Hiện nay, DNNN ở Việt Nam đã và đang quản lý một lượng lớn các nguồn lực, chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế. Phát triển của các DNNN có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Trong những năm qua, Nhà nước đã cố gắng, nỗ lực cải cách, sắp xếp lại các DNNN và đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN còn hạn chế. Do đó, đề tài “Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về cơ chế đại diện chủ sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay” là vô cùng cần thiết và cấp bách.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, DNNN ở Việt Nam đã và đang quản lý một lượng lớn các nguồnlực, chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế Phát triển của các DNNN có ảnh hưởngđặc biệt quan trọng đến phát triển của toàn bộ nền kinh tế Trong những năm qua,Nhà nước đã cố gắng, nỗ lực cải cách, sắp xếp lại các DNNN và đã đạt được một
số thành tựu nhất định
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN còn hạn chế.Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế vàchưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước; kinh doanh thua lỗ, không bảo toànđược vốn, không trả được nợ, nhiều trường hợp đảng viên là cán bộ chủ chốt đượcgiao đại diện CSH vốn nhà nước vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, trong đó
có trường hợp bị khai trừ ra khỏi Đảng, nhận án tử hình Các nguyên nhân của tìnhtrạng hiệu quả kinh doanh thấp của các DNNN được chỉ ra nhiều, song một trongnhững nguyên nhân quan trọng là cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong doanhnghiệp còn rất nhiều bất cập biểu hiện thông qua xác định chủ thể, thẩm quyền;kiểm tra, giám sát đối với người đại diện CSH vốn nhà nước trong doanh nghiệp
Do đó, em xin chọn vấn đề “Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về cơ chế đại diện chủ sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay” để tìm hiểu rõ hơn cũng như là đưa ra những quan điểm, kiến
nghị hoàn thiện pháp luật về đề tài này
NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận về chủ sở hữu nhà nước, cơ chế đại diện chủ sở hữu Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
1 Khái niệm về chủ sở hữu nhà nước.
Nhà nước là chủ sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp có vốn nhànước và có quyền tham gia vào quá trình quản lý doanh nghiệp với tư cách là chủđầu tư Phụ thuộc vào tỷ lệ đầu tư góp vốn vào doanh nghiệp, chủ sở hữu nhà nước
Trang 2sẽ có phạm vi mức độ quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, song về cơ bản có cácquyền:
- Quyết định “số phận” của doanh nghiệp: thành lập, giải thể, tổ chức lại,yêu cầu phá sản,…
- Quyết định điều lệ, mức vốn đầu tư (điều chỉnh, chuyển nhượng)
- Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý, bộ máy quản lý doanh nghiệp
- Quyết định chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư phân phối lợinhuận
Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước chiu trách nhiệm về các khoản nợ vànghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn/ cam kết góp vốn điều
lệ như các cổ đông CTCP hay thành viên công ty TNHH
Tương tự như trường hợp chủ đầu tư góp vốn là một tổ chức kinh tế, nhànước thực hiện quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp thông qua cơ chế đại diện, tức
là nhà nước giao cho một số tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, thực hiện các quyềnhận và trách nhiệm của nhà nước tại doanh nghiệp mà nhà nước đầu tư góp vốn
2 Khái niệm về cơ chế đại diện chủ sở hữu nhà nước.
Có hai vấn đề liên quan đến đại diện chủ sở hữu nhà nước, đó là: Đại diệnchủ sở hữu nhà nước trong hoạt động đầu tư vào các doanh nghiệp nói chung vàĐại diện chủ sở hữu nhà nước trực tiếp tại doanh nghiệp
Bằng pháp luật, chủ sở hữu nhà nước quy định phân công, phân cấp cho các tổchức, cá nhân thực hiện quyền hạn trách nhiệm của mình, tức là sẽ có nhiều đạidiện chủ sở hữu nhà nước, mỗi chủ thể được phân công, phân cấp thực hiện nhữngquyền hạn Trách nhiệm khác nhau
