1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và hoạt động sinh lý thần kinh của học sinh trường THPT lê hoàn, huyện đức cơ, tỉnh gia lai

89 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 4,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh của Trường cũng như con em ở huyện nhà một cách toàn diện về thể lực và trí tuệ, chúng tôi quyết định chọ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TRẦN THỊ NGỌC

NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ HOẠT ĐỘNG SINH LÝ THẦN KINH CỦA HỌC SINH TRUỜNG THPT LÊ HOÀN, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Bình Định - Năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TRẦN THỊ NGỌC

NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ HOẠT ĐỘNG SINH LÝ THẦN KINH CỦA HỌC SINH TRUỜNG THPT LÊ HOÀN, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số: 80 42 01 14

Người hướng dẫn: PGS.TS Võ Văn Toàn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Học viên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trường Đại học Quy Nhơn, Phòng sau Đại Học, Ban Chủ nhiệm Khoa Sinh - KTNN cùng toàn thể quý thầy cô đã truyền đạt cho chúng em những kiến thức quý báu trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Võ Văn Toàn

đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu này

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý Thầy, Cô giáo, các nhân viên và các em học sinh Trường THPT Lê Hoàn, huyện Đức

Cơ, tỉnh Gia Lai đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người thân, bạn bè cùng tập thể lớp Sinh học thực nghiệm K20 đã giúp đỡ, động viên trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn !

Bình Định, tháng 7 năm 2019

Học viên

Trần Thị Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn của đề tài 2

4 Cấu trúc luận văn 3

5 Những đóng góp mới của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA CON NGƯỜI 4

1.1.1 Nghiên cứu các chỉ số về hình thái - thể lực ở thế giới 4

1.1.2 Nghiên cứu các chỉ số về hình thái - thể lực ở Việt Nam 6

1.2 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DINH DƯỠNG 9

1.2.1 Tình trạng dinh dưỡng 9

1.2.2 Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng 12

1.2.3 Tình trạng dinh dưỡng ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam 17

1.3 NĂNG LỰC TRÍ TUỆ 18

1.3.1 Khái quát Trí tuệ 18

Trang 6

1.3.2 Những nghiên cứu về trí tuệ ở thế giới và Việt Nam 19

1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH Ở ĐỘ TUỔI TỪ 16 - 18 23

1.5 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2 Địa điểm và thời gian ngiên cứu 26

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26

2.2.1 Nghiên cứu về một số chỉ số hình thái – thể lực của học sinh THPT 26

2.2.2 Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của học sinh THPT 26

2.2.3 Nghiên cứu về hoạt động sinh lý thần kinh của học sinh THPT 27

2.2.4 Nghiên cứu về mối tương quan giữa các chỉ tiêu nghiên cứu 27

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 27

2.3.2 Phương pháp xác định cỡ mẫu 27

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số 27

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu: 31

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 34

3.1 MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA HỌC SINH 34

3.1.1 Chiều cao đứng 34

3.1.2 Cân nặng 37

Trang 7

3.1.3 Chỉ số BMI của học sinh 40

3.2 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA HỌC SINH 43

3.2.1 Tình trạng dinh dưỡng của học sinh theo tuổi và giới tính 43 3.3 HOẠT ĐỘNG SINH LÝ THẦN KINH CỦA HỌC SINH 49

3.3.1 Chỉ số IQ của học sinh 49

3.3.2 Sự phân bố chỉ số IQ theo các mức trí tuệ 52

3.3.3 Sự phân bố chỉ số IQ theo thành phần gia đình 56

3.4 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 61

3.4.1 Mối tương quan giữa IQ với chiều cao của học sinh 61

3.4.2 Mối tương quan giữa IQ với cân nặng của học sinh 62

3.4.3 Mối tương quan giữa IQ với chỉ số BMI của học sinh 62

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

1 KẾT LUẬN 64

1.1 Các chỉ số hình thái – thể lực của học sinh 64

1.2 Tình trạng dinh dưỡng của học sinh 65

1.3 Năng lực trí tuệ của học sinh 65

1.4 Mối tương quan 66

2 KIẾN NGHỊ 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 8

Để thực hiện được mục tiêu của đề án thì nhiệm vụ quan trọng là phải khảo sát, thống kê các chỉ số sinh học cũng như chỉ số trí tuệ ở tùng vùng, từng địa phương một cách liên tục, đặc biệt là lứa tuổi học sinh trung học phổ thông Lứa tuổi này đang trong quá trình hoàn thiện dần về quan điểm xã hội, nhân cách và đạo đức đồng thời cũng đang hoàn thiện dần về tri thức, các kỹ năng sống để trở thành người công dân thực thụ

Ở Gia Lai, học sinh giữa các trường có sự khác biệt rõ rệt về thể chất, sinh lí và năng lực tiếp thu tri thức [31] Trường THPT Lê Hoàn là một trong

3 trường THPT của huyện Đức Cơ, được thành lập vào năm 1998 Đây là ngôi trường THPT đầu tiên trên địa bàn huyện và hiện có quy mô lớn nhất huyện với 27 lớp và hơn 1000 học sinh Hiện tại nhà trường đã được công nhận là trường chuẩn quốc gia và vẫn không ngừng nỗ lực phấn đấu, đưa chất lượng giáo dục ngày càng đi lên

Trang 9

Đức Cơ là một huyện biên giới, người dân ở đây đến từ nhiều tỉnh thành khác nhau để làm ăn và sinh sống Người dân chủ yếu làm nông nghiệp nên còn nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội và đời sống Trong đó, việc quan tâm đến giáo dục và thể chất của thế hệ thanh thiếu niên chưa được chú trọng nhiều Để có cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh của Trường cũng như con em ở huyện nhà một cách

toàn diện về thể lực và trí tuệ, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và hoạt động sinh lý thần kinh của học sinh trường THPT Lê Hoàn, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định tình trạng dinh dưỡng của học sinh thông qua một số chỉ số sinh học của học sinh trường THPT Lê Hoàn, Đức Cơ, Gia Lai ở độ tuổi từ 16 - 18

- Xác định năng lực trí tuệ của học sinh trường THPT Lê Hoàn, Đức Cơ, Gia Lai ở độ tuổi từ 16 - 18

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và hoạt động sinh lý thần kinh

- Xác định mối tương quan giữa tình trạng dinh dưỡng và hoạt động sinh

lý thần kinh của học sinh trường THPT Lê Hoàn, Đức Cơ, Gia Lai

3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đánh giá về hình thái, thể lực và năng lực trí tuệ của học sinh trường THPT Lê Hoàn, Đức Cơ, Gia Lai, góp phần vào cơ sở dữ liệu sinh học người Việt Nam

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các số liệu nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao về thể lực cũng như chất lượng giáo dục của trường THPT Lê Hoàn, Đức Cơ, Gia Lai

Trang 10

4 Cấu trúc luận văn

- Mở đầu

- Chương 1 Tổng quan tài liệu

- Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

- Kết luận và kiến nghị

- Tài liệu tham khảo

5 Những đóng góp mới của đề tài

Là đề tài đầu tiên nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng và năng lực trí tuệ

của học sinh ở trường THPT Lê Hoàn, Đức Cơ, Gia Lai

Kết quả nghiên cứu đánh giá được tình trạng phát triển thể chất và năng lực trí tuệ của học sinh hiện tại của trường Thông qua mối tương quan giữa các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ nhằm đề ra các giải pháp nhằm nâng cao thể chất và đặc biệt là chất lượng giáo dục của con em huyện nhà

Các số liệu nghiên cứu của đề tài đóng góp một phần quan trọng trong các nghiên cứu các chỉ số sinh học và trí tuệ ở các trường THCS, THPT sau này và còn là tài liệu tham khảo trong giảng dạy

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA CON NGƯỜI

Hình thái và thể lực là các đặc điểm phản ánh tổng hợp của cơ thể, có

liên quan chặt chẽ với sức lao động và thẩm mỹ của con người Sự tăng trưởng về hình thái và thể lực là kết quả của sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể sống [3], [6] Hình thái và thể lực của con người thể hiện qua các thông số

cơ bản như chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực và chỉ số BMI, …Trong đó chiều cao đứng là một chỉ số phát triển thể lực quan trọng và được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu nhân trắc học

Chiều cao là một trong các chỉ số quan trọng trong việc đánh giá thể lực con người Chiều cao phản ánh sự phát triển chiều dài của xương, biểu hiện tầm vóc của con người và nó mang tính chất đặc trưng cho chủng tộc, giới tính Sự phát triển chiều cao của con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như dinh dưỡng, môi trường sống, [11], [15]

Cân nặng cũng là một trong các chỉ số để đánh giá thể lực của con người Cân nặng phản ánh được tình trạng dinh dưỡng, biểu thị các mức độ và tỉ lệ giữa các quá trình hấp thu và tiêu hao năng lượng Sự phát triển cân nặng của con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như dinh dưỡng, môi trường sống [11], [15]

BMI (Body Mass Index) thể hiện mối tương quan giữa chiều cao và cân nặng của cơ thể Chỉ số này cho phép đánh giá mức độ dinh dưỡng và khả năng hấp thu của cơ thể, qua đó biết được mức độ gầy hay béo của một người [25], [26], [24]

1.1.1 Nghiên cứu các chỉ số về hình thái - thể lực ở thế giới

Từ thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực [56] Sau này, các nhà giải phẫu học kiêm họa sĩ thời phục hưng

Trang 12

(LeonardeVinci, Mikenlangielo, Raphael) đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa vào tác phẩm hội họa của mình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold

và Volanski [37]

Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua 2 tác phẩm nổi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê” Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn được sử dụng

Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình của P.N Baskirov – “Nhân trắc học” Evan Dervael - “Nhân trắc học”, công trình của Bunak, A.M Aruwxon Song song với sự phát triển bộ môn di truyền, Sinh lý học, Toán học…việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn Vấn đề này được thể hiện qua các công trình của X Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tommer, M Sempé, G Pesdron, M.P.Rog – Pernot [37]

Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc trong cùng một thời điểm [44] Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy sự tăng trưởng hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 là luận án tiến sĩ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1754 Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross – sectional study) được dùng phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh

và thực hiện trên nhiều đối tượng cùng một lúc [37]

Nghiên cứu dọc của Philibert Guéneau de Montbeilard thực hiện trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777 Đây là phương pháp rất tốt đã được

Trang 13

ứng dụng cho đến ngày nay Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới [37]

Từ thế kỷ XX, việc nghiên cứu thể lực đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới như Liên Xô, Pháp, Đức, Trung Quốc, Mỹ…Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, tốc độ phát triển thể lực diễn ra mạnh nhất vào tuổi dậy thì do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết trong thời kỳ chín sinh dục Tốc

độ tăng trưởng và thời gian tăng trưởng phụ thuộc vào yếu tố xã hội và môi trường sống [8]

1.1.2 Nghiên cứu các chỉ số về hình thái - thể lực ở Việt Nam

Hình thái – thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em Vào những năm 30 của thế kỷ XX tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa Đông Dương (1936 - 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và học sinh của người Đông Dương” của P.Huard và Đỗ Xuân Hợp được xem là công trình nghiên cứu đầu tiên về hình thái người Việt Nam Tuy nhiên số lượng chưa nhiều nhưng tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời [37]

Từ năm 1954 trở về sau, các công trình điều tra về con người ở Việt Nam được thực hiện nhiều và tương đối về mọi mặt, trong đó phải kể đến các tác giả điển hình như Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền, Nguyễn Thị Lê, Chu Văn Tường, Trần Tích Cảnh… Các công trình này tập trung nghiên cứu các đặc điểm và sự phát triển qua các giai đoạn của người Việt Nam [22] Đến năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” do Nguyễn Tấn Gi Trọng [44] chủ biên được công bố, đây là một công trình khá hoàn chỉnh các thông số về sinh học, sinh lý, hóa sinh của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi

Trang 14

Năm 1991, Đào Huy Khuê [16] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về

sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể của 1478 học sinh từ 6 - 17 tuổi ở thị

xã Hà Đông cho rằng hầu hết các thông số về hình thái tăng dần theo lứa tuổi nhưng nhịp tim không đều, tốc độ phát triển tối đa các thông số của nam thường ở lứa tuổi 14 - 16, nữ: 11 - 15 Từ 6 - 9 tuổi kích thước của nam và nữ không có sự khác biệt rõ rệt, từ 10 - 15 tuổi kích thước nữ thường vượt trội hơn nam và từ 16 - 17 tuổi kích thước của nam lại vượt trội hơn nữ

Năm 1992, Thẩm Thị Hoàng Điệp [8] đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi với 31 chỉ tiêu sinh học Tác giả đã rút ra được nhiều kết luận như chiều cao của học sinh phát triển mạnh nhất lúc 11 - 12 tuổi ở nữ và 13 - 15 tuổi ở nam, còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 12 - 13 tuổi ở nữ và 14 - 15 tuổi ở nam

Năm 1993, Đoàn Yên và các cs [52] đã nghiên cứu trên trẻ em người Kinh và người Mường ở tỉnh Hà Tây nhận thấy ở độ tuổi 12 - 13 các kích thước cơ thể như chiều cao, khối lượng, chỉ số pignet… của nữ lớn hơn nam Năm 2001, Đào Mai Luyến [27] khi nghiên cứu chỉ số sinh học của người Êđê và người Kinh định cư tại ĐăkLăk đã cho rằng thể lực của người Êđê tốt hơn người Kinh định cư Tác giả cho rằng là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống có ảnh hưởng nhất định đến sự tăng trưởng Năm 2002, Trần Thị Loan [26] khi nghiên cứu trên đối tượng học sinh từ

6 - 7 tuổi tại quận Cầu Giấy – Hà Nội đã nhận định về chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh thuộc địa bàn nghiên cứu tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đều So sánh với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trước đây, thì các chỉ số hình thái của học sinh quận Cầu Giấy lớn hơn, chứng tỏ điều kiện sống đã ảnh hưởng đến các chỉ số hình thái của học sinh Năm 2009, Nguyễn Ngọc Châu [4], khi nghiên cứu trên đối tượng học sinh ở trường THPT Vũ Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh đã kết luận

Trang 15

các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình tăng dần theo lớp tuổi với mức tăng hàng năm không giống nhau Tốc độ gia tăng chiều cao trung bình của học sinh nam là 0,83 cm/năm cao hơn so với của học sinh nữ

là 0,42 cm/năm Tốc độ gia tăng cân nặng của học sinh nam là 1,30 kg/năm

và học sinh nữ là 0,6 kg/năm, còn vòng ngực trung bình của nam tăng 0,86 cm/năm và của học sinh nữ tăng 0,81 cm/năm

Năm 2012, Đỗ Thị Thành [37], khi nghiên cứu trên 593 học sinh người Kinh và người Mường tại trường THCS Kỳ Phú xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã khẳng định rằng các chỉ số trung bình về hình thái như chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình đều tăng dần theo lứa tuổi với tốc độ tăng trưởng ở học sinh nam thường cao hơn tốc độ tăng trưởng của học sinh nữ Có sự chênh lệch về các chỉ số hình thái, thể lực giữa học sinh nam và học sinh nữ Các chỉ số về các chỉ số hình thái, thể lực của học sinh dân tộc Mường thường thấp hơn dân tộc Kinh ở cùng lứa tuổi

Năm 2014, Nguyễn Thị Ngọc Phú [31], khi nghiên cứu trên 1318 học sinh trường THPT Nguyễn Chí Thanh, TP Pleuiku, tỉnh Gia Lai đã kết luận rằng chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh tăng dần theo tuổi Ở các lứa tuổi, chiều cao của học sinh nam đều lớn hơn học sinh nữ và tốc độ tăng chiều cao của nam cũng nhanh hơn nữ (2,08cm/năm và 1,06cm/năm) Thời điểm tăng chiều cao nhanh nhất ở cả hai giới là 16 lên 17 tuổi

Năm 2017, Nguyễn Thị Hồng [10], khi nghiên cứu trên 1194 học sinh trường THPT Trần Quang Diệu và Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã kết luận rằng chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình của học sinh tăng dần theo độ tuổi Tốc độ tăng trưởng trung bình về chiều cao là 1,19 cm/năm Học sinh nam ở các lứa tuổi đều có chiều cao trung bình lớn hơn học sinh nữ

Trang 16

Như vậy về hình thái và thể lực của học sinh thị trấn luôn cao hơn học sinh các xã ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của học sinh Việt Nam khá phong phú Tuy kết quả nghiên cứu về các chỉ số này trong các công trình có khác nhau ít nhiều nhưng qua đó cũng phản ánh được sự thay đổi các chỉ số này theo lứa tuổi và giới tính Có sự khác nhau về thị trấn và các xã, khác nhau giữa các vùng miền và dân tộc

1.2 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DINH DƯỠNG

1.2.1 Tình trạng dinh dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [10] Khi mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng không hợp lý sẽ gây ra các hiện tượng đáng

lo ngại như suy dinh dưỡng và béo phì

1.2.1.1 Suy dinh dưỡng và nguyên nhân gây suy dinh dưỡng

Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa suy dinh dưỡng khác nhau Tuy nhiên, theo tổ chức Thông tin Y tế và Bách khoa Toàn thư Hoa Kỳ, suy dinh dưỡng trẻ em là sự thiếu hụt một vài hoặc tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe con người [50]

Có nhiều nguyên nhân gây suy dinh dưỡng nhưng có thể chia thành 3

nhóm chính Nhóm thứ nhất là các nguyên nhân trực tiếp do thiếu ăn và bệnh tật Nhóm thứ hai là nguyên nhân tiềm tàng bao gồm: An ninh thực phẩm hộ

gia đình không đảm bảo; chăm sóc bà mẹ, trẻ em chưa tốt; thiếu dịch vụ chăm sóc y tế và vệ sinh môi trường kém Nhóm thứ ba gồm các vấn đề liên quan đến cơ cấu kinh tế, các yếu tố chính trị, xã hội và văn hóa Các nguyên nhân

cơ bản này tác động ảnh hưởng đến các nguyên nhân trực tiếp và tiềm tàng của suy dinh dưỡng [48]

Trang 17

Suy dinh dưỡng gây hậu quả nặng nề đối với sức khỏe và sự phát triển của trẻ em cả về thể chất lẫn trí tuệ Nó được xem là nguyên nhân chính gây

ra các vấn đề về sức khỏe, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Tất cả các hình thức suy dinh dưỡng đều làm tăng nguy cơ bệnh tật và chết sớm [42] Theo Francesco Branca, Giám đốc Dinh Dưỡng cho “Sức khỏe và Sự phát triển” của WHO, suy dinh dưỡng đã gây ra 11% tổng số bệnh tật trên toàn thế giới và đe dọa đến việc giáo dục một đứa trẻ và sự phát triển của những quốc gia dễ bị tổn thương nhất thế giới [63] Tình trạng suy dinh dưỡng nghiêm trọng là nguyên nhân xuất hiện gầy ốm; đần độn và tổn thương não không thể phục hồi do thiếu iốt; bị mù, tăng nguy cơ nhiễm bệnh và tử vong do thiếu vitamin A Suy dinh dưỡng cùng với nghèo đói tạo thành một dòng xoáy đi xuống làm tăng gánh nặng của bệnh tật, phát triển còi cọc và giảm khả năng làm việc [61] Do những ảnh hưởng nặng nề kể trên, suy dinh dưỡng trẻ em còn được xem là một cuộc khủng hoảng ngầm đe dọa đến nền kinh tế của toàn cầu [62]

1.2.1.2 Béo phì và nguyên nhân gây béo phì

Thừa cân và béo phì được định nghĩa là sự tích tụ mỡ bất thường hoặc quá mức có thể làm tổn hại sức khỏe [60] Béo phì ở trẻ em là sự tăng quá mức của lượng mỡ dự trữ dẫn đến cân nặng bất thường, quá mức so với chiều cao [8] Nguyên nhân cơ bản của bệnh béo phì và thừa cân là do mất cân bằng về mặt năng lượng thu nạp và năng lượng tiêu hao [60].Bằng cách quan sát chủ quan, hầu hết mọi người đều cho rằng nguyên nhân của béo phì là do ăn quá nhiều Tuy nhiên, hiện nay nhiều nghiên cứu đã cho thấy hiện tượng này không phải là nguyên nhân duy nhất của “bệnh nhà giàu” Theo Đỗ Trung Quân (bệnh viện Bạch Mai) thì béo phì là do một số nguyên nhân chính gây

ra [34] Trước tiên, bệnh này thường mang tính chất gia đình có liên quan đến

Trang 18

một số hiện tượng Cụ thể là do ăn nhiều và thức ăn có nhiều năng lượng, đặc biệt ở các nước phát triển sử dụng các thức ăn nhanh có chứa > 35% chất béo Các yếu tố di truyền: có 69 % những người béo phì có bố và mẹ béo phì, 18% có bố hoặc mẹ béo phì, có 7% người bị béo phì trong khi bố mẹ bình thường Ít vận động cũng là nguyên nhân rất quan trọng trong quá trình xuất hiện béo phì Sự phát triển khoa học, sự tiến bộ trong kỹ thuật thông tin và giao thông làm cho con người trở nên ít vận động Trẻ em tăng cân nhanh một phần cũng do tăng phương tiện nghe nhìn (ti vi, video, game,…) và giảm hoạt động thể lực [43]

Nguyên nhân cơ bản thứ hai dẫn đến béo phì liên quan với thần kinh và nội tiết Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi vùng dưới đồi bị tổn thương sẽ xuất hiện béo phì Rối loạn hoạt động của buồng trứng dạng đa nang sẽ làm rối loạn kinh nguyệt, rậm lông, tăng huyết áp, tăng tiết androgen, kháng insulin gây béo phì ở 50% số bệnh nhân Vùng dưới đồi bị tổn thương gây ảnh hưởng tới vỏ thượng thận làm xuất hiện hội chứng Cushing Ảnh hưởng khác về nội tiết thể hiện qua suy tuyến giáp làm rối loạn chuyển hoá nước điện giải, làm giảm natri và giữ nước gây tăng cân, hoàn toàn khác với tăng cân do béo

U tuyến tụy làm tăng insulin gây hạ đường huyết nên bệnh nhân phải ăn nhiều dẫn tới tăng cân Ngoài ra, còn có hội chứng phì sinh dục (Babinski - Froehlich) [60]

Nhóm nguyên nhân thứ ba là béo phì do gen di truyền Đột biến gen sản xuất Leptin (gen OB) hoặc đột biến thụ quan của Leptin làm xuất hiện béo phì Đột biến các gen khác như FTO, gen tổng hợp POMC, gen sản xuất tiền hoocmon covertase - 1 (PC - 1), Me – 4 thụ quan, PPAR - 2 (Peroxisome Proliferator Activator - receptor 2 ) cũng làm xuất hiện béo phì [34]

Nhóm nguyên nhân thứ tư là do bị một số bệnh hiếm gặp: hội chứng Laurence - Moon , Biedl – Bardet, hội chứng Prader – Willi [60]

Trang 19

Ngoài bốn nhóm nguyên nhân trên ra, còn nhiều nguyên nhân khác liên quan đến các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa như thành kiến xã hội, quan niệm thẩm mĩ, giới tính (tỉ lệ béo phì ở nữ > nam), nghề nghiệp, tuổi tác (béo phì có

xu hướng tăng theo tuổi),…[60]

Béo phì là một yếu tố làm tăng tỉ lệ bệnh tật, tăng tỉ lệ tử vong, giảm năng suất lao động, liên quan trực tiếp tới vấn đề sức khoẻ cộng đồng Các hậu quả của nó không chỉ có ảnh hưởng về mặt thể chất mà cả về mặt tâm lí

xã hội Việc điều trị bệnh cho tới nay còn nhiều khó khăn và tốn kém [62] Trẻ em béo phì có nguy cơ cao với bệnh tật, chết sớm, tàn tật và các hiệu ứng tâm lý khác khi trưởng thành [61]

1.2.2 Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng

Từ trước công nguyên (TCN) các nhà y học đã quan tâm đến vấn đề ăn uống và dinh dưỡng và xem nó như một phương tiện để chữa bệnh và giữ gìn sức khỏe Hypocrát (460 - 377 TCN) đã chỉ ra vai trò của ăn đối với bảo vệ sức khỏe và điều trị bệnh Ông khuyên mọi người phải chú ý, tùy theo tuổi tác, thời tiết, công việc mà ăn nhiều hay ít, ăn một lúc hay rải ra nhiều lần Đặc biệt, thức ăn cho bệnh nhân phải là phương tiện điều trị, trong đó phải có các thành phần dinh dưỡng [34]

Năm 1751, G.E Hamberger (người Đức) đưa ra một bảng nhỏ về sự tăng trưởng chiều cao của trẻ em độ tuổi 1, 4, 13 và 18 Tuy nhiên, nó được đánh giá là chưa chính xác C F Jampert (người Đức) được xem là người đầu tiên đưa ra bảng đo lường thực sự về tăng trưởng của con người theo chiều cao và cân nặng trong luận văn tốt nghiệp của ông năm 1754 Trước đó, năm

1726, A J Stoller (người Đức) đã tiến hành nghiên cứu và viết một cuốn sách

về sự tăng trưởng chiều dài ở người Tác phẩm xuất bản năm 1729, được lưu giữ ở thư viện Đại học Boston (Anh) và được xem là sách giáo khoa đầu tiên

về sự tăng trưởng ở người [63]

Trang 20

Sau đó, những nghiên cứu về sự tăng trưởng và tình trạng dinh dưỡng của con người tiếp tục được thực hiện và hoàn thiện dần về mặt phương pháp Năm 1956, Gomez, một thầy thuốc người Mexico, đã dựa vào cân nặng theo tuổi để xếp loại mức độ suy dinh dưỡng của trẻ em trong bệnh viện Nhưng cách phân loại này không phân biệt được tình trạng thiếu dinh dưỡng mới gần đây hay đã kéo dài Để khắc phục nhược điểm này, J C Waterlow đã đưa ra cách phân loại dựa vào cân nặng theo chiều cao (đánh giá tình trạng thiếu dinh dưỡng hiện tại) và chiều cao theo tuổi (đánh giá tình trạng thiếu dinh dưỡng trường diễn) [60]

Từ cuối những năm 1970, Tổ chức Y tế thế giới đề nghị sử dụng bảng số liệu quần thể NCHS/WHO làm quần thể tham khảo quốc tế để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em [62]

Tháng 12/1992, hội nghị thượng đỉnh về dinh dưỡng được tổ chức tại Roma Kết thúc hội nghị, đại diện của 159 nước đã tuyên bố quyết tâm thanh toán nạn đói và đẩy lùi các bệnh suy dinh dưỡng Các hội nghị dinh dưỡng khu vực và quốc tế cũng thường xuyên được tổ chức để trao đổi, tư vấn và tìm

ra những giải pháp để cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người dân như: hội nghị dinh dưỡng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Bangkok năm 1983, tại Oaka năm 1987, …., hội nghị quốc tế về dinh dưỡng họp tại Seoul năm 1989, năm 1993 tại Montrean và năm 2008 tại Hà Nội

Tháng 12/2000, Liên hợp quốc thông qua mục tiêu phát triển thiên niên

kỷ, trong đó có mục tiêu dinh dưỡng là giảm nhẹ và thanh toán một số vấn đề

dinh dưỡng vào năm 2020, đồng thời kêu gọi các nỗ lực toàn cầu thực hiện

thành công các mục tiêu trông đợi này [63]

Hưởng ứng lời kêu gọi của Liên hợp quốc, các công trình nghiên cứu về suy dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng trẻ em đã được thực hiện tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới Đó là công trình “ Thiếu dinh dưỡng ở bà mẹ và

Trang 21

trẻ em: hậu quả cho sức khoẻ người trưởng thành và nguồn nhân lực” của Cesar G Victoria và nhiều tác giả khác [46] Các tác giả đã phân tích số liệu

từ 5 nghiên cứu trong một thời gian dài ở Brazil, Guatemala, Ấn Độ, Phillippines và Nam Phi Kết quả cho thấy, các chỉ số: chiều cao của mẹ, cân nặng sơ sinh, cân nặng, chiều cao và BMI hai năm đầu đời có liên quan đến chiều cao, việc học tập, thu nhập, cân nặng sơ sinh của con, BMI, huyết áp và nồng độ glucoz trong máu khi trưởng thành

Gretchen A Stevens, Mariel M Finucane và cộng sự [61], nghiên cứu về tình trạng thiếu cân và suy dinh dưỡng thấp còi từ năm 1985 đến 2011 ở 141 quốc gia đang phát triển Kết quả cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi giảm

từ 47,2% (1985) xuống còn 29,9% (2011), tỉ lệ thiếu cân giảm từ 30,1% (1985) còn 19,4% (2011) Kết quả điều tra của WFP (World Food Programme) tại Bắc Triều Tiên cho thấy, nước này hiện có 32% trẻ suy dinh dưỡng còi cọc và 18% trẻ suy dinh dưỡng thể cân nặng [63]

Ảnh hưởng của việc giáo dục bố mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em Indonesia và Bangladesh cũng được cho thấy trong công trình nghiên cứu của Richard D Semba, Saskia de Pee và cộng sự [61] Kết quả cho thấy, việc giáo dục bố mẹ một cách nghiêm túc là yếu tố quan trọng giúp giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi

Từ cuối thế kỷ XX, khi tỉ lệ người mắc bệnh béo phì và các bệnh liên quan đến béo phì cùng nhiều bệnh mãn tính khác có liên quan đến dinh dưỡng ngày càng gia tăng thì các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng được mở rộng thêm Các đề tài về bệnh béo phì, về mối quan hệ giữa việc ăn uống với các bệnh mãn tính như: tim mạch, ung thư, béo phì, tiểu đường,…cũng ngày càng được quan tâm hơn Theo thống kê của PubMed, hiện có 27.079 bài viết với tiêu đề bệnh béo phì và nếu tính tất cả các bài viết cùng chủ đề với nhiều tên gọi khác nhau thì con số lên đến 66.159 bài [56]

Trang 22

Công trình nghiên cứu của Cheng Ye Ji, Jun Ling Sun và Tian Jiao Chen [34] về tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ em tuổi học đường và thanh thiếu niên Trung Quốc từ năm 1985 đến 2000 đã cho thấy tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì ngày càng gia tăng và tăng vọt từ năm 2000 Tỉ lệ thừa cân, béo phì của trẻ thành thị cao hơn nông thôn và trẻ nam cao hơn trẻ nữ

G Lazzeri và nhiều tác giả khác nghiên cứu về tình trạng thiếu cân, thừa cân ở trẻ em và thiếu niên ở Tuscany (Ý) từ năm 2002 đến 2006 [61] Kết quả cho thấy, ở trẻ độ tuổi 9, tỉ lệ thiếu cân giảm từ 4,6% xuống còn 4,2%, tỉ lệ thừa cân từ 31,7% tăng lên 33,4% Tỉ lệ trẻ thiếu cân giảm, tỉ lệ thừa cân tăng

ở độ tuổi 13, 15 và giảm nhẹ ở độ tuổi 11

Tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên (4 - 18 tuổi) tại Đan Mạch được cho thấy trong công trình nghiên cứu của J Mathiessen và các tác giả khác [55] Kết quả điều tra từ những năm 1995, 2000 đến 2002 cho thấy, BMI tăng đáng kể ở tất cả các nhóm tuổi, và ở cả trẻ nam lẫn trẻ nữ

Ở Việt Nam, tuy khái niệm về dinh dưỡng và những nghiên cứu về dinh dưỡng chỉ mới có từ đầu thế kỷ XX nhưng từ thời xưa vấn đề ăn uống đủ lượng, đủ chất đảm bảo sức khỏe cũng đã được quan tâm Hải Thượng Lãn Ông, nhà danh y Việt Nam thế kỷ XVIII rất chú ý đến việc ăn uống của người bệnh Theo ông, có thuốc mà không ăn uống thì cũng đi đến chỗ chết [42] Năm 1967 và 1972 nước ta đã tổ chức hội nghị về Sinh học Người Dựa

trên kết quả của hội nghị, tập thể các tác giả đã cho ra cuốn sách “ Hằng số

sinh học người Việt Nam” xuất bản năm 1975 [44]

Năm 1980, Viện Dinh dưỡng Quốc gia được thành lập Sự ra đời của Viện đánh dấu mốc quan trọng đối với ngành dinh dưỡng Việt Nam [50]

Ngày 16/9/1995, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bản “Kế hoạch Hành

động Quốc gia về Dinh dưỡng” giai đoạn 1996 - 2000 Trong đó, Chính phủ

yêu cầu chính quyền các cấp có trách nhiệm đưa các mục tiêu dinh dưỡng,

Trang 23

xoá nạn đói và giảm suy dinh dưỡng vào kế hoạch phát triển kinh tế - văn hoá, xã hội dài hạn và hàng năm của cấp mình [49]

Ngày 22/2/2001, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược dinh dưỡng

quốc gia giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu tổng quát là “Đảm bảo đến năm

2010, tình trạng dinh dưỡng của nhân dân được cải thiện rõ rệt, các gia đình trước hết là trẻ em và bà mẹ được nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý, bữa ăn của người dân ở tất cả các vùng đủ hơn về số lượng, cải thiện hơn về chất lượng, đảm bảo về an toàn vệ sinh Hạn chế các vấn đề sức khoẻ mới nảy sinh

có liên quan tới dinh dưỡng” [49]

Ngày 22/02/2012, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược dinh

dưỡng quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, với mục tiêu chung là “ Đến năm 2020, bữa ăn của người dân được cải thiện về số

lượng, cân đối hơn về chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh; suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt thể thấp còi được giảm mạnh, góp phần nâng cao tầm vóc và thể lực của người Việt Nam, kiểm soát có hiệu quả tình trạng thừa cân, béo phì góp phần hạn chế các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng.” [48]

Từ năm 2000 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng đã được thực hiện ở khắp các địa phương trên toàn quốc cho thấy khá

rõ về thực trạng tình hình sức khỏe của người Việt Nam Đó là công trình

nghiên cứu của Lê Đình Vấn, Nguyễn Quang Bảo Tú (2004) về tình trạng thể lực và dinh dưỡng của sinh viên mới vào trường đại học Huế [10] Kết quả có

35,45% sinh viên suy dinh dưỡng và 0,55% thừa cân

Nghiên cứu của Trần Thị Phúc Nguyệt, Wha Young Kim và cộng sự (2011) về tình trạng dinh dưỡng ở người từ 19 đến 60 tuổi tại vùng nông thôn

ở Hải Phòng đã cho thấy, tỉ lệ thiếu cân của nữ cao hơn của nam, nhưng tỉ lệ thừa cân của nam cao hơn của nữ [46]

Trang 24

Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng trẻ em ở vùng sản xuất nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long (2009) cũng đã được thực hiện trong công trình nghiên cứu của Lê Cảnh Dũng và các tác giả khác [42] Kết quả cho thấy, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thiếu cân là 13,6% và có 6,4% trẻ thấp còi, thấp hơn so với trung bình chung cả nước Nghiên cứu cũng cho thấy, kiến thức chăm sóc trẻ của bà mẹ, tình trạng nghèo đói và phát triển nông thôn chậm có ảnh hưởng đến tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng Bên cạnh đó, theo kết quả của một nghiên cứu về tình trạng suy dinh dưỡng trong cộng đồng ở Đồng Nai, có 76% trẻ em suy dinh dưỡng có cha mẹ là nông dân và làm thuê Gia đình càng có nhiều con thì tỉ lệ suy dinh dưỡng càng cao [46]

Ở Việt Nam cũng có nhiều chương trình dinh dưỡng phối hợp thực hiện với các tổ chức quốc tế (UNICEF, WHO, FAO, Viện nghiên cứu Friesland Campina toàn cầu, Trung tâm nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng, Công ty Mead Jonhnson Việt Nam,…)

Từ cuối thập niên 90 đến nay, khi nền kinh tế của nước ta đạt được những bước tiến quan trọng, điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, nhiều hộ gia đình có mức thu nhập cao, nhất là ở khu vực thành thị Đời sống sung túc với nguồn cung cấp thực phẩm dư thừa đã tạo điều kiện cho bệnh béo phì có nguy

cơ ngày càng gia tăng Thách thức mới đặt ra cho các nhà dinh dưỡng học Việt Nam là phải ngăn chặn nguy cơ này Từ đó đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về béo phì đã được thực hiện, chủ yếu là ở các thành phố lớn Đó

là nghiên cứu tình trạng thừa cân ở học sinh 6 – 11 tuổi của Trần Thị Hồng Loan (1998) [26] Kết quả, có 12,2% trẻ bị thừa cân, tỉ lệ thừa cân ở nam (17,6%) cao hơn ở nữ (6,8%)

1.2.3 Tình trạng dinh dưỡng ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam

Theo số liệu năm 2010 của WHO, trên toàn cầu có khoảng 171 triệu trẻ

em bị suy dinh dưỡng thể thấp còi, 115 triệu trẻ bị suy dinh dưỡng thể gầy

Trang 25

ốm, 20 triệu trẻ có nguy cơ tử vong rất lớn do suy dinh dưỡng cấp tính, 3,9 triệu trẻ em bị chết do suy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng Khoảng 1,5 tỷ người trên thế giới bị thừa cân, trong đó có 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi (35 triệu trẻ ở các nước đang phát triển, nhiều nhất là ở Châu Á) [63]

WHO thống kê có khoảng 65% dân số thế giới đang sống ở những quốc gia mà thừa cân và béo phì giết chết nhiều người hơn so với thiếu cân Ít nhất 2,8 triệu người chết mỗi năm do thừa cân hoặc béo phì Ngoài ra, 44% gánh nặng của bệnh tiểu đường, 23% gánh nặng của bệnh tim mạch, khoảng từ 7% đến 41% gánh nặng của bệnh ung thư là do thừa cân, béo phì Đến năm 2010,

số người béo phì trên toàn cầu đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 1980 [61]

Bên cạnh tình trạng suy dinh dưỡng, giờ đây hiện tượng trẻ thừa cân, béo phì cũng là vấn đề làm nhiều người phải quan tâm, đặc biệt là ở các thành phố lớn So với năm 2000, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi hiện nay đã cao hơn gấp 6 lần [62]

1.3 NĂNG LỰC TRÍ TUỆ

1.3.1 Khái quát về trí tuệ

Theo tiếng Latinh, trí tuệ (intellectus) có nghĩa là hiểu biết thông tuệ Theo từ điển tiếng Việt [51], trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc đặc trưng cho con người Trí tuệ là một phẩm chất quan trọng trong hoạt động của con người, liên quan đến cả phẩm chất lẫn tinh thần Chính vì vậy việc nghiên cứu trí tuệ được coi là một lĩnh vực liên ngành, đòi hỏi sự kết hợp của các nhà sinh lý học, tâm lý học, điều khiển học và các ngành khoa học khác Cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về trí tuệ

L Terman coi chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu quả các khái niệm [26] Theo Huarte J trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo Hệ thống những thuộc tính trí tuệ là những

Trang 26

năng lực chung đảm bảo cho sự lĩnh hội tri thức một cách rõ ràng và có hiệu quả [41] Wechsler [57] lại cho rằng trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, được thể hiện trong hoạt động có mục đích, trong sự phỏng đoán thông hiểu

và làm cho môi trường thích nghi với khả năng của mình Piaget J lại coi trí tuệ là hình thái nhất định của sự cân bằng, hình thành trên cơ sở tri giác, kỹ xảo Ngoài ra, năng lực trí tuệ còn được biểu hiện ở các phẩm chất khác nhau như sự tò mò, lòng say mê, sự hứng thú, sự kiên trì và miệt mài Năng lực trí tuệ còn được thể hiện ra hành động như nhanh trí, tháo vát, linh hoạt hay thể hiện ra khả năng tưởng tượng Như vậy, có thể nói năng lực trí tuệ biểu hiện

cả hai mặt nhận thức lẫn hành động [45]

Trong ba quan điểm về năng lực trí tuệ Quan điểm thứ nhất cho rằng trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân Quan điểm thứ hai cho rằng trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng và quan điểm thứ ba cho rằng trí tuệ là năng lực thích nghi của con người đối với thế giới xung quanh Trong ba quan điểm về năng lực trí tuệ này thì quan điểm thứ ba là phổ biến hơn cả, thu hút nhiều nhà nghiên cứu lớn

Cả ba quan điểm trên không mâu thuẫn nhau mà cùng song song tồn tại, mỗi quan điểm đều xuất phát từ một dấu hiệu nào đó được cho là quan trọng

Sự tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về trí tuệ và mỗi khái niệm chỉ nêu được một số mặt của nó chứng tỏ hoạt động trí tuệ là hoạt động phức tạp của con người Năng lực trí tuệ biểu hiện ở nhiều mặt, nhiều mức độ khác nhau liên

quan đến các hiện tượng tâm sinh lý khác nhau [12]

1.3.2 Những nghiên cứu về trí tuệ ở thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, vào đầu thế kỷ XVII - F.J Gall là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “não tướng học” và cho rằng chức năng trí tuệ tập trung vào các vùng chuyên biệt của não nên có thể nên có thể đánh giá trí tuệ con người qua

Trang 27

đường nét và đo sọ não người Tuy nhiên hạn chế của ông là đồng nhất giữa cấu tạo với chức năng của não [39]

Đến năm 1905, nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet đã đưa ra khái niệm “tuổi trí khôn”, là đại lượng đầu tiên thể hiện ý tưởng đo lường trí tuệ trẻ

em Ông cùng với bác sĩ T.Simon thực hiện một loạt các thực nghiệm nghiên cứu năng lực trí tuệ của trẻ em ở những lứa tuổi khác nhau Thang đo lường trí tuệ Binet – Simon đã ra đời, đây là trắc nghiệm được tiêu chuẩn hóa đầu tiên không chỉ về sự thống nhất hóa các bài tập và thủ tục thể hiện chúng mà

cả về việc đánh giá các tài liệu thu được [46]

Tiếp theo đó, năm 1912 nhà triết học và tâm lý học người Đức William Stern [35], lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm “hệ số thông minh” (Intelligence Quotient) viết tắt là IQ Đó là chỉ số của nhịp độ phát triển trí tuệ đặc trưng cho một đứa trẻ nào đó và cách tính chỉ số thông minh IQ

Theo tác giả IQ = MA

CA ×100 Trong đó: MA (Mental Age) là tuổi trí tuệ, tính bằng tháng, quy từ điểm trắc nghiệm; CA (Chronological Age) là tuổi thực tế tính bằng tháng, theo thời gian sinh trưởng của mỗi người Tuy nhiên cách tính này đã gặp một số hạn chế không đại diện được cho mọi lứa tuổi và mọi hình thái trí tuệ phức tạp của con người

Đến năm 1936, J.C Raven đã xây dựng nên bộ trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn và test Raven được xây dựng trên cơ sở tri giác hình thể của tâm lý học Gestal và thuyết tân phát sinh của Spearman Test Raven được công bố lần đầu tiên vào năm 1936, sau 2 lần chuẩn hóa vào năm 1954 và năm 1956 Test Raven đã được UNESCO công nhận và chính thức đưa vào sử dụng để chuẩn đoán trí tuệ của con người vào những năm 1960 [1], [57]

Năm 1939, nhà tâm lý học người Mỹ David Wechsler [42], [57], cho rằng sự phát triển trí tuệ diễn ra trong suốt đời người không đồng đều nên một

Trang 28

đại lượng như vậy không thể đánh giá được sự phát triển của trí tuệ và không phải là chỉ số thông minh Trong các trắc nghiệm trí tuệ dùng cho trẻ em và người lớn D Wechsler đã sử dụng điểm IQ chuyển hóa, để chuyển đổi từ điểm số bài trắc nghiệm của một người sang loại thang đo tiêu chuẩn, dựa trên

lý thuyết cho rằng những điểm số trắc nghiệm của một dân số người được phân bố bình thường và thang này có điểm trung bình là 100, độ lệch tiêu chuẩn là 15

Năm 1989, Trần Trọng Thủy [40], tác giả đầu tiên nghiên cứu sự phát triển trí tuệ ở học sinh Việt Nam bằng test Raven Ông đã xác định được chiều hướng, cường độ, trình độ và chất lượng phát triển trí tuệ của học sinh đồng thời xác định được mối tương quan giữa năng lực trí tuệ và thể lực của học sinh Kết quả nghiên cứu của ông đã chứng minh được sự phân bố học

Trang 29

sinh theo chỉ số IQ gần giống với phân phối chuẩn, có sự khác biệt về chỉ số

IQ của học sinh thành thị và nông thôn

Năm 1991, Ngô Công Hoàn [14] đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh phổ thông ở Huế và Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự chênh lệch mức độ phát triển trí tuệ giữa học sinh bình thường và học sinh chuyên toán

Năm 1993, Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng [36] đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh từ 10 đến 14 tuổi ở Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy,

sự phát triển trí tuệ tăng theo lứa tuổi và có sự phân hóa từ 11 tuổi trở đi, trí tuệ của nam có xu hướng cao hơn nữ

Năm 1995, Tạ Thúy Lan - Võ Văn Toàn [22] bước đầu nghiên cứu khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh cấp II ở Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực trí tuệ của học sinh phát triển theo tuổi và có mối tương quan thuận với kết quả học tập

Năm 1995 - 1996, Tạ Thúy Lan – Trần Thị Loan [20], [21] nghiên cứu

sự phát triển trí tuệ của học sinh bằng test Raven Kết quả cho thấy, điểm trí tuệ của học sinh tăng theo tuổi với tốc độ tăng không đều Ở cùng độ tuổi học sinh nông thôn có điểm trí tuệ thấp hơn so với điểm chuẩn, học sinh ở Hà Nội

có điểm trí tuệ cao hơn so với điểm chuẩn Chỉ số IQ của học sinh nam và nữ không có sự khác biệt rõ rệt Tác giả khẳng định rằng hoạt động trí tuệ của học sinh không phụ thuộc vào giới tính

Đến năm 1998, Tạ Thúy Lan – Mai Văn Hưng [18] đã tiếp tục nghiên cứu năng lực trí tuệ của học sinh ở Thanh Hóa, Trần Thị Loan (2002) [25] nghiên cứu thể lực và trí tuệ học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại quận Cầu Giấy Hà Nội cũng cho kết quả tương tự rằng quá trình phát triển trí tuệ của học sinh diễn ra liên tục, tương đối đồng đều và không phụ thuộc vào giới tính

Trang 30

Từ năm 1985 đến nay, Khoa Sinh – KTNN, Trường Đại Học Quy Nhơn

đã tiến hành rất nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số hình thái, sinh lý và hoạt động thần kinh ở học sinh nhiều cấp từ mầm non, tiểu học, THCS và đến THPT trên nhiều tỉnh khác nhau trên cả nước đã góp phần làm phong phú thêm về các chỉ số hình thái, sinh lý và năng lực trí tuệ của người Việt Nam Tiêu biểu là các tác giả gần đây như Nguyễn Thị Ngọc Phú (2014) [3 1], Vũ Ngọc Uyên Phương [32], Phạm Thị Bích Tuyền [46], Nguyễn Thị Hồng (2017) [10], … Kết quả nghiên cứu đều thể hiện chỉ số IQ của học sinh đều tăng dần theo lứa tuổi và IQ của Nam đều cao hơn nữ Chỉ số IQ trung bình của học sinh không phụ thuộc vào số con và thứ tự con trong gia đình Chỉ số

IQ không chịu ảnh hưởng của thứ tự sinh

1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH Ở ĐỘ TUỔI

TỪ 16 - 18

Học sinh ở độ tuổi từ 16 – 18 gọi là tuổi học sinh THPT là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên Tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn, tuổi thanh niên được tính từ 15 đến 25 tuổi

Ở lứa tuổi này thể hiện tính chất phức tạp, nó được giới hạn ở hai mặt sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi Ngày nay do sự phát triển của xã hội nên sự phát triển của trẻ em ngày càng có sự gia tốc, trẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra sớm hơn so với các thế hệ trước Do đó mà tuổi dậy thì bắt đầu

và kết thúc sớm hơn khoảng 2 năm Vì vậy, tuổi thanh niên cũng bắt đầu sớm hơn Trong thời đại ngày nay, hoạt động lao động và xã hội ngày càng phức tạp, thời gian học tập của các em học sinh kéo dài làm cho sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm

Trang 31

Về khả năng hoạt động trí tuệ, lứa tuổi THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Còn trí nhớ của các em ở lứa tuổi này cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ

Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh

1.5 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

Huyện Đức Cơ là một trong ba huyện biên giới, nằm ở phía Tây của tỉnh Gia Lai và được thành lập từ năm 1991 Dân cư ở đây chủ yếu là dân góp đến

từ nhiều tỉnh thành khác nhau để làm ăn và sinh sống Thị trấn Chư Ty, trung

tâm của huyện, cách thành phố Pleiku khoảng 50 km về phía Tây Tuyến giao thông quan trọng nhất của huyện là quốc lộ 19 nối dài (hay còn gọi là đường

19 Tây) nối quốc lộ 14 - tuyến quốc lộ quan trọng nhất của Tây Nguyên - tại dốc Hàm Rồng với quốc lộ 80 của Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh (thuộc xã Ia Dom) Tuyến đường này đã được trải nhựa hoàn toàn Quốc lộ 14C gắn với tuyến hành lang biên giới Việt Nam - Campuchia Ngoài ra, Đức

Cơ còn có 50,4 km đường liên huyện, liên xã Đến nay, Đức Cơ có 81,07 km đường nhựa và 37,32 km đường cấp phối Tất cả 10 xã và thị trấn của huyện

đã có đường ô tô trải nhựa đến trung tâm Cách thành phố Pleiku 50km, án ngữ trên những quốc lộ quan trọng, lại có cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh nối với nước bạn Campuchia, Đức Cơ có vị trí địa chính trị, kinh tế và an ninh - quốc phòng đặc biệt quan trọng đối với Gia Lai nói riêng, Tây Nguyên nói chung Với đặc điểm của một huyện phát triển về nông nghiệp, lao động tập trung vào khu vực này chiếm đến 85%, trong khi khu vực công nghiệp - xây

Trang 32

dựng chiếm tỷ trọng nhỏ chiếm 1,69%, lao động trong lĩnh vực thương mại- dịch vụ chiếm 13,31% Hiện nay, cơ cấu lao động đang chuyển dịch từ khối ngành nông nghiệp sang phi nông nghiệp nhưng tốc độ còn chậm Thu nhập bình quân đầu người tăng lên hàng năm nhưng nhìn chung vẫn còn thấp (năm

2018 đạt 33,1 triệu đồng, thấp hơn 12,26 triệu đồng so với thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Gia Lai là 45,36 triệu đồng) [9]

Bên cạnh việc phát triển kinh tế thì chính quyền các cấp luôn quan tâm đến việc chăm lo cho đời sống của nhân dân, đó là xây dựng hệ thống giáo dục, y tế, công trình công cộng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương

Bản đồ hành chính huyện Đức Cơ

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là học sinh của trường THPT Lê Hoàn, huyện Đức

Cơ, tỉnh Gia Lai ở độ tuổi 16 - 18 Sự phân bố đối tượng theo tuổi và giới tính được trình bày trong bảng 2.1:

Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu

2.1.2 Địa điểm và thời gian ngiên cứu

Địa điểm tại trường THPT Lê Hoàn , huyện Đức Cơ, Tỉnh Gia Lai

Thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.2.1 Nghiên cứu về một số chỉ số hình thái – thể lực của học sinh THPT Bao gồm một số chỉ tiêu về chiều cao đứng, khối lượng cơ thể và chỉ số BMI 2.2.2 Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của học sinh THPT

Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của học sinh theo tuổi, giới tính và thành phần gia đình

Trang 34

2.2.3 Nghiên cứu về hoạt động sinh lý thần kinh của học sinh THPT Nghiên cứu về chỉ số năng lực trí tuệ của học sinh qua chỉ số IQ theo

tuổi, giới tính, các mức trí tuệ và thành phần gia đình

2.2.4 Nghiên cứu về mối tương quan giữa các chỉ tiêu nghiên cứu

Mối tương quan giữa chỉ số IQ đến các chỉ số hình thái, sinh lý

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp mô tả cắt ngang

2.3.2 Phương pháp xác định cỡ mẫu

Xác định cỡ mẫu: Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, số đối

tượng nghiên cứu được tính theo công thức:

n = Z2(1 – α/2).p(1-p)/e2

Trong đó:

n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết

Z = 1,96 (làm tròn 2,0) với độ tin cậy là 95%

Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 300 học sinh Thực tế chúng tôi

đã khảo sát 1051 học sinh tại trường THPT Lê Hoàn

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số

2.3.3.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hình thái - thể lực - tình trạng dinh dưỡng

+ Chiều cao đứng:

Đơn vị đo là cm, dụng cụ đo là thước đo chiều cao y tế có độ chính xác đến 1mm Theo phương pháp đo cổ điển của Martin (ba điểm nhô ra nhất về phía sau

Trang 35

của lưng, mông, vai chạm thước; đầu để thẳng sao cho đuôi mắt và điểm giữa bờ vai trên lỗ tai ngoài nằm trên đường thẳng ngang vuông góc với trục cơ thể) Người được đo ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng, không mang dép, hai gót chân sát nhau sao cho 4 điểm chân, lưng, mông, gót chạm vào thước  26

+ Cân nặng:

Được xác định bằng cân y tế có độ chính xác đến 0,1kg Cân được đặt trên mặt phẳng nằm ngang, các đối tượng đo mặc quần áo mỏng, đứng thẳng sao cho trọng tâm cơ thể rơi vào điểm giữa cân, đo xa bữa ăn  26

+ Chỉ số BMI:

Theo tổ chức y tế thế giới WHO, BMI dành cho trẻ thuộc châu Á từ 2 – 20

tuổi được phân loại theo bảng 2.2 dựa theo tiêu chuẩn của CDC dùng cho trẻ từ

2 đến 20 tuổi thể hiện ở biểu đồ 2.1 và 2.2 theo tuổi và theo giới tính

Công thức tính của BMI = M2

h Trong đó M là cân nặng (kg); h là chiều cao đứng (m)

+ Tình trạng dinh dưỡng:

Được xác định theo BMI: Chúng tôi phân loại tình trạng dinh dưỡng dựa theo chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là BMI dành cho trẻ thuộc châu

Á từ 2 – 20 tuổi

Bảng 2.2 BMI dành cho trẻ thuộc châu Á từ 2 – 20 tuổi

Trang 36

Biểu đồ 2.1 BMI từ 2 -20 tuổi đối với nam

Biểu đồ 2.2 BMI từ 2 -20 tuổi đối với nữ

+ Thiếu cân: nếu chỉ số BMI nằm trong vùng giá trị nhỏ hơn bách phân

vị thứ 5 (percentile < 5th), tương đương với chỉ số BMI < 16,5

+ Sức khỏe dinh dưỡng tốt: nếu chỉ số BMI nằm trong khoảng bách phân vị thứ 5 đến 85, tương đương với chỉ số BMI nằm trong khoảng 16,5 ≤ BMI ≤ 24,9 + Nguy cơ béo phì: nếu chỉ số BMI nằm trong khoảng bách phân vị 85 đến 95, tương đương với chỉ số BMI nằm trong khoảng 25 ≤ BMI ≤ 28,9

Trang 37

+ Béo phì: nếu chỉ số BMI nằm trong vùng lớn hơn bách phân vị 95, tương đương với chỉ số BMI ≥ 29

2.3.3.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số đánh giá về năng lực trí tuệ

+ Trí tuệ:

Được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm và sử dụng test Raven Test Raven gồm 5 bộ A, B, C, D, E với 60 khuôn hình có cấu trúc theo nguyên tắc phức tạp dần từ khuôn hình 1 đến khuôn hình 12 Từ bộ A đến bộ E cũng phức tạp dần như vậy Từng bộ A, B, C, D, E có nội dung riêng, cụ thể:

Bộ A – thể hiện tính toàn vẹn, tính liên tục của cấu trúc

Bộ B – thể hiện sự giống nhau giữa các cặp hình

Bộ C – thể hiện những thay đổi trong cấu trúc

Bộ D – thể hiện sự thay đổi chổ của các hình

Bộ E – thể hiện sự phân giải sự hình thành các cấu hình

Mỗi đối tượng thực nghiệm được phát một quyển test Raven và một phiếu trả lời, sau khi nghe hướng dẫn sẽ làm bài độc lập với thời gian không hạn chế Thực tế khoảng 45 phút

Cứ mỗi bài tập trả lời đúng được 1 điểm, chỉ có bài tập nào có độ biến thiên cho phép thì mới được tính, nếu không đáp ứng được nhu cầu đó sẽ bị loại và phải làm lại

Sau khi có điểm test Raven, tính chỉ số IQ theo công thức:

IQ =  15  100

SD

X X

Trong đó: IQ - là chỉ số thông minh;

X – điểm trắc nghiệm cá nhân;

X - điểm trắc nghiệm trung bình của nhóm người cùng độ tuổi;

SD – độ lệch chuẩn

Sau đó đối chiếu với chỉ số IQ với tiêu chuẩn phân loại hệ số thông minh của D Wechsler 1955  57 để tính sự phân bố trẻ theo các mức trí tuệ

Trang 38

Bảng 2.3 Phân bố mức trí tuệ theo chỉ số IQ của D Wechsler

STT Mức trí tuệ Chỉ số IQ Loại trí tuệ

+ Lập bảng thống kê số liệu các chỉ số nghiên cứu và tính toán các thông

số theo thuật tính toán thống kê để phân tích:

+ Giá trị trung bình mẫu (X ) : 1

n i i

x X

Trang 39

+ Sai số chuẩn trung bình SE: SE s

m m

Trong đó: X A là giá trị trung bình nhóm mẫu A

X B là giá trị trung bình nhóm mẫu B

mA và mB lần lượt là sai số trung bình của nhóm mẫu A, nhóm mẫu B Sau khi tính được giá trị thống kê t, chúng ta tính được xác suất P

* Nếu t ≥ 1,96 thì P < 0,05; t ≥ 2,33 thì P < 0,02; t ≥ 2,58 thì P < 0,01;

t ≥ 3,29 thì P < 0,001; thì sự sai khác giữa hai giá trị có ý nghĩa thống kê

* Nếu t < 1,96 thì P > 0,05; thì sự sai khác giữa hai giá trị không có ý nghĩa thống kê

+ Sự sai khác của hai tỷ lệ % được kiểm định bằng “t- test” (phép thử student)

P P t

X P n

B B

X P n

XA, XB lần lượt số cá thể của quần thể A, B có đặc tính nghiên cứu

nA, nB: lần lượt tổng số mẫu nghiên cứu ở quần thể A, B

p và q là hai tỷ lệ quần thể được ước lượng dựa trên hai mẫu

Sau khi tính t ta tính được xác suất p:

* Nếu t < 1,96 thì P > 0,05 thì sai khác giữa hai phương án không có ý nghĩa thống kê

Trang 40

* Nếu t ≥ 1,96 thì P < 0,05 thì sai khác giữa hai phương án có ý nghĩa thống kê Cụ thể hơn, khi t ≥ 1,96 thì P < 0,05; khi t ≥ 2,58 thì P < 0,01; Khi

t ≥ 3,29 thì P < 0,001

+ Hệ số tương quan Pearson (r)

Được tính bằng chương trình tools - data Analysis – regression theo công thức sau:

Trong đó: r – hệ số tương quan giữa hai đại lượng X, Y;

Xi – từng giá trị đại lượng X

Yi – từng giá trị đại lượng Y

N – số mẫu

Với: r ≥ 0,7 Tương quan chặt

0,3 ≤ r < 0,7 Tương quan trung bình

r < 0,3 Tương quan yếu

0 < r ≤ 1 Tương quan thuận (X↑, Y↑)

-1 ≤ r ≤ 0 Tương quan nghịch (X↑, Y↓)

Ngày đăng: 22/11/2021, 20:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w