1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp

211 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Tài Chính Doanh Nghiệp
Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp gồm có 6 chương như sau: Chương 1: tổng quan về tài chính doanh nghiệp; chương 2: chi phí, doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp; chương 3: phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp; chương 4: đầu tư của doanh nghiệp; chương 5: quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp; chương 6: quản lý tài sản trong doanh nghiệp.

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải là các cá nhân

Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp: doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Đặc điểm của doanh nghiệp:

- Là một tổ chức kinh tế

- Là một tổ chức có đủ điều kiện do pháp luật quy định

- Mục đích của doanh nghiệp là thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời

1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp

Phân loại doanh nghiệp là việc phân chia doanh nghiệp thành các loại khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức

Căn cứ vào hình thức sở hữu, mỗi quốc gia thường có những loại hình doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản, các loại hình doanh nghiệp gồm có doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu và chịu trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp

Công ty hợp danh là doanh nghiệp có hai hay nhiều chủ sở hữu; nó có thể là công

ty hợp danh trách nhiệm vô hạn hoặc trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty Trong công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn, các thành viên không chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân đối với các khoản nợ của công ty

Công ty cổ phần là hình thức doanh nghiệp được thành lập theo luật, có nhiều chủ sở hữu (cổ đông) góp vốn bằng hình thức cổ phần Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình

Công ty trách nhiệm hữu hạn là hình thức kết hợp một số đặc tính của công ty cổ phần và công ty hợp danh

Trang 2

Theo luật doanh nghiệp Việt Nam, các loại hình doanh nghiệp gồm có: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công

ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam được định nghĩa như sau:

- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ, được thành lập

và hoạt động bằng vốn của ngân sách Nhà nước

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa

vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp

cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi và cổ đông sáng lập (có quy định riêng)

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp

- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên là doanh nghiệp trong đó: thành viên có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng thành viên không vượt quá 50, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp

- Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó: phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài hai thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn, thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của công ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp

Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những ưu và nhược điểm riêng Trong phạm

vi môn học này, loại hình công ty cổ phần sẽ được lấy làm điển hình để xem xét, trong khi tài chính của các loại hình doanh nghiệp khác được xem như là một sự vận dụng tài chính công ty cổ phần

Loại hình công ty cổ phần được chọn làm điển hình nghiên cứu vì loại hình doanh nghiệp này đã và đang là loại hình doanh nghiệp chủ yếu ở các nước cũng như ở Việt Nam Bên cạnh đó, loại hình doanh nghiệp này có đặc điểm đáng chú ý mà các loại hình doanh nghiệp khác không có là có sự tách rời giữa chủ sở hữu doanh nghiệp

và người điều hành doanh nghiệp Sự tách rời giữa sở hữu và điều hành có thể tạo ra một số ưu thế nội dung về tài chính để nghiên cứu hơn so với những loại hình doanh

Trang 3

1.1.2 Môi trường hoạt động của doanh nghiệp

Để đạt được mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp cần phải có những quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi Mọi quyết định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động

+ Áp lực của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

- Môi trường nội bộ doanh nghiệp

Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước được

sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó Trong môi trường đó, quan

hệ tài chính doanh nghiệp được thể hiện rất phong phú và đa dạng

1.2 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.2.1 Khái niệm và bản chất của tài chính doanh nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm

Tài chính nói chung là hoạt động liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra

Qua định nghĩa này có thể thấy tài chính doanh nghiệp liên quan đến ba loại quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn, và quyết định phân phối lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu đề ra là tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu của doanh nghiệp

Cần phân biệt sự khác nhau về chức năng và vai trò của tài chính và kế toán Trong khi kế toán chú trọng đến việc ghi chép và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh và lập các báo cáo tài chính thì tài chính lại chú trọng đến việc sử dụng các

Trang 4

trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp Mặt khác, kế toán chú trọng đến chức năng quản lý tài sản hơn trong khi tài chính chú trọng đến quyết định nên bỏ vốn vào đâu, tìm nguồn vốn ở chỗ nào và phân phối lợi nhuận như thế nào để duy trì và không ngừng nâng cao giá trị của doanh nghiệp trên thị trường Sự phân biệt ở đây nhằm thấy

rõ sự khác nhau về chức năng của hai bộ phận này như thế nào khi hoạt động trong cùng một doanh nghiệp

Khi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp không tách khỏi các mối quan hệ với các chủ thể trong nền kinh tế Do vậy, tài chính doanh nghiệp cũng được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước: là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ưng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi và vốn vay, lãi cổ phần cho các nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động… Thông qua các thị trường này, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường

- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ; giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí…

1.2.1.2 Bản chất của tài chính doanh nghiệp

Biểu hiện bên ngoài của tài chính doanh nghiệp là hiện tượng thu vào hoặc chi ra bằng tiền

Biểu hiện bên trong của tài chính doanh nghiệp là sự vận động của nguồn tài chính trong quá trình tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp

Do vậy, bản chất của tài chính doanh nghiệp là sự vận động của các nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp

Trang 5

1.2.2 Cơ sở của tài chính doanh nghiệp và các dòng tiền

1.2.2.1 Cơ sở của tài chính doanh nghiệp

Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có một lượng tài sản nhất định được phản ánh bên tài sản của bảng cân đối kế toán Nếu toàn bộ tài sản do doanh nghiệp nắm giữ được đánh giá vào một thời điểm thì sự vận động của chúng – kết quả của quá trình trao đổi – chỉ có thể được xác định cho một thời kỳ nhất định và được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh Quá trình hoạt động của các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất hoạt động Sự khác biệt này phần lớn do đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng doanh nghiệp quyết định Cho dù có sự khác biệt này, người ta vẫn có thể khái quát những nét chung nhất của các doanh nghiệp bằng hàng hóa dịch vụ đầu vào và hàng hóa dịch vụ đầu ra

Một hàng hóa dịch vụ đầu vào hay yếu tố sản xuất là một hàng hóa hay dịch vụ

mà các doanh nghiệp mua sắm để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ Các hàng hóa dịch vụ đầu vào được kết hợp với nhau để tạo ra các hàng hóa dịch vụ đầu ra Đó là hàng loạt các hàng hóa dịch vụ có ích được tiêu dùng hoặc được sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh khác Như vậy, trong một thời kỳ nhất định, các doanh nghiệp đã chuyển hóa các hàng hóa dịch vụ đầu vào thành các hàng hóa dịch vụ đầu ra để trao đổi Mối quan hệ giữa tài sản hiện có và hàng hóa dịch vụ đầu vào, hàng hóa dịch vụ đầu ra (quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh)

có thể được mô tả như sau:

Hình 1.1: Sự chuyển hóa của quá trình sản xuất

Mọi quá trình trao đổi đều được thực hiện thông qua trung gian là tiền Tiền cho phép doanh nghiệp mua các hàng hóa, dịch vụ cần thiết để tạo ra những hàng hóa dịch

vụ phục vụ cho mục đích trao đổi Khái niệm dòng vật chất và dòng tiền phát sinh từ

đó, tức là sự dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ và sự dịch chuyển tiền giữa các đơn vị, tổ chức kinh tế

Hàng hóa và dịch vụ đầu vào

Sản xuất – chuyển hóa

Hàng hóa và dịch vụ đầu ra

Trang 6

Như vậy, tương ứng với dòng vật chất đi vào (hàng hóa, dịch vụ đầu vào) là dòng tiền đi ra; tương ứng với dòng vật chất đi ra (hàng hóa, dịch vụ đầu ra) là dòng tiền đi vào Quy trình này được mô tả qua sơ đồ sau

Hình 1.2: Quy trình dịch chuyển dòng vật chất và dòng tiền

Doanh nghiệp thực hiện hoạt động trao đổi hoặc với thị trường cung cấp hàng hóa dịch vụ đầu vào hoặc với thị trường phân phối, tiêu thụ hàng hóa dịch vụ đầu ra tùy thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các quan hệ tài chính của doanh nghiệp được phát sinh từ chính quá trình trao đổi đó Quá trình này quyết định sự vận hành của sản xuất và làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp

Phân tích các quan hệ tài chính doanh nghiệp cần dựa trên hai khái niệm cơ bản

là dòng và dữ trữ Dòng chỉ xuất hiện trên cơ sở tích lũy ban đầu những hàng hóa, dịch

vụ hoặc tiền trong mỗi doanh nghiệp và nó sẽ làm thay đổi khối lượng tài sản tích lũy của doanh nghiệp Một khối lượng tài sản, hàng hóa hoặc tiền được xác định tại một thời điểm là một khoản dự trữ Trong khi một khoản dự trữ chỉ có ý nghĩa tại một thời điểm nhất định thì các dòng chỉ được đo trong một thời kỳ nhất định Quan hệ giữa dòng và dự trữ là cơ sở nền tảng của tài chính doanh nghiệp

1.2.2.2 Các dòng tiền

a Dòng tiền đối trọng

- Dòng tiền đối trọng trực tiếp

Dòng tiền đối trọng trực tiếp là dòng tiền chỉ xuất hiện đối trọng với dòng hàng hóa, dịch vụ Đây là trường hợp đơn giản nhất trong doanh nghiệp – thanh toán ngay

Tại thời điểm t0, mỗi doanh nghiệp có trong tay những tài sản thực và tiền Giả

sử hoạt động trao đổi diễn ra giữa hai doanh nghiệp A và B tại thời điểm t1 Tại thời điểm này, doanh nghiệp A trao đổi tài sản thực cho doanh nghiệp B (bán hàng cho doanh nghiệp B) để lấy tiền (một dòng vật chất đi từ doanh nghiệp A sang doanh nghiệp B), còn doanh nghiệp B chuyển tiền cho doanh nghiệp A (mua hàng của doanh

Dòng vật chất

đi vào

Dòng tiền đi ra (xuất quỹ)

Sản xuất – chuyển hóa

Dòng vật chất

đi ra

Dòng tiền đi vào (nhập quỹ)