3 Doanh nghiệp nhà nước.
Là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần,vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 3So với Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp Nhà nước thường được cho là kém hiệu quả và lợi nhuận thấp hơn Trong khi các công ty tư nhân chi tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, Doanh nghiệp Nhà nước thường phải chịu trách nhiệm của
xã hội, hoạt động vì lợi ích của người dân, được thành lập để đối phó với những thất bại của nền kinh tế Điều đó dẫn đến việc các Doanh nghiệp Nhà nước không hướng đến và cũng không cần cố gắng tối đa hóa lợi nhuận như các doanh nghiệp
1986 Trong thời gian qua, DNNN đã cơ bản thực hiện được vai trò, nhiệm vụCSH giao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; là lực lượng vật chất quantrọng để Nhà nước điều tiết kinh tế, ổn định vĩ mô, bảo đảm cân đối lớn của nềnkinh tế
Vào cuối những năm 1980, số lượng DNNN là trên 12.000 doanh nghiệp,trong đó, doanh nghiệp do địa phương quản lý chiếm 75% Trong giai đoạn 1991-
1994, có hơn 250 tổng công ty, các liên hiệp xí nghiệp và các DNNN độc lập đãthực hiện sắp xếp lại; 17 tổng công ty đã thành lập theo Quyết định số 91/TTgngày 7/3/1994, và 76 tổng công ty được thành lập và quản lý theo uỷ quyền của
Trang 4Thủ tướng Chính phủ cho các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Quyết định số90/TTg ngày 7/3/1994
Thông qua quá trình sắp xếp, tổ chức lại DNNN nêu trên, tính đến thời điểmđầu năm 2000 số lượng DNNN giảm xuống còn khoảng 6.000 DNNN, tuy nhiên,tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của kinh tế nhà nước là 11,7%, gấp 1,5 lầntốc độ tăng trưởng bình quân của toàn bộ nền kinh tế và gần gấp đôi kinh tế ngoàiquốc doanh (tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm của toàn bộ nền kinh tế thời kỳ1977-1980 là 0,4%; thời kỳ 1981-1985 là 6,4%; thời kỳ 1986-1990 là 3,9% và thời
kỳ 1991-1995 là 8,2%) Nhờ đó, DNNN vẫn phát triển ổn định, làm ra 40,2%GDP, trên 50% giá trị xuất khẩu, đóng góp 39,25% tổng số nộp ngân sách nhànước
Qua 15 năm (2001-2016) sắp xếp, cơ cấu lại, số lượng DNNN đã giảmmạnh, tính đến tháng 10-2016 còn 718 DNNN, nhưng GDP theo giá thực tế củakinh tế nhà nước luôn đạt mức năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong giai đoạnViệt Nam chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế Tỷ trọngcủa kinh tế nhà nước trong GDP có xu hướng giảm nhưng 13 vẫn duy trì khoảngtrên 30% hàng năm, trong đó, phần đóng góp của DNNN khoảng 27-28% Có thểnói DNNN có sự phát triển đáng kể như đã nêu trên, nhưng hoạt động của DNNNvẫn còn nhiều hạn chế, đó là:
- Hiệu quả hoạt động của DNNN chưa tương xứng với quy mô vốn, nguồnlực nắm giữ; năng lực cạnh tranh còn thấp
- Quy mô sở hữu nhà nước lớn, nhưng tại nhiều DNNN đang tồn tại nhữngkhoản nợ khó đòi, nợ quá hạn hàng trăm tỷ đồng, thậm chí lên tới hàng nghìn tỷđồng
- Một số DNNN còn yếu kém, làm thất thoát vốn, tài sản, để nợ xấu cao,
thua lỗ liên tục
1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp Nhà nước.
Trang 5Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020: Cơ cấu tổ chức quản lý của Doanhnghiệp nhà nước theo hình thức Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHHhai thành viên, Công ty cổ phần và có hai mô hình sau:
- Chủ tịch công ty, Giám đốc/ Tổng giám đốc, Ban kiểm soát
- Hội đồng thành viên, Giám đốc/ Tổng giám đốc, Ban kiểm soát
Đối với công ty TNHH một thành viên:
Trường hợp CSH công ty ủy quyền cho ít nhất hai người làm đại diện thì môhình tổ chức quản lý công ty bao gồm: Hội đồng thành viên (HĐTV) (Chủ tịchHĐTV); Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên Trong đó: HĐTV baogồm tất cả những người đại diện theo ủy quyền HĐTV nhân danh CSH công tythực hiện các quyền và nghĩa vụ của CSH Chủ tịch HĐTV do CSH công ty chỉđịnh HĐTV hoạt động theo Điều lệ công ty
Trường hợp CSH công ty ủy quyền cho một người làm đại diện thì mô hình
tổ chức quản lý công ty bao gồm: Chủ tịch công ty; Giám đốc hoặc Tổng giámđốc; Kiểm soát viên Như vậy, người đại diện theo ủy quyền sẽ giữ chức danh Chủtịch công ty Chủ tịch công ty nhân danh CSH thực hiện các quyền và nghĩa vụ củaCSH công ty Quyền và nghĩa vụ đó thực hiện theo Điều lệ công ty và pháp luật cóliên quan
Đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mô hình tổ chức quản lý gồm:HĐTV (Chủ tịch công ty); Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Ban Kiểm soát.Trong đó, HĐTV gồm tất cả các thành viên, là cơ quan có quyết định cao nhấttrong công ty HĐTV hoạt động không thường xuyên, thực hiện chức năng thôngqua cuộc họp và ra quyết định các vấn đề quan trọng của công ty, trên cơ sở biểuquyết của các thành viên tại cuộc họp Chủ tịch HĐTV do HĐTV bầu, có thể kiêmGiám đốc hoặc Tổng giám đốc Chủ tịch HĐTV thực hiện quyền và nghĩa vụ theoLuật doanh nghiệp và Điều lệ công ty
Trang 6Đối với công ty cổ phần, quy định về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phầnnhư sau: “1 Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theomột trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quyđịnh khác: a) Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặcTổng giám đốc b) Đại hội đồng cổ đông, HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giámđốc.
1 Tình hình thực hiện cơ chế đại diện chủ sở hữu Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Nội dung cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp đượcthể hiện qua sơ đồ sau:
1.1 Thực trạng cơ chế xác định thẩm quyền của chủ sở hữu và đại diện
chủ sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp ở Việt Nam
Sự hình thành những quan điểm, nội dung cụ thể về cơ chế xác định thẩmquyền của CSH và đại diện CSH vốn nhà nước trong doanh nghiệp ở Việt Namtrong thời kỳ đổi mới được thực hiện trên cơ sở những chủ trương của Đảng vàchính sách, pháp luật của Nhà nước Chủ trương của Đảng thông qua việc banhành nghị quyết các kỳ Đại hội, các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trungương Trung ương liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận chuyên đề vềDNNN, trong đó có nhấn mạnh phải cải cách và thay đổi cách thức thực hiệnquyền sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp Khẳng định cần tiếp tục hoàn thiện thể
Trang 7chế về sở hữu, trong đó xác định: Tách chức năng CSH tài sản, vốn của Nhà nước
và chức năng quản lý nhà nước, chức năng quản trị kinh doanh của DNNN; sớmxoá bỏ chức năng đại diện CSH nhà nước của các bộ, Ủy ban nhân dân đối vớivốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chínhtri, Ban Bí thư ban hành nghị quyết, chỉ thị, kết luận, thông báo về vấn đề này.Chính sách, pháp luật của Nhà nước về đại diện CSH vốn nhà nước trong cácdoanh nghiệp ở Việt Nam: Luật DNNN năm 1995 và Luật DNNN năm 2003 (thaythế Luật DNNN năm 1995) Sau đó, Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời đánh dấumột sự thay đổi lớn trong pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam là hình thành mộtkhung pháp lý chung, bình đẳng áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanhnghiệp Chính phủ ban hành các nghị định Đến nay, quyền, trách nhiệm của CSHnhà nước đối với DNNN đã căn bản được phân định rõ ràng, đã có cơ quan chịutrách nhiệm chính HĐTV hoặc Chủ tịch công ty cũng chịu trách nhiệm quản lý,điều hành doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định của pháp luật và các quyết địnhcủa CSH, quản lý sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn có hiệu quả, báo cáo CSH vềviệc doanh nghiệp hoạt đông kinh doanh thua lỗ, không đảm bảo khả năng thanhtoán, không hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do CSH giao hoặc những trường hợpsai phạm Song song với đó, những quy định mới về quyền, trách nhiệm của CSHnhà nước đối với DNNN, về đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN cũng đượcban hành và ngày càng hoàn thiện hơn được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp năm
2014 và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tạidoanh nghiệp; Nghị định số 99/2012/NĐ-CP, ngày 15/11/2012 của Chính phủ vềphân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của CSH nhànước đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, đã quy định, phânđịnh nội dung quản lý nhà nước với quản lý CSH nhà nước đối với DNNN
1.2.Thực trạng cơ chế bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật người đại diện chủ
sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
Trang 8Theo quy định của Đảng tại Quy định về phân cấp quản lý cán bộ (kèm theoQuyết định số 67-QĐ/TW, ngày 04/7/2007 của Bộ Chính trị), chức danh Chủ tịchHĐQT/Chủ tịch HĐTV các công ty nhà nước đặc biệt quan trọng cần có sự thamgia thẩm định nhân sự của các ban của Trung ương Đảng Ban cán sự đảng Chínhphủ quyết định các chức danh Chủ tịch HĐQT các tập đoàn, tổng công ty đặc biệtquan trọng (theo xếp hạng của Chính phủ) Ngày 19/12/2017, Bộ Chính trị banhành Quy định số 105-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệucán bộ ứng cử (thay thế Quyết định số 67- QĐ/TW), gồm những nội dung cơ bản
và toàn diện ở tất cả các mặt, các khâu, các bước trong công tác cán bộ Bộ Nội vụ
đã ban hành Thông tư số 01/2008/TT-BNV ngày 15/01/2008 hướng dẫn trình tự,thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với Chủ tịchHĐQT, thành viên HĐQT, Tổng giám đốc, Giám đốc Theo Luật cán bộ, côngchức năm 2008, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật cán bộ, công chứcđối với Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc,Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng và những người giữ các chức vụ lãnhđạo, quản lý khác trong các DNNN; những người được Nhà nước cử làm đại diệnCSH phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước Nghịđịnh số 66/2011/NĐ-CP ngày 01/8/2011 của Chính phủ quy định việc áp dụngLuật Cán bộ, công chức đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý công ty TNHHmột thành viên do Nhà nước làm CSH và người được cử làm đại diện CSH phầnvốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước Nghị định số97/2015/NĐ-CP, ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định về quản lý người giữchức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty TNHH một thành viên mà nhànước nắm giữ 100% vốn điều lệ Đồng thời, Chính phủ đã ban hành các Nghị định
về quản lý lao động, tiền lương đối với người lao động phù hợp với lộ trình sắpxếp, chuyển đổi công ty nhà nước Ngày 23/10/2015, Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 106/2015/NĐ-CP về quản lý người đại diện phần vốn nhà nước giữ các
Trang 9chức danh quản lý tại doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ,thay thế Nghị định số 66/2011/NĐ-CP ngày 01/08/2011 Điểm mới của Nghị định106/2015/NĐ-CP đã thu hẹp phạm vi điều chỉnh, chỉ điều chỉnh đối với Người ĐạiDiện quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp do nhà nước nắmgiữ trên 50% vốn điều lệ; bổ sung quy định về: kiêm nhiệm đối với Người ĐạiDiện phần vốn nhà nước; quy định cụ thể các tiêu chí đối với từng mức độ đánhgiá hàng năm đối với người đại diện và sửa đổi trình tự, thủ tục đánh giá; điều kiệncủa Người Đại Diện; quy trình cử Người Đại Diện; miễn nhiện Người Đại Diện;
xử lý kỷ luật đối với Người Đại Diện và thay đổi quy định về thôi việc
1.3 Thực trạng cơ chế kiểm tra, giám sát đại diện chủ sở hữu vốn nhà
nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Trên cơ sở các Nghị quyết và Điều lệ của Đảng, cấp ủy các cấp đã chỉ đạokiểm tra, giám sát kết quả sản xuất kinh doanh, quản lý vốn nhà nước ở các tậpđoàn, tổng công ty nhà nước nhằm phát hiện tham nhũng, tiêu cực; vụ việc một sốtập đoàn, tổng công ty nhà nước làm ăn thua lỗ, gây thất thoát một lượng lớn tàisản của Nhà nước, một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt bị khai trừ khỏi Đảng, bị truy
tố, dư luận bất bình Trên cơ sở chủ trương của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chínhphủ đã ban hành một số nghị định, quyết định, các bộ, ngành có liên quan ban hànhthông tư hướng dẫn thực hiện cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả đối với DNNN;kiểm tra, giám sát đại diện CSH vốn nhà nước trong các DNNN Khung quy định
về giám sát, đánh giá DNNN được hình thành từ khi có Luật DNNN 2003 và đếnnay vẫn đang tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh Trước năm 2015, các văn bản này đượcchia thành 2 nhóm: (1)Nhóm những văn bản quy định về cơ chế giám sát, đánh giáhoạt động của DNNN, quy định về các phương pháp, cách thức, công cụ, biệnpháp thực hiện giám sát, đánh giá hoạt động DNNN; (2) Nhóm những văn bản quyphạm pháp luật có tính nguyên tắc về giám sát, đánh giá hoạt động của DNNNhoặc có liên quan giám sát, đánh giá hoạt động của DNNN Về vông tác kiểm tra,
Trang 10giám sát của Đảng: Nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng (2011-2016), ủy ban kiểm tracác cấp kiểm tra 55.250 đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, qua kiểm tra phát hiện42.757 đảng viên vi phạm, phải thi hành kỷ luật 20.344 đảng viên; giám sát213.320 đảng viên về các nội dung việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhànước 110.214 trường hợp; việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao 77.775trường hợp trong đó có nội dung kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức tráchnhiệm vụ được giao về đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp Năm
2013, qua kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã xemxét, kết luận nhiều lãnh đạo chủ chốt là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV, Giámđốc tại 4 doanh nghiệp khối dịch vụ công ích Thành phố Hồ Chí Minh có vi phạm,gây hậu quả rất nghiêm trọng như ký hợp đồng sai quy định của Luật Lao động đểxâm hại quyền lợi của người lao động; chia tiền lương cho lãnh đạo doanh nghiệpcao bất thường, bất bình đẳng Đã xử lý kỷ luật hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền kỷluật đảng bằng hình thức cảnh cáo hoặc khai trừ đối với nhiều lãnh đạo chủ chốtnêu trên Qua công tác kiểm tra của Ủy ban kiểm tra Trung ương năm 2014, pháthiện nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịchHĐTV Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), nguyên Ủy viên BanThường vụ Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương có vai trò chủ mưu, cầm đầutrong việc mua ụ nổi 83M gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 366 tỉ đồng, tham ô hơn
28 tỉ đồng, đã đề nghị cấp có thẩm quyền khai trừ ra khỏi Đảng Qua đó, kết luận
Bộ Giao thông vận tải với vai trò là Bộ Chủ quản đã không làm tròn trách nhiệmkiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng vốn, đánh giá kết quả kinh doanh củaVinalines nên để sai phạm gây hậu quả nghiêm trọng Năm 2016, qua kiểm tra pháthiện nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty cổ phần xây lắp dầukhí Việt Nam (PVC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã cùng BanThường vụ Đảng ủy, HĐQT, Ban Tổng giám đốc, Ban Kiểm soát tổng công ty đãthiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý điều hành, thiếu kiểm tra, giám