Chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) thường theo đuổi các mục tiêu khác nhau. CSTK là tổng hợp các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động các nguồn hình thành ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ các khoản chi lớn của ngân sách nhà nước theo kế hoạch từng năm tài chính, gồm: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ quốc gia, trả nợ trong và ngoài nước đến hạn. CSTT là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của Ngân hàng Nhà nước nhằm góp phần đạt được mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền. Đôi khi CSTK để đạt được một số mục tiêu đề ra đã gây hậu quả xấu cho việc thực thi các mục tiêu của chính sách tiền tệ và ngược lại. CSTK và CSTT nếu thiếu đi sự phối hợp nhịp nhàng trong quá trình thực thi chính sách sẽ gây ra những tác động đối kháng lẫn nhau, phá vỡ qui luật của thị trường, làm ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa CSTK và CSTT cần được hiểu là phải đảm bảo giải quyết các tác động của hai chính sách tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, hai chính sách phải phối hợp nhằm đạt được các mục tiêu của từng chính sách một cách có trật tự, bao gồm cả ổn định giá. Trong dài hạn, hai chính sách phải phối hợp phải đảm bảo được lợi ích cân bằng giữa mục tiêu của từng chính sách với mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, kiềm chế lạm phát.. Nhận thấy tầm quan trọng trong việc phối hợp đồng bộ của CSTT và CSTK, nhóm chúng tôi đi vào tìm hiểu nội dung: Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trang 1Chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) thường theođuổi các mục tiêu khác nhau CSTK là tổng hợp các quan điểm, cơ chế vàphương thức huy động các nguồn hình thành ngân sách nhà nước, các quỹ tàichính có tính chất tập trung của Nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ các khoảnchi lớn của ngân sách nhà nước theo kế hoạch từng năm tài chính, gồm: Chithường xuyên, chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ quốc gia, trả nợ trong
và ngoài nước đến hạn CSTT là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụngcác công cụ của Ngân hàng Nhà nước nhằm góp phần đạt được mục tiêu củachính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khốilượng tiền Đôi khi CSTK để đạt được một số mục tiêu đề ra đã gây hậu quảxấu cho việc thực thi các mục tiêu của chính sách tiền tệ và ngược lại CSTK vàCSTT nếu thiếu đi sự phối hợp nhịp nhàng trong quá trình thực thi chính sách
sẽ gây ra những tác động đối kháng lẫn nhau, phá vỡ qui luật của thị trường,làm ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Phốihợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa CSTK và CSTT cần được hiểu là phải đảm bảogiải quyết các tác động của hai chính sách tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế vĩ
mô trong ngắn hạn và dài hạn Trong ngắn hạn, hai chính sách phải phối hợpnhằm đạt được các mục tiêu của từng chính sách một cách có trật tự, bao gồm
cả ổn định giá Trong dài hạn, hai chính sách phải phối hợp phải đảm bảo đượclợi ích cân bằng giữa mục tiêu của từng chính sách với mục tiêu tăng trưởngkinh tế bền vững, kiềm chế lạm phát Nhận thấy tầm quan trọng trong việc phối
hợp đồng bộ của CSTT và CSTK, nhóm chúng tôi đi vào tìm hiểu nội dung: Sự
phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệtrong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Chương 2: Sự phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trongnên kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Chương 3:Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách tài khóa vàchính sách tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020
Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế, bài tiểu luận chắc chắn cònnhiều thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài tiểuluận được hoàn thiện hơn Chân thành cảm ơn
Trang 2CHƯƠNG 1
SỰ PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG VIỆC QUẢN LÝ, ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ
1.1 Chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT)
1.1.1 Khái niệm
- CSTK: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc điều tiết chính sách thuế
và chi tiêu công
- CSTT: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát thông qua công cụ
lãi suất, hoạt động thị trường mở và tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Trên thực tế, người ta thường hiểu rằng chính sách tài khoá do Bộ Tài chínhchịu trách nhiệm thực hiện còn CSTT do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều hành
1.1.2 Mục tiêu
- CSTK: có 2 mục tiêu:
+ Ổn định và tăng trưởng kinh tế
+Tỷ lệ thất nghiệp thường được ưu tiên hơn tỷ lệ lạm phát thấp
- Nội dung cơ bản của CSTK: Kiểm soát thu chi ngân sách do những khoản thu
chi này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, lạm phát và nhiều chỉ số kinh tế vĩ môkhác Vì thế, CSTK được coi là một trong những chính sách quan trọng đối với việc ổnđịnh và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, một CSTK vững mạnh sẽ thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và làm cơ sở để các DN đưa ra các quyết định đầu tư lớn Trong mốiquan hệ với giá cả, CSTK là một trong những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một
sự nới lỏng CSTK đều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúcđẩy tăng tổng cầu và tài trợ thâm hụt
- Nội dung quan trọng nhất của CSTT: Việc cung ứng tiền cho nền kinh tế.
Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thể thông qua hoạtđộng của thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá), thị trường hối đoái (mua bán ngoạitệ) và để điều tiết mức tiền cung ứng, ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước sửdụng các công cụ khác nhau như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc… CSTT là công cụcủa NHTW để điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng, kết quả là chi phối
Trang 3dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền để đạt mục tiêu chính sách đề ra Một CSTTnới lỏng sẽ làm tăng cung tiền, giảm lãi suất, qua đó thúc đẩy tăng tổng cầu và gây áplực lạm phát nếu cung tiền tăng quá mức so với sản lượng tiềm năng.
- Quản lý hạn mức tín dụng của các Ngân hàng Thương mại (NHTM)
- Quản lý lãi suất của các NHTM
- Tỉ giá hối đoái
1.2 Mối quan hệ giữa CSTK và CSTT
CSTT và CSTK là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng, mỗi chínhsách có mục tiêu riêng, nhưng đều cùng theo đuổi mục tiêu chung là tăng trưởng kinh
tế bền vững và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
CSTK tác động đến CSTT trước hết qua kênh tài trợ thâm hụt ngân sách: Nếuthâm hụt ngân sách được tài trợ từ vay nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanhtoán, nếu tài trợ bằng cách vay từ NHTW thì sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng và mặtbằng giá cả, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách vay từ các NHTM thìnguồn vốn cho vay các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sẽ giảm, hạn chế năng lựcđầu tư của các khu vực kinh tế này và ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế.Ngoài ra, CSTK còn ảnh hưởng đến dòng vốn quốc tế và khả năng của NHTW trongviệc kiểm soát luồng ngoại tệ, nếu chính sách thu chi ngân sách không hợp lý thì sẽ tácđộng tiêu cực đến hiệu quả phân bổ nguồn lực và làm tăng rủi ro liên quan đến dòngvốn quốc tế
CSTT tác động đến CSTK tùy theo mức độ điều chỉnh các công cụ CSTT, mộtCSTT thắt chặt sẽ làm giảm đầu tư, khả năng thu thuế và nguồn thu ngân sách, một sựgiảm giá nội tệ sẽ làm gia tăng khoản nợ Chính phủ bằng ngoại tệ quy đổi, nếu NHTWđiều chỉnh tăng lãi suất thì giá trái phiếu Chính phủ sẽ giảm và ảnh hưởng đến khảnăng cân đối ngân sách
Các khoản thu chi của Chính phủ được phản ánh rõ qua các giao dịch trên tàikhoản kho bạc mở tại NHTW hoặc các NHTM, tiền gửi kho bạc tăng cao sẽ làm giảmnguồn vốn khả dụng của các NHTM, qua đó làm tăng lãi suất liên ngân hàng Tiền gửicủa Chính phủ tại NHTW chiếm tỉ trọng lớn trong tiền cơ bản, nên cũng là yếu tố quantrọng làm thay đổi tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, việc chuyển tiền haichiều trên tài khoản của Chính phủ tại NHTW sẽ gây biến động đến tiền cơ bản Đây
là những yếu tố gây áp lực đến việc kiểm soát cung tiền và thực thi CSTT, việc kiểm
Trang 4soát cung tiền và lãi suất sẽ khó khăn hơn nếu một phần tiền gửi kho bạc được gửi tạicác NHTM.