Trang 7

- Dòng tiền đối trọng có kỳ hạn

Đây là trường hợp phổ biến nhất trong hoạt động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp A bán hàng hóa dịch vụ cho doanh nghiệp B tại thời điểm t1, doanh nghiệp B trả tiền cho doanh nghiệp A tại thời điểm t2 Dòng tiền ở thời điểm t2

tương ưng với dòng hàng hóa dịch vụ ở thời điểm t1 Trong thời kỳ t1, t2, trạng thái cân bằng dự trữ của mỗi doanh nghiệp bị phá vỡ Trạng thái cân bằng này được lập lại thông qua việc tạo ra một tài sản tài chính, tức là quyền sử dụng hợp pháp một trái quyền (quyền đòi nợ) hoặc một khoản nợ

Trong trường hợp này, dự trữ tài sản thực của doanh nghiệp A bị giảm đi, nhưng đổi lại doanh nghiệp A có một trái quyền đối với doanh nghiệp B trong thời gian t2 –

t1, cho tới lúc dòng tiền xuất hiện ở thời điểm t2 Đối với doanh nghiệp B, việc nắm giữ một tài sản thực đã làm phát sinh một khoản nợ cho đến khi dòng tiền xuất hiện ở thời điểm t2

- Dòng tiền đối trọng đa dạng

Để khắc phục sự mất cân đối ngân quỹ, đảm bảo khả năng chi trả thông qua thiết lập ngân quỹ tối ưu, doanh nghiệp có thể chiết khấu, nhượng bán trái quyền cho một tổ chức tài chính trung gian hoặc dùng trái quyền như một tài sản thế chấp cho một món vay tùy theo những điều kiện cụ thể Như vậy, tài sản tài chính có thể làm đối tượng giao dịch

b Dòng tiền độc lập

Đây là dòng tiền phát sinh từ các nghiệp vụ tài chính thuần túy: kinh doanh tiền, kinh doanh chứng khoán

Như vậy, sự ra đời, vận hành và phát triển của doanh nghiệp làm phát sinh một

hệ thống các dòng hàng hóa dịch vụ và các dòng tiền, chúng thường xuyên làm thay đổi khối lượng, cơ cấu tài sản thực và tài sản tài chính của doanh nghiệp

1.2.3 Nội dung cơ bản của tài chính doanh nghiệp

Công tác quản lý tài chính của một doanh nghiệp thường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

1.2.3.1.Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kinh doanh

Việc xây dựng, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư và kinh doanh do nhiều bộ phận trong doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu cần phải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án tức là cần xem xét, cân nhắc giữa chi phí bỏ ra, rủi ro có thể gặp phải và khả năng thu lợi nhuận khi thực hiện dự án, dùng thước đo tài chính để lựa chọn được những dự án có mức sinh lời cao

Trang 8

1.2.3.2 Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời các hoạt động của doanh nghiệp

Tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn Tài chính doanh nghiệp phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp ở trong kỳ (bao gồm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn) Tiếp theo, phải tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng mỗi nguồn vốn

1.2.3.3 Sử dụng có hiệu quả cao số vốn trong tay doanh nghiệp, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn trong tay doanh nghiệp (vốn tự có và vốn vay) vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán công nợ

1.2.3.4 Quản lý nợ và thực hiện đúng các cam kết tài chính của doanh nghiệp với Nhà nước, với khách hàng và với người lao động

Quản lý nợ là một trong những công tác quản lý tài chính rất quan trọng không chỉ liên quan đến quá trình kinh doanh mà còn liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải vay khi thiếu vốn, nhưng doanh nghiệp cũng có thể là chủ nợ khi cho vay, bán chịu Nợ của doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán đúng kỳ hạn Nợ của khách hàng phải thu hồi đúng hợp đồng để đảm bảo tình hình tài chính lành mạnh

Các nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí, phải thực hiện đúng với luật pháp và các quy định của Nhà nước, không trốn thuế, lậu thuế, dây dưa nộp thuế chậm

Các cam kết trong hợp đồng lao động như trả lương, nộp bảo hiểm xã hội, các khoản phúc lợi, khen thưởng phải thực hiện đúng pháp luật và bảo đảm lợi ích của người lao động

Trang 9

1.2.3.5 Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp

Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp và cải thiện đời sống của công nhân viên trong doanh nghiệp

1.2.3.6 Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính

Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác, cần định kỳ tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Qua phân tích, cần đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn và tài sản, những điểm mạnh và điểm yếu trong quản lý và dự báo trước tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó phục vụ đắc lực cho công tác điều chỉnh kinh doanh

1.2.3.7 Thực hiện tốt việc kế hoạch hoá tài chính

Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính Có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng có thể chủ động đưa ra các giải pháp hữu hiệu khi thị trường biến động

1.2.4 Vai trò của tài chính doanh nghiệp

1.2.4.1 Huy động vốn, đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường có các nhu cầu vốn ngắn hạn

và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp Vai trò của tài chính doanh nghiệp là xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp để huy động nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn của doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp phải chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi với chi phí huy động ở mức thấp

1.2.4.2 Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào việc tổ chức sử dụng vốn Vai trò của tài chính doanh nghiệp là đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên

cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án Việc huy động vốn kịp thời có ý nghĩa quan trọng, bên cạnh đó, việc huy động tối đa số vốn hiện có của

Trang 10

doanh nghiệp vào các hoạt động kinh doanh có thể tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt nhu cầu vay vốn và giảm được khoản tiền trả lãi vay Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cải tiến sản xuất kinh doanh sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

1.2.4.3 Công cụ để kiểm soát, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thông qua tình hình thu chi hàng ngày, tình hình tài chính và các chỉ tiêu tài chính, nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong kinh doanh, từ đó đưa ra các quyết định thích hợp

1.2.5 Mục tiêu của tài chính doanh nghiệp

Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuận… Song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Do một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định, chính họ phải thấy giá trị đầu tư của họ tăng lên, khi doanh nghiệp đặt ra mục tiêu tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, doanh nghiệp đã tính tới sự biến động của thị trường, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh Muốn vậy, mọi quyết định tài chính cần chú ý đến khả năng tạo ra giá trị Mọi quyết định nếu không tạo ra được giá trị sẽ không làm tăng mà làm giảm giá trị tài sản của chủ sở hữu

Đứng trên góc độ tạo ra giá trị, tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu chính của doanh nghiệp Mục tiêu này nhằm không ngừng gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu doanh nghiệp Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được cụ thể và lượng hóa bằng các chỉ tiêu sau:

- Tối đa hóa lợi nhuận sau thuế: mục tiêu này chưa chắc đã làm gia tăng được giá trị cho cổ đông Ví dụ: có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách phát hành cổ phiếu để huy động vốn rồi dùng số tiền đó để đầu tư vào trái phiếu Chính phủ thu lợi nhuận Trong trường hợp này, lợi nhuận sẽ tăng lên nhưng lợi nhuận trên vốn cổ phần giảm vì số lượng cổ phiếu phát hành tăng Do vậy, chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận cần được bổ sung bằng chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên vốn cổ phần

- Tối đa hóa lợi nhuận trên cổ phần (EPS): chỉ tiêu này có thể bổ sung cho chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận sau thuế Tuy nhiên, chỉ tiêu này vẫn có những hạn chế của

nó Chỉ tiêu này không tính đến yếu tố thời gian của tiền tệ và độ dài thời gian của lợi nhuận kỳ vọng Ngoài ra, nó chưa xem xét đến yếu tố rủi ro và không cho phép sử dụng chính sách cổ tức để tác động đến giá trị cổ phiếu trên thị trường do nếu chỉ vì mục tiêu tối đa hóa EPS thì công ty không bao giờ trả cổ tức

Trang 11

- Tối đa hóa giá trị cổ phiếu: đây được xem như mục tiêu thích hợp nhất của công

ty vì nó chú ý kết hợp nhiều yếu tố như độ dài thời gian, rủi ro, chính sách cổ tức và những yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu

Tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu không có nghĩa là lờ đi các vấn đề thuộc

về trách nhiệm xã hội, chẳng hạn như bảo vệ người tiêu dùng, trả lương công bằng cho nhân viên, chú ý đến đảm bảo an toàn lao động, đào tạo và nâng cao trình độ cho người lao động… và đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường

1.2.6 Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp

Để thực hiện tốt việc quản lý tài chính, trong công tác tổ chức hoạt động tài chính của doanh nghiệp, cần quán triệt một số nguyên tắc cơ bản sau:

1.2.6.1 Tự chủ về tài chính

Quyền tự chủ tài chính của doanh nghiệp bao hàm hai nội dung chủ yếu: quyền chi phối của doanh nghiệp đối với tài sản, vốn của mình và trách nhiệm, nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với Nhà nước, khách hàng, người lao động và các đối tác khác của doanh nghiệp Đối với từng loại hình doanh nghiệp thì nội dung của quyền tự chủ tài chính có những khía cạnh riêng Tuy nhiên, vẫn có những điểm chung như sau:

- Ngoài số vốn sở hữu, doanh nghiệp có quyền lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn phù hợp với quy định của pháp luật

- Doanh nghiệp có quyền chủ động sử dụng vốn và tài sản của mình để kinh doanh các ngành, nghề đã đăng ký

- Tự chịu trách nhiệm về các kết quả kinh doanh (lãi ăn, lỗ chịu)

- Có nghĩa vụ nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác với Nhà nước theo quy định của pháp luật

- Các thành viên hay chủ sở hữu của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp theo mức độ mà pháp luật quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp

- Doanh nghiệp có quyền quyết định sử dụng phần lợi nhuận thu được từ kết quả kinh doanh

Người quản lý cần nắm vững nội dung cụ thể của quyền tự chủ tài chính trong phạm vi doanh nghiệp của mình để phát huy vai trò chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh

1.2.6.2 Tôn trọng pháp luật

Tất cả các doanh nghiệp ở tất cả các quốc gia đều phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh tế diễn ra trong trật tự, công bằng Cần phải thấy pháp luật, một mặt là sợi dây ràng buộc các doanh nghiệp phải tôn

Trang 12

trọng lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, song mặt khác nó cũng là lá chắn bảo vệ các lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Doanh nghiệp được tự do kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận trong khuôn khổ của pháp luật Quản lý tài chính phải nắm vững nội dung của pháp luật và hành động theo pháp luật (cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế)

1.2.6.3 Sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả

Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận Vì vậy, phải sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả Khi huy động và sử dụng mỗi đồng vốn vào bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải dự tính được hiệu quả do đồng vốn mang lại Phải áp dụng mọi biện pháp để đồng vốn không ngừng vận động, không ngừng sinh lời cao nhất

1.2.6.4 Công khai về tài chính

Để bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người có quan hệ với doanh nghiệp (nhà đầu tư, người cho vay, cơ quan giám sát…) pháp luật quy định doanh nghiệp phải công khai một số thông tin về tài chính

Công khai thông tin về tài chính không phải là công khai toàn bộ thông tin về tài chính của doanh nghiệp, mà là công khai những thông tin cần thiết theo yêu cầu của pháp luật Mức độ, nội dung và hình thức công khai về tài chính đối với từng loại hình doanh nghiệp có những điểm khác nhau tuỳ theo yêu cầu của pháp luật

Những thông tin công khai phải đảm bảo chính xác, được kiểm toán xác nhận

1.2.6.5 Giữ chữ tín

Giữ chữ tín được coi là một tiêu chuẩn đạo đức trong cuộc sống hàng ngày và cũng là một tiêu chuẩn đạo đức của nhà kinh doanh, một nguyên tắc cho hoạt động kinh doanh lành mạnh

Giữ chữ tín trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp được hể hiện ở chỗ tôn trọng và chấp hành kỷ luật thanh toán, thực hiện đúng và đầy đủ các trách nhiệm

và nghĩa vụ tài chính đã cam kết với Nhà nước, với những người có quan hệ với doanh nghiệp, với người lao động trong doanh nghiệp, với người cung cấp, với khách hàng

và vơi các chủ nợ

Để thực hiện tốt nguyên tắc này, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm soát được tình hình nợ và áp dụng các biện pháp thích hợp để đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, tổ chức tốt các nguồn tài chính để thực hiện các hợp đồng kinh

tế đã ký kết với khách hàng

1.2.6.6 Hạn chế, phòng ngừa rủi ro

Hoạt động kinh doanh thường gắn liền với những rủi ro Nguyên tắc phòng ngừa, hạn chế rủi ro được thể hiện ở chỗ: đánh giá, lượng định khả năng thu lợi nhuận và khả

Trang 13

vốn một cách thích hợp; chủ động đề ra các biện pháp nhằm phòng ngừa, phân tán và hạn chế rủi ro như đa dạng hoá danh mục đầu tư, mua bảo hiểm tài sản, hoặc trích lập các khoản dự phòng nếu khả năng xảy ra tổn thất

1.2.7 Bộ máy quản lý tài chính doanh nghiệp

Quản lý tài chính là hoạt động có tầm quan trọng số một trong hoạt động của doanh nghiệp Quản lý tài chính thường thuộc về nhà lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp như Phó tổng giám đốc thứ nhất hoặc Giám đốc tài chính Đôi khi, chính Tổng giám đốc làm nhiệm vụ của nhà quản lý tài chính Trong các doanh nghiệp lớn, các quyết định quan trọng về tài chính thường do một ủy ban đưa ra Trong khi tại các doanh nghiệp nhỏ, chính chủ nhân – tổng giám đốc đảm nhận quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp

Bên cạnh đó là cả một bộ máy – phòng, ban tài chính với kế toán trưởng, kế toán viên, thủ quỹ - phục vụ nhằm cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định một cách chính xác và kịp thời, giúp giám đốc tài chính điều hành chung hoạt động tài chính doanh nghiệp

Phòng, ban tài chính có nhiệm vụ:

- Trên cơ sở luật và chế độ quản lý tài chính theo quy định của nhà nước, xây dựng chế độ quản lý tài chính thích hợp với doanh nghiệp cụ thể

- Lập kế hoạch tài chính đồng thời và thống nhất với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Tổ chức thanh toán kịp thời, đầy đủ, đúng hạn và đúng chế độ các khoản nợ và đôn đốc thu nợ

- Tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp và kiểm tra tài chính

- Tham gia xây dựng giá bán và thiết lập các hợp đồng kinh tế với khách hàng

Trang 14

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Tài chính doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp có những mối quan hệ tài chính chủ yếu gì? Trình bày bản chất của tài chính doanh nghiệp

2 Trình bày sự khác biệt, ưu điểm và nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn

3 Trình bày cơ sở nền tảng của hoạt động tài chính doanh nghiệp

4 Trình bày sự khác biệt về chức năng và nhiệm vụ giữa kế toán và tài chính trong một công ty

5 Trình bày và cho ví dụ minh họa các mục tiêu của tài chính doanh nghiệp

6 Trình bày các nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp Liên hệ thực tiễn Việt Nam

7 Căn cứ vào những nội dung dưới đây, tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức quản lý tài chính của doanh nghiệp tại Việt Nam

Tài chính là công cụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Vì vậy việc tổ chức quản lý tài chính trong các doanh nghiệp đều dựa trên những cơ sở chung nhất Tuy nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau, điều kiện kinh doanh khác nhau, môi trường kinh tế - xã hội khác nhau thì việc tổ chức quản lý tài chính cũng khác nhau

Sau đây là một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp

Nhân tố loại hình doanh nghiệp

Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ năm 2006, trở thành một nước có nền kinh tế thị trường với nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau Hiện nay, ở nước ta theo pháp lý có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn

- Công ty cổ phần

- Công ty hợp danh

- Doanh nghiệp tư nhân

- Nhóm công ty (công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế )

- Hợp tác xã

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Nhà nước cũng được

tổ chức theo từng loại hình doanh nghiệp cụ thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty cổ phần

Loại hình tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất nhiều tới việc tổ chức quản lý

Trang 15

- Phương thức tạo lập vốn và huy động vốn, chuyển nhượng vốn

- Phương thức phân phối lợi nhuận

Sau đây sẽ xem xét việc tổ chức quản lý tài chính trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)

Có hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (chủ sở hữu công ty), chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều

lệ của công ty (trách nhiệm hữu hạn)

Như vậy, một tổ chức hoặc một cá nhân có thể bỏ vốn để thành lập loại hình công ty này và trở thành chủ sở hữu của công ty Cũng vì vậy nên chủ sở hữu có quyền quyết định tới việc quản trị và kinh doanh của công ty

Đặc thù về tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với Công ty TNHH một thành viên (1) Tạo lập vốn khi thành

lập công ty và khi hoạt

động:

- Chủ sở hữu cấp vốn, đầu tư vốn để hình thành vốn điều lệ

- Được quyền huy động vốn để hoạt động theo quy định của pháp luật (không được phát hành cổ phiếu) (2) Chuyển nhượng vốn,

- Nếu rút vốn bằng hình thức khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ tài sản và công nợ của công ty

(3) Phân phối lợi nhuận: - Chủ sở hữu quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau

thuế sau khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác

- Không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mặc dù có thể do một cá nhân làm chủ sở hữu nhưng chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản

Trang 16

khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty (trách nhiệm hữu hạn) chứ không phải chịu trách nhiệm vô hạn như doanh nghiệp tư nhân

- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: là doanh nghiệp do các thành viên là tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu, nhưng số thành viên không quá 50 Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp của mình (trách nhiệm hữu hạn)

Đặc thù về tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với Công ty TNHH hai thành viên trở lên (1) Tạo lập vốn khi thành lập

công ty và khi hoạt động:

- Thành viên góp vốn bằng tiền hoặc tài sản theo cam kết để hình thành vốn điều lệ

- Thành viên được ưu tiên góp thêm vốn khi công ty tăng vốn điều lệ

- Được quyền huy động vốn để hoạt động theo quy định của pháp luật (trừ việc phát hành cổ phiếu) (2) Chuyển nhượng vốn, rút

vốn:

- Thành viên được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp cho công ty nếu thành viên đó không tán thành các quyết định của hội đồng thành viên liên quan tới điều lệ, tổ chức của công ty

Nếu công ty không mua lại thì được bán cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên

- Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp của mỗi thành viên theo nguyên tắc:

+ Chào bán cho nội bộ thành viên trước

+ Còn thừa mới chào bán ra ngoài công ty + Được dùng để trả nợ, chủ nợ có thể trở thành thành viên hoặc bán lại (bên trong trước, bên ngoài sau)

- Thành viên được quyền cho, tặng, chuyển quyền thừa kế phần vốn góp

- Thành viên không được rút vốn đã góp mà chỉ được chuyển nhượng cho, tặng, chuyển quyền thừa kế và các trường hợp giảm vốn điều lệ theo quy định của công ty

(3) Phân phối lợi nhuận, xử

lý lỗ:

- Hội đồng thành viên được quyền chia lợi nhuận cho các thành viên theo tỷ lệ góp khi có lãi và đã hoàn thành nghĩa vụ thuế, tài chính, đồng thời vẫn đảm

Trang 17

bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn trả sau khi chia lợi nhuận

- Được quyền trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế

- Nếu lỗ, hội đồng thành viên phải phê duyệt phương

án xử lý lỗ

Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

- Cổ đông (người sở hữu cổ phiếu) có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng cổ đông tối thiểu là 3, tối đa không hạn chế (trừ khi các luật chuyên ngành có quy định khác)

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp (trách nhiệm hữu hạn) Như vậy, công ty cổ phần có thể có các cổ đông sở hữu số lượng cổ phiếu khác nhau nhưng cổ đông cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về nghĩa vụ tài chính

Trong công ty cổ phần, cần phân biệt các khái niệm đặc thù sau đây:

- Cổ phần là các phần bằng nhau được chia ra từ vốn điều lệ Ví dụ: một công ty

cổ phần có vốn điều lệ do các cổ đông góp là 500 triệu đồng, mỗi cổ phần trị giá là 10.000 đồng thì số lượng cổ phần là 500.000.000đ/10.000đ bằng 50.000 cổ phần

- Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phiếu phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên Giá trị ban đầu của mỗi cổ phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu

- Cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phiếu đã phát hành của công ty cổ phần Người sở hữu cổ phiếu phổ thông gọi là cổ đông phổ thông Người sở hữu cổ phiếu ưu đãi (cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại, cổ phiếu ưu đãi khác) gọi là cổ đông ưu đãi

- Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phiếu bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính

Đặc thù về tài chính của công ty cổ phần Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với công ty cổ phần

(1) Tạo lập vốn khi thành lập

công ty và khi hoạt động:

- Khi thành lập công ty: phải xác định vốn điều lệ và

số lượng cổ phiếu phát hành để người mua cổ phiếu mua Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% tổng số cổ phiếu chào bán

- Khi tăng vốn điều lệ: phát hành thêm cổ phiếu để

Trang 18

- Khi chuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp khác sang công ty cổ phần thì phải xác định giá trị doanh nghiệp cũ để tính thành vốn điều lệ của công ty cổ phần và để tính mức sở hữu của các cổ đông cũ, cổ đông mới

- Được quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn hoạt động theo quy định của pháp luật, được vay của các tổ chức tín dụng

(2) Chuyển nhượng vốn:

a Cổ phiếu phổ thông - Được tự do chuyển nhượng

b Cổ phiếu ưu đãi biểu

quyết (cổ phiếu có số phiếu

biểu quyết nhiều hơn cổ

phiếu phổ thông):

- Không được chuyển nhượng Nhưng sau 3 năm kể

từ khi được đăng ký kinh doanh thì cổ phiếu ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập phải chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông

Riêng cổ phiếu phổ thông của cổ đông sáng lập thì được tự do chuyển nhượng trong 3 năm nói trên cho

cổ đông sáng lập khác Nếu chuyển cho cổ đông khác thì phải được Đại hội cổ đông chấp nhận

c Cổ phiếu ưu đãi cổ tức (cổ

d Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại

(cổ phiếu được công ty hoàn

lại vốn):

- Được tự do chuyển nhượng

- Được công ty mua lại nếu chủ sở hữu yêu cầu bất

cứ lúc nào hoặc hoàn lại vốn theo điều kiện đã ghi trên cổ phiếu ưu đãi hoàn lại

(3) Phân phối lợi nhuận: - Đại hội cổ đông quyết định việc phân phối cổ tức,

trích lập các quỹ của công ty, bù đắp đủ lỗ trước đó sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đồng thời vẫn đảm bảo khả năng thanh toán nợ đến hạn

Trang 19

Công ty hợp danh

Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:

- Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh

Đặc thù về tài chính của công ty hợp danh Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với công ty hợp danh

(1) Tạo lập vốn khi thành lập

công ty và khi hoạt động:

- Khi thành lập công ty, các thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải góp vốn đủ theo cam kết Vốn góp có thể bằng tiền hoặc tài sản khác và tài sản phải chuyển quyền sở hữu cho công ty Có thể tiếp nhận thêm thành viên mới sau khi đã hoạt động

- Được quyền huy động vốn cho kinh doanh (vay của các tổ chức tín dụng) nhưng không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

(2) Chuyển nhượng vốn, rút

vốn:

- Thành viên hợp danh không được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên còn lại

- Thành viên hợp danh có thể rút vốn khỏi công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận và phải thông báo trước ít nhất 6 tháng

- Thành viên góp vốn được quyền chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác

(3) Phân phối lợi nhuận: Hội đồng thành viên (Hội đồng của tất cả thành viên)

quyết định việc phân phối lợi nhuận, bao gồm tổng

số lợi nhuận sau thuế được chia và số lợi nhuận được chia cho mỗi thành viên theo tỷ lệ vốn góp hoặc theo quy định trong Điều lệ công ty

Trang 20

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Thực chất doanh nghiệp tư nhân chỉ do một cá nhân làm chủ nên phải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ tài sản, nợ nần của công ty trong quá trình kinh doanh Pháp luật hiện hành cũng quy định mỗi cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân

Đặc thù về tài chính của doanh nghiệp tư nhân Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với doanh nghiệp tư nhân

(1) Tạo lập vốn khi thành lập

công ty và khi hoạt động:

- Vốn điều lệ do chủ doanh nghiệp đăng ký, bao gồm tiền, tài sản Nếu là tài sản khác ngoài tiền, vàng thì chủ doanh nghiệp phải kê khai rõ loại tài sản và giá trị còn lại của tài sản

- Chủ doanh nghiệp có quyền đăng ký hoặc giảm vốn đầu tư trong quá trình kinh doanh, nhưng nếu giảm vốn xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì phải đăng ký lại trước khi giảm vốn

- Vì là công ty trách nhiệm vô hạn như công ty hợp danh nên doanh nghiệp tư nhân không được huy động vốn bằng cách phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

(2) Chuyển nhượng vốn, rút

vốn:

- Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn

bộ doanh nghiệp của mình nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp

- Chủ doanh nghiệp tư nhân cũng có quyền bán doanh nghiệp cho người khác nhưng phải thông báo đầy đủ nghĩa vụ tài chính chưa hoàn thành cho cơ quan đăng ký kinh doanh trước khi chuyển giao doanh nghiệp cho người mua

(3) Phân phối lợi nhuận: Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định việc sử

dụng lợi nhuận sau thuế

Nhóm công ty

Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối liên hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác Nhóm công ty

Trang 21

khác Như vậy, mỗi doanh nghiệp thành viên trong nhóm công ty đều có tư cách pháp nhân riêng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghĩa vụ, quyền lợi của mình Nhóm công ty, về mặt hình thức là tập hợp của các công ty độc lập, còn về mặt nội dung là quan hệ lợi ích giữa các công ty đó

Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phiếu phổ thông đã phát hành của công ty đó

- Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty đó

- Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty đó

Công ty mẹ - công ty con phụ thuộc chủ yếu vào mức độ sở hữu hoặc quyền của công ty này đối với công ty khác nên việc quản lý tài chính trong mô hình công ty mẹ - công ty con cũng có những vấn đề khác biệt so với từng công ty độc lập

Đặc thù về tài chính của công ty mẹ - công ty con Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với công ty mẹ - công ty con

(1) Tạo lập vốn khi thành lập

công ty và khi hoạt động:

- Quan hệ về vốn của công ty con với công ty mẹ khi thành lập tuỳ thuộc vào hình thức pháp lý của công ty con Chẳng hạn là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì do công ty mẹ đầu tư 100% vốn; là công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên thì công ty nào là thành viên góp vốn trên 50% vốn điều

lệ sẽ trở thành công ty mẹ; là công ty cổ phần thì công ty nào sở hữu trên 50% tổng số cổ phiếu phổ thông đã phát hành sẽ là công ty mẹ

- Công ty mẹ và các công ty con có tư cách pháp nhân nên được quyền huy động vốn cho kinh doanh theo quy định của pháp luật

(2) Trách nhiệm quản lý tài

chính:

- Quan hệ kinh tế tài chính giữa công ty mẹ với công

ty con và giữa nhóm công ty với các chủ thể khác là quan hệ độc lập theo từng chủ thể công ty Trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền, gây thiệt hại cho công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó

- Báo cáo tài chính hàng năm lập theo từng công ty, riêng công ty mẹ phải lập báo cáo tài chính hợp nhất của nhóm công ty

Trang 22

(3) Phân phối lợi nhuận: Từng chủ thể công ty trong nhóm công ty tự chịu

trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính và cũng được quyền phân phối lợi nhuận sau thuế theo hình thức pháp lý của công ty và theo Điều lệ của công ty

Doanh nghiệp nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, chính phủ các nước thường đầu tư để thành lập nững doanh nghiệp nhà nước ở một số ngành nghề mà nhà nước cần chi phối để định hướng phát triển kinh tế đất nước hoặc ở những lĩnh vực chậm thu hồi vốn, khó kêu gọi đầu tư (lĩnh vực hạ tầng cơ sở)

Về mặt tài chính, doanh nghiệp nhà nước thường do nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc nắm giữ quyền chi phối bằng tỷ lệ vốn cao Do đó, hình thức tổ chức của doanh nghiệp nhà nước theo loại hình doanh nghiệp nào tuỳ thuộc vào mức độ nắm giữ vốn của nhà nước tại doanh nghiệp đó

Tại Việt Nam, theo quy định của pháp luật hiện hành, doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ

Theo quy định này, doanh nghiệp Nhà nước không chỉ tổ chức theo một loại hình doanh nghiệp cụ thể nào mà tuỳ thuộc vào mức độ sở hữu vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp để thể hiện vai trò chi phối của Nhà nước đối với doanh nghiệp đó Như vậy doanh nghiệp Nhà nước có thể được tổ chức dưới các hình thức pháp lý sau đây:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (100% vốn Nhà nước do một tổ chức làm chủ sở hữu)

- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (các thành viên góp vốn thuộc sở hữu Nhà nước chiếm trên 50% vốn góp của công ty)

- Công ty cổ phần (cổ đông Nhà nước nắm giữ trên 50% cổ phiếu phổ thông đã phát hành)

- Nhóm công ty (là công ty mẹ - công ty con) nếu Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phiếu phổ thông, là tập đoàn kinh tế nếu Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ trong tập đoàn

Việc quản lý tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước được căn cứ vào từng hình thức pháp lý của doanh nghiệp đã nghiên cứu ở các phần trên

Nhân tố đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh

Mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong một số ngành, nghề nhất định, chẳng hạn doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, thương mại, dịch vụ Mỗi ngành, nghề kinh doanh

có đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng biệt Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh ảnh hưởng tới công tác tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp trên các mặt

Trang 23

- Ảnh hưởng tới cơ cấu vốn kinh doanh: những ngành như sản xuất, xây dựng, đóng tầu phải có vốn đầu tư dài hạn rất lớn để xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải Ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng lại đòi hỏi vốn bằng tiền là chính Ngành dịch vụ khác như tư vấn, đào tạo lại đòi hỏi vốn đầu tư vào nhân lực là chính, tức vốn lưu động Ngành thương mại thì vốn chủ yếu nằm trong khâu lưu thông nên cơ cấu vốn kinh doanh phải chú trọng tới vốn đầu tư ngắn hạn

- Tạo ra tính thời vụ của vốn kinh doanh: một số ngành có tính thời vụ rõ ràng như ngành xuất khẩu nông sản, du lịch (theo mùa), thương mại (hàng may mặc theo mùa) nên nhu cầu vốn của các doanh nghiệp kinh doanh ngành này cũng có tính thời vụ Doanh nghiệp phải bố trí tăng nguồn vốn tạm thời khi thời vụ đến, ngược lại khi hết thời vụ thì phải sử dụng vốn cho hợp lý, không để ứ đọng

- Ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển của vốn kinh doanh: ngành có chu kỳ sản xuất dài như ngành đóng tàu, ngành xây dựng thì vốn luân chuyển rất chậm, vốn thu hồi được khi nào sản phẩm hoàn thành, bàn giao Nhưng ngành sản xuất hàng tiêu dùng, ngành thương mại thì vốn vận động nhanh hơn Doanh nghiệp phải chú ý tới đặc điểm này để bố trí và sử dụng vốn hợp lý, kịp thời, tăng tốc độ chu chuyển vốn bằng các biện pháp thích hợp

Nhân tố môi trường kinh doanh

Mội trường kinh doanh là những điều kiện bên ngoài, nơi doanh nghiệp hoạt động Môi trường kinh doanh đa dạng, luôn biến động, có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới công việc kinh doanh của doanh nghiệp Về phương diện tài chính, môi trường kinh doanh có thể tác động thuận lợi, làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhưng môi trường kinh doanh cũng có thể làm tăng chi phí, giảm cơ hội kinh doanh, thậm chí gây nên sự phá sản doanh nghiệp

Những nội dung chủ yếu về môi trường kinh doanh là:

Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế tác động mạnh nhất tới việc quản lý tài chính doanh nghiệp Hình thái biểu hiện cụ thể của môi trường kinh tế là:

Tình trạng của nền kinh tế

Vùng lãnh thổ hoặc quốc gia nơi doanh nghiệp kinh doanh nếu đang trên đà tăng trưởng kinh tế thì triển vọng đầu tư là có lợi, sức mua sẽ tăng, cầu về dịch vụ sẽ đa dạng Ngược lại, nếu vùng đó đang đà suy thoái thì kinh doanh sẽ có thể bị thu hẹp do thị trường trầm lắng

Lạm phát là yếu tố tác động rất mạnh tới tài chính doanh nghiệp Lạm phát cao

và có xu thế tiếp tục tăng sẽ làm tăng nhu cầu vốn kinh doanh và dễ gây ra tình trạng

Trang 24

lãi giả, lỗ thật Việt Nam những năm 80 trước thời kỳ đổi mới đã xảy ra tình trạng này Nhưng thiểu phát cũng gây ra tác động tiêu cực không kém so với lạm phát: làm cho thị trường giảm hẳn mức đầu tư, cầu về tiêu dùng chững lại

Sự phát triển của thị trường tài chính

Thị trường tài chính bao gồm các định chế tài chính (các trung gian tài chính) và các công cụ tài chính trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới tài chính doanh nghiệp Thị trường tài chính phát triển tác động tới tài chính doanh nghiệp trên cả 2 mặt: tạo thuận lợi cho việc huy động vốn kinh doanh và là nơi để doanh nghiệp đầu tư tài chính, mở rộng dịch vụ sinh lời

Thị trường tài chính nếu phân loại theo kỳ hạn của các công cụ tài chính giao dịch thì có thể chia làm 2 loại là thị trường tiền tệ và thị trường vốn Doanh nghiệp có thể tìm nguồn tài trợ trên thị trường tài chính tuỳ theo nguồn vốn cần huy động là ngắn hạn hay trung hạn, dài hạn

Cơ sở hạ tầng:

Cơ sở hạ tầng có thể hiểu theo nghĩa hẹp là điều kiện vật chất của một nền kinh

tế có ảnh hưởng tới việc kinh doanh của doanh nghiệp như tình trạng đường xá, giao thông, thông tin liên lạc, đất đai Nơi những điều kiện thuận lợi, giá cả cạnh tranh thì doanh nghiệp có thể giảm được chi phí nhiều loại, dành được cơ hội kinh doanh tốt Ngoài ra, thói quen tiêu dùng, văn hoá dân tộc, sự phát triển của khoa học, công nghệ trong tương lai cũng là nhân tố ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp, vì những nhân tố này chi phối doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp

Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý là hệ thống luật pháp, chính sách của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia, mỗi khu vực hoặc của cộng đồng quốc tế có ảnh hưởng tới việc kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường pháp lý có phạm vi rất rộng lớn, chẳng hạn những quy định pháp lý về thuế quan, về thương mại, về đầu tư, về dịch vụ, về đất đai, về khuyến khích đầu tư, về quyền sở hữu trí tuệ, về ngân hàng, ngoại hối

Những yếu tố pháp lý luôn thay đổi, vừa có mặt thuận lợi là tạo môi trường thông thoáng, xoá bỏ các rào cản bất lợi cho kinh doanh, nhưng đồng thời cũng làm thay đổi những dự tính của doanh nghiệp Để tránh những rủi ro tài chính có thể xảy ra do môi trường pháp lý thay đổi, doanh nghiệp cần phải:

- Dự báo dài hạn xu thế thay đổi của môi trường pháp lý nơi kinh doanh để có thể xây dựng chiến lược kinh doanh thích ứng

Trang 25

- Đánh giá tối đa tác động của yếu tố pháp lý thay đổi để có những dự phòng tài chính cần thiết bù đắp cho tổn thất nếu xảy ra

- Cập nhật có hệ thống các chính sách, pháp luật có liên quan để tránh những khiếu kiện dẫn đến thiệt hại vì thiếu hiểu biết pháp luật Biện pháp mà các doanh nghiệp thường áp dụng là thuê chuyên gia tư vấn pháp lý hoặc thành lập bộ phận pháp chế trong công ty

Trang 26

CHƯƠNG 2: CHI PHÍ, DOANH THU

VÀ LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP 2.1 CHI PHÍ CỦA DOANH NGHIỆP

2.1.1 Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất kinh doanh

Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ

giá trị vật tư tiêu dùng, giá trị hao mòn của tài sản cố định, tiền lương hay tiền công và

các khoản chi tiêu bằng tiền khác mà doanh nghiệp phải trả để thực hiện hoạt động sản

xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định

Chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm:

- Chi phí cho việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ: là chi phí về các loại vật tư như

nguyên vật liệu, nhiên liệu,…; chi phí về hao mòn máy móc thiết bị và các tài sản cố

định khác; tiền lương hay tiền công cho những người lao động tham gia vào quá trình

sản xuất và cung ứng dịch vụ

- Chi phí cho việc tiêu thụ sản phẩm (chi phí bán hàng): là chi phí về tiền công

hay tiền lương cho nhân viên bán hàng, tiêu dùng các loại vật liệu dùng cho việc bảo

quản sản phẩm trong quá trình tiêu thụ, chi phí về hao mòn tài sản cố định, chi phí

nghiên cứu thị trường, quảng cáo và bảo hành sản phẩm…

- Chi phí cho việc quản lý doanh nghiệp: là chi phí về tiền lương hay tiền công

cho các nhân viên quản lý, tiêu dùng các loại vật liệu dùng cho công tác quản lý, chi

phí về hao mòn tài sản cố định dùng cho quản lý…

- Chi phí khác: là những chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh trong kỳ của

doanh nghiệp như tiền thuế môn bài, tiền bảo hiểm tài sản…

2.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

a Phân loại theo nội dung kinh tế

Phân loại theo nội dung kinh tế là dựa vào hình thái của chi phí bỏ vào sản xuất

kinh doanh mà không phân biệt chi phí đó dùng ở đâu và dùng cho sản phẩm nào

Theo cách phân loại này, những chi phí có cùng nội dung kinh tế được xếp vào một

loại và mỗi loại được gọi là một yếu tố chi phí

Tùy theo yêu cầu quản lý sẽ có các số lượng khác nhau về các yếu tố chi phí

Thông thường người ta chia chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành các

yếu tố chi phí sau:

- Chi phí vật tư: là toàn bộ giá trị nguyên vật liệu, nhiên liệu… mua từ bên ngoài

Trang 27

- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số tiền khấu hao tài sản cố định trong kỳ

- Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: là toàn bộ tiền lương hay tiền công, các khoản có tính chất tiền lương và bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn mà doanh nghiệp phải trả, phải nộp trong kỳ

- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền phải trả về các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các đơn vị khác ở ngoài cung cấp như: điện, nước, điện thoại, tiền bốc xếp và vận chuyển hàng hóa, hoa hồng đại lý, bảo hiểm tài sản, thuê kiểm toán, tư vấn, quảng cáo và các dịch vụ mua ngoài khác

- Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi phí bằng tiền ngoài các chi phí đã nêu trên như: thuế môn bài, thuế sử dụng đất hoặc tiền thuê đất, chi phí tiếp khách, giao dịch đối ngoại, chi phí tuyển dụng, các khoản dự phòng giảm giá

Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế cho thấy mức chi phí về vật tư và lao động trong toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong năm Việc phân loại này giúp doanh nghiệp lập được dự toán chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố, kiểm tra sự cân đối giữa các bộ phận trong doanh nghiệp

b Phân loại theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh

Theo phương pháp phân loại này, có thể sắp xếp những chi phí có cùng công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh vào một loại và mỗi loại như vậy được gọi là một khoản mục chi phí Có những khoản mục chi phí sau:

- Chi phí vật tư trực tiếp: là chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản phẩm hàng hóa, dịch vụ

- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm các khoản trả cho người lao động trực tiếp sản xuất như: tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất lương, chi bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất

- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí chung phát sinh ở các phân xưởng hoặc ở các bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp như: tiền lương và phụ cấp trả cho nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, khấu hao tài sản cố định thuộc phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng

- Chi phí bán hàng: gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm như: tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên bán hàng, tiếp thị, đóng gói, vận chuyển, bảo quản… khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu, bao bì, dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác như chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí quảng cáo…

Trang 28

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các chi phí cho bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như chi phí về công cụ, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp và các chi phí phát sinh ở phạm vi toàn doanh nghiệp khác như tiền lương và phụ cấp trả cho Hội đồng quản trị, ban giám đốc và nhân viên quản lý ở các phòng ban, chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng…

Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh chi phí giúp doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính giá thành cho từng loại sản phẩm, có thể quản lý chi phí tại các địa điểm phát sinh chi phí, quản lý tốt chi phí, khai thác các khả năng nhằm hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

c Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất kinh doanh

Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh và khối lượng hoạt động (sản lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc doanh thu), có thể chia chi phí thành chi phí

cố định và chi phí biến đổi (định phí, biến phí)

- Chi phí cố định: là những chi phí không thay đổi theo sự thay đổi của sản lượng sản xuất hay quy mô kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí cố định có thể bao gồm: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí bảo hiểm, tiền lương cho cán bộ, công nhân viên quản lý, thuế môn bài…

- Chi phí biến đổi: là các chi phí thay đổi theo sự thay đổi của sản lượng sản xuất hay quy mô kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí biến đổi có thể bao gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, tiền lương lao động trực tiếp sản xuất, hoa hồng bán hàng… Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp thấy được xu hướng biến đổi của từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác định được sản lượng hòa vốn cũng như quy

mô kinh doanh hợp lý để đạt được hiệu quả tối ưu

2.1.1.3 Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Yêu cầu quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp là phải tiết kiệm chi phí

vì chi phí có quan hệ chặt chẽ với doanh thu và lợi nhuận Nếu chi phí tăng hoặc chi phí không đúng nội dung của nó thì sẽ phản ánh sai kết quả hoạt động kinh doanh và làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm

Một trong những nội dung quan trọng của việc quản lý chi phí kinh doanh là phải lập được kế hoạch chi phí hàng năm của doanh nghiệp, tức là lập được bảng dự toán chi phí theo yếu tố

Việc lập bảng dự toán chi phí theo yếu tố hàng năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh có thế áp dụng theo một trong hai phương pháp sau:

Trang 29

- Phương pháp gián tiếp: lập bảng dự toán chi phí của doanh nghiệp căn cứ vào tài liệu kế hoạch của các bộ phận trong doanh nghiệp Kế hoạch của các bộ phận trong doanh nghiệp thường dự tính chi phí mua các loại vật tư (nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế…) và chi phí khác phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh

- Phương pháp trực tiếp: lập bảng dự toán chi phí trực tiếp trên cơ sở các định mức tiêu hao (nguyên nhiên vật liệu, giờ công và các khoản trích nộp tính trên tiền lương, tiền công của người lao động trực tiếp…) trong giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm sản xuất Các định mức này kết hợp với các bảng dự toán khác về chi phí phát sinh (chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý), số kết dư sản phẩm dở dang, chi phí trả trước (chi phí chờ phân bổ) phát sinh, chi phí phải trả (chi phí trích trước) để tính được tổng chi phí sản xuất trong kỳ (theo yếu tố chi phí)

Lập bảng dự toán theo phương pháp trực tiếp thường được áp dụng cho các doanh nghiệp đã xây dựng được định mức kinh tế - kỹ thuật tương đối chính xác, hợp

lý, công tác quản lý định mức đã đi vào nề nếp Theo phương pháp này, các định mức tiêu hao nguyên vật liệu trong giá thành sản xuất cần cộng thêm các yếu tố trong sản phẩm đang chế tạo cuối kỳ và trừ đi các yếu tố trong sản phẩm đang chế tạo dự tính kết dư đầu kỳ để chuyển thành chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ

Dự toán chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất và xây dựng có

sự khác biệt so với dự toán chi phí của doanh nghiệp thương mại do sự khác biệt từ nhiệm vụ kinh doanh

a Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh doanh nghiệp sản xuất, xây dựng

Dự toán chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất và xây dựng được lập dựa trên các định mức, chi phí, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh kỳ kế hoạch, chi phí sản phẩm đang chế tạo (sản phẩm làm dở) đầu kỳ và chi phí sản phẩm đang chế tạo cuối kỳ

Chi phí sản xuất,

kinh doanh

kỳ kế hoạch

= Chi phí phát sinh trong kỳ +

Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ

-

Chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ

Trang 30

- Định mức tiêu hao cho 1 đơn vị sản phẩm

Đơn vị: 1.000đ

giá

Định mức cho 1 sản phẩm Sản phẩm A Sản phẩm B

- Dự toán chi phí sản xuất chung và chi phí quản lý doanh nghiệp

Đơn vị: 1.000đ

Khoản mục Chi phí sản xuất

chung

Chi phí quản lý doanh nghiệp

4 Các khoản trích theo lương (24%) 19.200 9.600

5 Khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) 50.000 35.000

6 Chi phí dịch vụ mua ngoài 30.000 20.000

- Số dư về sản phẩm đang chế tạo

Đơn vị: 1.000đ

Khoản mục Số dư đầu năm Số dư cuối năm

1 Đánh giá sản phẩm đang chế tạo 267.000 336.000

2 Trong đó:

- Các khoản trích theo lương 28.800 33.600

- Dự toán chi phí trả trước năm kế hoạch là 132.200.000 đồng, bao gồm:

+ Vật liệu phụ 23.000.000đ

Trang 31

- Chi phí vật tư là nhiên liệu:

12 triệu + 16 triệu + 5 triệu = 33 triệu đồng

- Tổng chi phí vật tư: 525 + 199 + 33 = 757 triệu đồng

- Tiền lương ( chi phí nhân công):

(5.000 x 200 x 300) + (5.000 x 160 x 400) + (80 triệu + 40 triệu) + (140 triệu -

120 triệu) + 80 triệu + 70 triệu + 30 triệu = 940 triệu đồng

- Các khoản trích theo lương:

940 x 24% = 225,6 triệu đồng

- Chi phí khấu hao TSCĐ:

50 triệu + 35 triệu + 10 triệu = 95 triệu đồng

- Chi phí dịch vụ mua ngoài:

30 triệu + 20 triệu = 50 triệu đồng

- Chi phí bằng tiền khác:

80 triệu + 10 triệu + 9 triệu + 20 triệu = 119 triệu đồng

Trang 32

Bảng 2.1: Dự toán chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố

2 Chi phí khấu hao tài sản cố định 95.000

Tổng chi phí sản xuất theo yếu tố 2.186.600

b Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp thương mại và lập kế hoạch chi phí lưu thông hàng hoá

* Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp thương mại

Khác với doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lưu thông - cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng trong nước và kinh doanh hàng hoá với nước ngoài Do đặc thù kinh doanh nên chi phí kinh doanh của doanh nghiệp thương mại cũng có khác, thường bao gồm 2 bộ phận:

- Trị giá hàng hóa tiêu thụ tính theo giá mua vào (còn gọi là giá vốn của hàng hoá bán ra) Giá vốn của hàng hoá bán ra được thu hồi bởi doanh thu bán hàng

- Chi phí lưu thông hàng hóa Đây là những chi phí phát sinh ở các khâu: mua, dự trữ, bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Quản lý tài chính cần quan tâm tới chi phí lưu thông hàng hoá thông qua việc lập

kế hoạch chi phí lưu thông hàng hoá, vì đây là những chi phí phát sinh ảnh hưởng lớn tới hiệu quả kinh doanh

* Lập kế hoạch chi phí lưu thông hàng hoá (CPLTHH)

Chi phí lưu thông hàng hoá của doanh nghiệp thương mại thường bao gồm các

bộ phận: chi phí ở khâu mua và khâu dự trữ hàng hoá, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

- Chi phí ở khâu mua và khâu dự trữ hàng hoá bao gồm:

+ Chi phí vận chuyển hàng hoá: là những chi phí vận chuyển, bốc xếp, tạp phí vận chuyển hàng hóa do doanh nghiệp tự làm hay thuê ngoài

Trang 33

+ Chi phí phân loại, chọn lọc, bao gói, bao bì (kể cả tiền lương, tiền công, các khoản có tính chất lương của nhân viên làm việc trên)

+ Chi phí bảo quản hàng hoá (kể cả tiền lương, tiền công, các khoản có tính chất lương của nhân viên bảo quản hàng hoá)

+ Chi phí trực tiếp khác

- Chi phí bán hàng bao gồm:

+ Chi phí liên quan trực tiếp đến khâu bán hàng

+ Chi phí mua bảo hiểm và chi phí vận chuyển hàng hoá tới cửa khẩu nước ngoài (nếu bán hàng theo giá CIF)

- Chi phí quản lý doanh nghiệp

Khi lập kế hoạch chi phí lưu thông hàng hoá, tổng chi phí lưu thông hàng hoá trong kỳ kế hoạch (năm N + 1) được xác định như sau:

Tổng CPLTHH

trong kỳ kế hoạch =

CPLTHH phân bổ cho hàng hoá dự trữ đầu kỳ

+

Tổng CPLTHH phát sinh trong kỳ

x Trị giá hàng hoá

dự trữ cuối kỳ (5) (2.3) Trị giá tổng lượng hàng hoá trong kỳ (4)

(Tỷ số trên cho biết 1 đồng hàng hoá trong kỳ phải chịu bao nhiêu đồng chi phí lưu thông)

Trị giá tổng lượng hàng hoá trong kỳ (4) tính bằng tiền theo một giá, hoặc giá mua bình quân hoặc giá bán lẻ bình quân theo từng nhóm hàng, mặt hàng rồi cộng lại Trị giá hàng hoá dự trữ cuối kỳ (5) cũng tính theo giá như trên

lý tốt hơn chi phí lưu thông hàng hóa kỳ kế hoạch, đó là chỉ tiêu tỷ suất chi phí lưu

Trang 34

thông hàng hoá (B), chỉ tiêu mức độ giảm chi phí lưu thông hàng hóa (C) và chỉ tiêu tốc độ giảm chi phí lưu thông hàng hóa (D)

Phương pháp tính các chỉ tiêu trên như sau:

Tỷ suất CPLTHH

kỳ kế hoạch (B) =

Tổng mức CPLTHH kỳ kế hoạch (A)

x 100% (2.5) Doanh thu thuần kỳ kế hoạch

Trong công tác quản lý tài chính, khi lập kế hoạch chi phí lưu thông hàng hóa thường phải phấn đấu để giảm tỷ suất chi phí lưu thông hàng hóa so với kỳ trước Chỉ tiêu tỷ suất chi phí lưu thông hàng hóa cho thấy cứ 100 đồng doanh thu thuần bán hàng thì phải bỏ ra chi phí là bao nhiêu ngoài giá vốn

2.1.1.4 Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

a Khái niệm

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp

đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm hay một loại sản phẩm nhất định

Chi phí sản xuất chung (2.8)

Trang 35

(Giá thành sản xuất của khối lượng sản phẩm tiêu thụ đối với doanh nghiệp sản xuất còn được gọi là giá vốn hàng bán Trong khi đối với doanh nghiệp thương mại, giá vốn là giá mua của hàng hóa bán ra)

- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ (giá thành tiêu thụ) bao gồm toàn bộ chi phí để hoàn thành việc sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm

Giá thành toàn bộ

của sản phẩm =

Giá thành sản xuất sản phẩm +

Chi phí bán hàng +

Chi phí quản

lý doanh nghiệp

4 Các khoản trích theo lương 9.600 4.800

5 Khấu hao tài sản cố định 25.000 17.500

Trang 36

Từ các dữ liệu trên đây, tính giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ của một đơn

vị sản phẩm như sau (sản phẩm không có chi phí dở dang đầu kỳ):

- Tính giá thành sản xuất của 1 sản phẩm A:

Chi phí vật tư trực tiếp = (40.000 x 20) + (10.000 x 6) - (4 x 50% x 10.000) = 840.000 (đồng)

Chi phí tiền lương công nhân = 3.000 x 160 = 480.000 (đồng)

Các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất

= 480.000 x 24% = 115.200 (đồng)

Chi phí nhân công trực tiếp = 480.000 + 115.200 = 595.200 (đồng)

Chi phí sản xuất chung = 140.800.000/1.000 = 140.800 (đồng)

Giá thành sản xuất của 1 sản phẩm = 840.000 + 595.200 + 140.800

= 1.576.000 (đồng)

- Tính giá thành toàn bộ của 1 sản phẩm A:

Chi phí bán hàng = 1.576.000 x 5% = 78.800 (đồng)

Chi phí quản lý doanh nghiệp = 70.400.000/1.000 = 70.400 (đồng)

Giá thành toàn bộ của 1 sản phẩm = 1.576.000 + 78.800 + 70.400

= 1.725.200 (đồng)

Cần chú ý rằng trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm thì trước khi tính giá thành toàn bộ của từng loại sản phẩm phải phân bổ chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng cho từng loại sản phẩm Tiêu thức phân bổ có thể là theo giờ công định mức hoặc theo tiền lương chính của công nhân sản xuất

c Ý nghĩa của giá thành

- Giá thành là thước đo mức hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ để xác định hiệu quả kinh doanh

- Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm tra, giám sát chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét tính hiệu quả của các biện pháp tổ chức và

kỹ thuật

- Giá thành còn là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chính sách giá

cả, thực hiện chính sách cạnh tranh sản phẩm trong cơ chế thị trường

d.Hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

* Ý nghĩa của hạ giá thành

Hạ giá thành sản phẩm là một trong những mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện thị trường có sự cạnh tranh gay gắt Việc hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp trên các mặt

Trang 37

- Là cơ sở cho việc hạ giá bán sản phẩm, tăng lợi thế tiêu thụ chiếm thị phần, tăng năng lực cạnh tranh

- Có thể tăng nhanh vòng quay của vốn nhờ tiết kiệm được vón và giảm bớt chi phí sử dụng vốn

- Làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp ngay cả trong trường hợp hạ giá bán sản phẩm do việc tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn Tuy nhiên điều này chỉ có ý nghĩa khi chất lượng sản phẩm không bị giảm theo việc hạ giá thành

- Hạ giá thành từ các chi phí vật tư sẽ tiết kiệm được vật tư, đồng nghĩa với việc

sử dụng số vật tư tiết kiệm để tăng sản lượng sản phẩm, mở rộng kinh doanh Điều đó cũng có nghĩa như việc giảm nhu cầu vốn kinh doanh

* Phương pháp xác định mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm

Hàng năm, khi lập kế hoạch giá thành, doanh nghiệp thường phải xác định mức

hạ giá thành kế hoạch và tỷ lệ hạ giá thành kế hoạch của sản phẩm (sản phẩm mà kỳ trước đã sản xuất) để làm cơ sở phấn đấu hạ giá thành

- Mức hạ giá thành của sản phẩm: là tổng số tiền mà doanh nghiệp có thể tiết kiệm được do việc hạ giá thành đơn vị sản phẩm so với kỳ trước tính cùng theo số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch (cố định nhân tố số lượng sản phẩm)

Cách tính như sau:

MZ = Σ[(Qi1*Zi1) – (Qi1*Zi0)] (2.10) Trong đó: MZ: mức hạ giá thành sản phẩm

Trang 38

- Đổi mới thiết bị, công nghệ: là một biện pháp quan trọng, bởi vì thông thường những thiết bị, công nghệ sản xuất quá cũ, quá lạc hậu thường tiêu tốn nguyên vật liệu

mà sản phẩm làm ra lại kém chất lượng Việc đổi mới thiết bị, công nghệ có thể khắc phục tình trạng này

- Tổ chức tốt hơn việc sử dụng lao động: biện pháp này giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động Có thể khi tăng năng suất lao động thì chi phí nhân công cũng tăng nhưng chi phí này tăng chậm hơn, giá thành sẽ hạ Việc sử dụng lao động phải chú ý cả trình độ chuyên môn của người lao động, cả việc tổ chức sử dụng lao động và các biện pháp khuyến khích tích cực của người lao động

- Biện pháp quản lý tài chính: quản lý tài chính liên quan tới mọi khâu của quá trình kinh doanh, từ việc quản lý vật tư, vốn, lao động tới việc quản lý quy trình sản xuất Nhìn chung, biện pháp tài chính có hiệu lực mạnh mẽ Vì vậy cần sử dụng biện pháp này để quản lý chi phí sao cho tiết kiệm, hiệu quả ở mọi khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh

- Biện pháp tăng sản lượng sản phẩm: tăng sản lượng sản phẩm cũng làm tăng chi phí, nhưng có những chi phí không tăng hoặc tăng với tốc độ thấp hơn tốc độ tăng sản lượng đó là các chi phí cố định Tăng sản lượng là biện pháp hạ giá thành, chủ yếu nhờ sự tận dụng các chi phí cố định

2.1.2 Chi phí hoạt động tài chính và chi phí hoạt động khác

2.1.2.1 Chi phí hoạt động tài chính

Chi phí tài chính là những chi phí thuộc về hoạt động tài chính như các khoản chi hoặc khoản lỗ liên quan tới việc cho vay, đi vay vốn, chi phí góp vốn liên doanh, liên kết, giao dịch mua bán chứng khoán, lỗ phát sinh do mua, bán ngoại tệ, tỷ giá hối đoái, chiết khấu thanh toán cho người mua

2.1.2.2 Chi phí hoạt động khác

Chi phí hoạt động khác (chi phí khác) của doanh nghiệp là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ nhất định do các sự việc xảy ra không thường xuyên hoặc do các nghiệp vụ riêng biệt của doanh nghiệp

Chi phí khác gồm các loại:

- Chi phí cho việc thanh lý, nhượng bán tài sản cố định hoặc giá trị tổn thất của tài sản cố định (giá trị còn lại chưa khấu hao hết khi thanh lý, nhượng bán sau khi bù đắp bằng các khoản thu hồi được)

- Phần lỗ do đánh giá lại vật tư, hàng hoá, tài sản cố định đưa đi góp vốn, liên doanh, liên kết

- Tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế

Trang 39

- Các chi phí không thường xuyên khác

- Chi phí thuế doanh nghiệp phải nộp Đây là số thuế trực thu mà doanh nghiệp

có lãi phải nộp, được coi là một loại chi phí của doanh nghiệp, nhưng là chi phí lấy từ lợi nhuận kinh doanh

2.2 CÁC LOẠI THUẾ CHỦ YẾU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp các loại thuế cho Nhà nước theo pháp luật hiện hành Có loại thuế doanh nghiệp phải nộp từ chính thu nhập của mình gọi là thuế trực thu (như thuế thu nhập doanh nghiệp) Có loại thuế mà doanh nghiệp chỉ là người nộp thuế hộ, còn người chịu thuế là người tiêu thụ, sử dụng sản phẩm, dịch vụ gọi là thuế gián thu (thuế nhập khẩu, xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt ) Liên quan đến chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp có các loại thuế: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp

2.2.1 Thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng là khoản thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng

Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) là hàng hóa, dịch vụ dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng (trừ những hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng như hàng hóa, dịch vụ thuộc sản phẩm trồng trọt, giống cây trồng vật nuôi, muối, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do nhà nước bán cho người đang thuê, chuyển quyền sử dụng đất, dịch vụ y tế, dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư, hoạt động kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiềm cây trồng, các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh, dạy học, dạy nghề…)

Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất

Thuế giá trị gia tăng = Giá tính thuế x Thuế suất (2.12)

* Giá tính thuế giá trị gia tăng được quy định cho từng loại hàng hóa, dịch vụ:

- Hàng hóa, dịch vụ trong nước: giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng

- Hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu: tổng của giá hàng hóa nhập tại cửa khẩu và thuế nhập khẩu

- Đối với hàng hóa dùng để trao đổi, biếu tặng: giá tính thuế là giá trị hàng hóa cùng loại trên thị trường tại thời điểm phát sinh

- Đối với thuê tài sản: số tiền thu từng kỳ

- Đối với hàng hóa mua trả góp: giá của hàng hóa tính theo giá bán trả một lần

Trang 40

* Thuế suất thuế giá trị gia tăng: được quy định cho từng nhóm hàng, loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Thông thường có các mức thuế suất 0%, 5%, 10%

Có 2 phương pháp tính thuế giá trị gia tăng: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

2.2.1.1 Phương pháp khấu trừ thuế

Thuế giá trị gia

Thuế giá trị gia tăng

Giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ bán ra x Thuế suất (2.14)

Thuế giá trị gia tăng

đầu vào được khấu trừ =

Tổng số thuế giá trị gia tăng đã thanh toán được ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ Chú ý: Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào có chứng từ ghi giá thanh toán –

là giá đã có thuế giá trị gia tăng, thì doanh nghiệp căn cứ vào giá đã có thế và thuế suất thuế giá trị gia tăng để xác định giá không có thuế và số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ

Giá mua chưa có thuế = Giá thanh toán (2.15)

1 + thuế suất

Thuế giá trị gia tăng

đầu vào được khấu trừ =

Giá mua chưa có thuế giá trị gia tăng x Thuế suất (2.16)

Ví dụ: Trong kỳ tính thuế, số hàng hoá bán được với doanh thu (chưa có thuế GTGT) là 200 triệu đồng Các hoá đơn mua vào của vật tư, hàng hoá trong kỳ là 140 triệu đồng (giá mua chưa có thuế GTGT) và thuế GTGT đã tính là 14 triệu đồng Thuế suất thuế GTGT của tất cả các mặt hàng là 10%

Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế tính như sau:

Thuế GTGT phải nộp = (200 x 10%) - 14 = 6 (triệu đồng)

2.2.1.2 Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng

Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế x Thuế suất (2.17) Giá trị gia tăng Giá thanh toán của Giá thanh toán của hàng

Ngày đăng: 23/11/2021, 09:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Quy trình dịch chuyến dịng vật chất và dịng tiên - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Hình 1.2 Quy trình dịch chuyến dịng vật chất và dịng tiên (Trang 6)
Sau đây sẽ xem xét việc tổ chức quản lý tài chính trong một số loại hình doanh nghiệp  chủ  yếu - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
au đây sẽ xem xét việc tổ chức quản lý tài chính trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu (Trang 15)
Bảng 2.1: Dự tốn chỉ phí sản xuất kinh doanh theo yếu tổ Đơn  vị  tính: Ï (000đ  - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 2.1 Dự tốn chỉ phí sản xuất kinh doanh theo yếu tổ Đơn vị tính: Ï (000đ (Trang 32)
Bảng 2.2: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp (Trang 47)
Từ dữ liệu này, cĩ thể dự kiến tình hình biến đổi giữa sản lượng tiêu thụ, doanh thu  với  chi  phí  trong  6  tháng  như  sau:  - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
d ữ liệu này, cĩ thể dự kiến tình hình biến đổi giữa sản lượng tiêu thụ, doanh thu với chi phí trong 6 tháng như sau: (Trang 54)
- Thu tiền từ những hoạt động sản xuất kinh doanh khác: trên bảng cân đối kế tốn  của  doanh  nghiệp,  trong  mục  các  khoản  phải  thu,  ngồi  các  khoản  phải  thu  của  khách  hàng  doanh  nghiệp  cịn  cĩ  các  khoản  phải  thu  nội  bộ  và  các  khoả - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
hu tiền từ những hoạt động sản xuất kinh doanh khác: trên bảng cân đối kế tốn của doanh nghiệp, trong mục các khoản phải thu, ngồi các khoản phải thu của khách hàng doanh nghiệp cịn cĩ các khoản phải thu nội bộ và các khoả (Trang 56)
Bảng 2.4: Cân đối ngân quỹ doanhnghiệp - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 2.4 Cân đối ngân quỹ doanhnghiệp (Trang 59)
L Tiên và các khoản tương đương tiên 110 2.477.610 5.280.476 - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
i ên và các khoản tương đương tiên 110 2.477.610 5.280.476 (Trang 64)
1. TSCĐ hữu hình 221 12.153.562 | 14.061.874 - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
1. TSCĐ hữu hình 221 12.153.562 | 14.061.874 (Trang 65)
2. Nguơn kinh phí đã hình thành TSCĐ 433 - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
2. Nguơn kinh phí đã hình thành TSCĐ 433 (Trang 67)
Bảng 3.2: Mẫu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của cơng ty X BẢO  CÁO  KẾT  QUÁ  HOẠT  ĐỘNG  KINH  DOANH  - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 3.2 Mẫu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của cơng ty X BẢO CÁO KẾT QUÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (Trang 68)
Bảng 3.4: Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 3.4 Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian (Trang 94)
5.1.3. Các mơ hình bồ trí nguồn vốn của doanh nghiệp - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
5.1.3. Các mơ hình bồ trí nguồn vốn của doanh nghiệp (Trang 121)
Bảng tổng hợp nhu cầu vốn lưu động năm N+1 (theo  phương  pháp  trực  tiếp)  - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng t ổng hợp nhu cầu vốn lưu động năm N+1 (theo phương pháp trực tiếp) (Trang 147)
đối ngăn và chuyển đổi hình dáng dễ dàng khi sử dụng. Trên bảng cân đối kế tốn, tài - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
i ngăn và chuyển đổi hình dáng dễ dàng khi sử dụng. Trên bảng cân đối kế tốn, tài (Trang 158)
Bảng 6.l. Dự đốn thơng tin tín dụng của các nhĩm khách hàng - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 6.l. Dự đốn thơng tin tín dụng của các nhĩm khách hàng (Trang 168)
từng nhĩm khách hàng, khoản phải thu tăng thêm hình thành và băng kỳ thu tiền bình - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
t ừng nhĩm khách hàng, khoản phải thu tăng thêm hình thành và băng kỳ thu tiền bình (Trang 168)
Bảng 6.3. Thơng tin về kéo dài thời hạn tín dụng - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 6.3. Thơng tin về kéo dài thời hạn tín dụng (Trang 170)
Bảng 6.4. Phân tích quyết định kéo dài thời hạn bán hàng ch oA & M - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 6.4. Phân tích quyết định kéo dài thời hạn bán hàng ch oA & M (Trang 171)
Bảng 6.5. Phân tích quyết định cấp chiết khẩu cho khách hàng tín dụng A&M - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 6.5. Phân tích quyết định cấp chiết khẩu cho khách hàng tín dụng A&M (Trang 172)
Như vậy, tại điểm tồn kho tối ưu theo mơ hình EOQ. chi phí đặt hàng băng với - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
h ư vậy, tại điểm tồn kho tối ưu theo mơ hình EOQ. chi phí đặt hàng băng với (Trang 178)
Bảng 6.6. Chỉ phí đầu tư vào hàng tơn kho dự trữ an tồn tối ưu - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 6.6. Chỉ phí đầu tư vào hàng tơn kho dự trữ an tồn tối ưu (Trang 180)
Qua bảng trên cho thấy mức tồn kho dự trữ an tồn tối ưu là 20 đơn vị. - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
ua bảng trên cho thấy mức tồn kho dự trữ an tồn tối ưu là 20 đơn vị (Trang 180)
Bảng 6.8. Chỉ phí tơn kho và chỉ phí mua hàng với nhiều số lượng khác nhau - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 6.8. Chỉ phí tơn kho và chỉ phí mua hàng với nhiều số lượng khác nhau (Trang 181)
Bảng 6.9. Chỉ phí tơn kho dự trữ dự kiến với các mức đặt hàng khác nhau - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 6.9. Chỉ phí tơn kho dự trữ dự kiến với các mức đặt hàng khác nhau (Trang 182)
Bảng 6.10. Chỉ phí tơn kho sản xuất, tơn trữ an tồn và chỉ phí mua hàng với những số lượng - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
Bảng 6.10. Chỉ phí tơn kho sản xuất, tơn trữ an tồn và chỉ phí mua hàng với những số lượng (Trang 183)
giảm dân cĩ điêu chỉnh ở2 năm cuơi được xác định trên bảng sau: - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
gi ảm dân cĩ điêu chỉnh ở2 năm cuơi được xác định trên bảng sau: (Trang 193)
Bước 5: Phản ánh các chỉ tiêu vào bảng kế hoạch khấu hao. - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
c 5: Phản ánh các chỉ tiêu vào bảng kế hoạch khấu hao (Trang 197)
Cơng ty A cĩ tình hình khẩu hao TSCĐ cuối năm trước (tức đầu năm kế hoạch) như  sau:  - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
ng ty A cĩ tình hình khẩu hao TSCĐ cuối năm trước (tức đầu năm kế hoạch) như sau: (Trang 199)
- Tiền khấu hao tài sản cơ định hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp  được  giữ  lại  để  làm  nguồn  vốn  đầu  tư  vào  tài  sản  cố  định - Tập bài giảng Tài chính doanh nghiệp
i ền khấu hao tài sản cơ định hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp được giữ lại để làm nguồn vốn đầu tư vào tài sản cố định (Trang 200)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm