kiến sử dụng các phương pháp như sau:

- Phương pháp luận khoa học: Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, ngoài ra còn sử dụng kết

hợp các phương pháp logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, hệ thống cấu trúc, bắt đầu từ quan điểm tư tưởng quản lý của Khổng Tử trong quá trình giải quyết các

vấn đề về quản trị nhân lực

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nhóm tác giả thu thập, tổng hợp, phân tích, nghiên cứu đánh giá các tài liệu thứ cấp, thông tin từ các công trình nghiên

cứu khoa học trước đây, kế thừa có tính chọn lọc, tư duy logic để rút ra các kết

luận cần thiết liên quan đến tư tưởng quản lý của Khổng Tử trong hoạt động

quản trị nhân lực

- Phương pháp quan sát: Nhóm tác giả quan sát việc ứng dụng tư tưởng

quản lý của Khổng Tử vào công tác quản trị nhân lực ở một số đơn vị hành chính, sự nghiệp ở nước ta

Trang 12

- Phương pháp thảo luận nhóm: Căn cứ mục tiêu của vấn đề nghiên cứu,

chủ nhiệm đề tài tiến hành phân công nhiệm vụ, vấn đề nghiên cứu đối với các thành viên Các thành viên sau quá trình thu thập tư liệu, thông tin, nghiên cứu

vấn đề theo phân công sẽ tổ chức thảo luận nhóm Trong quá trình thảo luận, thành viên được phân công sẽ trình bày vấn đề nghiên cứu được phân công, các thành viên còn lại sẽ tham gia phản biện, góp ý để cùng nhau hoàn thiện nội dung của đề tài

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu đề tài các thành viên sẽ độc lập nghiên cứu, trao đổi và thảo luận nhóm Đối với những

vấn đề nhóm tác giả thấy chưa thỏa đáng đã thống nhất liên hệ, xin ý kiến học thuật của các chuyên gia thuộc các lĩnh vực Sử học, Triết học, Nhân sự…về vấn

đề nghiên cứu và ý kiến, kinh nghiệm áp dụng thực tiễn của các nhà quản lý tại các tổ chức, doanh nghiệp đối với việc áp dụng tư tưởng Khổng Tử vào hoạt động quản lý nhân lực

8 Đóng góp mới của đề tài

- Về mặt lý luận:

+ Đề tài nghiên cứu, tìm hiểu một cách có hệ thống tư tưởng quản lý của

Khổng Tử;

+ Làm rõ thêm những vấn đề liên quan đến việc dùng người (quản trị nhân

lực) trong tư tưởng quản lý của Khổng Tử;

+ Góp phần hệ thống hoá những quan điểm của Khổng Tử trong hoạt động

quản trị nhân lực

- Về mặt thực tiễn:

+ Góp phần làm rõ ảnh hưởng tư tưởng quản lý của Khổng Tử, cả mặt tích cực và tiêu cực, đối với công tác quản trị nhân lực trong bối cảnh Việt Nam

hiện nay

+ Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề, môn học có liên quan đến tư tưởng của Khổng Tử Những đề xuất, ý tưởng của đề tài là những kiến giải có cơ sở khoa học để vận dụng sáng tạo, linh

hoạt tư tưởng này trong công tác quản trị nhân lực ở Việt Nam

Trang 13

9 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung của đề tài được chia thành 2 chương:

Chương 1: Nội dung cơ bản tư tưởng quản lý của Khổng Tử

Chưởng 2: Vận dụng tư tưởng quản lý của Khổng Tử vào quản trị nhân lực trong bối cảnh Việt Nam hiện nay

Trang 14

CHƯƠNG 1

N ỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ CỦA KHỔNG TỬ 1.1 Một số khái niệm

Theo các tài liệu ghi nhận là sự phản ảnh hiện thực trong ý thức, là biểu

hiện các mối quan hệ giữa con người với những vấn đề thế giới xung quanh Tư tưởng là ý thức của một cá nhân, một cộng đồng Nó chứa một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học Các khái niệm mang tính chất nhất quán, những quan điểm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cá nhân, giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực

tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực

Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của

con người với thế giới chung quanh "Tư tưởng" ở đây không phải dùng với

nghĩa tinh thần - tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng, mà

với nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây

dựng trên một nền tảng triết học (thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện

thực Khái niệm "tư tưởng" liên quan trực tiếp đến khái niệm "nhà tư tưởng"

Một người xứng đáng là nhà tư tưởng, theo V.I.Lênin khi người đó biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trị-sách lược, các vấn đề về tổ

chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát

Tư tưởng triết học của Khổng Tử thể hiện tập trung ở ba nội dung chính: Quan niệm về trời, quỷ thần, con người; học thuyết về luân lý đạo đức và tư tưởng về chính trị – xã hội Quan niệm về trời, thiên mệnh, quỷ thần và con người được coi là cơ sở cho những quan điểm khác trong hệ thống tư tưởng của

Khổng Tử Nó khá mâu thuẫn bởi tính hai mặt, và vì thế, người ta vẫn còn nhiều

ý kiến khác nhau về đặc điểm và khuynh hướng tư tưởng của ông

Tư tưởng hay ý thức hệ là hệ thống các mục đích và quan niệm giúp điều

chỉnh mục tiêu, dự tính và hành động của con người Một ý thức hệ có thể hiểu

Trang 15

như một tầm nhìn bao quát, như cách thức để xem xét sự vật, thường gặp trong

một vài trường phái triết học xã hội Trong đề này này, nhóm tác giả sẽ sử dụng khái niệm này để nghiên cứu

Tập quán sinh sống của con người là quần tụ, sinh sống cộng đồng Để tồn

tại và phát triển, có nhiều việc mà một cá nhân không thể làm được hoặc làm được nhưng kém hiệu quả do đó cần sự liên kết để cùng thực hiện Từ những yêu cầu khách quan về sự liên kết hợp tác cộng đồng, các cá nhân dần tụ họp liên kết với nhau thành những tổ chức

Hợp tác và phân công lao động tiến dần từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Mọi thành quả

của tổ chức dù ở bất kỳ trình độ phát triển nào cũng là sự kết hợp, hợp tác cộng đồng của tất cả các thành viên Vì thế cần đến yếu tố điều hành, phối hợp các bộ

phận, cá nhân trong tổ chức – yếu tố đó là quản lý

Trong cộng đồng xã hội thị tộc, xã hội nguyên thủy đã hình thành các tổ

chức tự quản, đó là hội đồng thị tộc với người đứng đầu là tù trưởng với vai trò

thực hiện chức năng quản lý thị tộc Khi chế độ tư hữu ra đời, xuất hiện mâu thuẫn và ra đời giai cấp, mâu thuẫn giai cấp Để duy trì địa vị của giai cấp thống

trị và giải quyết các mâu thuẫn không thể điều hòa thì Nhà nước xuất hiện để

thực hiện chức năng quản lý xã hội

Cùng với sự phát triển của hợp tác, phân công lao động Xã hội loài người

đã trải qua các cuộc cách mạng gắn liền với các hình thái kinh tế - chính trị - xã

hội Trong mỗi tổ chức, quản lý đóng vai trò hết hợp sự nỗ lực chung của mỗi cá nhân trong tổ chức và sử dụng các nguồn lực vật chất có được để đạt các mục tiêu chung và mục tiêu riêng của từng thành viên tổ chức

Các Mác đã tổng hợp và đưa ra quan điểm về quản lý:“Mọi người lao động

sự cần thiết kết hợp, phối hợp hoạt động giữa các cá nhân trong xã hội, giữa con người với tự nhiên để mang lại lợi ích mong muốn cho cá nhân và toàn xã hội

Trang 16

Con người đã thực hiện hoạt động quản lý từ xa xưa, nhưng quản lý ra đời

với tư cách là một ngành khoa học thì còn rất mới mẻ Quản lý là một khái niệm

rộng bao gồm nhiều hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau, tuy vậy vẫn có

những nội dung chung nhất phản ánh bản chất của hoạt động này Quản lý gồm

hai quá trình đan xen vào nhau một cách chặt chẽ là: “Duy trì” và “Phát triển”

Nếu ta chỉ quan tâm duy trì sự tồn tại của tổ chức thì khi môi trường thay đổi, tổ

chức sẽ bị lạc hậu, trì trệ, đổ vỡ Nếu chỉ lo thúc đẩy tổ chức phát triển mà không quan tâm duy trì, thì tổ chức dễ gặp phải rủi ro trên bước đường phát triển

hoặc không có đủ điều kiện phát triển Nhìn nhận tổng quát giúp cho các nhà

quản lý hoạch định được những kế hoạch, tiến trình hợp lý giúp cho tổ chức tồn

tại để phát triển hoặc phát triển trên cơ sở tồn tại

Quản lý gắn liền với kinh tế - xã hội, đặc thù của mỗi tổ chức nên trên thực

tế đã có nhiều quan điểm khác nhau về hoạt động này Những quan điểm này có

lịch sử ra đời khác nhau và gắn với mỗi tổ chức trong từng lĩnh vực:

- Theo F.W Taylor: "qu ản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được rằng họ đã thành công việc đó một cách tốt

- Henry Fayol định nghĩa: "quản lý là một tiến trình bao gồm các khâu lập

đã định trước"

- Mary Parker Follett cho rằng: "quản lý là nghệ thuật đạt mục tiêu thông

qua con người"

- Có ý kiến cho rằng quản lý là hoạt động phối hợp các hoạt động chung

của một đoàn thể hợp tác; hay quản lý là điều khiển con người và sự vật nhằm đạt mục tiêu đã định trước

Từ những quan điểm trên có thể tiếp cận một khái niệm mang tính tổng hợp

về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ

Quản lý được cấu thành bởi các yếu tố sau:

Trang 17

- Chủ thể quản lý: là yếu tố tạo ra tác động quản lý trong mọi quá trình hoạt động Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo guyên tắc nhất định phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của tổ chức

- Khách thể quản lý: là yếu tố tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý Khách thể quản lý có thể là những hành vi thực thể (cá nhân, tổ chức, sự vật hay môi trường ), nhưng cũng có thể là mối quan hệ giữa các thực thể trong quá trình vận động, tồn tại

- Mục tiêu: là căn cứ để chủ thể quản lý phát ra các tác động quản lý, cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Chủ thể, khách thể quản lý đều hướng tới mục tiêu quản lý, đó là cái đích cần đạt tới tại một thời điểm trong tương lai với những yêu cầu, nội dung do chủ thể và khách thể đã thống nhất, xác định từ trước

- Môi trường quản lý: bao gồm môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã

hội có ảnh hưởng, tác động đến hoạt động quản lý, mục tiêu quản lý Trong các môi trường khác nhau, chủ thể quản lý phải tìm kiếm, sử dụng các công cụ

quản lý, phương pháp quản lý phù hợp Môi trường vừa đặt ra mục tiêu, vừa là địa bàn, động lực cho mỗi tổ chức hoạt động Đây là một yếu tố có tác động quan trọng trong quản lý

- Phương pháp quản lý: Phương pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động của chủ thể quản lý tới đối tuợng quản lý trên cơ sở lựa chọn những công cụ và phương tiện quản lý phù hợp nhằm mang lại hiệu quả quản lý cao nhất

trong điều kiện môi trường nhất định Từ định nghĩa này có thể thấy nội hàm của

phương pháp quản lý gồm thứ nhất là lựa chọn công cụ và phương tiện quản lý phù hợp, thứ hai là lựa chọn cách thức tác động của chủ thể tới đối tượng quản lý Phương pháp quản lý có 4 đặc trưng cơ bản: tính linh hoạt và sáng tạo; tính đa

dạng, phong phú; quan hệ hữu cơ với các nguyên tắc quản lý; là cơ sở cho việc hình thành phong cách và nghệ thuật quản lý

- Công cụ quản lý bao gồm: công cụ có tính quyền lực, công cụ có tính vật

chất và công cụ có tính phi vật chất Mỗi một công cụ sẽ có những phương pháp

Trang 18

quản lý khác nhau đi kèm tương ứng với nó Mỗi một đối tượng quản lý khác nhau thì phải có công cụ tương thích và phải được liên tục cải tiến để phù hợp với

những thời điểm khác nhau Thứ nhất, căn cứ vào việc sử dụng công cụ quyền

lực, có thể phân chia thành 03 phương pháp quản lý: phương pháp quản lý chuyên quyền, phương pháp quản lý dân chủ và phương pháp quản lý “tự do”.Thứ hai,

căn cứ vào việc sử dụng công cụ có tính vật chất, phương pháp quản lý được phân chia thành: phương pháp quản lý bằng kinh tế, phương pháp tổ chức - hành chính

Thứ ba, căn cứ vào việc sử dụng công cụ có tính phi vật chất, phương pháp quản

lý bao gồm: phương pháp chính trị - tư tưởng (phương pháp tuyên truyền giáo

dục), phương pháp tâm lý - xã hội

Quản lý có mặt trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, đời sống kinh tế - xã

hội nên khách thể, đối tượng quản lý rất đa dạng, phong phú Các đối tượng có

thể tồn tại độc lập hoặc kết thành thực thể gắn liền với quá trình tồn tại và vận động của các thực thể khác nhau

Quản lý là hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có sự nỗ lực của tập thể

để thực hiện công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung Quản lý diễn ra

với các quy mô, cấp độ của tổ chức khác nhau, từ nhỏ đến lớn từ đơn giản đến

phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế - chính trị - xã hội trong đó

quản lý kinh tế - xã hội là lĩnh vực phức tạp hơn cả Vì hoạt động này diễn ra thường xuyên, phong phú đa dạng, liên quan đến mọi tầng lớp trong xã hội, đến

mỗi cá nhân con người và các giá trị vô hình như phong tục tập quán, truyền

thống văn hóa – lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc Vì vậy, để đạt được các mục tiêu dự kiến trong quản lý cần phải kết hợp hài hòa, linh hoạt gắn liền với các đặc điểm của môi trường quản lý, đối tượng quản lý Các hoạt động quản lý về

cơ bản đều hướng tới các mục tiêu sau:

- Tổ chức, phối hợp, điều hành, hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong

Trang 19

tiêu chung của tổ chức nhằm duy trì sự tồn tại bền vững, thúc đẩy sự phát triển

của tổ chức

- Tạo nên sự ổn định và tính thích ứng cao của tổ chức cả về nội dung và hình thức trong môi trường luôn biến động, đáp ứng các yêu cầu của cá nhân, tổ

chức và tiến trình phát triển của thời đại

Từ mục tiêu là duy trì sự tồn tại và phát triển của tổ chức nhằm bảo vệ, đáp ứng các nhu cầu, lợi ích của tổ chức và từng thành viên

1.1.3 Vai trò của quản lý

- Tạo nên sự thống nhất ý trí, hành động giữa các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức Đây là điều kiện tiên quyết đối với mọi họat động quản lý Tuy nhiên, sự thống nhất phải phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với nguyện

vọng của đại đa số thành viên trong tổ chức

- Thông qua thực tiễn công tác quản lý, chủ thể quản lý xây dựng định hướng, kế hoạch, mục tiêu ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đối với tổ chức Từ đó

tập trung, huy động mọi nỗ lực của các thành viên trong tổ chức, thống nhất ý chí – hành động của cả hệ thống nhằm đạt được các mục tiêu xác định ở từng

thời kỳ

- Quản lý có vai trò to lớn trong phối hợp, điều hòa các hoạt động của mỗi thành viên, của các bộ phận trong tổ chức để vừa phát huy được thế mạnh, vừa ngăn ngừa kiểm soát, loại bỏ những mâu mất ổn định của tổ chức trong quá trình triển khai các hoạt động để đạt các mục tiêu đề ra của tổ chức

- Để tổ chức hòa nhập với môi trường xã hội, quản lý đã vận dụng nguyên

tắc hoạt động của các quy luật tồn tại trong môi trường vào điều kiện cụ thể của tổ

chức từ đó hình thành cơ chế quản lý điều hành, thể chế tổ chức, tạo môi trường cho sự phát triển của tổ cức và mỗi thành viên trong từng thời kỳ phát triển

- Quản lý còn là căn cứ để xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể cho mỗi

bộ phận, thành viên của tổ chức Là cơ sở để mỗi thành viên nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình về số lượng, chất lượng công việc được phân công

- Trên cơ sở nắm bắt thực trạng, bố trí nhân sự và công cụ lao động phù

hợp với trình độ chuyên môn và năng lực của mỗi thành viên, để họ phát huy

Trang 20

được tài năng trên cơ sở chuyên môn hóa nhằm hoàn thành công việc được giao

tốt nhất

- Phối hợp, điều tiết nhịp nhàng các bộ phận trong tổ chức, để các bộ phận ngoài việc hoàn thành các nhiệm vụ của mình vừa trợ giúp, phối hợp, thúc đẩy các bộ phận khác cùng hoàn thành tốt các nhiệm vụ, mục tiêu chung của tổ chức

- Hiệu quả của quản lý duy trì sự tồn tại của tổ chức, thông qua đó đóng góp cho toàn xã hội Đồng thời, củng cố địa vị của tổ chức dựa trên quy mô tổ

chức, chất lượng – số lượng các hoạt động của tổ chức trong cung cấp các dịch

vụ, sản phẩm đối với xã hội

1.2 Hoàn cảnh ra đời tư tưởng quản lý của Khổng Tử

Miền Bắc Trung Quốc cổ đại có hai dòng sông nhỏ: sông Thù và sông Tứ

chảy qua khúc dụ Đó là nơi chôn rau cắt rốn của Y Doãn; nơi có lăng của Thiếu

Hạo, có miếu của Chu Công; nơi Khổng Tử mở mắt chào đời, sinh sống thời thơ

ấu, giảng dạy lúc trưởng thành cho đến lúc tuổi già, sức yếu, yên nghỉ khi đã lìa đời Bởi vậy nên nói đến dòng sông Thù, sông Tứ tức là ám chỉ Khổng học,

Khổng môn

Nhìn bản đồ địa lý Trung Hoa, ta thấy có hai phần rõ rệt:

Một là phần cao nguyên rừng núi, nơi xưng hùng, xưng bá của các nước

Trang 21

trí cách trở Trung Quốc cổ đại rất khó có thể liên lạc, giao lưu với các nước khác trong và ngoài khu vực

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, sự phát sinh và phát triển của

tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại gắn liền với hoàn cảnh đất nước, gắn với quá trình biến đổi của điều kiện kinh tế, xã hội cùng sự phát triển của khoa học Trung Quốc đương thời

học cổ xưa, rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh phương Đông - chiếc nôi

lớn của nền văn minh nhân loại Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, sự phát sinh và phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại gắn liền với quá trình biến đổi của điều kiện kinh tế, xã hội cùng sự phát triển của khoa học Trung Quốc đương thời

Nho giáo ra đời vào thời Xuân thu - Chiến quốc, là thời kỳ chính trị có nhiều biến động Suốt thời Xuân thu, mệnh lệnh của “thiên tử” nhà Chu không còn được tuân thủ, trật tự lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi Nạn chư hầu chiếm ngôi “thiên tử’’ đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, cha giết con, anh hại em, vợ hại chồng thường xuyên xảy ra Các nước chư hầu đua nhau động binh gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau hết sức khốc liệt Trong khoảng 295 năm thời Xuân thu thì đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh Những nước chư hầu đang

dần lớn mạnh và tranh nhau làm bá thiên hạ Trong số những nước hùng mạnh

nhất thời bấy giờ chỉ có năm nước gọi là cục diện “Ngũ bá”, gồm Tề, Tấn, Tần,

Sở, Tống Cuối Xuân thu, có thêm Ngô và nước Việt Do chiến tranh xảy ra liên miên, dân đã nghèo khổ lại càng thêm nghèo khổ, nhiều nơi “thây người chết đầy đường”

dùng bò kéo cày đã khá phổ biến, tạo điều kiện cho việc khai khẩn đất hoang, hoàn thiện kỹ thuật canh tác ruộng đất và kỹ thuật “dẫn thủy nhập điền”, góp phần nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp Thủ công nghiệp đã có bước phát triển

mới, đặc biệt ở sự phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất, tạo ra một loạt ngành nghề mới bên cạnh ngành nghề cổ truyền, như nghề luyện kim, nghề đúc và

Trang 22

rèn sắt, nghề mộc, nghề xây, nghề thuộc da, nghề nhuộm, nghề làm đồ gốm Cùng

với sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng ngày càng phát triển hơn

Đến thời Chiến quốc kinh tế đã phá triển mạnh Nghề luyện sắt hưng

thịnh, đồ dùng bằng sắt phổ biến rộng rãi, đặc biệt là các công cụ như lưỡi cày,

quốc, rìu, dao… Đô thành các nước và một số thành ấp lập bên những đường giao thông trọng yếu trở thành những trấn đô lớn Thủy lợi và kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp vì thế càng phát triển Các công trình thủy lợi được xây dựng

khắp nơi từ lưu vực Hoàng Hà đến Trường Giang, từ bờ biển phía Đông đến vùng Tứ Xuyên Kéo theo đó là sự phát triển của các nghề thủ công như luyện kim, đồ gốm, nghề chạm bạc, nghề dệt lụa Tiền tệ bằng kim loại thịnh hành

dùng thẻ tre tiện hơn mai rùa và xương thú để nghi những điều muốn nhớ vừa dễ

khắc, vừa dễ sắp đặt (khoét lỗ trên thẻ, dùng dây da xỏ thành từng bó - từng quyển); sau họ biết dùng cây nhọn nhúng vào sơn viết lên thẻ tre hoặc lụa, dễ và mau hơn khắc nhiều Nhờ vậy mà Nhà chu và chư hầu nào cũng có quan chép sử

của triều đình

Về xã hội, ngay thời Xuân thu, trên cơ sở phát triển của sức sản xuất xã

hội, đất do nông dân vỡ hoang trở thành ruộng tư ngày càng tăng thêm Bọn quý

tộc có quyền thế chiếm đoạt ruộng đất công ngày càng nhiều Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất hình thành Đến thời Chiến quốc, do chiến tranh giữa các nước liên tục xảy ra trên quy mô lớn đã làm cho đời sống nhân dân ngày càng

khổ hơn, trật tự xã hội đảo lộn, long dân ly tán Mạnh tử đã viết: “Đánh nhau tranh giành, thì giết người thây chết đầy thành; đánh nhau giành đất, thì giết người thây chết đầy đồng” (“Mạnh Tử”, Ly Lâu thượng, 14) Do có chế độ mua bán ruộng đất tự do nên bọn quý tộc, thương nhân giàu có đã chiếm được nhiều

ruộng đất của nông dân, trở thành những địa chủ lớn, chúng chuyển sang hình

thức thuê mướn công nhân và cho phát canh thu tô Quan hệ sản xuất phong

kiến nông nô dần dần chiếm ưu trong đời sống xã hội

Chính trong thời đại lịch sử biến chuyển sôi động đó đặt ra một loạt những

Trang 23

vấn đề xã hội và triết học mới, buộc các nhà tư tưởng phải quan tâm lý giải, làm

nảy sinh một loạt các trường phái triết học đa dạng trong đó có Nho giáo

Trung Quốc cổ đại kéo dài từ thế kỷ XXI trước công nguyên đến cuối thế

kỷ III trước công nguyên, với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc

lập ra nhà Tần – nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, chấm dứt cảnh phân tán, tranh giành giữa các nước chư hầu

Lịch sử Trung Quốc cổ đại được chia làm ba thời kỳ tương xứng với ba triều đại: Hạ, Thương (Ân), Chu:

- Hạ: (Khoảng thế kỷ XXI đến thế kỷ XVI trước công nguyên): Dù cho Vũ (con vua Nghiêu, được vua Thuấn nhường ngôi) chưa xưng vương, nhưng là

người đặt cơ sở cho nhà Hạ Thời kỳ này, Trung Quốc chưa có chữ viết, chỉ biết đồng đỏ Sau bốn thế kỷ tồn tại, đã diệt vong và không để lại nhiều chứng tích cụ

thể dưới thời vua Kiệt – bạo chúa nổi tiếng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc

- Thương (còn gọi là Ân, từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XII trước công nguyên): Thang là người tiêu diệt vua Kiệt lập ra nhà Thương Thời kỳ này Trung Quốc đã biết sử dụng đồng thau, chữ viết ra đời, nông lịch ra đời, tính được thủy triều Nhà Thương, giới quý tộc giữ vai trò thống trị và cho rằng đây

là trời định, nhà vua là thiên tử, quản lý quốc gia theo mệnh trời

- Chu (thế kỷ XI đến thế kỷ III trước công nguyên): Văn vương đã tiêu

diệt vua Trụ - bạo chúa nhà Thương lập lên nhà Chu Trong hơn tám thế kỷ tồn

tại, nhà Chu được chia làm hai thời kỳ: Tây Chu và Đông Chu Từ khi thành

lập đến năm 771 TCN nhà Chu đóng kinh đô ở Cảo Kinh, phía tây nên gọi là Tây Chu Ở thời kỳ này Trung Quốc tương đối ổn định Từ năm 771 TCN, nhà Chu rời kinh đô về Lạc Ấp ở phía Đông nên gọi là Đông Chu Thời kỳ Đông Chu lạ chia làm hai giai đoạn: Xuân Thu (772 – 481 TCN) và Chiến Quốc (403-221TCN)

Thời kỳ Đông Chu là giai đoạn chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến Đồ sắt ra đời và được sử dụng rộng rãi, tạo nên cuộc cách mạng về công cụ sản xuất Hệ thống thủy lợi được quan tâm, phát triển tạo

Trang 24

điều kiện cho nông dân trồng cấy hai vụ lúa Nhà Chu khuyến khích khai hoang,

khẩn hóa, mở rộng đất canh tác, chế tác kim loại, khai khoáng, làm muối, làm

thủy tinh, các nghề thêu dệt thủ công, đan lát xuất hiện các trung tâm mua bán,

đô thị, hệ thống giao thông được mở rộng Thời kỳ ấy đòi hỏi phải xây dựng lại cách thức tổ chức quản lý để ổn định trật tự xã hội, xây dựng xã hội thịnh vượng, cứ vớt thiên hạ khỏi khổ đau

Trong xã hội, bên cạnh giai cấp quý tộc, nông dân, thợ thủ công, nô lệ

xuất hiện thêm hai giai tầng mới là địa chủ và thương nhân Khi nhà Chu còn

thịnh vượng, thì đất đai thuộc sở hữu nhà vua Vào thời kỳ Chiến Quốc , phần

lớn đất đai nằm trong tay tầng lớp địa chủ Tài sản đã phân hóa xã hội thành hai giai cấp sang hèn, đạo đức xã hội suy thoái, đảo lộn Tình cảnh tôi giết vua, con

giết cha, vợ giết chồng trở nên phổ biến, thời đại “lễ hư, nhạc hỏng” Nhân

dân đói khổ vì chiến tranh, vì bị áp bức bóc lột nặng nề

Trong xã hội xuất hiện tầng lớp trí thức mới, họ không trị nước mà bàn

luận việc nước, hình thành nhiều học thuyết, trường phái tư tưởng – triết học –

chính trị - xã hội khác nhau, hoạt động sôi nổi gọi là phong trào “bách gia chư

phái đều hướng vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức

của xã hội Đây là nét đặc trưng tiêu biểu cho các học thuyết chính trị xã hội Trung Quốc cổ đại

Sống trong một xã hội nông nghiệp, sản xuất kém phát triển vào cuối đời

Xuân Thu, đầy cảnh “đại loạn” và “vô đạo”, bản thân đã từng làm nhiều nghề

“bỉ lậu” rồi làm quan cai trị, Khổng Tử nhận thức được nhu cầu về hoà bình, ổn

định, trật tự và thịnh vượng của xã hội và mọi thành viên Khổng Tử là một

người “nhập thể” và luôn trăn trở với chuyện quản lý của xã hội theo cách tốt

nhất Song, ông không phải là một nhà cách mạng từ dưới lên, ông chỉ muốn

thực hiện những cải cách xã hội từ trên xuống, bằng con đường “Đức trị”

Xã hội lý tưởng mà Khổng Tử muốn xây dựng là một xã hội phong kiến

có tôn ti, trật tự Từ Thiên Tử tới các chư hầu lớn nhỏ, từ quý tộc tới bình dân, ai

có phận nấy, đều có quyền lợi và nhiệm vụ sống hoà hảo với nhau, giúp đỡ

Trang 25

nhau, nhất là hạng vua chúa, họ phải có bổn phận dưỡng dân- lo cho dân đủ ăn

đủ mặc, và bổn phận giáo dân bằng cách nêu gương và dậy lễ, nhạc, văn, đức,

bất đắc dĩ mới dùng hình pháp Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở và hình mẫu,

trọng hiếu đễ, yêu trẻ, kính giá Mọi người đều trọng tình cảm và công bằng, không có người quá nghèo hoặc quá giàu; người giàu thì khiêm tốn, giữ lễ,

người nghèo thì “lạc đạo” Dù sao thì ý tưởng trên cũng được cả hai giai cấp

bóc lột và bị bóc lột thời đó dễ chấp nhận hơn, dễ thực hiện hơn so với hình mẫu

xã hội vô chính phủ “ngu si hưởng thái bình” của Lão Tử và mẫu “quốc cường

quân tôn” bằng hình phạt hà khắc và lạm dụng bạo lực của phái pháp gia

Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên, cái giúp cho các nhà cai trì lập lại trật

tự từ xã hội vô đạo chính là đạo Nho – đạo Nhân của Khổng Tử Cho nên, dù có nói về chính trị, giáo dục hay đạo đức thì Khổng Tử đều xuất phát từ vấn đề nhân sự và mục đích của ông chính là xây dựng một xã hội nhân bản

Học thuyết của ông gần gũi với cuộc sống đời thường, đi sâu vào phân tích cách đối nhân xử thế và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với người xung quanh Học thuyết của ông có thể được minh họa qua những nguyên tắc sau:

Thứ nhất, học thuyết Khổng Tử đi vào việc nghiên cứu tính bền vững của

xã hội Theo ông chỉ có thể duy trì tính bền vững này một khi giữa những cá nhân có mối quan hệ theo đẳng cấp rõ ràng Do vậy, những nhà quản lý cấp thấp

phải thể hiện sự tôn trọng và tuân phục với nhà quản lý cấp cao (quân xử thần

tử, thần bất tử bất trung)

Thứ hai, gia đình là nguyên mẫu của tất cả tổ chức trong xã hội Do đó,

mỗi cá nhân phải tìm cách duy trì sự phát triển hài hòa của tổ chức bằng cách cho phép những người khác bộc lộ bản chất của mình như phẩm chất, lòng tự

trọng và uy tín, đặc biệt trong công việc (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)

Thứ ba, mọi người phải đối xử với nhau như chính bản thân mình Do

vậy, những nhà quản lý cấp cao phải khuyến khích các nhân viên cũng như các nhà quản lý cấp trung gian nâng cao kiến thức và kỹ năng nhằm thúc đẩy sự tiến

bộ của toàn tổ chức

Cuối cùng, mỗi cá nhân trong cuộc sống phải có trách nhiệm học tập mở

Trang 26

mang kiến thức, làm việc chăm chỉ, không hoang phí, rèn luyện đức kiên nhẫn

và giữ gìn những giá trị truyền thống của xã hội

Cuộc đời của Khổng Tử được chép một cách kỹ lưỡng trong bộ Sử ký của

Tư Mã Thiên, từ đó giúp chúng ta có thể có một cái nhìn đầy đủ, chi tiết, rõ ràng

về nhà giáo dục lỗi lạc của nhân loại

Khổng Tử (551 - 479 TCN) họ Khổng, tên Khâu, tự Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 âm lịch năm Canh Tuất, đời vua Châu Linh Vương năm thứ 21 nhà Chu, tương ứng với đời vua Lỗ Tương Công năm thứ 22, tại làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ (nay là tỉnh Sơn Đông nước Trung Quốc)

Theo truyền thuyết, thủy tổ của ông là Vi Tử thấy anh là vua Trụ tàn bạo, hoang dâm nên can ngăn nhưng không được, vì vậy ông đã bỏ nước mà đi để

bảo tồn dòng họ, nên Võ Vương sau khi diệt Trụ rồi phong Vi Tử làm Tống

Hầu Không rõ tới đời thứ mấy (10 hay 12), họ Khổng phải trốn sang nước Lỗ,

từ đó suy ra, Khổng Tử là đời thứ 15

Cha Khổng Tử là Thúc Lương Ngột làm một chức quan nhỏ ở nước Lỗ, ông có phẩm nhất của võ quan và là người dũng cảm Tinh thần thượng võ và chiến công của Lương Thúc Ngột đã được ghi trong Tả truyện, Tuyên công năm

thứ 10 (563 TCN) Võ quan Thúc Lương Ngột, có sách chép là người được mang chức quan đại phu nhưng có sách lại nghi ngờ

Khúc Lương Ngột giã từ binh khí khoảng tuổi 63 Cuộc sống gia đình theo tiêu chuẩn bình giá lúc bấy giờ cần phải làm nhiều việc Ông mơ ước có người kế thừa, tiếp tục giương cao vinh quang của họ Khổng nhưng bà vợ trước

của ông sinh toàn con gái, tất cả là chín người Vì vậy, ông phải đi lấy thiếp Người thiếp này sinh cho ông một người con trai tên là Mạnh Bì nhưng lại bị tàn

tật Cách đặt tên Mạnh (con đầu) như thế đã thể hiện được quyết tâm sinh con

nữa để nối dõi tông đường Ông mơ ước có một người con trai nối dõi khỏe

mạnh Tất nhiên với địa vị võ quan như ông, ông có thể lấy bất kì ai Song ông không vội Ông để mắt vào một gia đình quyền quý họ Nhan có ba cô con gái

Trang 27

đến tuổi lấy chồng ở đất Khúc Phụ Người ta đồn rằng hai cô đầu đã từ chối, song hỏi đến cô thứ ba thì lập tức cô đồng ý ngay Cuộc hôn nhân này được Sử

ký gọi là “dã hợp”, chữ này nên được hiểu là cuộc hôn nhân của một người quá già với một người quá trẻ, không hợp với chuẩn mực thông thường Trên thực

tế, cuộc hôn nhân của Thúc Lương Ngột và Nhan thị là cuộc hôn nhân chính

Khổng Tử sinh trưởng theo lẽ tự nhiên như mọi người, nhưng vì Khổng

Tử là một bậc giáo tổ, hậu thế mới đặt ra những câu chuyện huyền bí nói rằng, trước khi sinh ra Khổng Tử, bà Nhan thị thấy con kỳ lân nhả tờ ngọc thư có chữ

đề rằng: “Thủy tinh chi tử, kế suy Chu vi tố vương: con của thủy tinh, nối nhà Chu đã suy mà làm vua không ngôi” Bà Nhan thị thấy vậy, lấy dây lụa buộc vào sừng con kỳ lân Được mấy ngày thì con kỳ lân đi mất Đến khi sinh Khổng

Tử có hai con rồng xuống quấn chung quanh nhà và có năm ông lão là năm vị sao trên trời xuống đứng dưới sân Ở trong phòng bà Nhan thị nghe trên trời có

âm nhạc và có tiếng nói rằng: “Thiên cảm sinh thánh: Trời cảm lòng cầu nguyện cho sinh ra con thánh” Những chuyện ấy tuy là chuyện người đời sau bịa đặt ra, nhưng cũng là cái bằng chứng rõ là người đời ưa sự quái lạ, nhất là những người

đã làm nên công nghiệp lớn, hoặc đã sáng lập ra tông giáo nào, đều có chuyện lạ

để làm cho cái phẩm giá khác người thường Tuy nhiên, khi Khổng Tử mới được 2 năm 3 tháng thì cha đã qua đời

Cha mất, bao nhiêu khó khăn dồn lên vai người mẹ trẻ Bà quả phụ họ Nhan thậm chí không được ôm vào quan tài của chồng và bà cho đến lúc chết cũng không biết mộ chồng ở chỗ nào Không khí gia đình không cho phép có

những điều kiện tối thiểu để chăm sóc đứa bé mới hơn hai năm tuổi Trong hoàn

cảnh khó khăn như vậy, Nhan thị đã bồng bế con trở về Khúc Phụ Nhờ vào sự

tần tảo, chăm làm, nhẫn lại của người mẹ mà hai mẹ con đã vượt qua những khó

Trang 28

khăn tưởng chừng không vượt qua nổi Chính trong cuộc sống khó khăn nhưng đầy tinh thần vươn lên ấy, Khổng Tử đã tiếp thu được lối giáo dục tiến bộ của mẹ mình

Những trò mà ngày nhỏ Khổng Tử hay chơi là “bày các khay để cúng và chơi trò tế lễ” như Tư Mã Thiên đã ghi trong Sử ký Những trò chơi này vừa thích ứng với tính hiếu động của trẻ vừa có tác dụng giáo dục, hướng dẫn các hành vi cho trẻ

Năm 15 tuổi, Khổng Tử dốc chí vào học Học để có kiến thức, có tư cách, làm vốn liếng cho cuộc đời khát khao vi chính của mình Năm 17 tuổi, mẹ

Khổng Tử qua đời (năm 30 tuổi) Khổng Tử cần mai tang mẹ bên cha Nhưng nơi chôn cha ở đâu, thì không ai chỉ cho Khổng Tử phải chôn tạm mẹ ở con đường Ngũ Phụ Sau đó, mẹ của Vãn Phụ người đất Trâu nói cho Khổng Tử nơi

mộ cha, cho nên về sau Khổng Tử mới hợp táng cả cha mẹ ở núi Phòng Sơn cách Khúc Phụ 9 km Năm 19 tuổi, Khổng Tử thành gia lập thất, rồi ra nhận

chức Uỷ lại coi sự gạt thóc ở kho, sau lại làm Tư chức lại coi việc nuôi bò dê để dùng về việc cúng tế Tuy Khổng Tử còn trẻ tuổi, nhưng đã nổi tiếng là người

giỏi, cho nên quan nước Lỗ là Trọng Tôn Cồ cho hai con là Hà Kị và Nam Cung Quát theo Khổng Tử học lễ Năm sau vợ ông sinh con trai đặt tên là Lý, tự là Bá Ngư Sau này vợ ông còn sinh một người con gái nữa và gả cho Công Dã Tràng

là một môn sinh

Khổng Tử là người học theo Nho thuật cho nên Khổng Tử rất chú ý về

mặt lễ nghi và những phép tắc của những đế vương đời trước Năm 28, 29 tuổi

Khổng Tử đi học ở Lạc Ấp là chỗ kinh sư nhà Chu nhưng vì đường xa, tiền lộ phí mất nhiều nên không đi được Sau học trò Ngài là Nam Cung Quát đem việc

ấy bẩm với Lỗ hầu, là vua nước Lỗ Lỗ hầu cho một cỗ xe hai con ngựa và

những người hầu hạ đưa người đi

Ở Lạc Ấp có nhà Minh Đường của Chu Công lập ra để chứa những luật lệ

và những bảo vật cùng các hình tượng của các thánh hiền đời trước Khổng Tử đến đó khảo cứu mọi việc và đi xem những chế độ ở nơi miếu đường cùng

những nơi tế Giao, tế Xã Và ở đâu có việc gì quan hệ đến sự tế lễ là Ngài cũng

Trang 29

đi xem xét rất tường tận Khổng Tử đi hỏi lễ Lão Tử, hỏi nhạc Trành Hoằng Sách sử ký của Tư Mã Thiên chép rằng: “Khổng Tử đến hỏi Lão Tử về lễ, Lão

Tử đáp rằng: người quân tử gặp thời thì đi xe, không gặp thời thì đội nón lá mà

đi chân Ta nghe: người buôn bán giỏi, khéo chứa của, coi như người không có gì; người quân tử có đức tốt, coi diện mạo như sắc dục và dâm chí đi; những cái

ấy đều vô ích cho ông” Khổng Tử về bảo các đệ tử rằng: “Chim thì ta biết nó bay được, cá thì ta biết nó lội được, giống thú thì ta biết nó chạy được Chạy, bay, lội, ta có thể chăng lưới mà bắt được, đến như con rồng hì ta không biết nó cưỡi gió, cưỡi mây bay lên trời lúc nào Hôm nay ta thấy Lão Tử như rồng vậy: Ngô kim nhật kiến Lão Tử, kỳ do long tà

Khổng Tử ở Lạc Ấp được ít lâu rồi trở về nước Lỗ Từ đó sự học của

Khổng Tử rộng hơn trước và số lượng học trò theo học Khổng Tử ngày càng nhiều Nhưng vua nước Lỗ vẫn không dùng Khổng Tử Được mấy năm trong nước có loạn, Khổng Tử bỏ sang nước Tề Vua nước Tề là Tề hầu đón Khổng

Tử đến hỏi việc chính trị Khổng Tử nói chuyện vừa ý Tề hầu Tề hầu định lấy đất Ni Khê mà phong cho Khổng Tử, nhưng quan đại phu nước Tề là Yến Anh không thuận, can ngăn Tề hầu không cho Khổng Tử thấy vậy lại bỏ nước Tề trở

về nước Lỗ Lúc này Khổng Tử đã 35, 36 tuổi, Khổng Tử về nước nhà dạy học trò và suy xét cho tường tận “chữ” của thánh hiền đời trước

Theo sách Khuyết lý, Khổng Tử là người cao lớn, có tướng ngũ lộ là: mắt

lồi, lỗ mũi rộng, lộ hầu, tai bạt, hở răng Mặt to và có những vạch như quả dưa

chín Bàn tay hổ, ngực rùa, râu rậm, mồm rộng, miệng nói tươi, đi nhanh

Khổng Tử là người ôn hòa, nghiêm trang và kính cẩn Sách Luận ngữ chép rằng: “Tử ôn nhi lệ, uy nhi bất mãnh, cung nhi an: Phu tử hòa mà nghiêm,

uy mà không dữ, kính cẩn mà an vui tự nhiên” (Thuật nhi, VII) Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham học Bất cứ việc gì, Ngài cũng để ý xem

xét rất kỹ lưỡng để biết cho cùng tận mới thôi Tính Khổng Tử ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận, đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vào Thiên mệnh

Trang 30

Năm 15 tuổi, Khổng Tử bắt đầu sự nghiệp học vấn của mình Năm 20 tuổi, Khổng Tử làm chức quan lại cho nhà họ Quý, một quý tộc có quyền hành nhất ở nước Lỗ thời đó Mới đầu ông coi việt gạt thóc, sau coi giữ cừu và giữ bò

để dùng trong những tang lễ, nổi tiếng là siêng năng, liêm khiết Năm 30 tuổi tức

là năm 20 đời Lỗ Chiêu Công (522 TCN) Năm ấy, vua Cảnh Công nước Tề cùng tướng quốc Án Anh sang nước Lỗ Khổng Tử đã có cơ hội gặp vua Cảnh Công nước Tề để nói chuyện về chính sự Qua cuộc nói chuyện này, Khổng Tử

có cơ hội thử nghiệm những điều mình đang nung nấu về con đường trị nước an dân và khả năng hiện thực hóa nó Những nung nấu đó thể được tin dùng, thực hiện khi được một vị vua sáng chú ý tới Tuy nhiên, vua Tề cũng không thu nhận Khổng Tử vào bộ máy của người Tề Năm 35 tuổi tức năm 25 đời vua Lỗ Chiêu Công (517 TCN) thì trong nước Lỗ có loạn lớn Sự việc bắt đầu bằng việc Quý Bình Tử vì việc chọi gà mà mắc lỗi với Lỗ Chiêu Công Lỗ Chiêu Công đem binh đánh Quý Bình Tử Quý Bình Tử cùng họ Mạnh và Thúc Tôn hợp lực đánh

Lỗ Chiêu Công Lỗ Chiêu Công thua chạy sang Tề Vua Tề cho Lỗ Chiêu Công

ở ấp Can Hầu

Sau khi sự kiện này xảy ra, Khổng Tử cũng sang Tề và làm gia hầu cho quan đại phu nước Tề là Cao Chiêu Tử Ông hy vọng sẽ có cơ hội để yết kiến vua Tề Cảnh Công và cuối cùng Khổng Tử đã gặp được vua Tề để nói chuyện liên quan đến vấn đề Vi chính

Khổng Tử sống hơn hai năm ở nước Tề, từ mùa đông năm thứ 25 đến mùa đông năm thứ 27 đời Lỗ Chiêu Công (517 đến 515 TCN), rồi lại trở về nước Lỗ

Năm 37 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ Từ đây bắt đầu một giai đoạn trong cuộc đời của Khổng Tử mà giai đoạn này đến tận năm 501 TCN, năm

Khổng Tử 51 tuổi vua nước Lỗ cho ông làm quan Trung đô tể tức như quan kinh thành phủ doãn ngày nay Cách một năm thì cải chức làm quan Đại tư khấu, tự

hồ bây giờ là quan Hình bộ Thượng thư Khổng Tử đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định rõ việc tống tang người chết Lớn nhỏ phân biệt trai gái, không lẫn lộn, người đi ngoài đường thấy của rơi không nhặt, kẻ gian

Trang 31

phi không có, hình pháp đặt ra không hề dùng đến

Khổng Tử làm Đại Tư Khấu được bốn năm thì vua nước Lỗ cất nhắc lên Nhiếp Tướng Sự, nghĩa là cho ông quyền nhiếp việc chính sự trong nước

Khổng Tử cầm quyền được bảy ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết gian thần là Thiếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc sách

Khổng Tử cùng các học trò đi qua các nước: Vệ, Khuông, Trần, Tống, Thái, Sở, để mong thuyết phục các vua chư Hầu chịu đem cái Đạo của Khổng

Tử ra ứng dụng để đem lại thái bình thịnh trị cho dân chúng Nhưng cái Đạo của ông là Vương Đạo nên đi ngược ý đồ Bá Đạo của các vua chư Hầu và quyền lợi

của các quan Đại phu nên các vua chư Hầu đều không dám dùng ông

Rốt cuộc, sau 14 năm đi chu du các nước không thành công, Khổng Tử

phải trở về nước Lỗ, có quan Đại Phu Quý Khang Tử sai Công Hoa ra đón

Khổng Tử Phu nhân của Khổng Tử là bà Thượng Quan đã mất trước đó một năm, nhằm năm Lỗ Ai Công thứ 10

Khi trở về nước Lỗ, Khổng Tử đã 68 tuổi Ông trở lại quê nhà để mở mang việc dạy học và soạn sách.Tổng số môn đệ của Khổng Tử có lúc lên tới

3000 người (Tam thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt vào hạng tài giỏi, nên gọi là Thất thập nhị Hiền Khổng Tử san định lại các kinh sách của Thánh Hiền đời trước như: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch

Khổng Tử ghi chú các lời nói của Thánh Hiền đời trước, xếp đặt lại cho

có thứ tự, chú thích những chỗ khó hiểu, nhất là với Kinh Dịch, ông chú giải rất

kỹ Sau đó, Khổng Tử viết ra sách Xuân Thu, chép những việc của nước Lỗ và của nhà Chu liên hệ với các nước chư Hầu từ đời Lỗ Ẩn Công nguyên niên (721 trước Tây lịch) đến đời Lỗ Ai Công thứ 14 (481 trước Tây lịch), tổng cộng là

242 năm Khổng Tử là bậc Chí Nhân Chí Thánh, nhưng ông vẫn khiêm tốn không dám nhận mình là Thánh nhân Đối với các môn đệ, Khổng Tử rất dễ dãi

Hễ ai theo đúng lễ đến xin học thì ông không bao giờ từ chối Khổng Tử thu nhận học trò, không kể giàu nghèo, con quan hay con dân Khổng Tử mở ra một nền giáo dục bình dân đại chúng, đào tạo được một lớp người trí thức mới, tài giỏi và có đức hạnh trong giới bình dân Sự giáo hóa của Khổng Tử chủ yếu là

Trang 32

làm sao cho sáng tỏ cái đức sáng của người, chớ không gom vào trong sự truyền thụ kiến thức Đây là một phương pháp giáo dục rất hay để khai mở cái Tâm của con người vậy

Đến ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất, Đức Khổng Tử

tạ thế, hưởng thọ 73 tuổi Mộ của ông ở bên bờ sông Tứ Thủy, phía Bắc thành nước Lỗ, nay gọi là Khổng Lâm, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông Ba ngàn

đồ đệ của Khổng Tử đều thương tiếc và than khóc, nguyện để tang Thầy 3 năm

Có hơn 100 môn đệ làm nhà chung quanh phần mộ để lo phụng tự trong 3 năm, riêng Tử Cống ở đó hết 6 năm mới thôi Chu vi đất quanh mộ của Khổng Tử rộng

chừng 100 mẫu mà không hề có cây gai và cỏ may mọc Học trò bảo nhau đi tìm các thứ hoa thơm cỏ lạ ở các nơi đem về trồng khắp chung quanh

1.3 N ội dung tư tưởng quản lý của Khổng Tử

Tư tưởng của Nho giáo khá đa dạng và phong phú bàn về nhiều vấn để về

thế giới, con người, về chính trị, xã hội, về luân lý, đạo đức…nhưng có thể khái

quát trong tư tưởng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của người quân tử Nho giáo đã vạch ra lộ trình mà mỗi người quân tử phải thực hiện từ bước “tu

thân” – “tề gia” – “trị quốc” – sau đó mới có thể “bình thiên hạ” Trong các

mối quan hệ quan trọng mà mỗi người quân tử phải thực hiện là “tề gia” “Tề

gia” vừa là cái gốc vừa là trung tâm mà mỗi người quân tử phải làm Để đạt

được mục đích bình thiên hạ rất cần biết cách tập hợp xung quan mình những người hiền Do đó, các tư tưởng quản lý, trong đó tập trung chủ yếu vào bản chất

con người, cách dùng người, với các nội dung cụ thể như sau:

Khổng Tử cho rằng bản tính của con người là thiện, luôn sống gần nhau,

giúp đỡ lẫn nhau, hòa đồng, tương tác học hỏi lẫn nhau trong cuộc sống Con

người sinh ra có tính bẩm sinh giống nhau là tính thiện, càng lớn lên con người càng bị tập nhiễm xã hội nên có người tốt, người xấu

Tính thiện của con người được thể hiện tập trung ở chữ “nhân“ với nội

dung là lòng thương yêu con người Khổng Tử đã nói:“mình cũng như người,

cái gì mình muốn có thì người cũng muốn, cái gì mình không muốn thì người

Trang 33

cũng không muốn Do đó, điều gì mà mình không muốn thì đừng áp đặt cho người khác và mình muốn lập thân thì cũng phải giúp cho người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng phải giúp người khác thành đạt”

Lòng nhân, lòng thương người theo Khổng Tử được đặc trưng bởi lòng

thành kính Ví như: “con cái phụng dưỡng cha mẹ chỉ cho cha mẹ ăn, ống mà

không thành kính thì chẳng khác nào như nuôi chó, ngựa trong nhà” Có hai

cách để nhận biết được lòng nhân của con người:

- Một là: lòng nhân sẽ tỷ lệ nghịch với lời nói Người càng nói nhiều, lời nói càng trau chuốt, càng khéo léo thì chứng tỏ người đó không có lòng nhân

Mà đây là: xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hĩ nhân

- Hai là: lòng nhân tỷ lệ thuận với sự chất phác, thật thà Người càng chất phác, thật thà bao nhiêu thì càng có lòng nhân bấy nhiêu (mộc nột cận nhân)

Khổng Tử trước tiên chú trọng vào sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, sau đó

nuôi dưỡng gia đình, rồi mới đến cai trị thiên hạ bằng lòng nhân từ: "Tu thân, Tề

có đối với một con người là Ngũ thường: "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín" Nhân là

lòng từ thiện, Nghĩa là làm tròn bổn phận, Lễ là sự tôn ti trật tự hay quy tắc trong việc đối nhân xử thế với người trên kẻ dưới, Trí là trí tuệ minh mẫn làm

việc gì cũng phải suy nghĩ, Tín là lòng thành thực hiện điều đã nói Đây được coi là những chuẩn mực, tiêu chuẩn đánh giá con người trong xã hội Trung

Quốc cổ đại Nếu ai cũng giữ năm đạo đó thì xã hội sẽ bình yên

Khổng Tử đã chia con người trong xã hội thành ba hạng sau:

- Hạng thứ nhất: Thánh Nhân Là những người không cần phải học hành, rèn luyện gì Sinh ra đã biết tất cả, là hạng người đại diện cho sự hoàn mỹ, cao quý nhất trong thiên hạ, mọi người đều tôn vinh, ngưỡng mộ như những vị thánh

- Hạng thứ hai: Quân tử (kẻ sĩ) Là những người có học hành, rèn luyện

mới biết, mới trưởng thành người có ích, có địa vị trong xã hội Những người này tạo thành nhóm chủ thể quản lý trong xã hội Ông cũng đưa ra các yêu cầu

Trang 34

cần có đối với các chủ thể quản lý: Nhân (lòng thương yêu con người, thái độ, cách ứng xử trong giao tiếp – thực hiện chức nghiệp giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý); Trí (trình độ, năng lực, hiểu biết của các chủ thể quản lý);

Dũng (lòng can đảm, dũng cảm, ý trí không sợ những sức ép, quyết tâm bảo vệ cái đúng – lẽ phải - sự công bằng của các chủ thể quản lý) Theo ông, chỉ

những người có đầy đủ ba đức tính cơ bản trên mới xứng đáng là “phụ mẫu của

dân”, xứng đáng với sứ mệnh “trị quốc, bình thiên hạ” của kẻ sĩ

- Hạng thứ ba: Tiểu nhân (nông dân) Là những người ít học hoặc không được học hành Họ chủ yếu là lao động chân tay trong các ngành nghề nông nghiệp Đây là lực lượng người chiếm đại đa số trong xã hội Trung Quốc cổ đại, là khách thể/ đối tượng quản lý trong hoạt động quản lý xã hội của giai cấp

cầm quyền

Khổng Tử đề cao mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý

Mối quan hệ này được gắn kết, ràng buộc với nhau, tác động qua lại với nhau

bởi lễ và nghĩa theo tư duy, chuẩn mực đương thời

trọng Để áp dụng được phương pháp này, bản thân người quân tử - chủ thể

quản lý không những không được cầu danh, cầu lợi cho riêng mình mà phải luôn

luôn xem xét lại chính mình ở chín khía cạnh khác nhau: “1/ Khi nhìn phải nhìn

cho rõ; 2/ Khi nghe phải nghe cho rõ; 3/ Sắc mặt phải ôn hòa; 4/ Tướng mạo

trang; 7/ Điều gì còn nghi hoặc phải hỏi cho rõ; 8/ Khi nóng giận phải nghĩ tới

Đức là công cụ quản lý trong tư tưởng Khổng Tử Để sử dụng được, sử

dụng tốt công cụ này đòi hỏi chủ thể quản lý phải tu thân để trở thành tấm

gương sang cho mọi người noi theo Khổng Tử đã nói: “như ai thi hành việc

chính trị, cầm quyền cai trị đất nước mà biết đem hết cái đức của mình bổ hóa

ra thì mọi người đều phục tùng theo Tỷ như sao Bắc đẩu ở một chỗ mà mọi vì

Trang 35

Để chủ thể quản lý, người quân tử có định hướng trong tu thân, rèn luyện mình trở thành tấm gương sáng trong quản lý, Khổng Tử đã viết ra “cửu kinh”

với các nội dung cơ bản sau: “1/ Tu thân; 2/ Yêu thương họ hàng; 3/ Kính đại

7/Khuyến khích nhân tài, mở mang bách nghệ, thi đua khen thưởng; 8/ Đón tiếp

thể quản lý rèn luyện bản thân, giữ chính đạo trong quản lý “Nếu nhà cầm

phép Còn như tự mình chẳng giữ theo chính đạo, dẫu mình có ra lệnh bộc dân

đối phương pháp dùng mệnh lệnh trong quản lý Ông đã nói:”nếu nhà cầm

người tốt lành, tài cán Còn những kẻ yếu sức nên giáo hóa họ Như vậy, dân khuyên nhau làm điều lành, vui với điều lành”

Ngoài nêu ra hai phương pháp quản lý trên, Khổng Tử còn đưa ra các yêu

cầu của mục tiêu và bàn về nghệ thuật trong quản lý:

Mục tiêu của quản lý, cai trị đất nước được Khổng Tử nêu khá rõ trong

“Bát chánh đạo” gồm: 1/ Lương thực đủ ăn; 2/ Cuộc sống sung túc; 3/Giữ gìn

6/ Pháp luật nghiêm; 7/ Tiếp đón khách nồng hậu; 8/ Quân sự mạnh

Để đạt được các mục tiêu trong quản lý, theo Khổng Tử người cai trị phải

thực hiện được những điều căn bản, tiền đề bắt buộc: lương thực dồi dào, quân

sự mạnh và lòng tin của nhân dân (thực túc, binh cường, dân tín)

Quan hệ trong cai trị, Khổng Tử đề cao dùng “lễ - nghĩa” coi đây là chuẩn

mực ứng xử, những quy định bắt buộc trong xã hội Khi thực hiện các quan hệ

trong xã hội mọi người đều phải tuân theo “lễ” tương ứng với vị trí, vai trò,

Trang 36

trách nhiệm của mình (chính danh) thì xã hội mới trật tự, thực hiện được cai trị vương đạo Theo ông “lễ” có vai trò quan trọng trong việc cai trị vì những lý do

sau: 1/ “Lễ” quy định danh phận, thứ bậc người trong xã hội; 2/ “Lễ” có tác

dụng điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ ứng xử, “không học lễ,

không có gì làm chỗ dựa” (Quý thị - Luận ngữ); 3/ “Lễ“ có tác dụng hình thành

thói quen đạo đức, dần hình thành thói quen trong ứng xử của mỗi người

Khổng Tử nêu gương trong giữ nghiêm “lễ”: sau khi can gián không thành, ông

đã bỏ vua Lỗ Định Công mà đi mặc dù ông đang giữ chức Đại Tư Khấu

Theo ông, muốn cai trị trước hết phải “chính danh” – phải hợp với tự nhiên, “mệnh trời” vì “vạn vật đều có chỗ xác định của nó” (vật các đắc kỳ sở)

Tương ứng với địa vị cai trị phải có các phẩm chất tương ứng như: nhân, nghĩa, liêm, chính ; đồng thời phải sử dụng “lễ“ tương ứng với địa vị đang được đảm

nhận – thừa nhận Với trọng trách của người có vị trí cai trị xã hội “làm vua

uyên – Luận ngữ) Ông khẳng định: “nếu danh không chính tất loạn, nếu danh

chính thì không cần ép buộc dân cũng theo và tất yếu sẽ cai trị xã hội ổn định”

(danh chính ngôn thuận, ngôn thuận nghiệp thành Danh bất chính ngôn bất thuận, ngôn bất thuận nghiệp bất thành) Về chính trị xã hội, một xã hội không

loạn lạc cũng là xã hội có trật tự, không lộn xộn chính vì thế nên ông tổ Nho giáo đã mong ước lập một tổ chức xã hội mà ở đó có trên có dưới phân minh

phổ biến thì đó là trật tự danh vị của thuyết chính danh chính danh là danh và

thực phải phù hợp với nhau Danh và phận của mỗi người, trước hết do các mối quan hệ quy định Theo ông mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và

bổn phận mà mỗi cá nhân mang cái danh đó phải có trách nhiệm và bổn phận phù hợp với cái danh đó Ngoài ra Khổng Tử còn chủ trương dùng thuyết lễ trị

để đưa ra cách trị nước an dân

Nội dung cơ bản của đạo đức cua nho giáo chính là luân thường Có năm luân cơ bản là:cha -con, vua-tôi, anh-em, vợ- chồng, bè- bạn Trong đó ba điều chính là vua tôi, cha con, vợ chồng gọi là tam cương Đặc biệt quan trọng là quan hệ vua tôi biểu hiện bằng chữ trung, quan hệ cha con được biểu hiện bằng

Trang 37

chữ hiếu Thường có năm điều chính gọi là ngũ thường đều là những đức tính

trời phú cho con người: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Đứng đầu ngũ thường là nhân nghĩa Đạo của Khổng Tử trước hết là đạo nhân nghĩa thì nhân là chủ đạo

1.4 Đánh giá tư tưởng quản lý của Khổng Tử

Tư tưởng của Khổng Tử đã đưa ra được các phương pháp rất cơ bản để giáo dục uốn nắn, điều chỉnh hành vi con người Hai phương pháp giáo hóa và nêu gương luôn có ý nghĩa và giá trị, nhất là trong bối cảnh Đảng đang đẩy

mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng Mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay được yêu cầu phải làm tấm gương sáng cho cấp dưới và nhân dân noi theo trên tất cả các phương diện từ lối sống đến phong cách làm việc Nặng đức, nhẹ hình, khuyến khích người đời tu thân rèn đức theo mẫu người quân tử

Khổng Tử chủ trương thành lập các trường học hướng mọi người tới con đường học hành để mở mang dân trí, rèn luyện đạo đức con người, cải tạo nhân tính Tư tưởng về giáo dục về thái độ và phương pháp học tập của Khổng Tử chính là bộ phận giàu sức sống nhất trong tư tưởng nho giáo theo Khổng Tử giáo dục là cải tạo nhân tính Muốn dẫn nhân loại trở về tính gần nhau, tức là

chỗ “thiện bản nhiên” thì phải để công vào giáo dục vì giáo dục có thể hoá ác thành thiện “Tu sửa đạo làm người” và “ làm sáng tỏ đức sáng” là mục đích

tối cao của giáo dục trong việc cải tạo nhân tính Ông coi giáo dục không chỉ mở mang nhân tính, tri thức, giải thích vũ trụ mà ông chú trọng tới việc hình thành nhân cách con người, lấy giáo dục để mở mang cả trí, nhân , dũng, cốt dạy con người ta hoàn thành con người đạo lí Theo Khổng Tử, giáo dục có ba mục đích chính Trước hết, học để ứng dụng cho có ích với đời, với xã hội, chứ không phải để làm quan sang, bổng hậu Thứ hai, học để có nhân cách, học là phải để cho mình chứ không phải để khoa trương Thứ ba, học là nhằm tìm tòi đạo lý

Khổng Tử đã định nghĩa “giáo dục là tu sửa cái đạo làm người” Ông đã diễn tả lòng mình về đạo lý là “sớm nghe đạo lý, tối chết cũng được” Phương pháp

giáo dục: học một cách đúng lịch trình đúng với điều kiện tâm sinh lí,coi trọng

mối quan hệ giữa các khâu của giáo dục: trong việc học, cần tuân thủ học gắn

Trang 38

liền với tư, với tập, với hành Khổng Tử coi giáo dục cho dân đạo lí làm người,

tư tưởng “trăm năm trồng người” của Khổng Tử nhằm đào tạo lớp người lấy

đức trị là chính Trong việc dạy học trò, Khổng Tử có trả lời sâu hay nông, cao hay thấp tuỳ theo khả năng của người hỏi Khổng Tử nói: “tiên học lễ, hậu học

văn” vì học phải đi đôi với hành Trong giáo dục Khổng Tử coi trọng sự nêu

gương của các tầng lớp vua quan và mở trường học cho dân “hữu giáo vô đạo”

dạy cho mọi người không phân biệt đẳng cấp là tư tưởng tiến bộ của Khổng Tử Điều đáng chú ý trong đạo đức của Khổng Tử là những quan điểm về giáo,

sự giáo hóa, cách lập giáo của Khổng Tử là “hiếu-đễ, lễ nhạc” Tuy nhiên, nội

dung của giáo dục không đi vào lao động sản xuất, đấu tranh mà chuyên dạy cách làm người, dạy đạo lý … dùng đạo đức để ổn định trật tự xã hội Bên cạnh

đó, với quan điểm “nặng đức, nhẹ hình” nên chú trọng đến đạo đức “đức trị”,

xem nhẹ luật pháp Quan điểm Đức trị bắt đầu từ Khổng Tử và được quán triệt trong lịch sử nhiều nước phương Đông hàng nghìn năm nay tại Trung Quốc, Việt Nam, Nhật bản, Triền Tiên…

Khổng Tử đưa ra được một số kỹ thuật, phương pháp để nhận diện người quân tử, kỷ tiểu nhân, người tốt, người xấu thông qua các tiêu chí của người quân tử: đối với nam giới phải tam cương, ngũ thường; đối với nữ giới phải tam tòng tứ đức Các tiêu chí đó như là điều kiện để uốn nắn các hành vi của con người, hướng con người đến những chuẩn mực của xã hội Đó chính là tư tưởng nhân sinh Khổng Tử vốn quy giá trị nhân sinh thành giá trị xã hội, cho rằng con người phải có trách nhiệm nhất định đối với gia đình, xã hội, đất nước và cả thế

giới; đó là lí tưởng cuộc đời và lẽ sống của mỗi người Mặt khác, Khổng Tử cũng đồng thời quy giá trị nhân sinh vào giá trị đạo đức, mà giá trị đạo đức của

Khổng Tử là lấy hiếu thân (hiếu với cha mẹ) làm nền tảng - trung với nước cũng suy từ hiếu với cha mẹ mà ra Đối với con người đạo là con đường đúng đắn

phải noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp Đạo của người theo quan điểm của Khổng Tử là phải phù hợp với tình người do con người lập nên Trong kinh dịch, sau hai câu “lập đạo của trời , nói âm và dương”,“ lập đạo của đất,

nói nhu và cương” là câu “lập đạo của người nói nhân và nghĩa” Khổng Tử

Trang 39

chủ trương cải tạo xã hội bằng đạo đức Những tư tưởng của Khổng Tử có tác

dụng rất tích cực đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Một số tư tưởng của Khổng Tử vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay

Tư tưởng Khổng Tử có giá trị nhân đạo, nhân văn, đề cao giá trị mỗi cá nhân con người với đường lối đức trị lấy nhân nghĩa làm gốc, coi trọng vai trò của con người

Khổng Tử nhấn mạnh giá trị đạo đức, đó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân

biểu hiện qua “Tam cương” (quân – thần; phụ - tử; phu – phụ) và “Ngũ

thường” (Nhân; Nghĩa; Lễ; Trí; Tín) Đó là những chuẩn mực đạo đức nhằm

định hướng và hoàn thiện nhân cách con người Mẫu người lý tưởng của Khổng

Tử là người quân tử - giữ đạo trung dung cũng là thực hiện chính danh, rèn

luyện đạt đạo trung dung cũng là rèn luyện để đạt nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Cái

học hoàn toàn của Khổng giáo nói rút lại là “Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du

ư nghệ” còn cách thao thủ của ngưới quân tử là tu thân, xử kỷ tiếp vật “dĩ trực báo oán, dĩ đức báo đức”, quan nhân, bằng hữu, bác ái Tuy nhiên, người quân

tử của Khổng giáo đã tách khỏi cuộc sống đời thường, hết sức coi thường những nhu cầu rất bản năng nhưng rất chính đáng của con người

Phải nói rằng triết học của Khổng Tử đã trở thành học thuyết lớn của triết học phương Đông cổ đại Đạo đức học của Khổng Tử đã cho con người thấy ý nghĩa và giá trị đời sống thực, thấy trách nhiệm của mình trước cộng đồng và hướng con người tìm thấy sức mạnh đạo đức ngay ở bản thân mình

Một trong những tư tưởng tiến bộ của Khổng Tử trong quản lý là nhà quản

lý được lựa chọn, đề bạt, bổ nhiệm dựa trên năng lực và phẩm chất đạo đức cá nhân, không hoàn toàn phụ thuộc vào huyết thống và giai cấp

Đức trị tích cực tiêu diệt tận gốc cái ác, thực hiện chặt đứt gốc rễ, giải quyết vấn đề từ căn bản Quản lý mang tính chiến thuật, có hiệu quả trong thời gian dài

Tư tưởng quản lý của Khổng tử còn tồn tại một số tư tưởng nghiêm khắc,

bảo thủ khi đặt nặng con người trong các mối quan hệ “tam cương, ngũ

Trang 40

thường” Các mối quan hệ này phản ánh tính chất hai mặt của một vấn đề, bên

cạnh việc các gia đình được củng cố mối quan hệ, trật tự xã hội được duy trì - ổn định thì nó còn cho thấy sự cứng nhắc, khô khan, mâu thuẫn, bất bình đẳng đối

với người phụ nữ, với những người kẻ dưới Dựa vào tư tưởng của Khổng Tử

chế độ phong kiến duy trì và củng cố quyền lực để cai trị xã hội ổn định Trải qua hàng nghìn năm, xã hội phong kiến tồn tại được là do lấy tư tưởng của

Khổng Tử làm cơ sở lý luận

Thiếu tính răn đe trong quản lý Nội dung thuyết Đức trị có hạn chế là vị thế

và vai trò của pháp chế và lợi ích kinh tế đối với xã hội không được coi trọng Trường phái tư tưởng quản lý của Khổng Tử chỉ đề ra nguyên lý, không cụ

thể hóa thành thao tác và quy trình Một số phương pháp ảo tưởng, không thực

tế và có phần duy tâm

Đức trị dựa vào giáo hóa, dựa vào tư tưởng để giải quyết vấn đề Như vậy hiệu

quả sẽ nhìn thấy chậm Nhất là hình thành đạo đức nếp sống lý tưởng, xây dựng quan niệm giá trị chung thì mất thời gian, quyết không thể một sớm, một chiều

Có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong cuộc sống cũng như trong công việc Chính tư tưởng của Nho giáo đã tạo ra sự phân biệt và hình thành tư

tưởng “trọng nam kinh nữ” một cách khắc nghiệt Trong cuốn “Luận ngữ” chỉ

có một lần duy nhất Khổng Tử nhắc đến người phụ nữ Ông nói: “Duy ngữ tử dữ

tiểu nhân vi nán dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán” (tạm dịch: “Duy

chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là khóa giáo dưỡng Gần thì họ khinh nhờn, vô lễ, xã thì họ oán hận”) Theo quạn điểm đó Khổng Tử xếp phụ nữ cùng một hangj với

bọn tiểu nhân, khó có thể nuôi dưỡng hay dậy dỗ được Chính vì vậy, Khổng Tử

đã khuyên học trò: “Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho” (tạm dịch:”Ngươi làm nho Quân tử, đừng làm nho tiểu nhân”), nhiều người sau này cho rằng

Khổng Tử có ý kỳ thị, thành kiến với phụ nữ Tuy nhiên, vấn đề này cũng có lý

do riêng do lịch sử thời thế sinh thời, hoàn cảnh nhân

Tư tưởng về lễ trong quan niệm của đạo Nho là sợi dây ràng buộc con người làm cho suy nghĩ và hành động của con người trở nên cứng nhắc theo một khuôn phép cũ; lễ đã kìm hãm sự phát triển của xã hội, làm cho xã hội trì trệ

Ngày đăng: 23/11/2021, 13:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w