Để hạn chế những tác động bất lợi giữa CSTK và CSTT, cả hai chính sách nàyphải nhất quán về mặt mục tiêu, phải tạo ra sự đồng bộ và bổ sung cho nhau trong quátrình thực thi Khi bù đắp thâm hụt ngân sách, Bộ Tài chính có thể phát hành trái phiếuChính phủ và NHTW mua vào, tạo thêm công cụ để điều tiết thị trường tiền tệ Trongquá trình thực thi CSTK, việc tài trợ thâm hụt và các khoản thu chi lớn của Chính phủphải có kế hoạch và được thông báo trước cho NHTW, giúp NHTW dự báo được diễnbiến cung tiền để kịp thời điều chỉnh theo mục tiêu đề ra và đảm bảo hiệu quả củaCSTT
Mối quan hệ giữa CSTT và CSTK cũng được chứng minh qua mô hình IS-LM.Theo mô hình này, tăng chi tiêu của Chính phủ có tác động làm tăng cung tiền, làmgiảm lãi suất trên thị trường tiền tệ Ngược lại, tăng thu thuế có tác động làm tăng lãisuất vì khi đó cung tiền giảm Mô hình IS-LM giúp các nhà hoạch định chính sáchđiều chỉnh CSTT và CSTK, để có tác động thích hợp lên tổng cầu và lãi suất trong nềnkinh tế Bên cạnh đó, mô hình Timbergen của nhà kinh tế học cùng tên người Hà Lan
có thể giúp các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô tìm kiếm được sự phối hợphiệu quả giữa CSTT và CSTK
Khác nhau chủ yếu tại phần mục tiêu theo đuổi của 02 chính sách
- CSTK là tổng hợp các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động cácnguồn hình thành ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhànước nhằm mục tiêu phục vụ các khoản chi lớn của ngân sách nhà nước theo kế hoạchtừng năm tài chính, gồm: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữquốc gia, trả nợ trong và ngoài nước đến hạn
- CSTT là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ củaNHNN nhằm góp phần đạt được mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việcchi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền
Trang 51.3.2.1 Phân biệt CSTK nới lỏng và thắt chặt.
Khái niệm
Là chính sách tăng cường chi tiêucủa chính phủ(G>T) thông qua chitiêu chính phủ tăng cường hoặcgiảm bớt nguồn thu từ thuế hoăc cảhai
Là chính sách trong đó chi tiêu củachính phủ ít đi thông qua việc tăng thu
từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp
cả hai
Công cụ
- Tăng chi tiêu của chính phủ
- Tăng chi chuyển nhượng (chikhông cần hàng hóa dịch vụ đáp lạinhư chi lương hưu, chi trợ cấp, chibảo hiểm)
- Giảm thuế
- Vừa tăng chi tiêu của chính phủvừa giảm thuế
- Giảm chi tiêu của chính phủ
- Giảm chi chuyển nhượng
Khi sản lượng nền kinh tế vượt quá sảnlượng tiềm năng (Y>Y*)
1.3.2.2 Phân biệt CSTT nới lỏng và thắt chặt.
Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:
CSTT nới lỏng (tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh ,giảm
thất nghiệp nhưng lạm phát tăng -chính sách tiền tệ chống thất nghiệp) hoặc CSTT
thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó
làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng-chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)
ăn việc làm
Là làm giảm lượng cung tiền và nhưvậy sẽ làm tăng lãi suất, từ đó hànghóa, dịch vụ cho tiêu dùng cũng nhưđầu tư giảm Điều này có tác dụngkiềm chế lạm phát trong ngắn hạnnhưng lại ảnh hưởng đến tăng trưởngtrong trung hạn và dài hạn do cắtgiảm đầu tư hiện nay
Trang 6Mục tiêu
- Tăng lượng cung tiền
- Giảm lãi suất
- Chống thất nghiệp
- Đầu tư sản xuất tăng
- Tăng trưởng kinh tế
- Giảm cung tiền
- Tăng lãi suất
- Quản lý lãi suất của các NHTM
- Tỷ giá hối đoái
- Nghiệp vụ thị trường mở
- Dự trữ bắt buộc
- Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM
- Quản lý lãi suất của các NHT
- Tỷ giá hối đoái
1.4 Sự phối hợp giữa CSTK và CSTT trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong thực tế nền kinh tế vẫn chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả vàđồng bộ giữa Bộ Tài chính và NHNN trong thực thi CSTK và CSTT Việc điều hànhCSTT được giao cho NHNN đảm nhận còn CSTK giao cho Bộ Tài chính đảm nhận ỞViệt Nam trong những thời điểm nhất định vẫn tồn tại những xung đột lợi ích giữaNHNN và Bộ Tài chính, theo đó NHNN ưu tiên thực mục tiêu CSTT còn Bộ Tài chính
ưu tiên thực hiện dự toán ngân sách nhà nước được duyệt Mỗi cơ quan chỉ tập trung
ưu tiên thực hiện các mục tiêu của CSTT hoặc CSTK được giao phó thì chính sách tàikhoá có thể gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của CSTT hoặc ngược lại Mỗi chínhsách theo đuổi những mục tiêu và giải pháp khác nhau sẽ dẫn tới sự xung đột ngoàiquy luật thị trường
Đôi khi CSTK để đạt được một số mục tiêu đề ra đã gây hậu quả xấu cho việcthực thi các mục tiêu của CSTT và ngược lại CSTK và CSTT nếu thiếu đi sự phối hợpnhịp nhàng trong quá trình thực thi chính sách sẽ gây ra những tác động đối kháng lẫnnhau, phá vỡ qui luật của thị trường, làm ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăng trưởng bềnvững của nền kinh tế Phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa CSTK và CSTT cần đượchiểu là phải đảm bảo giải quyết các tác động của hai chính sách tới mục tiêu tăngtrưởng kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn Trong ngắn hạn, hai chính sách phảiphối hợp nhằm đạt được các mục tiêu của từng chính sách một cách có trật tự, baogồm cả ổn định giá Trong dài hạn, hai chính sách phải phối hợp phải đảm bảo đượclợi ích cân bằng giữa mục tiêu của từng chính sách với mục tiêu tăng trưởng kinh tếbền vững, kiềm chế lạm phát
Trang 7Việc phối hợp CSTK và CSTT nhằm đạt được các mục tiêu chung là:
Một là, tăng tính hiệu lực của chính sách: CSTK hay CSTT đều được thực hiện
dựa trên một số công cụ chính sách nhất định mà mỗi công cụ này có hiệu lực đối vớimột, hoặc một số mục tiêu nhất định Chẳng hạn như công cụ thuế của CSTK có ảnhhưởng nhiều hơn đối với quyết định đầu tư vào máy móc, thiết bị của doanh nghiệp(DN), trong khi công cụ lãi suất của CSTT lại có ảnh hưởng nhiều hơn đối với đầu tưcủa hộ gia đình (nhất là đầu tư vào bất động sản)
Theo quy tắc Tinbergen, để đạt được các mục tiêu chính sách thì số lượng cáccông cụ chính sách tối thiểu phải bằng số lượng các mục tiêu Do đó, việc phối hợp haiCSTK và CSTT sẽ làm tăng số lượng các công cụ chính sách sẵn có, giúp tăng tínhhiệu lực chung của chính sách kinh tế vĩ mô
Hai là, khắc phục độ trễ và tăng tính linh hoạt của chính sách: Theo phân tích
của James Daniel et al (2006), công cụ lãi suất của CSTT là biến số và dễ điều chỉnhtăng giảm CSTT cũng có thể điều chỉnh từng ngày một, đóng vai trò như công cụ tinhchỉnh của chính sách kinh tế vĩ mô (Laurens and G de la Piedra, 1988)
Trong khi đó, tính linh hoạt của CSTK lại kém hơn Những quyết định củaCSTK đòi hỏi thời gian dài không chỉ trong việc ra quyết định mà còn trong việc thựcthi quyết định (được gọi là độ trễ trong)
Chẳng hạn như, việc thay đổi mức thuế suất, thêm hay bớt một sắc thuế đòi hỏiquá trình chuẩn bị, soạn thảo và thông qua của Quốc hội; hay việc quyết định các dự
án đầu tư hạ tầng cũng đòi hỏi phải có nghiên cứu khả thi, tính toán lợi ích - chi phí…Chưa kể, CSTK liên quan đến nguồn vốn ngân sách, do đó vẫn phải có tính toánnguồn vốn và phân bổ nguồn vốn giữa các mục tiêu
Vì vậy, CSTK không đáp ứng được yêu cầu xử lý các tình huống nhanh chóng.Đổi lại, CSTK lại có khả năng tác động đến tổng cầu nhanh hơn so với CSTT (gọi là
độ trễ ngoài), do CSTT chỉ có thể tác động gián tiếp đến tổng cầu thông qua hành vicủa DN và hộ gia đình Hơn nữa, ở những nước có hệ thống tài chính kém phát triển,thì mối quan hệ giữa lãi suất ngắn hạn và lãi suất dài hạn không thực sự chặt chẽ và do
đó, việc CSTT thay đổi lãi suất ngắn hạn có thể ảnh hưởng không nhiều đến thànhphần đầu tư trong tổng cầu
Ba là, giúp ổn định kỳ vọng của nền kinh tế: Trong trường hợp phải ổn định lạm
phát kỳ vọng và kiềm chế lạm phát thì bản thân CSTT không hiệu quả, nếu như CSTKkhông có những động thái phối hợp để phát đi một tín hiệu chung về quyết tâm kiểmsoát lạm phát của Chính phủ Eijffinger & Haan (1996) cho rằng, nếu thâm hụt ngân
Trang 8sách kéo dài, dân chúng sẽ gia tăng kỳ vọng về lạm phát trước khi mức nợ công vượtquá giới hạn an toàn.
Bởi kỳ vọng rằng, trước sau ngân hàng Trung ương cũng sẽ phải tăng cung tiền
để tài trợ cho thâm hụt ngân sách Khi đó, thiệt hại về tăng trưởng kinh tế do nhữngbiện pháp thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát bằng việc tăng lãi suất sẽ cao hơn nhiều
so với trường hợp thâm hụt ngân sách thấp (Laurens and G de la Piedra, 1988)
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (2011-2015)
CSTK và CSTT là hai công cụ ổn định kinh tế vĩ mô quan trọng ở mọi quốc gia
và có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau Chính sách tiền tệ thường được điều hành nhằmđạt được mục tiêu lạm phát thấp, ổn định nền kinh tế trước các cú sốc về sản lượng vàgiá cả Trong khi đó, CSTK thường hướng đến mục tiêu việc làm và tăng trưởng cao,cho dù phải trả giá bằng lạm phát cao Mặc dù mỗi chính sách được điều hành theođịnh hướng khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu và bối cảnh kinh tế của từng quốc giatrong từng thời kỳ, các nghiên cứu lý luận và thực tiễn đều cho thấy sự thay đổi củachính sách này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách kia Để đạt được các mụctiêu kinh tế vĩ mô tối ưu gồm tăng trưởng và ổn định giá cả, hai chính sách này cầnđược phối hợp và bổ sung cho nhau
Hội thảo đánh giá Luật Quản lý nợ công sau 5 năm triển khai thực hiện do CụcQuản lý nợ và Tài chính đối ngoại phối hợp với Ngân hàng Thế giới tổ chức ngày21/9/2015
2.1 Phối hợp CSTK và CSTT trong nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2015
2011-Kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (năm 2008),Việt Nam đã xây dựngđược các mục tiêu phối hợp tương đối đồng bộ và đúng hướng, phù hợp với bối cảnhkinh tế xã hội từng thời kỳ: sử dụng CSTK thắt chặt và CSTT thắt chặt để chống lạmphát; sử dụng CSTK mở rộng và CSTT mở rộng nhằm kích thích nền kinh tế, ngănchặn đà suy giảm kinh tế Dựa vào những diễn biến của nền kinh tế, quá trình phối hợpchính sách tài khóa và tiền tệ 2011-2015 có thể chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn2010-2011: và Giai đoạn 2012-2015 Cụ thể như sau:
2.1.1 Giai đoạn 2010 – 2011: Kiềm chế lạm phát
Đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam ở trong tình trạng lạm phát cao, do đó,Chính phủ đã xác định nhiệm vụ của giai đoạn này tập trung chủ yếu vào việc kiểm
Trang 9soát lạm phát, thông qua việc ban hành Nghị quyết 11/ NQ-CP (2011) Phối hợp chínhsách kinh tế vĩ mô và tầm quan trọng của sự phối hợp cũng được thể hiện khá rõ néttrong Nghị quyết 11/NQ-CP Chính sách tài khóa – tiền tệ giai đoạn này được thựchiện theo hướng thắt chặt thông qua các biện pháp: tăng lãi suất cơ bản, quy định trầnlãi suất huy động, tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn; tăng tỷgiá; hạn chế tăng trưởng tín dụng và cung tiền; cắt giảm đầu tư, tiết kiệm 10% chitiêu[i].
Mặc dù phối hợp chính sách tài khóa – tiền tệ được tăng cường nhằm ứng phóvới lạm phát, tuy nhiên, trong giai đoạn này, tốc độ lạm phát vẫn ởmức khá cao, đồngthời tác động của chính sách tài khóa – tiền tệ nới lỏng đã làm giảm tốc độ tăng trưởngkinh tế Kết quả, tốc độ tăng GDP đã giảm từ mức 6,24% của năm 2011 xuống còn5,25% vào năm 2012 trong khi một số lĩnh vực sản xuất có dấu hiệu suy giảm, tăngchậm lại và có nguy cơ nền kinh tế rơi vào thiểu phát Thực tế này đã buộc chính sáchtài khóa – tiền tệ chuyển sang hướng ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các năm tiếp theo
2.1.2 Giai đoạn 2012-2015: Ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp
Để tăng cường công tác phối hợp, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đã kýkết Quy chế phối hợp công tác và trao đổi thông tin (ngày 29/2/2012) với 5 nội dungchính gồm:
(1) - Phối hợp xây dựng và điều hành chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ;Quản lý ngân quỹ của Chính phủ và phát triển hệ thống thanh toán; Quản lý nợ quốcgia và vốn ODA;
(2) - Phối hợp trong việc phát triển các thị trường tài chính an toàn, bền vững; (3) - Phối hợp trong việc thực hiện công tác quản lý, giám sát liên quan đến thuthuế, hải quan qua hệ thống ngân hàng;
(4) - Phối hợp trong lĩnh vực hợp tác quốc tế thông qua việc chia sẻ thông tin;(5) - Phối hợp trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp
vụ đảm bảo phù hợp với nhu cầu của hai Bộ
Quyết định số 1317/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án cải cách cơ chế phối hợptrong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô đã được ban hành ngày 6/8/2013 và sau đó,ngày 2/12/2014, các cơ quan gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, NHNN, Bộ Tài chính, BộCông thương đã ban hành Quy chế Phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.Việc tăng cường phối hợp trong điều hành chính sách vĩ mô được chú trọng nhằm tăngcường tính thống nhất, hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế vĩ mô, ứng phó kịp thời hiệuquả với các biến động kinh tế - xã hội trong và ngoài nước trong từng thời kỳ, thựchiện mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, hướng đến pháttriển bền vững
Cùng với việc tạo lập khuôn khổ pháp lý cho cơ chế phối hợp vĩ mô, trên thực
tế, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cũng từng bước được phối hợp nhịp nhàng
Trang 10trong giai đoạn 2012-2015 Theo đó, từ đầu năm 2012, trước tình hình tăng trưởngthấp, có dấu hiệu suy giảm kinh tế, hàng tồn kho cao, ngày 03/01/2012 Chính phủ đãban hành Nghị quyết 01/NQ-CP đưa ra các giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thựchiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 Cácgiải pháp chủ yếu của Nghị quyết 01 trong lĩnh vực kinh tế tài chính bao gồm: Tậptrung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô Cụ thể là phải thực hiện chính sáchtiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt; tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ,hiệu quả; tăng cường kiểm soát thị trường, giá cả, tổ chức tốt thị trường trong nước;khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, hạn chế nhập siêu.
Việc thực hiện Nghị quyết 01/ NQ-CP đã giúp nền kinh tế nước ta đạt đượcnhững kết quả tích cực bước đầu (lạm phát kiềm chế ở mức thấp; kinh tế vĩ mô cơ bản
ổn định; an sinh xã hội được bảo đảm) Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khókhăn; sức mua của thị trường giảm; nền kinh tế tuy có tăng trưởng nhưng tốc độ tăngthấp hơn so với cùng kỳ năm 2011 Vì vậy, ngày 10/5/2012, Chính phủ tiếp tục banhành Nghị quyết số 13 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh,
hỗ trợ thị trường Theo đó, chính sách tài khóa – tiền tệ đã được thực hiện theo hướngthận trọng
Đồng thời, để hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuấtkinh doanh theo định hướng của Nghị quyết 02/NQ-CP, NHNN tiếp tục triển khai cácgiải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong những nămtiếp theo (2013-2015) Cụ thể:
(1) - Tiếp tục hạ mặt bằng lãi suất tín dụng phù hợp với mức giảm của lạm phát;(2) - Có biện pháp hỗ trợ, đơn giản hóa thủ tục cho vay;
(3) - Tăng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp vừa
và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ
Chính sách thu tiếp tục được điều chỉnh theo hướng tăng cường tiềm lực tàichính cho doanh nghiệp thông qua việc giảm bớt nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp vàngười dân, tạo thêm nguồn lực cho doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản xuất - kinhdoanh.Cụ thể:
(1) - Thuế TNDN đã giảm mức thuế suất phổ thông từ mức 25% xuống 22% từngày 01/01/2014 và theo mức 20% từ ngày 01/01/2016, áp dụng mức thuế suất 20% từngày 01/7/2013 đối với doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ;
(2) - Thuế TNCN đã nâng mức khởi điểm chịu thuế cho bản thân từ 4 triệuđồng/tháng lên 9 triệu đồng/tháng, nâng mức chiết trừ gia cảnh cho người phụ thuộc từmức 1,6 triệu đồng/ tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng;
(3) - Thực hiện miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, miễn thu thuỷ lợi phí,
…
Bên cạnh đó, chính sách chi ngân sách được điều hành chặt chẽ, thực hiện phân
bổ có hiệu quả các nguồn lực, tiếp tục kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệmchi NSNN; đồng thời đã thực hiện có kết quả quá trình tái cơ cấu đầu tư công theo
Trang 11định hướng đề ra Tổng chi NSNN giai đoạn 2011-2015 đạt mức bình quân 27,78%GDP, cơ cấu chi ngân sách chuyển dịch theo hướng tăng chi cho con người Tỷ trọngchi đầu tư trên tổng chi NSNN đã giảm từ 21,6% năm 2010 xuống còn 16,2% năm
2014 và dự kiến năm 2015 là 17,1% Tỷ trọng chi thường xuyên trên tổng chi NSNNgiai đoạn 2011-2015 ở mức trung bình 64,8%, tăng gần 10% so với các giai đoạn trước(giai đoạn 2006-2010 bình quân chiếm khoảng 54-55% tổng chi NSNN) Trong đó, đãchủ động bố trí NSNN ưu tiên đầu tư thực hiện cải cách tiền lương, chính sách an sinh
xã hội và xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào
ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu, vùng xa
Trang 12Bảng 1: Một số chỉ tiêu phối hợp CSTK và CSTT giai đoạn 2008-2015
Chỉ tiêu (cuối kỳ)Tăng trưởng GDP (% năm)Lạm phát (% năm)Lãi suất cơ bản (%)Lãi suất tái chiết khấu (%)Lãi suất tái cấp vốn (%)Tăng trưởng M2 (% so với tháng 12 năm trước)Tăng trưởng tín dụng (% so với tháng 12 năm trước)Tăng trưởng huy động (% so với tháng 12 năm trước)
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng (USD/VND)
Bội chi NSNN (% GDP)
Dư nợ công (% GDP)(Nguồn: GSO, Bộ Tài chính, NHNN Số liệu năm 2015 là số kế hoạch, ướctính)
Trang 13Nhận xét:
Nhìn chung, việc tăng cường phối hợp trong điều hành chính sách vĩ mô đượcchú trọng nhằm tăng cường tính thống nhất, hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế vĩ mô,ứng phó kịp thời hiệu quả với các biến động kinh tế - xã hội trong và ngoài nước trongtừng thời kỳ, thực hiện mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ
mô, hướng đến phát triển bền vững Kết quả của việc phối hợp chính sách tiền tệ– tàikhóa 2011-2015 đã đem lại môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn, hỗ trợ tháo gỡ khókhăn cho doanh nghiệp, nền kinh tế bắt đầu có những dấu hiệu phục hồi khả quan hơn.Phân tích GDP cho thấy xu hướng hồi phục tăng trưởng đã rõ nét hơn trong năm 2014-
2015 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,68% trong năm 2015, cao nhất trong 5năm trở lại đây Các cân đối vĩ mô cũng khả quan hơn với lạm phát duy trì ở mức thấpnhất trong 14 năm (tăng 0,58% trong 11 tháng năm 2015), dự trữ ngoại hối tăng, lãisuất giảm
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hiệu quả của phối hợp chính sáchtài khóa - tiền tệ thời gian vừa qua còn có một số hạn chế và thách thức:
- Việc phối hợp CSTK và CSTT mới chỉ hướng đến việc giải quyết từng mụctiêu kinh tế vĩ mô ưu tiên trong từng thời điểm chứ chưa thực sự có sự phối hợp để giảiquyết đồng bộ tất cả các mục tiêu vĩ mô: Chẳng hạn, khi có nguy cơ lạm phát cao, việctập trung vào các giải pháp chống lạm phát bằng chính sách tài khóa – tiền tệ thắt chặt
đã khiến cho tốc độ tăng trưởng giảm Tuy nhiên, khi lạm phát vừa có dấu hiệu bị đẩylùi, chính sách kích thích tăng trưởng theo hướng nới lỏng tài khóa – tiền tệ, kích cầuđầu tư, kích cầu tiêu dùng đã được áp dụng triệt để, khiến lạm phát bùng phát trởlại.Chu trình này đã lặp đi lặp lại nhiều lần trong giai đoạn 2008- 2013, khiến cho môitrường kinh tế vĩ mô kém ổn định gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc lập
và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh
- Chưa xây dựng được cơ sở khoa học hoàn thiện trong việc quyết định lựachọn CSTT hay CSTK là công cụ sẽ phát huy được tác động nhiều nhất đến tổng cầu/hoặc liều lượng tác động của từng công cụ đến tổng cầu bao nhiêu là hợp lý trong từngtình hình kinh tế cụ thể, nhất là trong bối cảnh suy thoái kinh tế hoặc lạm phát
- Về cơ chế phối hợp, Việt Nam đã có Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính,tiền tệ song cơ quan này mới chỉ dừng lại ở chức năng tư vấn, tham khảo, mà chưa cóquyền quyết định cũng như chịu trách nhiệm về chính sách Chưa có một tổ chứcchuyên ngành theo dõi, điều phối, đánh giá việc phối hợp, thiếu một hệ thống công cụđánh giá tổng hợp chính sách cũng như chế tài đủ mạnh để xử lý việc vi phạm trongphối hợp quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô