1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

109 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự bất cân xứng thông tin information asymmetry trong mối quan hệ trên đã tạo điều kiện và cơ hội cho NQL hành động theo lợi ích cá nhân, ví dụ như quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp để

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TRẦN THỊ HOÀNG ANH

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Bình Định – Năm 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TRẦN THỊ HOÀNG ANH

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 8340301

Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Cẩm Thanh

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn” Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu

được sử dụng trong luận văn là trung thực và chưa công bố ở bất kỳ nghiên cứu nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày trong luận văn này

Tác giả luận văn

Trần Thị Hoàng Anh

Trang 4

Đầu tiên, tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Trần Thị Cẩm Thanh, người hướng dẫn khoa học của tác giả, đã tận tình định hướng nghiên cứu và hướng dẫn chi tiết giúp tác giả hoàn thành luận văn này Những lời chỉ bảo, nhận xét, đánh giá cùng với những lời động viên quý báu của Cô đã giúp cho tác giả vượt qua được nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn

Kế đến, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô trường Đại học Quy Nhơn đã tận tình giảng dạy cho tác giả các môn học phần thạc

sĩ Những kiến thức quý báu thầy, cô đã truyền đạt sẽ góp phần rất lớn để tác giả có thể đi tiếp con đường nghiên cứu sau này

Sau cùng, xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty cổ phần Công viên cây xanh & Chiếu sáng đô thị Quy Nhơn đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành khóa học và luận văn này

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải sản xuất kinh doanh có hiệu quả Một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động và triển vọng của một doanh nghiệp là lợi nhuận kế toán Ngoài ý nghĩa quan trọng đối với nhà đầu tư (NĐT), lợi nhuận còn đóng vai trò then chốt trong việc đo lường khả năng quản trị của nhà quản lý (NQL) Dễ dàng nhận thấy điều này qua việc nhiều công ty, đặc biệt là các công ty niêm yết sử dụng chỉ tiêu này để tính toán mức thù lao, lợi ích mà NQL được hưởng

Một trong những vấn đề được quan tâm bởi cả NĐT và NQL là độ đáng tin cậy của chỉ tiêu lợi nhuận Trong khi NĐT là người sử dụng và chịu ảnh hưởng chủ yếu từ những thông tin trên báo cáo tài chính thì những thông tin này lại được lập và trình bày bởi NQL Điều này đã dẫn đến một vấn đề khá phổ biến trong kinh tế học là quan hệ ông chủ và người đại điện (principal – agent relationship) Trong đó, người sử dụng thông tin BCTC, cụ thể là NĐT đóng vai trò ông chủ (principal) và theo nguyên tắc, NQL ở vị trí người đại diện (agent) phải ra quyết định và hành động dựa trên lợi ích của ông chủ Nhưng thực tế, ngoài lợi ích của NĐT, NQL còn quan tâm và tìm cách tối ưu hóa lợi ích bản thân Sự bất cân xứng thông tin (information asymmetry) trong mối quan hệ trên đã tạo điều kiện và cơ hội cho NQL hành động theo lợi ích cá nhân, ví dụ như quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp để tăng mức thù lao được hưởng

Với sự xuất hiện của nhiều khái niệm về “Quản trị lợi nhuận”, các nghiên cứu kế toán phân biệt ranh giới giữa việc thực hiện các thay đổi kế toán và ước tính kế toán trong phạm vi các quy định, chuẩn mực với việc nhà quản lý làm sai lệch thông tin, vi phạm nguyên tắc trung thực và hợp lý của

Trang 6

kế toán

“Quản trị lợi nhuận” là chủ đề có sức hút lớn trên phạm vi toàn cầu, từ các cường quốc như Mỹ, Pháp…cho tới các nước đang phát triển như Malaysia, Việt Nam Đầu thế kỷ 21, sự xuất hiện của một loạt các vụ bê bối

và gian lận nghiêm trọng liên quan tới việc điều chỉnh lợi nhuận và che giấu thông tin kế toán của Enron, WorldCom, Tyco, Xerox, Global Crossing làm hâm nóng chủ đề kiểm soát hành vi điều chỉnh lợi nhuận vốn từ lâu đã là sự quan tâm lớn của nhiều bên, từ các nhà đầu tư, các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu cho tới bản thân các công ty

Trên thế giới, rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành liên quan tới các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị lợi nhuận, có những nghiên cứu tìm hiểu sự ảnh hưởng riêng lẻ của một vài nhân tố (Kim và cộng sự, 2003), nhưng cũng

có nhiều nghiên cứu đề cập tới sự ảnh hưởng của một tổ hợp, một nhóm nhiều các nhân tố tới quản trị lợi nhuận (Nassirzadeh và cộng sự, 2012; Charfeddine, Riahi và Omri, 2013; Fathi, 2013)

Ngay tại Việt Nam, một số lượng lớn các công ty cổ phần với tình trạng chênh lệch báo cáo tài chính hàng trăm tỷ đồng trước và sau kiểm toán cũng đem đến lo ngại về việc không minh bạch trong công bố thông tin và tồn tại

sự can thiệp mang chủ ý của các nhà quản lý tới thông tin kế toán được công

bố trên thị trường chứng khoán Điển hình là Vinaconex năm 2009, lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông giảm 263 tỷ sau kiểm toán (http://vneconomy.vn/chung-khoan/su-co-bao-cao-tai-chinh-vinaconex-

khong-qua-lo-nhung-can-hanh-dong-20100415122639544.htm) hay việc Công ty cổ phần thép Việt Ý năm 2011 phải cộng thêm 110 tỷ đồng dự phòng khiến lợi nhuận sau kiểm toán rơi từ 145 tỷ xuống 35 tỷ đồng (https://www.vinaconex.com.vn/upload/100804-

BCB%20VINACONEX%20-%203000%20TY%20DONG.PDF) Tình trạng

Trang 7

này ngày càng lan rộng và quy mô tăng lên, ví dụ Công ty CP thiết bị y tế Việt Nhật (JVC) năm 2015, chênh lệch sau kiểm toán lên tới 622 tỷ đồng (https://vietnambiz.vn/sau-kiem-toan-jvc-bat-ngo-lo-hon-1335-ty-dong-nam-2015-266.htm) Trong số các đối tượng sử dụng thông tin kế toán thì nhà đầu tư có thể là đối tượng chịu áp lực cao nhất về nhu cầu thông tin vì họ bỏ vốn đầu tư vào các công ty nhưng lại không trực tiếp sử dụng vốn Vì vậy, trong bối cảnh các gian lận tài chính khiến lòng tin của công chúng đối với các thông tin kế toán được công bố bị giảm sút như vậy thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận sẽ rất có ý nghĩa cho các bên tham gia thị trường kể cả các nhà làm luật và các nhà nghiên cứu (Beneish, 1999; Kothari và cộng sự, 2005)

Nhận thức được tầm ảnh hưởng quan trọng của hành vi quản trị lợi nhuận tới chất lượng báo cáo tài chính, luận văn muốn đi sâu phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới “Hành vi quản trị lợi nhuận” tại các doanh nghiệp có

cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên cơ sở của trường phái Lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, lý thuyết tín hiệu

Việt Nam hiện nay là thành viên của nhiều hiệp ước kinh tế như WTO, AEC, đòi hỏi phải hội nhập nhanh các định chế quốc tế để tăng tính minh bạch thông tin công bố Liên quan đến CTNY, Nhà Nước Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để hoàn thiện dần hệ thống pháp lý cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của TTCK, thu hút vốn đầu tư thông qua TTCK, đồng thời cũng hướng đến mục tiêu gia tăng chất lượng thông tin BCTC của các CTNY

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng việc tìm hiểu, phát hiện, đo lường hành vi QTLN và xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến hành vi QTLN là rất cần thiết xét về lý luận khoa học và ứng dụng thực tế Về

lý luận, luận văn mong muốn góp phần làm rõ lý thuyết liên quan đến hành vi

Trang 8

QTLN thông qua cơ sở dồn tích và QTLN thông qua việc ảnh hưởng vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Về mặt ứng dụng, luận văn kỳ vọng đo lường mức độ QTLN của người quản lý tại CTNY và xác định các nhân tố tác động đến hành vi QTLN tại các CTNY trên TTCK Việt Nam, đưa ra các kiến nghị cho các bên liên quan để kiểm soát hành vi QTLN, nâng cao chất lượng

BCTC của CTNY Từ đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để thực hiện trong nghiên cứu này

2 Tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

Quản trị lợi nhuận làm cho số liệu trên báo cáo tài chính không trung thực, hợp lý từ đó ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của các bên liên quan Nghiên cứu về quản trị lợi nhuận trên thế giới đã xác định được nhiều nhân tố then chốt ảnh hưởng đến hành động quản trị lợi nhuận Nhóm nhân tố về đặc điểm của công ty: quy mô công ty, cấu trúc vốn, khả năng sinh lời, tính thanh khoản của tài sản; nhóm nhân tố về đặc điểm cơ chế quản trị công ty: hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tỷ lệ sở hữu của ban giám đốc, tỷ lệ sở hữu của

các cổ đông tổ chức; nhóm nhân tố về kiểm toán độc lập

2.1.1 Quy mô hội đồng quản trị

Có nhiều nghiên cứu đã được công bố về ảnh hưởng của quy mô HĐQT đến hành vi QTLN Qui mô HĐQT được tính bằng số lượng thành viên HĐQT tại ngày kết thúc năm Một mặt, HĐQT gồm nhiều thành viên có thể

có nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức và nêu nhiều ý kiến đóng góp sẽ tăng cường khả năng giám sát của HĐQT Lý luận này xuất phát từ lý thuyết sự phụ thuộc nguồn lực Mặt khác, HĐQT có nhiều thành viên nhưng các thiếu liên kết giữa các thành viên HĐQT sẽ tạo tăng thêm cơ hội cho người quản lý

Trang 9

gia tăng QTLN

Ayemere và cộng sự (2015) sử dụng số liệu của 230 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán của Thổ Nhĩ Kỳ, giai đoạn 2009-2012 đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa số lượng thành viên thuộc HĐQT với mức

độ QTLN Rất nhiều nghiên cứu có kết quả tương tự như Suzan Abed và Cộng sự (2012), Abbadi và cộng sự (2016), Soliman và cộng sự (2013), Lakhal (2015)

Ngược lại, Kao và Chen (2004) sử dụng dữ liệu của 1.097 công ty; Rahman và Ali (2006) sử dụng 97 công ty Malaysia; Jaggi và cộng sự (2009)

sử dụng dữ liệu của công ty Hong Kong trong giai đoạn 1998-2000 cùng phát hiện ra mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô của HĐQT và mức độ QTLN Nekhili và cộng sự (2016) sử dụng số liệu 85 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Pháp, giai đoạn 2001- 2010, vận dụng mô hình của Kothari và cộng sự (2005) đã chứng minh được mối quan hệ cùng chiều giữa số lượng thành viên HĐQT với mức độ QTLN

2.1.2 Quy mô công ty

Nghiên cứu của Roodposhti & Chashmin (2011) về tác động của cơ chế quản trị công ty đến quản trị lợi nhuận với mẫu nghiên cứu gồm 196 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2004-2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty càng tăng thì hành vi quản trị lợi nhuận càng tăng

Nghiên cứu của Soliman và Ragab (2013) sử dụng mô hình Jones (1991)

đã quan sát 40 công ty niêm yết tại Sàn chứng khoán Ai Cập trong giai đoạn 2007-2010 để xem xét các ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty tác động thuận chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận

Swastika (2013) nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty, quy

Trang 10

mô doanh nghiệp và quản trị lợi nhuận, kết quả cho thấy các biến về hội đồng quản trị có mối quan hệ thuận chiều với hành vi quản trị lợi nhuận, các biến chất lượng công ty kiểm toán và quy mô công ty có mối quan hệ nghịch chiều với hành vi quản trị lợi nhuận

Sử dụng mô hình Modified Jones để đo lường điều chỉnh lợi nhuận, Lim

và cộng sự (2008) đặt ra câu hỏi nghiên cứu, liệu rằng quy mô và loại hình doanh nghiệp có ảnh hưởng đến sự điều chỉnh lợi nhuận khi phát hành thêm

cổ phiếu hay không? Kết quả nghiên cứu cho thấy, mối tương quan thuận giữa quy mô và sự điều chỉnh lợi nhuận Nói cách khác, doanh nghiệp có quy

mô càng lớn thì khả năng điều chỉnh lợi nhuận càng cao

2.1.3 Quy mô công ty kiểm toán

Becker và cộng sự (1998) sử dụng mô hình Jones (1991) quan sát các công ty do Big6 (hiện nay là Big4) kiểm toán và không do Big6 kiểm toán, kết quả cho thấy các công ty không do Big 6 kiểm toán quản trị lợi nhuận cao hơn các công ty do Big 6 kiểm toán

Nghiên cứu của Ahmad-Zaluki và cộng sự (2011) về hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Malaysia với mẫu nghiên cứu gồm 250 công ty trong giai đoạn 1990-2000 và sử dụng mô hình Jones (1991) để nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận, cho thấy chất lượng công ty kiểm toán và thời gian hoạt động của công ty có tác động nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận

Kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy nếu công ty niêm yết được kiểm toán bởi Big 4 thì sẽ kiểm soát được hành vi QTLN Chen và cộng sự (2005) nghiên cứu trên mẫu dữ liệu công ty đại chúng của Đài Loan các năm 1996-1998 cho rằng chất lượng kiểm toán đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát khả năng QTLN và các công ty kiểm toán Big 4 cung cấp chất lượng kiểm toán cao, góp phần kiểm soát hành vi QTLN Tương tự, Charles

Trang 11

và cộng sự (2010), Lin và Hwang (2010), Gerayli và cộng sự (2011), Inaam

và cộng sự (2012), Soliman và cộng sự (2013), Al-Rassas và cộng sự (2015), Ahmad và cộng sự (2016), Abbadi và cộng sự (2016) cùng chứng minh được rằng doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big 4 thì mức độ QTLN sẽ giảm đi

Có phần khác biệt với những kết quả nghiên cứu trên, một số nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô công ty kiểm toán với hành vi QTLN, điển hình như Chtourou (2001) với số liệu Mỹ, Moradi và cộng sự (2012) với số liệu của Iran, Bamahros và cộng sự (2015) với số liệu của Malaysia, Zouari và cộng sự (2015) với số liệu của Pháp

Sự ảnh hưởng của đặc điểm công ty niêm yết (quy mô công ty, cấu trúc vốn, khả năng thanh toán ) đến hành động điều chỉnh lợi nhuận của các công ty này là hướng tiếp cận của vấn đề Tỷ lệ nợ phải trả trong tổng nguồn vốn có ảnh hưởng đến hành động quản trị lợi nhuận không? Ardison và cộng

sự (2013) đặt ra câu hỏi nghiên cứu như trên Để giải quyết vấn đề đặt ra, các tác giả thực hiện nghiên cứu các công ty niêm yết ở Brazil trong khoảng thời gian từ 1994 đến 2010, sử dụng 3 mô hình nghiên cứu, thứ nhất của Jones (1991), mô hình thứ hai của Dechow và cộng sự (1995) và mô hình thứ ba của Kang và Sivaramakrishnan (1995) Sau khi tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được của cả 3 mô hình – đây là biến phụ thuộc, tiếp theo các tác giả tính toán biến nợ phải trả chia nguồn vốn, nợ phải trả chia vốn chủ sở

Trang 12

hữu - biến độc lập Áp dụng phương pháp hồi quy bội, các tác giả không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa biến nợ phải trả chia vốn chủ sở hữu,

nợ phải trả chia nguồn vốn và quản trị lợi nhuận ở cả 3 mô hình nghiên cứu…

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2017) về hành vi quản trị lợi nhuận

ở các công ty cổ phần khi phát hành thêm cổ phiếu trên TTCK Việt Nam với mẫu nghiên cứu gồm 412 công ty niêm yết trong giai đoạn từ 2007 – 2015 (có công ty phát hành 1 lần, có công ty phát hành 2 lần trở lên, tối đa là 4 lần) kết quả cho thấy các công ty niêm yết có phát hành thêm cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có hiện tượng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước kỳ phát hành thêm cổ phiếu nhằm thu hút đầu tư và tăng giá trị thị trường của cổ phiếu Đồng thời, nếu quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời càng lớn thì sự điều chỉnh lợi nhuận càng cao Ngược lại, đòn bẩy tài chính, quy mô hội đồng quản trị, sự thanh khoản của tài sản càng nhỏ thì sự điều chỉnh lợi nhuận càng lớn

Nguyễn Hà Linh (2017) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam dựa trên dữ liệu ban đầu bao gồm 3.195 quan sát giai đoạn từ 2010 –

2014, kết quả cho thấy có 7 biến nghiên cứu là có mối quan hệ và có ý nghĩa thống kê với giá trị dồn tích có thể điều chỉnh DA Đó là các biến: quy mô hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, hệ số nợ, hiệu quả tài chính, quy mô công ty, kiểm toán độc lập

Nghiên cứu của Ngô Hoàng Điệp (2018) về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, cơ sở dữ liệu được thu thập thủ công thông qua công ty Vietstock đã chọn ra mẫu nghiên cứu của luận án có 416 công ty đang giao

Trang 13

dịch trên 2 sàn giao dịch Hà Nội và Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ

2010-2016 Kết quả thống kê mô tả biến AEM và REM cho thấy người quản lý tại các công ty niêm yết có thực hiện hành vi QTLN theo cả hai hình thức với hai hướng là tăng lợi nhuận và giảm lợi nhuận Thông qua đó luận án đã xác định được các nhân tố tác động và mức độ tác động của từng nhân tố đến hành vi QTLN thông qua các khoản dồn tích và QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh

tế phát sinh, như sau:

Đối với QTLN thông qua các khoản dồn tích: CTNY tổ chức thường

xuyên các cuộc họp HĐQT, có tỷ lệ thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính, có sự hiện diện nhiều thành viên nữ trong HĐQT và ban kiểm soát, ban kiểm soát có quy mô lớn sẽ kiểm soát tốt mức độ QTLN CTNY được kiểm toán bởi Big 4 thì chất lượng thông tin công bố sẽ cao hơn các CTNY được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán ngoài Big 4 Việc thay đổi công ty kiểm toán làm chất lượng BCTC thấp đi Việc tập trung vốn vào người quản lý sẽ làm giảm mức độ QTLN CTNY có tỷ lệ nợ vay ngắn hạn trên tổng tài sản ngắn hạn, có quy mô công ty và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản càng lớn thì mức độ QTLN càng cao Trong các nhân tố ảnh hưởng đến AEM thì nhân tố khả năng sinh lời, nhân tố tỷ lệ nữ thuộc HĐQT, nhân tố quy mô doanh nghiệp và nhân tố tỷ lệ nợ vay ngắn hạn có ảnh hưởng mạnh nhất

Đối với QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: Quy mô

HĐQT càng lớn, công ty niêm yết được kiểm toán bởi Big 4 thì chất lượng thông tin công bố sẽ cao hơn các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán ngoài Big 4 Việc thay đổi công ty kiểm toán làm chất lượng BCTC thấp đi CTNY có tỷ lệ nợ phải trả, tỷ lệ nợ vay ngắn hạn trên tổng tài sản ngắn hạn và quy mô công ty càng lớn thì mức độ QTLN càng cao

Nghiên cứu của Ngô Nhật Phương Diễm (2019) về nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công

Trang 14

ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam với dự kiến ban đầu là 1.115 quan sát của mẫu 223 công ty, nhưng sau khi loại bỏ các quan sát không đủ điều kiện cỡ mẫu còn lại 122 mẫu, với 290 quan sát trên năm, kết quả cho thấy: luận án đã chứng minh được rằng tại các công ty sản xuất niêm yết trên TTCK Việt Nam

có tồn tại hành vi QTLN ở cả hai hình thức: QTLN theo cơ sở dồn tích (DA)

và QTLN thông qua các hoạt động kinh tế (REM) Trong đó đối với mô hình hồi quy QTLN theo cơ sở dồn tích thì xu hướng quản trị tăng hay quản trị giảm của các NQL trong mẫu quan sát là tương đối như nhau, trong khi đó đối với trường hợp QTLN thông qua các hoạt động kinh tế hơn 90% các NQL quản trị tăng lợi nhuận (263 trường hợp), quản trị giảm lợi nhuận chỉ chiếm khoảng 10%, chiếm 27 trường hợp Đối với hành vi QTLN dựa trên cơ sở dồn tích có điều chỉnh: Các biến nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty - (số lượng thành viên, tính độc lập, chuyên môn, số lần họp và sự không kiêm nhiệm), quy mô công ty, dòng tiền hoạt động, thu nhập bình quân trên cổ phiếu, sở hữu nhà nước có mối tương quan ngược chiều với biến QTLN dồn tích có điều chỉnh Bên cạnh đó, một số biến không có ảnh hưởng đến QTLN như kỳ vọng của tác giả như: biến ban kiểm soát và biến công ty kiểm toán Riêng QTLN thông qua hoạt động kinh tế REM thì kết quả hồi quy thể hiện bốn biến có mối tương quan và có ý nghĩa thống kê với QTLN thông qua các hoạt động kinh tế như biến nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty, quy mô công ty, dòng tiền hoạt động, công ty kiểm toán Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của luận án cũng phát hiện 5 biến không có tác động đến REM Điển hình như biến ban kiểm soát, đòn bẩy tài chính, thu nhập bình quân trên 1 cổ phiếu, giá trị vốn hóa thị trường, sở hữu nhà nước

2.3 Nhận xét về các nghiên cứu liên quan

Tóm lại, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành liên quan tới các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận, có những nghiên cứu

Trang 15

tìm hiểu sự ảnh hưởng riêng lẻ của một vài nhân tố nhưng cũng có nhiều nghiên cứu đề cập tới sự ảnh hưởng của một tổ hợp, một nhóm nhiều các nhân tố tới quản trị lợi nhuận

Tại Việt Nam, những nghiên cứu thực chứng liên quan tới việc tìm kiếm, phát hiện các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị lợi nhuận là rất hạn chế, vì vậy luận văn kỳ vọng đem lại những đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn Một mặt, tác giả mong muốn có thể làm phong phú thêm nguồn cơ sở dữ liệu cho trường phái thực chứng trong kế toán về quản trị lợi nhuận Mặt khác, sự hiểu biết đầy đủ về những nhân tố có thể ảnh hưởng tích cực hoặc không tích cực tới điều chỉnh lợi nhuận sẽ giúp những người sử dụng thông tin kế toán đưa ra những quyết định hợp lý trong bối cảnh thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam mới hình thành còn nhiều bất cập

Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam như: Ngô Nhật Phương Diễm (2020), Ngô Hoàng Điệp (2019), Nguyễn Hà Linh (2017

và Phạm Thị Bích Vân (2017) chỉ dừng lại ở việc đưa ra mô hình dữ liệu bảng tĩnh Theo đó, mô hình nghiên cứu thường chấp nhận sự hiện diện của vấn đề nội sinh chưa được giải quyết Vì vậy, điểm mới ở luận văn này tác giả sử dụng mô hình bảng động tuyến tính được ước lượng bằng phương pháp GMM (Generalized Method of Moments) Các phương pháp ước lượng dữ liệu bảng như Fixed effect hay Random effect được sử dụng chủ yếu để ước lượng các

mô hình dữ liệu bảng tĩnh tuyến tính Với mô hình này, sự tồn tại của các vấn

đề như tự tương quan của các sai số, cũng như tính chất động của các mô hình được thể hiện qua các biến trễ phụ thuộc (vấn đề biến nội sinh) sẽ làm thiên chệch kết quả ước lượng Mô hình dữ liệu bảng tồn tại các vấn đề này gọi là

mô hình bảng động tuyến tính

Một cách tổng quan, GMM là phương pháp tổng quát của rất nhiều phương pháp ước lượng phổ biến như OLS, MLE, FE, RE, GLS, IV,

Trang 16

2SLS….Ngay cả trong điều kiện giả thiết nội sinh bị vi phạm, phương pháp GMM cho ra các hệ số ước lượng vững, không chệch và hiệu quả Có thể nói OLS hay Maximum Likelihood… chỉ đơn thuần là dạng phương trình đặc biệt của GMM vì GMM thực hiện với rất ít giả định và nhiều nhà nghiên cứu cho rằng GMM là ánh sáng trong đường hầm đối với các nhà nghiên cứu tài chính thực nghiệm

3 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên trên thị trường chứng khoán Việt Nam Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các nhân

tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Về mặt nội dung: Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hành

vi quản trị lợi nhuận bao gồm nhóm nhân tố thuộc đặc điểm công ty và nhóm nhân tố thuộc quản lý – kiểm soát

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trong khoa học

kế toán thực chứng Luận văn đi từ những quan sát về thực tế kế toán, thu thập thông tin, số liệu được cung cấp từ dữ liệu của Trung tâm nghiên cứu

Trang 17

Kinh tế và Tài Chính trường đại học Kinh tế Luật thuộc đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh, từ BCTC đã được kiểm toán của các công ty niêm yết trên thị trường Chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 - 2019 để kiểm chứng các giả thuyết liên quan tới sự ảnh hưởng của các nhân tố tới quản trị lợi nhuận Các phương trình hồi quy được xây dựng và thông qua phần mềm thống kê STATA, dữ liệu sẽ được kiểm chứng với mô hình hồi quy bảng động tuyến tính được ước lượng bằng phương pháp GMM Kết quả thu được

sẽ phục vụ việc đánh giá các giả thuyết mà luận văn đặt ra

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Nghiên cứu về quản trị lợi nhuận là chủ đề còn mới ở Việt Nam bởi vì thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới nổi nên hành lang luật pháp, chính sách vĩ mô của nhà nước đến cả pháp luật về kế toán, kiểm toán chưa chặt chẽ Do đó, có ít nghiên cứu về chủ đề này ở thị trường chứng khoán Việt Nam, nội dung đề tài đã đóng góp vào cơ sở lý thuyết nghiên cứu

về quản trị lợi nhuận trên thế giới nói chung, thông qua nghiên cứu trong bối cảnh thị trường chứng khoán mới nổi ở Việt Nam

Đóng góp các hàm ý chính sách xây dựng khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả nhằm hạn chế hành vi QTLN Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại hành động quản trị lợi nhuận ở các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Đây là tài liệu tham khảo để các bên liên quan (nhà đầu tư, cổ đông, chủ nợ, nhà cung cấp…) đưa ra các quyết định đầu tư với mức độ thận trọng và chấp nhận rủi ro khi số liệu về lợi nhuận được cung cấp trong báo cáo tài chính chưa trung thực Mặt khác, kết quả nghiên cứu cũng cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý nhà nước để nhìn nhận, đánh giá thực trạng về chất lượng của chỉ tiêu lợi nhuận của các công ty Từ đó, đưa ra các chính sách quản lý vĩ mô thích hợp nhằm tăng cường chất lượng chỉ tiêu lợi nhuận của các công ty đại chúng nói chung và các công ty niêm yết nói

Trang 18

riêng

Nghiên cứu này đã xây dựng và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến hành động quản trị lợi nhuận như: quy mô doanh nghiệp; đòn bẩy tài chính (Nợ phải trả/tài sản); khả năng sinh lời; tỷ lệ tăng trưởng doanh thu; quy mô hội đồng quản trị, quy mô công ty kiểm toán Kết quả nghiên cứu của đề tài là

cơ sở cho các nhà nghiên cứu tham khảo khi thực hiện nghiên cứu chủ đề tương tự, là tài liệu tham khảo cung cấp thông tin cho kiểm toán viên phải giữ thái độ hoài nghi để lập kế hoạch kiểm toán hiệu quả khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết

Đồng thời với việc sử dụng mô hình dữ liệu bảng động theo phương pháp GMM mở ra hướng nghiên cứu với phương pháp mới trong lĩnh vực kế toán thực chứng tại Việt Nam

7 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận và hành vi QTLN Chương này

trình bày các khái niệm về QTLN, phân loại hành vi QTLN Đồng thời trình bày các lý thuyết nền tảng cơ bản làm cơ sở biện luận cho các kết quả trong nghiên cứu, trình bày các cơ sở lý thuyết của các yếu tố ảnh hưởng đến hành

vi QTLN

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu, chương này đề cập đến quy trình

thực hiện phương pháp nghiên cứu định lượng, mô hình nghiên cứu dự kiến

và luận văn cũng đề cập đến đo lường biến phụ thuộc và các biến độc lập

Chương 3: Kết quả nghiên cứu, chương này đề cập các kết quả thu thập

được trong giai đoạn nghiên cứu định lượng Từ đó luận văn cũng bàn luận kết quả nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý – Chính sách Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở

chương 3, chương này trình bày kết quả đạt được của nghiên cứu và hàm ý các chính sách liên quan

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN VÀ HÀNH VI QUẢN

TRỊ LỢI NHUẬN 1.1 Lợi nhuận

Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí Doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

Mục tiêu cuối cùng và quan trọng của một công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận:

Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson và cộng sự (1958) định nghĩa rằng:

“ Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số

đã chi” hoặc cụ thể hơn là “lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”

- Theo VAS 17 thì: “lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán” Lợi nhuận đối với kế toán tài chính thường được công bố rộng rãi ra bên ngoài, đặc biệt là đối với công ty cổ phần niêm yết, các công bố này là tài liệu nghiên cứu cho cơ quan thuế, nhà đầu tư và một số ngân hàng thương mại Lợi nhuận đối với kế toán quản trị chủ yếu phục vụ cho ban lãnh đạo, hội đồng quản trị và nội bộ doanh nghiệp

- Từ các quan điểm trên, theo góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động đưa lại, là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh

và là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp

Trang 20

Tóm lại, theo đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi quản trị lợi nhuận (cụ thể là của nhà quản trị) trên BCTC tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, vì thế, đề tài hướng đến nghiên cứu lợi nhuận thuộc phạm vi kế toán tài chính, nghĩa là lợi nhuận của công ty đã được kiểm toán và công bố rộng rãi trên trang mạng thông tin đại chúng Vì có như vậy,

đề tài mới có căn cứ để xác định có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị

1.2 Hành vi quản trị lợi nhuận

1.2.1 Khái niệm

Hành vi quản trị lợi nhuận đã trở thành một lĩnh vực được nghiên cứu sâu rộng trên thế giới Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về hành vi điều chỉnh lợi nhuận Các nhà nghiên cứu thường phát triển định nghĩa riêng của họ về hành vi điều chỉnh lợi nhuận để phù hợp với mục đích của họ (Noronha và cộng sự, 2008)

Davidson và các cộng sự (1987) định nghĩa, quản trị lợi nhuận là quy trình bao gồm các bước có cân nhắc kỹ lưỡng trong khuôn khổ của các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận, nhằm mang lại mức lợi nhuận mong muốn Theo Schipper (1989) cho rằng, quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân

Theo Levitt (1998) thì điều chỉnh lợi nhuận là hành động nhằm làm cho báo cáo tài chính phản ánh mong muốn của nhà quản trị chứ không phải là hoạt động tài chính cơ bản của công ty

Tương đồng với các quan điểm trên, Parfet (2000) cũng cho rằng điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện nhằm che giấu hoạt động tài chính thực bằng cách tạo ra các nghiệp vụ kế toán không có thực hoặc làm các dự toán không hợp lý

Trang 21

Tuy nhiên, ngược lại những quan điểm trên, Beneish (2001) lại cho rằng mục đích điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý là nhằm công bố thông tin với chất lượng tốt hơn đến người sử dụng, giúp các nhà đầu tư khám phá ra các mong đợi của họ về các dòng tiền mà doanh nghiệp sẽ mang đến trong tương lai

Ngoài ra, tùy thuộc vào mục tiêu công bố thông tin, Ronen và Yaari (2008) đã phân loại khái niệm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thành ba nhóm như sau:

- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận trắng (White Earnings Management): các nhà quản lý dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toán một cách linh hoạt nhằm thông báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai Đây được xem là nhóm có lợi và gia tăng chất lượng báo cáo tài chính

- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các nhà quản lý lựa chọn các chính sách kế toán trong và ngoài giới hạn cho phép nhằm làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp hoặc vì lợi ích của họ

- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận đen (Black Earnings Management): là hành

vi sử dụng các thủ thuật của quản lý để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của báo cáo tài chính

Trên quan điểm của tác giả, “Quản trị lợi nhuận” là hành vi có thể được thực hiện trong hoặc ngoài phạm vi cho phép của các quy định, chuẩn mực, chế độ kế toán nhằm giúp nhà quản trị đạt được các mục tiêu về lợi nhuận thông qua các công cụ, phương pháp kế toán

Tuy có sự đa dạng trong cách nhìn nhận về “quản trị lợi nhuận”, nhưng

về nguyên tắc, việc nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận trong phạm vi các nguyên tắc kế toán, vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán hay ước tính kế toán là hoàn toàn hợp pháp Tuy nhiên, nhiều khi việc quản trị này đi

Trang 22

quá giới hạn và làm thông tin bị bóp méo

1.2.2 Thủ thuật quản trị lợi nhuận lợi nhuận

1.2.2.1 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán

Lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn: Nếu doanh nghiệp ghi nhận doanh thu, giá vốn theo tiến độ hoàn thành thì phương pháp này cho phép doanh nghiệp có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các ước tính mức độ hoàn thành công việc

Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định: Lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ

Lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa tài sản cố định: Doanh nghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa tài sản cố định Ngoài ra, doanh nghiệp có thể ước tính trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tại thời điểm chưa phát sinh chi phí và mức trích này sẽ gia tăng chi phí từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ

Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho: Doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau từ đó ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán

và lợi nhuận trong kỳ

Lựa chọn phương pháp kế toán chi phí lãi vay: Đối với khoản chi phí lãi vay tùy trường hợp có thể được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ hoặc ghi nhận như là chi phí phát sinh Việc phân biệt này ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán,

do đó trong trường hợp này doanh nghiệp có thể lợi dụng kế toán chi phí lãi vay để điều chỉnh lợi nhuận

1.2.2.2 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán

Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ phát sinh:

Trang 23

Ước tính thời gian khấu hao TSCĐ, ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước, ước tính chi phí bảo hành công trình xây lắp

Ước tính kế toán mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ kế toán: Ước tính chi phí bảo hành sản phẩm, ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp

và cung cấp dịch vụ, ước tính giá trị sản phẩm dở dang, ước tính khoản phải thu khó đòi để lập dự phòng, ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá

Quyết định về việc thực hiện các khoản chi phí nghiên cứu và triển khai: Doanh nghiệp có thể cắt giảm các chi phí này hoặc quyết định thời điểm ghi nhận để tăng lợi nhuận hoặc ngược lại

Quyết định về các khoản đầu tư: Doanh nghiệp có thể bán các khoản đầu

tư đang sinh lời hoặc thực hiện nghiệp vụ mua bán cổ phần để biến các doanh nghiệp khác trở thành công ty con, công ty liên doanh, liên kết từ đó thay đổi lợi nhuận

Phần lớn các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào việc nhận diện ba cách thức quản trị lợi nhuận thực tế sau (1) cắt giảm chi phí tùy ý (discretionary expenses reduction) như chi phí R&D hay chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp; (2) thực hiện sản xuất thái quá (overproduction); hoặc

Trang 24

(3) thúc đẩy doanh thu bằng cách cung cấp các khoản chiết khấu hoặc nới lỏng thời hạn thanh toán (boost sales through negative discount offers or more lenient credit terms) (Roychowdhury, 2006) Graham và cộng sự (2005) thực hiện khảo sát 401 giám đốc tài chính (CFOs) và cho thấy một con số kinh ngạc là 78% trong số họ thừa nhận rằng “họ sẽ từ bỏ một phần giá trị kinh tế của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu lợi nhuận mong muốn miễn là giá trị

hy sinh không quá lớn”

Các nghiên cứu ban đầu về REM tập trung vào việc NQL cắt giảm chi phí R&D để tăng lợi nhuận trong kỳ Dechow và Sloan (1991) tiến hành thực nghiệm và chỉ ra rằng các tổng giám đốc cắt giảm chi phí R&D vào những năm cuối họ ở công ty để tăng lợi nhuận trong ngắn hạn Việc cắt giảm này sẽ

bị hạn chế nếu họ sở hữu cổ phiếu của công ty Nghiên cứu của Baber và cộng

sự (1991); Bushee (1998) cho thấy các công ty Mỹ sẳn sàng cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp để đạt được ngưỡng lợi nhuận mong muốn Các nghiên cứu sau này của Roychowdhury (2006) và Gunny (2010) cũng cho ra kết quả tương tự

Cách thức phổ biến thứ hai để thực hiện REM là tiến hành sản xuất một cách thái quá (overproduction) Bằng cách này, giá vốn mỗi đơn vị hàng bán

sẽ giảm xuống bởi vì chi phí sản xuất cố định sẽ được phân bổ cho nhiều đơn

vị hơn Miễn là chi phí lưu kho hàng hóa trong kỳ không lớn hơn phần chi phí giá vốn được cắt giảm, lợi nhuận kế toán sẽ tăng lên (Gunny, 2005) Nghiên cứu của Thomas và Zhang (2002) cho thấy các doanh nghiệp tăng mức hàng tồn kho sẽ có mức lợi nhuận cao hơn trong năm và sẽ giảm đột ngột vào những năm sau đó Tuy nhiên, nghiên cứu không loại bỏ được ảnh hưởng của điều kiện kinh tế suy thoái, là một trong những nguyên nhân giải thích hiện tượng trên Nghiên cứu khác của Roychowdhury (2006) chỉ ra việc các doanh nghiệp áp dụng sản xuất một cách thái quá như một cách thức để tránh lỗ

Trang 25

Điều chỉnh doanh thu bằng các chính sách giảm giá hoặc cung cấp tín dụng cũng được thực nghiệm bởi các nghiên cứu liên quan đến REM Các chính sách này sẽ tạo ra phần tăng doanh thu không bền vững cho doanh nghiệp trong năm nay nhưng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trong những năm sau đó Burgstahler và Dichev (1997) nhận thấy dấu hiệu của hành vi này qua việc giảm đột ngột của dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh Nghiên cứu của Gunny (2010) cho thấy các doanh nghiệp thực hiện điều chỉnh doanh thu để đạt được ngưỡng lợi nhuận mong muốn hoặc tránh bị

lỗ trong kỳ

Một số cách thức khác được sử dụng để quản trị lợi nhuận thực tế như điều chỉnh thời gian thực hiện bán tài sản cố định, thông qua các hợp đồng quyền chọn, mua lại cổ phiếu hay cấu trúc các hợp đồng thuê cũng được thực nghiệm trong các nghiên cứu liên quan (Sellami, 2015)

Mặc dù thuật ngữ “quản trị lợi nhuận thực tế” đã được chấp nhận và sử dụng một cách rộng rãi nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một cách đo lường chuẩn nào được công nhận để nhận diện hành vi này Các nghiên cứu chủ yếu áp dụng một trong hai mô hình được đề xuất trong nghiên cứu của Gunny (2005) và Roychowdhury (2006)

Cách tiếp cận để nhận diện hành vi QTLN nói chung và REM nói riêng

là thông qua các mô hình ước tính (estimation models) Các mô hình ước tính

là các mô hình hồi quy được xây dựng để đo lường mức thông thường (“normal” level) trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Jr, 2014) Phần còn lại của các phép hồi quy trên (regression residual) sẽ được xem là “bất thường” (abnormal) và là các biến đại diện cho REM Nói cách khác, chênh lệch giữa giá trị quan sát và giá trị ước tính sẽ phản ánh mức

độ thực hiện hành vi REM của NQL

Trang 26

1.2.3 Động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận

Hành vi quản trị lợi nhuận không phải là hoạt động không có tính rủi ro Những rủi ro của các giám đốc là ảnh hưởng xấu đến danh tiếng của họ và thậm chí có thể liên quan đến vấn đề pháp lý Do đó, các nhà quản trị chỉ thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận khi lợi ích mang lại sẽ cao hơn những rủi ro và các chi phí có liên quan Theo Verbruggen và cộng sự (2008), có 5 động cơ cho hành vi quản trị lợi nhuận: thị trường chứng khoán, tiết lộ/che giấu các thông tin, động cơ về pháp lý, tạo hình ảnh tốt của giám đốc điều hành, và những động cơ bên trong

1.2.3.1 Động cơ về thị trường chứng khoán

Đầu tư chứng khoán là một hoạt động chứa đựng rủi ro do đó các nhà đầu tư thường phụ thuộc vào quan điểm và dự báo của các chuyên viên phân tích chứng khoán Vì vậy, việc đón đầu các dự đoán của các chuyên viên phân tích để công bố các thông tin về doanh nghiệp theo như dự đoán của các chuyên viên này là lý do thúc đẩy doanh nghiệp và các nhà quản lý sử dụng điều chỉnh thu nhập nhằm gia tăng các lợi ích mang lại từ việc cổ phiếu lên giá

Việc đón đầu các dự đoán từ các chuyên viên phân tích cũng quan trọng trên góc độ gia tăng giá trị thị trường của công ty niêm yết hoặc làm gia tăng thu nhập cho các nhà quản lý do việc điều hành công ty đáp ứng được các yêu cầu trong kế hoạch đã đặt ra nhất là trường hợp các nhà quản lý có nắm giữ các cổ phiếu của công ty

Động cơ tối đa hóa lợi ích mang lại từ cổ phiếu được thực hiện trong các trường hợp phổ biến như sau:

- Sử dụng điều chỉnh thu nhập theo hướng để giảm các khoản lỗ nhỏ hoặc tránh cho các trường hợp sút giảm về thu nhập so với năm trước, so với

kế hoạch

Trang 27

- Liên quan đến thu nhập của nhà quản lý phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, giá trị thị trường của công ty hoặc việc nắm giữ cổ phiếu của các nhà quản lý

- Liên quan đến các giao dịch nội bộ

- Trong trường hợp phát hành cổ phiếu

Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy rằng hành vi quản trị lợi nhuận được thực hiện trong một số tình huống trong thị trường chứng khoán Cụ thể, chẳng hạn như khi bán cổ phiếu ra công chúng (DuCharme và cộng sự, 2001),

và khi phát hành thêm cổ phiếu (Shivakumar, 2000) Ngược lại với hành vi phát hành cổ phiếu, thì hành vi mua lại cổ phiếu cũng là cách để quản trị lợi nhuận Vafeas và cộng sự (2003) tìm thấy bằng chứng cho rằng các nhà quản

lý làm cho lợi nhuận giảm thông qua các khoản trích trước trước khi mua lại

cổ phiếu Bens và cộng sự (2003), cho rằng giám đốc điều hành của công ty

sử dụng mua lại cổ phiếu như một công cụ quản trị lợi nhuận khi lợi nhuận dưới mức cần thiết để đạt được sự tăng trưởng mong muốn trên mỗi cổ phiếu Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Nguyễn Đình Tuấn và Trần Thị Bích Duyên (2020); Phạm Thị Bích Vân (2017) cung cấp bằng chứng cho thấy phần lớn các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành thêm cổ phiếu

1.2.3.2 Động cơ về tiết lộ/che giấu các thông tin

Điều chỉnh thu nhập đồng nghĩa với việc điều chỉnh các thông tin tài chính để đạt được các mục tiêu Rất khó để các công ty và và nhà quản lý thông tin đến các đối tượng của mình một cách trực tiếp Do đó, họ có thể dùng điều chỉnh thu nhập như là một tín hiệu để thông báo đến các đối tượng này chủ ý của họ Bên cạnh đó việc che dấu thông tin liên quan đến lợi ích cá nhân, che dấu các điểm yếu, các khoản thua lỗ cũng là các động cơ khiến cho các công ty, nhà quản lý sử dụng điều chỉnh thu nhập

Trang 28

Trong nghiên cứu của Rosner (2003) đã cho thấy sự tồn tại của quản trị lợi nhuận có thể chỉ đơn giản là che giấu thông tin Đôi khi thật sự khó khăn cho các doanh nghiệp để đưa ra những mục tiêu trong hoạt động kế toán của mình để tham gia thị trường

1.2.3.3 Động cơ về pháp lý

Các công ty có tầm ảnh hưởng thị trường hoặc các công ty trực tiếp bị điều chỉnh bởi một luật định thường sử dụng điều chỉnh thu nhập nhằm tạo ra các ảnh hưởng đến chính sách hoặc đối phó lại các chính sách Ví dụ, khi chính phủ dự tính các điều chỉnh giảm về thuế suất các công ty thường điều chỉnh thu nhập để cho thấy sự khó khăn của doanh nghiệp để mức thuế mới sẽ điều chỉnh giảm nhiều hơn dự tính Hoặc đối với các điều kiện niêm yết, phát hành thêm chứng khoán cũng dẫn đến việc các công ty sẽ sử dụng điều chỉnh thu nhập để đáp ứng các tiêu chuẩn này

Các nghiên cứu chỉ ra rằng các quy định về pháp lý cũng là động cơ làm xuất hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Haw và cộng sự (2005) đã nghiên cứu quản trị lợi nhuận ngày càng tăng ở Trung Quốc như là một phản ứng với quy định của chính phủ yêu cầu tối thiểu là 10% lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho các công ty muốn phát hành trái phiếu hay chào bán cổ phiếu Johnston

và Rock (2005) đã nghiên cứu hành vi quản trị làm giảm lợi nhuận ở các doanh nghiệp bị đe dọa bởi các luật Superfund

Như là quy định các ngân hàng phải có một khoản tồn quỹ nhất định, hay các công ty bảo hiểm phải có một tình hình tài chính tốt, hay các doanh nghiệp cung cấp các mặt hàng thiết bị thì phải đạt một số chỉ tiêu về tỷsuất sinh lời nhất định (Nguyễn Trí Tri, 2012) Với quy định khắt khe đó có thể dẫn tới các doanh nghiệp trong ngành này khi gặp khó khăn, họ có thể sẽ thao tác để đáp ứng quy định Tương tự, Nguyễn Thị Minh Trang (2012) cũng cho thấy các doanh nghiệp không niêm yết tại Việt Nam có xu hướng điều chỉnh

Trang 29

giảm lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp

1.2.3.4 Động cơ về tạo hình ảnh tốt của giám đốc điều hành

Một giám đốc điều hành mới sẽ có khuynh hướng làm cho thu nhập năm

họ tiếp quản giảm so với những năm liền kề sau đó để chứng tỏ khả năng điều hành của mình Bên cạnh đó việc các giám đốc điều hành trước khi nghỉ cũng

có thể sử dụng điều chỉnh thu nhập nhằm đạt được những lợi ích từ các cổ phiếu nắm giữ hoặc có được vị trí trong Hội đồng quản trị Hoặc là một nhà quản trị của một công ty đang làm ăn thua lỗ sẽ cố gắng điều chỉnh theo xu hướng tăng lợi nhuận để tránh bị sa thải

Có 2 bài nghiên cứu đưa ra bằng chứng về hành vi quản trị lợi nhuận: khi có sự thay đổi của giám đốc điều hành (Godfrey và cộng sự, 2003) và khi các giám đốc điều hành về nghỉ hưu (Reitenga và cộng sự, 2002)

1.2.3.5 Những động cơ bên trong

Trong một công ty, quản trị lợi nhuận giúp thay đổi báo cáo tài chính, hoặc để cấu trúc lại các giao dịch nhằm tránh được những giới hạn tạo ra bởi các dự toán hoặc để đáp ứng được các chỉ tiêu đánh giá thành quả thực hiện Động cơ này có thể xuất phát từ phía nhà quản lý cấp cao để đối phó với các

cổ đông bên ngoài nhưng chủ yếu sẽ rơi vào trường hợp các nhà quản lý cấp trung để tạo ra hiệu quả quản lý như mong đợi từ các cấp trên, để thăng tiến hoặc đạt được các mục tiêu kế hoạch đã đề ra

1.2.4 Các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận

Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận là kế toán theo cơ sở dồn tích Kế toán cơ sở dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp

Nếu lợi nhuận được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong một kỳ sẽ bằng nhau Tuy nhiên, kế toán theo cơ

sở tiền hiện nay được sử dụng để lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Từ đó, lợi

Trang 30

nhuận trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền trình bày trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có một độ vênh Các nhà nghiên cứu kế toán gọi độ vênh đó là tổng biến kế toán dồn tích (Total accruals-TA) và được tính bằng công thức:

tế phát sinh

Các nhà nghiên cứu cho rằng biến DA đại diện cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhưng các nhà nghiên cứu không thể quan sát một cách trực tiếp Vì vậy, các nhà nghiên cứu phải thông qua hai cách: một là xem xét sự lựa chọn chính sách kế toán và hai là tính toán biến NDA

1.2.4.1 Mô hình của Jones (1991)

Theo Jones (1991), phần NDA phụ thuộc vào doanh thu, quy mô của tài sản cố định (nguyên giá) Vì vậy Jones (1991) sử dụng mức biến động về

Trang 31

doanh thu thuần và nguyên giá tài sản cố định để dự đoán phần NDA Mô hình trình bày như sau:

Phần biến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện được xác định theo phương trình sau:

NDA it

= α 1

1 + α 2

∆REV: Doanh thu thuần kỳ t – Doanh thu thuần kỳ t-1

PPEt: Nguyên giá TSCĐ hữu hình

Ait-1: Tổng tài sản cuối kỳ t-1

Các tham số α1, α2, α3 ở mô hình trên được tính bằng ước lượng OLS của a1, a2, a3 trong mô hình sau:

TA it

= α 1

1 + α 2

∆REV it

+ α 3

PPE it

+ ε it

1.2.4.2 Các cải tiến từ mô hình của Jones (1991)

Mô hình của Dechow và cộng sự (1995)

Dechow và cộng sự (1995) đã cải tiến mô hình của Jones (1991) bằng cách điều chỉnh sự thay đổi của doanh thu bằng sự thay đổi của tài khoản nợ phải thu Mô hình được phát triển nhằm giảm sự sai số của mô hình trong việc xác định biến dồn tích bất thường khi nhà quản lý chi phối doanh thu Mô hình Jones (1991) được cải tiến như sau:

Phần biến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện được xác định theo phương trình sau:

Trang 32

NDA it

= α 1

1 + α 2

∆REV it - ∆REC it

+ α 3

PPE it

+ ε it

Trong đó: ∆RECit = Phải thu khách hàng cuối kỳ t – Phải thu khách hàng cuối kỳ t -1; Các tham số α1, α2, α3 ở mô hình trên được tính bằng ước lượng OLS của a1, a2, a3 trong mô hình sau:

TA it

= a 1

1 + a 2

∆REV it - ∆REC it

+ a 3

PPE it

+ ε it

Suy ra phần biến kế toán có thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện được xác định theo phương trình sau:

A it-1 A it-1 A it-1

Dechow và cộng sự (1995) đã chỉ ra rằng mô hình modified Jones đã phát hiện ra hành vi quản trị lợi nhuận tốt hơn so với mô hình Jones (1991) và các mô hình trước đây như mô hình của DeAngelo (1986); Healy (1985) Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng hai mô hình Jones và Modified Jones đã cho kết quả đáng tin cậy về biến dồn tích có thể điều chỉnh (Guay và cộng sự, 1996)

Mô hình của Kothari và cộng sự (2005)

Kothari và cộng sự (2005) đã tiếp tục phát triển mô hình của Dechow và cộng sự (1995); Jones (1991) trên cơ sở xem xét biến về kết quả hoạt động Mục đích của tác giả là nghiên cứu mối quan hệ tuyến tính giữa biến dồn tích

và kết quả hoạt động Mô hình tuyến tính có xem xét kết quả hoạt động của Kothari và cộng sự (2005) như sau:

NDA t

= α 1

1 + α 2

Trang 33

Trong đó: ROAt-1: Tỷsuất lợi nhuận trên tài sản của kỳ t-1

1.2.4.3 Mô hình của Roychowdhury (2006)

Dựa vào nghiên cứu về quan hệ giữa lợi nhuận và dòng tiền của Dechow

và cộng sự (1998), nghiên cứu của Roychowdhury (2006) đã xây dựng mô hình nhận diện ba hành vi REM phổ biến thông qua các mô hình ước tính về dòng tiền hoạt động, chi phí sản xuất và chi phí tùy ý

Trong đó, CFOit là dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh của doanh nghiệp i năm t, ASalesit là chênh lệch doanh thu của doanh nghiệp

I giữa năm t và năm t-1

COGS it

= α 0 +α 1

1 + β

Trong đó, PRODit là chi phí sản xuất phát sinh trong năm doanh nghiệp i năm t; COGSit là giá vốn hàng bán trong kỳ doanh nghiệp i năm t; INVit là biến động giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp i năm t (Roychowdhury, 2006)

Trang 34

DISEXP it

= α 0 +α 1

1 + β

Sales it-1

+ ε it

Trong đó, DISEXPit là chi phí tùy ý (bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển và chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp) của doanh nghiệp i phát sinh trong năm t

Ait-1 là tổng tài sản năm của doanh nghiệp i năm t-1; Salesit-1 là doanh thu phát sinh trong năm doanh nghiệp i năm t-1 (Roychowdhury, 2006)

Sau khi tính toán các hệ số của mô hình này, phần giá trị sai số ngẫu nhiên (chênh lệch giữa giá trị quan sát và giá trị ước tính trung bình thu được

từ mô hình trên) được xem là mức bất thường trong chi phí tùy ý của doanh nghiệp Phần giá trị này không được giải thích bởi các biến trong mô hình và

bị chi phối bởi nhà quản trị, do đó là biến đại diện cho hành vi REM thông qua cắt giảm các chi phí tùy ý

1.3 Lý thuyết nền tảng chi phối hành vi quản trị lợi nhuận

1.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

Lý thuyết đại diện (agency theory) có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế và được phát triển bởi Alchian và Demsetz vào năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976 Lý thuyết đại diện đưa ra một khung

lý thuyết để nghiên cứu ảnh hưởng của động cơ thị trường vốn lên hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản trị các công ty niêm yết

Lý thuyết đại diện lý giải việc khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu với việc quản lý sử dụng nguồn lực dẫn đến vấn đề người quản lý có thể hành

Trang 35

động theo lợi ích riêng của họ nhiều hơn so với lợi ích của chủ sở hữu Jensen

và Meckling (1976) cho rằng lý thuyết đại diện hay còn gọi là lý thuyết ủy quyền (Agency theory) tập trung vào mối quan hệ giữa bên ủy quyền (Principals) với bên đại diện (Agents), theo đó bên đại diện sẽ có một số quyền hạn nhất định dựa trên sự ủy quyền của bên ủy quyền Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột lợi ích sẽ phát sinh khi có sự bất cân xứng thông tin (trạng thái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin - các chủ thể giao dịch có mức

độ nắm giữ thông tin không ngang nhau) giữa bên ủy quyền và bên đại diện Trong mối quan hệ giữa cổ đông và nhà quản lý, thông thường sự bất cân xứng thông tin xảy ra theo chiều hướng nhà quản lý sẽ biết nhiều thông tin hơn cổ đông, chẳng hạn thông tin về khả năng đạt được mục tiêu của công

ty, những rủi ro hiện có của công ty Theo đó, nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích cá nhân thay vì tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Chẳng hạn, các nhà quản lý sợ rủi ro sẽ bỏ qua các cơ hội mang lại lợi nhuận mà trong đó các cổ đông của công ty sẽ thích họ đầu tư, hay các nhà quản lý được trả lương thưởng dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh thì có thể tìm mọi cách để đạt được kết quả kinh doanh tốt với mong muốn nhận được lợi ích từ đó

Trong mối quan hệ giữa chủ nợ và cổ đông công ty, thông thường sự bất cân xứng thông tin xảy ra theo chiều hướng cổ đông công ty sẽ biết nhiều thông tin hơn chủ nợ, chẳng hạn thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, thông tin về khả năng trả nợ vay Nếu công ty sử dụng vốn vay không hiệu quả, có thể dẫn đến rủi ro cho chủ nợ là không thể thu hồi được vốn cho vay Vì vậy, khi quyết định cho vay, các chủ nợ thường đánh giá rủi

ro, mà chủ yếu là dựa vào tình hình tài chính của công ty được thể hiện trên báo cáo tài chính được kiểm toán Một báo cáo tài chính thể hiện kết quả hoạt động tốt thường được các chủ nợ đánh giá là ít rủi ro và ra quyết định cho

Trang 36

vay Và nhà quản trị có thể thực hiện được điều này thông qua việc sử dụng các chính sách kế toán

Như vậy, lý thuyết đại diện giải thích việc người quản lý thực hiện hành

vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính nhằm tối đa lợi ích của mình Lý thuyết đại diện cho rằng hiệu quả giám sát của HĐQT càng cao khi thành viên độc lập càng nhiều (Nicholson và Kiel, 2007), giảm xung đột lợi ích, giảm thiểu chi phí đại diện Epstein và Roy (2010) thừa nhận HĐQT nên họp thường xuyên, năng động cũng như nên có nhiều kỹ năng và kiến thức để duy trì hoạt động trước sức ép xung đột ngày càng tăng Thông qua lý thuyết này, các nhà nghiên cứu tìm kiếm bằng chứng về những nhân tố tác động đến việc

áp dụng các thủ tục, chính sách của NQL, cụ thể như các nghiên cứu của Ball

và Bartov (1996); Leftwich (1981) về các chính sách kế toán tác động đến

LN, các yếu tố tác động đến việc áp dụng các thủ tục và chính sách kế toán phù hợp để thực hiện hành vi QTLN

Áp dụng lý thuyết đại diện giải thích hành vi QTLN

Như vậy tác giả sử dụng lý thuyết đại diện để giải thích vai trò của ban quản trị công ty với quy mô hội đồng quản trị (Boardsize) hiệu quả sẽ làm giảm hành vi QTLN cũng chính là nâng cao chất lượng BCTC

Bên cạnh đó, trong nghiên cứu này, tác giả cũng kỳ vọng rằng các công

ty niêm yết được kiểm toán bởi Big4 sẽ có mức độ quản trị lợi nhuận thấp hơn các công ty niêm yết không được kiểm toán bởi Big4

1.3.2 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependency theory)

Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực được giới thiệu bởi Pfeffer và Salancik (1978) và được sử dụng để giải thích cơ cấu của HĐQT và BKS Lý thuyết này cho rằng các mối quan hệ giữa các bộ phân và sử dụng nguồn lực hiệu quả làm gia tăng chức năng của một tổ chức Xie và cộng sự (2003) cho rằng một HĐQT với số lượng thành viên nhiều; cơ cấu đa dạng về giới tính,

Trang 37

chuyên môn có ưu điểm tận dụng mọi ưu thế mà cơ cấu mang lại như tận dụng được lợi thế về kinh nghiệm, sự hiểu biết xã hội, vốn Một HĐQT lý tưởng nên gồm các thành viên có hiểu biết sâu rộng để có thể tiếp cận mội nguồn lực hữu ích và cần thiết cho công ty (Hillman và Dalziel, 2003) Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực cũng cho rằng một HĐQT đa dạng về cơ cấu, nhiều thành viên độc lập góp phần gia tăng hiệu quả giám sát, cải thiện hoạt động của công ty Alzoubi & Selamat (2012) cho rằng HĐQT, BKS hiệu quả phụ thuộc vào các thành phần: thành viên độc lập, số lượng thành viên, trình

độ chuyên môn Như vậy lý thuyết phụ thuộc nguồn lực cho rằng việc đảm bảo một tổ chức, một bộ phận với đầy đủ thành phần thiết yếu, đa dạng thì bộ phận đó sẽ hiệu quả và một HĐQT đạt hiệu quả khi đáp ứng đầy đủ yêu cầu

về nguồn lực thì thực hiện tốt vai trò kiểm tra, giám sát hoạt động của các NQL

Áp dụng lý thuyết phụ thuộc nguồn lực giải thích hành vi QTLN

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng lý thuyết phụ thuộc nguồn lực để giải thích tác động của HĐQT đến hành vi QTLN Đồng thời, luận văn kỳ vọng quy mô HĐQT với khả năng điều chỉnh nguồn lực đáp ứng tốt vai trò giám sát của mình

1.3.3 Lý thuyết các bên có liên quan (Stakeholder Theory)

Lý thuyết các bên có liên quan (LTCBCLQ) được Freeman giới thiệu vào năm 1984 đã mở ra hướng nhìn khác về các bên có liên quan như: nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, nhà tài trợ, tổ chức lập quy, thậm chí là các đối thủ của công ty Theo lý thuyết này, các doanh nghiệp hoạt động dựa trên lợi ích, nhu cầu và quan điểm của nhiều đối tượng có liên quan

Do đó các NQL khi ra các quyết định điều hành của mình nên cân nhắc lợi ích của các đối tượng có liên quan để đảm bảo quyền lợi cho họ có thể tham gia vào quá trình ra quyết định Lý thuyết các bên có liên quan không

Trang 38

đưa ra các phương pháp tốt nhất để giải quyết lợi ích cho nhóm đối tượng này

mà bỏ qua quyền lợi của nhóm đối tượng khác Ngoài ra, nhà quản lý luôn phải hành động với tư cách là bên đại diện cho các cổ đông và các bên liên quan khác vì họ có tác động đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Áp dụng lý thuyết các bên có liên quan giải thích hành vi QTLN

Hiện nay, nhiều tác giả trong nghiên cứu của mình sử dụng lý thuyết các bên có liên quan để giải thích các vấn đề liên quan đến QTLN như John và Senbet (1998), lý thuyết các bên có liên quan cho rằng HĐQT với số lượng thành viên càng nhiều, cơ cấu càng đa dạng về giới tính, đa dạng về trình độ chuyên môn thì phù hợp và tạo điều kiện tăng sự liên kết giữa các thành phần giúp gia tăng hiệu quả giám sát Đồng thời nghiên cứu của Baker và Wurgler (2002) cũng vận dụng lý thuyết các bên có liên quan để giải thích vai trò giám sát của kiểm toán viên bên ngoài nhằm đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên liên quan

Đồng thời, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng lý thuyết các bên có liên quan để giải thích sự ảnh hưởng của cơ cấu vốn điển hình là hệ số nợ (đòn bẩy tài chính) đến QTLN Nhà quản lý phải dung hòa tất cả các lợi ích liên quan đến hợp đồng vay nợ, đó là lợi ích của chủ nợ nên để đảm bảo không vi phạm các điều khoản trong hợp đồng cũng như sự tin tưởng từ chủ

nợ, tác giả cho rằng nhà quản lý bắt buộc phải duy trì mức lợi nhuận cao nên những công ty nào có hệ số nợ càng cao thì hành vi QTLN càng cao

1.3.4 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)

Lý thuyết tín hiệu được nhắc đến từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, đến năm 1973, Spence tiến hành nghiên cứu thị trường lao động và đưa ra lý thuyết tín hiệu thông qua kết quả của nghiên cứu, người lao động muốn tìm được việc làm cần phát tín hiệu, nghĩa là cung cấp thông tin cá nhân đến thị trường lao động để bộc lộ khả năng của mình Sau đó, Bini và các cộng sự

Trang 39

(2010) cho rằng các công ty có khả năng sinh lợi cao sẽ cung cấp tín hiệu thông qua các thuyết minh nhằm tăng sức cạnh tranh của mình Như vậy, lý thuyết tín hiệu dựa trên nền tảng thông tin bất cân xứng, nghĩa là khi có sự bất cân xứng thông tin thì bên nắm giữ thông tin cần phát tín hiệu cho bên cần thông tin nhằm đạt được một mục tiêu nào đó Trong công ty cổ phần, thông tin bất cân xứng xuất hiện trong quan hệ nhà quản lý với các cổ đông và trong quan hệ doanh nghiệp với các bên liên quan

Áp dụng lý thuyết tín hiệu giải thích hành vi QTLN

Charfeddine và cộng sự (2013) tìm ra nguyên nhân nhà quản lý sử dụng thông tin bất cân xứng để QTLN Đồng thời nghiên cứu này cũng đề cập đến các giải pháp để hạn chế thông tin bất cân xứng, giảm hành vi QTLN thông qua việc công bố nhiều thông tin hơn trên thị trường chứng khoán

Theo Ross, lý thuyết tín hiệu cho rằng, nhà quản trị các công ty sử dụng tín hiệu tốt như là công cụ bắn tín hiệu đến thị trường về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của họ Trong số các tín hiệu thì có tín hiệu về tài chính như hệ số nợ, chỉ tiêu khả năng sinh lời, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận kế toán, quy mô công ty…

Hiện nay, tại thị trường chứng khoán Việt Nam, hiện tượng thông tin bất cân xứng rất phổ biến, điển hình là các công ty tìm cách QTLN, che giấu các thông tin bất lợi, thổi phồng các thông tin có lợi với mục đích làm “mờ mắt” nhà đầu tư Do đó nhà đầu tư với thông tin bất cân xứng đã ra các quyết định sai lệch gây ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư đối với thông tin trên BCTC, vì vậy HĐQT và ban kiểm soát với vai trò giám sát đối với hoạt động của ban điều hành nhằm giảm tình trạng thông tin bất cân xứng

Lý thuyết tín hiệu là cơ sở lý thuyết rất quan trọng không thể thiếu của luận văn khi chúng ta muốn tìm hiểu và giải thích hiện tượng bất cân xứng thông tin tồn tại giữa một bên cung cấp thông tin kế toán thông qua các báo

Trang 40

cáo (BCTC, báo cáo thường niên, báo cáo quản trị ) và một bên là những đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam

1.4 Cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi

nhuận

1.4.1 Quy mô hội đồng quản trị

Carcello và cộng sự (2006) nhận định rằng tính hiệu quả của QTCT làm giảm hành vi QTLN Quản trị công ty của một đơn vị có hiệu quả hay không phụ thuộc hoàn toàn vào HĐQT và BKS (Alzoubi & Selamat, 2012) HĐQT thay mặt các cổ đông trong công ty thực hiện vai trò giám sát hoạt động của người quản lý điều hành, ngăn ngừa xung đột lợi ích giữa cổ đông và ban điều hành, bảo toàn vốn cho các cổ đông Chính vì vậy HĐQT không tham gia điều hành, can thiệp vào công việc hằng ngày của Ban giám đốc mà chỉ giám sát, nêu ý kiến thông qua kế hoạch, chiến lược kinh doanh đã được thông qua bởi Đại hội đồng cổ đông

Fama (1980); Fama và Jensen (1983) cho rằng HĐQT là đặc điểm quan trọng của cấu trúc QTCT và họ lập luận rằng thành lập một HĐQT hiệu quả phụ thuộc vào thành phần của nó Do đó chức năng giám sát của HĐQT, BKS đạt hiệu quả cao phụ thuộc SLTV TVĐL, trình độ chuyên môn, SLH (Abbott

và cộng sự, 2004; Carcello và cộng sự, 2006; Chen & Zhou, 2007; Ronen & Yaari, 2008) Để ra các quyết định của mình, các cổ đông hoàn toàn dựa vào thông tin trên BCTC, do đó họ hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động giám sát của HĐQT đối với NQL, và vì thế hiệu quả giám sát của HĐQT càng cao thì chất lượng BCTC càng cao (Abbott và cộng sự 2004) Một số nghiên cứu của Zahra & Pearce (1989); Alzoubi & Selamat (2012), cho rằng hiệu qủa của HĐQT phụ thuộc vào số lượng TVĐL, SLTV, trình độ chuyên môn của HĐQT

Ngày đăng: 22/11/2021, 19:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w