TRẦN THỊ HÀ TUYÊN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỪ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM SANG CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC
Trang 1TRẦN THỊ HÀ TUYÊN
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỪ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM SANG
CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC – TRANG THIẾT BỊ
Y TẾ BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
BÌNH ĐỊNH – NĂM 2020
Trang 2TRẦN THỊ HÀ TUYÊN
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỪ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM SANG
CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC – TRANG THIẾT BỊ
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài “ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi báo cáo tài chính từ Chuẩn mực kế toán Việt Nam sang Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định” được tiến hành công khai, dựa trên sự cố gắng, nỗ lực dưới sự hướng dẫn của giảng viên TS Nguyễn Ngọc Tiến cùng với sự giúp đỡ của Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài trung thực và hoàn toàn không sao chép hoặc sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài nào tương tự Nếu phát hiện bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Bình Định, ngày tháng 7 năm 2020
Tác giả đề tài
Trần Thị Hà Tuyên
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, kế toán không còn là vấn đề mang tính nội tại, riêng biệt của từng quốc gia Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu đa dạng của doanh nghiệp cũng như các nhà đầu
tư, các quốc gia thường cho phép các doanh nghiệp lựa chọn Chuẩn mực BCTC quốc gia hoặc Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) khi lập và trình bày BCTC Theo tài liệu của Ủy ban Chuẩn mực BCTC quốc tế (IASB), tính đến nay đã có 131/143 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm tỷ lệ 93% các nước được IASB khảo sát) đã tuyên bố về việc cho phép áp dụng IFRS dưới các hình thức khác nhau
IFRS là bộ Chuẩn mực do IASB ban hành, quy định về việc lập và trình bày các BCTC của doanh nghiệp, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn đa quốc gia, thì đòi hỏi sớm hoặc muộn các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần thực hiện việc lập BCTC của mình theo IFRS để nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư
Hiện nay, Bộ Tài chính đang thực hiện đề án áp dụng IFRS tại Việt Nam Theo lộ trình triển khai áp dụng IFRS (chuẩn mực BCTC quốc tế), Bộ Tài chính đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện Đề án, như: Ban hành Thông tư hướng dẫn việc áp dụng IFRS, công bố bản dịch IFRS từ tiếng Anh sang tiếng Việt; xây dựng và ban hành các tài liệu hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ thực hiện IFRS; bổ sung, sửa đổi và ban hành mới
cơ chế tài chính liên quan đến việc áp dụng IFRS; đào tạo nguồn nhân lực, quy trình triển khai cho các doanh nghiệp
Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định là công ty có
Trang 5quy mô lớn của tỉnh Bình Định với nhiều chi nhánh ở Việt Nam và chi nhánh nước ngoài, công ty có 04 công ty con và 01 công ty liên kết Đến năm 2022, Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định là một trong những
doanh nghiệp của tỉnh Bình Định đủ điều kiện áp dụng BCTC quốc tế
Tuy nhiên, trước khi triển khai IFRS tại doanh nghiệp, doanh nghiệp và các đơn vị thành viên phải đối mặt với rất nhiều thách thức Các thách thức đối với việc chuyển đổi IFRS là từ vấn đề về vốn, nhân lực, chế độ kế toán đang áp dụng tại doanh nghiệp Do đó, việc chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực
kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế hiện nay tại doanh nghiệp còn nhiều hạn chế Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi báo cáo tài chính từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định” để làm
đề tài cho luận văn tốt nghiệp với mong muốn tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC theo IFRS tại doanh nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp để khắc chế các hạn chế từ sự ảnh hưởng đó đến doanh nghiệp trong thời gian tới
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu trong nước
Nhận thức được tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC quốc tế, các nhà nghiên cứu trong nước cũng có các công trình nghiên cứu liên quan ở các doanh nghiệp, ở nhiều lĩnh vực, ngành hàng khác nhau Sau đây, tác giả tổng hợp một số các nghiên cứu có liên quan:
(1) Phan Thị Hồng Đức (2017) nghiên cứu nhu cầu xây dựng chương trình đào tạo IFRS, để cung cấp nhân sự am hiểu IFRS cho các doanh nghiệp trên toàn quốc là rất lớn và cấp thiết Để có thể đảm bảo nhu cầu nhân sự về IFRS cho toàn quốc đòi hỏi cần có sự hợp tác và nỗ lực của tất cả các hội
Trang 6nghề nghiệp, cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo Các Hội nghề nghiệp liên kết với các trường đại học để cùng giải quyết nhu cầu đào tạo IFRS không những cho người đang hành nghề kế toán muốn cập nhật IFRS, mà còn cho cả sinh viên là những kế toán viên trong tương lai Nếu Việt Nam tiếp nhận IFRS thì sẽ có sự thay đổi đáng kể trong đào tạo và bồi dưỡng kế toán Hầu hết, các trường dạy kinh doanh và các chương trình đào tạo kế toán đều thiếu giảng viên có bằng cấp và kinh nghiệm IFRS để dạy tốt IFRS Ngoại trừ những kiểm toán viên làm việc cho các công
ty kiểm toán lớn như Big Four, phần lớn kiểm toán viên làm việc trong các công ty kiểm toán tư nhân và nội địa chưa từng được đào tạo để kiểm BCTC làm theo IFRS [1].
(2) Nguyễn Đăng Huy (2017) nghiên cứu thực trạng về sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế Khi xây dựng các chuẩn mực kế toán, quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là tuân thủ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế, tuy nhiên, chuẩn mực kế toán Việt Nam còn những điểm cần hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế Để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về kế toán, phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế của đất nước, nước ta cần tiến hành một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, bao gồm cả giải pháp trực tiếp đối với hệ thống chuẩn mực
kế toán và giải pháp thuộc về môi trường kinh tế pháp luật [2].
(3) Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hiệp (2018), về “Phương pháp chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế Nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp Việt Nam” Kết quả nghiên cứu của luận văn về xác lập và đo lường mức độ ảnh hưởng của năm nhân tố (Hội nhập kinh tế, Hệ thống pháp luật, Môi trường văn hóa, Hỗ trợ của nhà quản trị và Trình độ chuyên môn người làm kế toán) đến chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toánViệt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế, từ đó
Trang 7luận văn gợi ý kiến nghị các chính sách tác động và hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức đào tạo, cũng như hàm ý về mặt quản trị của các doanh nghiệp Việt Nam tác động đến những nhâ tố này, nhằm giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong công tác chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực
kế toánViệt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế [3].
(4) Đỗ Đức Tài và Trần Thị Dự (2017) nghiên cứu sự khác biệt về BCTC của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo kế toán Việt Nam và
kế toán quốc tế, kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố văn hóa có ảnh hưởng đến sự khác biệt này Theo tác giả để giảm khác biệt nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài các cơ quan ban ngành cần nâng cao vai trò của tổ chức nghề nghiệp kế toán trong việc tham gia và công tác xây dựng văn bản pháp luật trong lĩnh vực kế toán [4].
(5) Trần Quốc Thịnh, Dương Hoàng Ngọc Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Oanh (2016) kết luận rằng kinh tế, pháp lý, văn hóa và chính trị tác động đáng
kể đến vận dụng IFRS của các quốc gia Các nghiên cứu khuyến nghị Việt Nam cần tiến hành giải pháp trực tiếp đối với hệ thống kế toán hiện hành, chú
ý yếu tố như kinh tế, hệ thống pháp lý, trình độ giáo dục và văn hóa Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng lại tổng hợp nghiên cứu trước và chưa thực hiện được nghiên cứu thực nghiệm cụ thể nào [5].
Từ những nghiên cứu trong nước trên cho thấy các tác giả chủ yếu
nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nói chung dựa trên những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa ở Việt Nam, chưa đi sâu vào nghiên cứu doanh nghiệp cụ thể nào
Nghiên cứu nước ngoài
(1) “Ảnh hưởng của vận dụng IFRS vào BCTC: ở Ý và Đức” là nội dung nghiên cứu của Michela Cordazzo (2013)[14], tác giả nghiên cứu những
Trang 8ảnh hưởng của bắt buộc vận dụng IFRS vào BCTC ở Ý và Đức Tác giả đã nghiên cứu về ảnh hưởng toàn bộ và từng phần lên BCTC khi chuyển đổi, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến số liệu kế toán như là: thu nhập thuần, vốn chủ sở hữu, lợi ích của nhân viên, tài sản vô hình, hợp nhất kinh doanh,
dự phòng Trong nghiên cứu này, tác giả nhấn mạnh đến những công ty ở Ý
và Đức khi chuyển đổi có những khác biệt và tương đồng, phân tích 35 CTNY (17 công ty ở Ý và 18 công ty ở Đức) Kết quả nghiên cứu cho thấy về tổng thể không có khác biệt trọng yếu, nhưng thu nhập thuần sau khi vận dụng IFRS có ảnh hưởng ở Ý hơn Đức Với những điều chỉnh kế toán, sự ảnh hưởng lớn nhất đến lợi ích nhân viên, dự phòng và tài sản cố định cả những công ty ở Đức và Ý
(2) Ở Cộng hòa Séc, khác biệt giữa CMKT quốc gia và IFRS được nghiên cứu bởi Struharo Katerina (2010)[15] Tác giả nghiên cứu ảnh hưởng đến BCTC khi chuyển đổi BCTC từ CMKT quốc gia sang IFRS cho các công
ty ở Cộng hòa Séc, tác giả nghiên cứu lý do chuyển đổi và những khác biệt trọng yếu giữa CMKT của Cộng hòa Séc và IFRS cũng như những vấn đề liên quan đến chuyển đổi BCTC sang IFRS Kết quả nghiên cứu cho thấy chuyển đổi BCTC sang IFRS ảnh hưởng đến thông tin trên BCTC là do khác biệt giữa hai hệ thống CMKT và liên quan đến tình hình tài chính của công ty
(3) Costin (2015) [16] nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi BCTC sang IFRS của các công ty bảo hiểm ở Romania Những khó khăn khi chuyển đổi sang IFRS ở Romania, cụ thể là chuyển đổi BCTC ở lĩnh vực ngân hàng và thị trường bảo hiểm ở Romania Tác giả cho thấy được ảnh hưởng chung của
kế toán trong việc chuyển đổi và ảnh hưởng số liệu kế toán của các công ty bảo hiểm khi chuyển đổi, ảnh hưởng đến cổ đông và những đối tượng khác có liên quan đến công ty Tác giả phân tích số liệu BCTC của 10 công ty bảo hiểm đã vận dụng IFRS, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc chuyển đổi
Trang 9ảnh hưởng đến rủi ro quản lý của công ty bởi vì cần đến những người có đủ kiến thức IFRS để xử lý những kỹ thuật phức tạp khi chuyển đổi, cần phân tích nhiều thông tin và dữ liệu, cần thời gian để kiểm tra, phân tích kết quả, cần phải chuyển đổi hệ thống và dữ liệu để đáp ứng việc chuyển đổi theo yêu cầu của IFRS
(4) Chen Huifa và cộng sự (2010)[17] nghiên cứu vai trò của IFRS đến chất lượng kế toán, dẫn chứng các nước khối liên minh Châu Âu Nhóm tác giả nghiên cứu so sánh chất lượng kế toán của các CTNY công khai ở 15 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu (EU) trước và sau khi áp dụng IFRS năm 2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng BCTC được cải thiện sau khi vận dụng IFRS tại EU, các doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn, chất lượng kế toán được cải thiện là do vận dụng IFRS chứ không phải là thay đổi về đặc điểm thể chế của thị trường vốn và môi trường kinh doanh
(5) Nghiên cứu của Fatma Zehri và Jamel Chouaibi (2013)[18]
“Adoption determinants of the International Accounting Standards IAS/IFRS
by the developing countries” Hai tác giả nhận ra rằng còn hạn chế những nghiên cứu đối với việc thông qua IFRS tại các nước đang phát triển Đã từng
có một nghiên cứu của Zeghal và Mhedhbi (2006)[18] tập trung vào yếu tố quyết định áp dụng IAS/IFRS ở các nước đang phát triển Trong thực tế, nghiên cứu của họ có kiểm tra một mẫu tạo thành từ 32 nước đang phát triển
có thông qua IAS và 32 quốc gia khác không áp dụng Trên thực tế, họ kết luận rằng những nước đang phát triển có thị trường vốn, trình độ học vấn cao
và tăng trưởng kinh tế cao có nhiều xu hướng áp dụng IFRS
Những nghiên cứu ở nước ngoài cũng cho thấy các tác giả tiến hành
khảo sát ở nhiều quốc gia, đa dạng các lĩnh vực, mà mỗi quốc gia áp dụng chế
độ kế toán khác nhau phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị của
Trang 10mỗi nước, từ đó kết luận nghiên cứu chưa thể hiện rõ việc ảnh hưởng nhiều hay ít, mức độ ảnh hưởng như thế nào đến các doanh nghiệp Việt Nam
Kết luận nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Có thế thấy rằng, tại Việt Nam cũng như quốc tế, đã có nhiều nghiên cứu về việc chuyển đổi BCTC quốc tế ở các doanh nghiệp bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau (định tính, định lượng, định tính kết hợp định lượng); trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau (ngành xây dựng, ngành điện,…); quy mô doanh nghiệp khác nhau (doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp lớn,…); phạm vi nghiên cứu tại các địa phương khác nhau đã xây dựng nên lượng thông tin đáng kể làm nền tảng ứng dụng cho đội ngũ quản lý doanh nghiệp
Qua việc tổng kết những nghiên cứu liên quan đã được công bố giúp đề tài phát hiện được những điểm tương đồng và tìm ra những khe hổng, những điểm chưa phù hợp của những nghiên cứu trước với điều kiện về tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất tại Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định, từ đó giúp tác giả thay đổi, bổ sung các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi BCTC sang IFRS phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp được khảo sát
3 Mục tiêu nghiên cứu
Với mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến việc chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế tại Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định để qua đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm giúp Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định thuận lợi hơn trong việc lập BCTC theo chuẩn mực BCTC quốc tế
Từ mục tiêu tổng quát nêu trên, mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn được xác định như sau:
Trang 11Thứ nhất, bản chất của chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực
BCTC quốc tế như thế nào để làm cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu
Thứ hai, mô hình nghiên cứu nào sẽ phù hợp để nghiên cứu về các
nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế tại Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết
bị y tế Bình Định
Thứ ba, thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC
từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế tại Công ty
Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định như thế nào và hàm ý chính sách nào là phù hợp để hoàn thiện việc chuyển đổi sang chuẩn mực BCTC quốc tế tại Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu luận văn xác định cần phải trả lời
được hai câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC
từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế tại Công ty
Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định?
Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chuyển đổi BCTC
từ chuẩn mực kế toánViệt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế tại Công ty
Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định như thế nào?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế tại Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định
Phạm vi nghiên cứu: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC quốc tế, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó và đưa ra những giải pháp làm giảm những ảnh hưởng của các yếu tố đó trong quá trình triển khai
Trang 12thực hiện việc chuyển đổi
- Không gian: Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định
và các công ty thành viên
- Thời gian: Dữ liệu do tác giả tiến hành khảo sát năm 2020 từ Công ty
Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định và các công ty thành viên
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đầu tiên tác giả tham khảo và kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó về các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC quốc tế Tiếp theo, tác giả thực hiện phỏng vấn với một số chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực kế toán để xác định các nhân tố chính thức trong mô hình nghiên cứu có ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu (phương pháp định tính) Phương pháp định lượng được tác giả sử dụng là các công cụ phân tích cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy đa biến để giúp tác giả xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố trong mô hình nghiên cứu, qua đó xác định được nhân tố nào
có ảnh hưởng cao nhất và thấp nhất trong các nhân tố đề xuất
7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác lập và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi BCTC theo IFRS tại Công
ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định gồm các nhân tố: Quy mô doanh nghiệp; Các đơn vị thành viên; Năng lực người làm kế toán; Quan điểm nhà quản trị; Chế độ kế toán; Yêu cầu các bên liên quan Đồng thới, qua kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kiến nghị các chính sách tác động
và hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức đào tạo, cũng như hàm ý về mặt quản trị của các doanh nghiệp Việt Nam tác động đến những
Trang 13nhân tố này, nhằm giúp Công ty Cổ phần Dược – Trang thiết bị y tế Bình Định thuận lợi hơn trong công tác chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế trong thời gian tới
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương: Chương 1: Cở sở lý thuyết của nghiên cứu
Chương 2: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM
1.1.1 Quá trình phát triển của chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trước khi mở cửa hội nhập, Việt Nam không có chuẩn mực kế toán mà chỉ có chế độ kế toán Chế độ kế toán là các quy định do doanh nghiệp Nhà Nước ban hành chủ yếu để hướng dẫn các doanh nghiệp Nhà nước và Hợp tác
xã thực hiện công tác kế toán
- Từ năm 1954 đến 1970: Miền bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của hệ thống kế toán Trung Quốc với các chế độ kế toán quy định cách thức ghi chép các nghiệp vụ cho các đối tượng cụ thể (ví dụ Chế độ kế toán xí nghiệp công nghiệp và Chế độ kế toán kiến thiết cơ bản được ban hành năm 1957) Tại miền Nam, trong giai đoạn 1954 – 1975, hệ thống kế toán Pháp theo tổng hoạch đồ vẫn được các doanh nghiệp sử dụng Lý do là mặc dù chi phối nhiều đến chính trị, quân sự và kinh tế nhưng Hoa Kỳ không đưa hệ thống quản lý của họ vào Việt Nam vì ảnh hưởng của các doanh nghiệp châu
Âu vào Việt Nam còn rất lớn thời bấy giờ
- Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, hệ thống kế toán thống nhất
1970 được tiếp tục sử dụng trong cả nước cho đến khi Việt Nam tiến hành đổi mới Trong xu hướng chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Nhà nước đã có nhiều thay đổi trong chính sách kế toán nhằm nâng cao tính pháp lý trong quản lý kinh tế như ban hành Pháp lệnh kế toán thống kê (1988) Trong thời gian này, đây là văn bản pháp lý cao nhất về
kế toán và thống kê của Việt Nam Hệ thống kế toán đầu tiên thể hiện hướng cải cách này được áp dụng năm 1990 Một số nội dung mới phù hợp với yêu
Trang 15cầu của nền kinh tế mới phát sinh như chênh lệch tỷ giá đã được đưa vào kế toán thời kỳ này dù chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn ghi chép trên tài khoản
- Quá trình thực hiện chính sách đa phương hóa về ngoại giao và kinh
tế những năm sau đó thúc đẩy những đổi mới trong nhiều lĩnh vực Luật Đầu
tư nước ngoài đầu tiên được ban hành năm 1987 đã thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp mạnh mẽ vào Việt Nam cũng như sự du nhập của các hệ thống kế toán nước ngoài vào Việt Nam Hoạt động kinh tế phong phú hơn với nhiều thành phần kinh tế và các giao dịch mới đòi hỏi phải có những thay đổi mạnh
mẽ hơn nữa trong kế toán
- Trong quá trình hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới đòi hỏi những bước cải cách mới trong kế toán Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) và những chuẩn bị cần thiết cho hệ thống kế toán Việt Nam được đặt ra cho Bộ Tài chính Được sự trợ giúp của EU, Việt Nam bắt đầu triển khai nghiên cứu và soạn thảo các chuẩn mực kế toán Việt Nam từ năm 1999 Trong gần 7 năm sau đó, cho đến năm
2006, Việt Nam đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam trên nền tảng các chuẩn mực kế toán quốc tế của IASB Các chuẩn mực được ban hành từng đợt dưới hình thức một quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, mỗi đợt ban hành chuẩn mực kèm theo một thông tư hướng dẫn để áp dụng vào hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp theo Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp Năm 2006,
Bộ Tài chính ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp mới theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày tích hợp toàn bộ những yêu cầu của 26 chuẩn mực kế toán đã ban hành Năm 2014, Bộ Tài chính đã chính thức ban hành Thông tư 202/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 về hướng dẫn lập và trình bày BCTC hợp nhất
Trang 161.1.2 Chuẩn mực chung và chuẩn mực trình bày BCTC theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Chuẩn mực kế toán là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên BCTC Sự ra đời của chuẩn mực kế toán giúp minh bạch thông tin trên BCTC của doanh nghiệp, có khả năng phản ánh đúng về thực trạng của doanh nghiệp và cơ sở để so sánh tình hình tài chính giữa doanh nghiệp với nhau
Chuẩn mực kế toán gồm hai nguyên tắc, với nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, nguyên tắc cụ thể được hình thành
và xây dựng từ các các quy định của tổ chức quản lý
1.1.2.1 Chuẩn mực chung (VAS 01)
Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc
và yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của BCTC của doanh nghiệp
Trong hệ thống CMKT Việt Nam, Chuẩn mực chung (VAS 1) quy định
và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của BCTC doanh nghiệp Chuẩn mực chung quy định các vấn
đề chung, làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện các CMKT và chế độ kế toán cụ thể theo khuôn mẫu thống nhất; được xem là bộ khung để xây dựng các chuẩn mực mới và xem xét các chuẩn mực hiện hành Chuẩn mực chung không thay thế các CMKT cụ thể, khi thực hiện thì căn cứ vào CMKT cụ thể Trường hợp CMKT cụ thể chưa quy định thì thực hiện theo Chuẩn mực chung
Các nguyên tắc kế toán cơ bản trong nội dung Chuẩn mực chung (VAS01) bao gồm: cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng và trọng yếu Các yêu cầu cơ bản đối với kế toán trong nội dung Chuẩn mực chung bao gồm: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ
Trang 17hiểu và có thể so sánh
Các yếu tố của BCTC trong nội dung Chuẩn mực chung (VAS 01) hướng dẫn cụ thể về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp như sau:
- Tình hình tài chính
Các yếu tố có liên quan trực tiếp đến việc xác định và đánh giá tình hình tài chính là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu Những yếu tố này được định nghĩa như sau:
Tài sản: Là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai;
Nợ phải trả: Là nghĩa vụ hiện tại của doann nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình;
Vốn chủ sở hữu: Là giá trị vốn của doanh nghiệp, được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị tài sản của doanh nghiệp trừ (-) Nợ phải trả
- Tình hình kinh doanh
Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí Doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận là các tiêu chí phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố doanh thu, thu nhập khác và chi phí được định nghĩa như sau:
Doanh thu và thu nhập khác: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ động hoặc chủ sở hữu
Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc
Trang 18phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu
1.1.2.2 Chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính (VAS 21)
Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các yêu cầu và nguyên tắc chung về việc lập và trình bày BCTC gồm: Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập BCTC; kết cấu và nội dung chủ yếu của các BCTC
Chuẩn mực VAS 21 quy định các nội dung sau:
- Mục đích của BCTC
Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt mục đích này BCTC phải cung cấp những thông tin của
một doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả; Vốn chủ sở hữu; Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; Các luồng tiền
- Yêu cầu lập và trình bày BCTC
BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các BCTC phải được lập và trình bày trên
cơ sở tuân thủ các CMKT, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành của Việt Nam Doanh nghiệp cần nêu rõ trong phần thuyết minh BCTC
là BCTC được lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam BCTC được coi là lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam nếu BCTC tuân thủ mọi quy định của từng chuẩn mực và chế
độ kế toán hiện hành hướng dẫn thực hiện CMKT Việt Nam của Bộ Tài chính Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chính sách kế toán khác với quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam, không được coi là tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, mặc dù đã thuyết minh đầy đủ trong chính
Trang 19sách kế toán cũng như trong phần thuyết minh BCTC
- Nguyên tắc lập và trình bày BCTC gồm: Hoạt động liên tục, cơ sở
dồn tích, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ
- Kết cấu và nội dung chủ yếu của BCTC
Những thông tin chung về doanh nghiệp gồm tên, địa chỉ doanh nghiệp báo cáo; là BCTC riêng hay hợp nhất; Kỳ và ngày lập báo cáo; Đơn vị tiền tệ
trong báo
Kỳ báo cáo: BCTC phải được lập ít nhất cho từng kỳ kế toán, trường hợp thay đổi phải nêu rõ lý do
Bảng CĐKT: cách thức trình bày các yếu tố thông tin trên Bảng cân đối
kế toán phải Phân biệt tài sản (hoặc nợ phải trả) ngắn hạn, dài hạn; Tài sản ngắn hạn, dài hạn; Nợ phải trả ngắn hạn, dài hạn và yêu cầu các thông tin khác phải trình bày trên bảng CĐKT theo quy định của Chuẩn mực số 21
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: yêu cầu các thông tin trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo quy định của Chuẩn mực số 21
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: được lập và trình bày theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 24 (VAS 24) "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ" BCLCTT yêu cầu trình bày thông tin về sự thay đổi của tiền và các khoản tương đương tiền của đơn vị BCLCTT phân chia dòng tiền trong kỳ theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính
Bản thuyết minh BCTC: Đưa ra các thông tin về cơ sở dùng để lập BCTC và các chính sách kế toán cụ thể được chọn và áp dụng đối với các giao dịch và các sự kiện quan trọng; Trình bày các thông tin theo quy định của các chuẩn mực kế toán mà chưa được trình bày trong các BCTC khác; Cung cấp thông tin bổ sung chưa được trình bày trong các BCTC khác, nhưng lại cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý; Bản TMBCTC phải được trình bày một cách có hệ thống Mỗi khoản mục trong bảng CĐKT,
Trang 20BCKQHĐKD và báo cáo LCTT cần được đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong Bản TMBCTC
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VÀ CHUẨN MỰC BCTC QUỐC TẾ
1.2.1 Quá trình phát triển của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực BCTC quốc tế
1.2.1.1 Quá trình phát triển của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
Chuẩn mực kế toán quốc tế là những quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc, phương pháp kế toán có tính khuôn mẫu, nền tảng chung cho các quốc gia trong việc ghi chép và trình bày hệ thống BCTC Cho đến nay, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế đã được thiết lập bao gồm: hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS - International Accounting Standards) cho khu vực
tư nhân (private sector), hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế (International Public Sector Accounting Standards – IPSAS), hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày BCTC (IFRS – International Financial Reporting Standards)… Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được chấp nhận rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và trở thành ngôn ngữ kế toán chung cho các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và đang phát triển
Ủy Ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) là cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống CMKT quốc tế Tổ chức độc lập này được thành lập năm 1973, gồm đại diện của 13 nước thành viên trực thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), đại diện của 03 tập đoàn kinh tế lớn và một số quan sát viên độc lập (IASC, 1998)
Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường, nền kinh tế của từng quốc gia phát triển tương đối độc lập với nhau, các liên kết kinh tế chưa hình thành hoặc không đáng kể thì hệ thống thông tin kế toán của mỗi đơn vị kế toán nói riêng và mỗi quốc gia nói chung thể hiện đầy đủ nhất tính đa dạng đó
Trang 21Tuy nhiên, xu thế hội nhập về kinh tế và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tạo ra nhu cầu tất yếu của việc quốc tế hóa hoạt động kế toán và kiểm toán
Sự di chuyển và quốc tế hóa các nguồn lực kinh tế của từng quốc gia, doanh nghiệp đã đòi hỏi kế toán và kiểm toán phải đi trước một bước, kế toán của các nước phải có chung một mục tiêu, đối tượng phục vụ và chung một “ngôn ngữ giao tiếp” Chuẩn mực kế toán quốc tế được hình thành để đáp ứng nhu cầu này
1.2.1.2 Quá trình phát triển của chuẩn mực BCTC quốc tế
Bộ IAS (IAS -International Accounting Standards) được Uỷ ban IAS (IASC) xây dựng và phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 70 cho đến năm
2000 Năm 2001, Ban IAS (IASB) được thành lập, dựa trên nền tảng của Ủy ban IAS IASC, nhưng với một cơ cấu tổ chức chặt chẽ và độc lập hơn Mục tiêu của IASB là hình thành một hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) phục
vụ cho lợi ích chung, chất lượng cao, dễ hiểu và có thể áp dụng trên toàn thế giới và yêu cầu thông tin trên BCTC phải rõ ràng, có thể so sánh, nhằm giúp những người tham gia vào các thị trường vốn khác nhau trên thế giới cũng như các đối tượng sử dụng thông tin khác ra quyết định kinh tế Với mục tiêu
đó, IASB đã xây dựng bộ chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS-International Financial Reporting Standards) với mục đích là để từng bước thay thế các IAS cho phù hợp với những thay đổi mới, theo kịp với tình hình mới khi môi trường kinh tế tài chính, cũng như hoạt động của DN có những biến đổi và phát sinh nhiều hoạt động mới Bộ chuẩn mực mới được hoàn thiện dần dần cho đến năm 2005, khi Nghị viện khối Liên minh Châu Âu chỉ định IFRS là CMKT cho các công ty cổ phần trong các nước khối Liên minh Châu Âu và
đã được chấp nhận trên toàn thế giới Tính đến thời điểm hiện nay, ISAB đã xây dựng 43 IAS/IFRS (bao gồm cả IFRS cho các DN vừa và nhỏ) trong đó
có 27 IAS và 16 IFRS
Trang 221.2.2 Khuôn khổ chung và trình bày BCTC theo hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
1.2.2.2 Trình bày BCTC theo hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
Chuẩn mực trình bày BCTC (IAS 1) đưa ra khuôn khổ chung cho việc trình bày mục tiêu chung BCTC bao gồm các hướng dẫn cấu trúc và nội dung tối thiểu
- Hệ thống BCTC theo IAS 1 gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh và thu nhập toàn diện trong kỳ, có thể trình bày kết quả hoạt động kinh doanh trong hai báo cáo là BCKQHĐKD và Báo cáo thu nhập toàn diện khác; Báo cáo thay đổi vốn nguồn chủ sở hữu (BCTĐNVCSH); Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT); Các thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC), bao gồm thuyết minh về các chính sách kế toán chủ yếu và các thuyết minh khác; Thông tin so sánh với các kỳ trước; BCĐKT tại thời điểm đầu của kỳ so sánh gần nhất khi đơn vị áp dụng hồi tố chính sách kế toán hoặc thực hiện việc điều chỉnh hồi tố đối với một số khoản mục trên BCTC hoặc khi đơn vị thực hiện phân loại lại các khoản mục trên BCTC
Trang 23- Nguyên tắc lập và trình bày BCTC: Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích,
nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ và có thể so sánh
- Kết cấu và nội dung chủ yếu:
Những thông tin chung về doanh nghiệp
dư các khoản mục lãi, lỗ lũy kế vào thời điểm đầu và cuối niên độ và những biến động trong niên độ; Đối chiếu giữa giá trị ghi sổ của mỗi loại vốn góp, vốn thặng dư ,vốn cổ phần, các khoản dự phòng vào đầu niên độ và cuối niên
độ và trình bày riêng biệt từng sự biến động
BCLCTT: được lập và trình bày theo quy định của IAS 7 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ" BCLCTT yêu cầu trình bày thông tin về sự thay đổi của tiền
và các khoản tương đương tiền của đơn vị BCLCTT phân chia dòng tiền trong kỳ theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính Chuẩn mực IAS7 có thêm khái niệm tương đương tiền: thông thường không bao gồm các khoản đầu tư vốn trừ khi, về bản chất, các khoản đầu tư vốn này là các khoản tương đương tiền Các khoản vay Ngân hàng được xem
là hoạt động tài chính Các khoản thấu chi cũng được xem là tương đương tiền nếu các khoản thấu chi này là một bộ phận không thể tách rời của chính sách quản lý tiền của đơn vị
TMBCTC: Đưa ra các thông tin về cơ sở dùng để lập BCTC và các
Trang 24chính sách kế toán cụ thể được chọn và áp dụng đối với các giao dịch và các
sự kiện quan trọng; Trình bày các thông tin theo quy định của các CMKT quốc tế mà chưa được trình bày trong các BCTC khác; Cung cấp thông tin bổ sung chưa được trình bày trong các BCTC khác, nhưng lại cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý.Bản TMBCTC phải được trình bày một cách
có hệ thống Mỗi khoản mục trong BCĐKT, BCKQHĐKD, BCTĐNVCSH
và BCLCTT cần được đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong Bản TMBCTC
1.3 SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
- Báo cáo tình hình tài chính
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh BCTC
Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu được trình bày trong Bản thuyết minh BCTC
Hệ thống BCTC đầy đủ bao gồm:
- Báo cáo tình hình tài chính;
- Báo cáo lãi lỗ và thu nhập tổng hợp khác
- Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu;
- Báo cáo lưu chuyển tiền;
- Bản thuyết minh BCTC
Báo cáo tình
hình tài chính
- Hướng dẫn việc xác định, phân loại tài sản và nợ phải trả trong chuẩn mực; quy định chi tiết việc trình bày từng khoản mục trên báo cáo theo mẫu
- Huớng dẫn việc xác định, phân loại tài sản và nợ phải trả; không đưa ra mẫu biểu của Báo cáo tình hình tài chính, cung nhu yêu cầu về trình tự sắp xếp, trình bày
Trang 25biểu quy định trong văn bản hướng dẫn chuẩn mực
- Không đề cập
các khoản mục trên báo cáo
- DN cần trình bày ngày đáo hạn của tài sản và nợ phải trả để có thể đánh giá tính thanh khoản
DN trình bày:
- Trình bày lãi lỗ và thu nhập tổng hợp khác trong một báo cáo duy nhất (báo cáo lợi nhuận tổng hợp), với lãi lỗ và thu nhập tổng hợp khác được trình bày thành hai phần
- Trình bày lãi lỗ trong một báo cáo lãi lỗ riêng Trong trường hợp này, báo cáo lãi lỗ riêng sẽ được dặt truớc báo cáo lợi nhuận tổng hợp, vốn được bắt đầu bằng lãi lỗ
Báo cáo lưu
- Cho phép phân loại dòng tiền
về cổ tức và lãi vay theo 2 cách: (1) Cổ tức và lãi vay đã trả hoặc nhận được vào dòng tiền hoạt động kinh doanh;
(2) Cổ tức hoặc lãi vay đã trả vào dòng tiền hoạt động tài chính, cổ tức hoặc lãi vay đã nhận vào dòng tiền hoạt động đầu tư
Trang 26Báo cáo thay
đổi vốn chủ
sở hữu
Trình bày thành một mục trong Bản thuyết minh BCTC
Trình bày tách biệt trong một báo cáo riêng, cung cấp thông tin
về sự thay đổi vốn chủ sở hữu của DN, phản ánh sự tăng, giảm giá trị của tài sản thuần trong kỳ
và các luồng tiền của một DN, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho
số đông những nguời sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế
- Ðược quy định trong IFRS
- Mục đích của BCTC là cung cấp thông tin tài chính hữu ích
về DN cho các đối tượng sử dụng, chủ yếu là nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay
và các chủ nợ khác trong việc đưa ra quyết định về việc cung cấp nguồn lực cho doanh nghiệp
Ghi nhận các
yếu tố của
BCTC
- Không đề cập cụ thể đến phương pháp định giá Việc ghi nhận chủ yếu căn cứ vào giá gốc
- Chưa ban hành chuẩn mực về
đo lường giá trị hợp lý
- Xác định các khoản mục tối thiểu cho các báo cáo trong chuẩn mực, nhưng lại quy định
cụ thể, chi tiết trong văn bản hướng dẫn chuẩn mực
- IFRS đưa ra một số phương pháp định giá có thể sử dụng, bao gồm: giá gốc; giá hiện hành; giá trị có thể thực hiện; hiện giá
- Ban hành IFRS 13 - Ðo luờng giá trị hợp lý
- Xác định các khoản mục tối thiểu cho các báo cáo
Trang 27Vốn và bảo
tồn vốn Không đề cập đến vấn đề này
Khái niệm về bảo tồn vốn là cầu nối giữa khái niệm vốn và khái niệm lợi nhuận bởi vì nó chỉ ra điểm xuất phát của việc xác định lợi nhuận
Các khoản phải thu cần tính đến các khoản khấu trừ, chiết khấu cho khách hàng
Hàng tồn kho Chưa ban hành chuẩn mực kế
toán về hoạt động nông nghiệp
Nông sản thu hoạch từ các tài sản sinh học theo IAS 41-Nông nghiệp được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ di chi phí bán hàng uớc tính tại thời điểm thu hoạch
- Chưa đề cập và hướng dẫn chính thức về suy giảm giá trị tài sản đối với tài sản cố định hữu hình
- Trình bày theo giá gốc trừ (-) khấu hao lũy kế và suy giảm giá trị tài sản tích lũy, hoặc giá trị đánh giá lại
- Khi giá trị có thể thu hồi được giảm xuống thấp hơn giá trị còn lại, thì giá trị còn lại cần được điều chỉnh giảm xuống mức giá trị có thể thu hồi
Trang 28đến việc đánh giá lại giá trị tài sản vô hình
sản tích lũy, hoặc giá trị đánh giá lại
- Bao gồm trong khái niệm Tài sản tài chính, được phân loại thành: tài sản tài chính theo giá trị hợp lý thông qua báo cáo lãi lỗ; tài sản tài chính sẵn sàng để bán; các khoản vay và phải thu; các khoản đầu tư nắm giữ chờ đến ngày dáo hạn
- Quy định hạch toán tại IAS 39: Công cụ tài chính: Ghi nhận và đánh giá
Lãi kinh doanh là các khoản lãi
lỗ từ các hoạt động kinh doanh thông thuờng của DN, không bao gồm các khoản thu nhập và chi phí tài chính (chi phí lãi vay)
Lãi trên cổ
phiếu
Lãi được dùng để tính EPS bao gồm các khoản lãi không dành cho các cổ đông phổ thông
Những khoản thưởng này sẽ được tính vào chi phí để trừ ra khỏi lãi cho việc tính EPS
1.4 CHUYỀN ĐỔI BCTC TỪ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM SANG CHUẨN MỰC BCTC QUỐC TẾ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI
1.4.1 Khái niệm chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực kế toán quốc tế
Chuyển đổi BCTC sang IFRS là việc chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực
Trang 29kế toán (CMKT) quốc gia sang IFRS, chuyển đổi BCTC sang IFRS phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, những khác biệt giữa CMKT hiện tại và IFRS phụ thuộc vào từng quốc gia, lĩnh vực hoạt động và các chính sách kế toán mà doanh nghiệp đang lựa chọn Chất lượng và tính linh hoạt của cấu trúc BCTC hiện tại của doanh nghiệp, quy mô và ảnh hưởng của những thay đổi CMKT quốc gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những yếu
tố ảnh hưởng đến quy trình chuyển đổi BCTC từ CMKT quốc gia sang IFRS của doanh nghiệp Chuyển đổi BCTC từ CMKT quốc gia sang IFRS không chỉ đơn thuần ảnh hưởng đến chính sách kế toán, tình hình tài chính của doanh nghiệp mà có thể có những tác động không lường trước đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có nhiều rủi ro xảy ra cho hoạt động của doanh nghiệp (Ernst và Young, Global IFRS conversion methodology, 2009)[19]
1.4.2 Lợi ích của chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế
Việc chuyển đổi BCTC sang IFRS mang lại những lợi ích sau:
- IFRS giúp cho việc huy động vốn nước ngoài trở lên dễ dàng hơn IFRS tạo sự minh bạch, đồng thời, giúp nâng cao trách nhiệm giải trình bằng cách giảm bớt lỗ hổng thông tin giữa nội bộ và bên ngoài công ty, do vậy lập BCTC theo IFRS sẽ làm tăng tính minh bạch của thông tin, từ đó giúp các công ty có thể tiếp cận nguồn vốn trên thị trường quốc tế, cũng như nâng cao
uy tín và thương hiệu của DN
- IFRS hỗ trợ giảm thiểu chi phí về vốn và chi phí báo cáo Lập BCTC theo IFRS giúp gia tăng tính tin cậy về thông tin DN, thông qua đó DN sẽ tăng khả năng huy động dòng vốn đầu tư nước ngoài, giảm thiểu chi phí phát hành chứng khoán để huy động vốn Mặt khác, khi áp dụng theo IFRS các công ty đa quốc gia sẽ không phải lập hai bộ BCTC theo hai chuẩn mực khác
Trang 30nhau (một bộ BCTC theo chuẩn mực của quốc gia để nộp cho các cơ quan quản lý và một bộ BCTC theo IFRS để báo cáo cho công ty mẹ) Vì vậy, sẽ giúp các công ty này có thể sử dụng và trình bày BCTC trên cùng một ngôn ngữ, từ đó giúp tiết kiệm chi phí khi lập BCTC
- IFRS giúp đánh giá giá trị của DN hợp lý hơn Với các yêu cầu về việc ghi nhận theo giá trị hợp lý, BCTC theo IFRS sẽ giúp đánh giá giá trị của
cơ sở tiêu chuẩn hoá và hài hoà đáp ứng xu hướng toàn cầu hoá hiện nay đặc biệt là hài hoà và thống nhất trong việc lập và trình bày các BCTC Vì vậy, có nhiều quốc gia quan tâm đến việc nghiên cứu, xây dựng và công bố các chuẩn mực kế toán quốc gia trên cơ sở vận dụng IAS trong đó có Việt Nam Do đó, Việt Nam đã cập nhật và ban hành mới các chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) cho phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình kinh tế của Việt Nam Trong hệ thống VAS ban hành có rất nhiều chuẩn mực đề cập đến công tác tổ chức kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh nhưng thực tế hiện nay công tác tổ chức kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh của các DN vẫn còn bị ảnh hưởng của một số chuẩn mực kế toán quốc tế
Theo Ernst và Young (2010), khi chuyển đổi BCTC từ CMKT quốc gia
Trang 31sang IFRS, doanh nghiệp cần phải phân tích tổng quan về những ảnh hưởng của IFRS, cần phải thiết lập nguyên tắc kế toán mới theo yêu cầu của IFRS, nguyên tắc kế toán mới phải được quản lý chặt chẽ để đảm bảo công tác chuyển đổi thành công Mức độ ảnh hưởng của chuyển đổi BCTC từ CMKT quốc gia sang IFRS tùy thuộc vào mức độ khác biệt giữa hệ thống CMKT của mỗi quốc gia và hệ thống IAS/IFRS, khác biệt nhiều giữa hai hệ thống BCTC
sẽ ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả chuyển đổi và trình bày BCTC theo IFRS, những ảnh hưởng đến BCTC bao gồm:
- Ảnh hưởng đến BCĐKT/ BCTHTC: ảnh hưởng đến BCĐKT/ BCTHTC khi chuyển đổi BCTC sang IFRS là do mức độ khác biệt giữa hệ thống CMKT quốc gia và hệ thống IAS/IFRS liên quan đến các khoản tiền, các khoản tương đương tiền; Phải thu khách hàng; Hàng tồn kho; Tài sản hữu hình, vô hình; Các khoản đầu tư tài chính, bất động sản đầu tư; Liên doanh, liên kết, hợp nhất kinh doanh; Chi phí phải trả; Vốn chủ sở hữu
- Ảnh hưởng đến BCKQHĐKD: ảnh hưởng đến BCKQHĐKD khi chuyển đổi BCTC sang IFRS là do mức độ khác biệt giữa hệ thống CMKT quốc gia và hệ thống IAS / IFRS liên quan đến ghi nhận doanh thu bán hàng, chiết khấu bán hàng, giá vốn hàng bán, thu nhập/chi phí tài chính, thu nhập/chi phí khác
- Ảnh hưởng đến BCLCTT: ảnh hưởng đến BCLCTT khi chuyển đổi BCTC sang IFRS là do mức độ khác biệt giữa hệ thống CMKT quốc gia và hệ thống IAS / IFRS liên quan đến các khái niệm, cách ghi nhận tiền và các khoản tương đương tiền, phân loại luồng tiền đến các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động đầu tư và cách hướng dẫn lập BCLCTT giữa
hệ thống CMKT của từng quốc gia và hệ thống IAS/IFRS
- Ảnh hưởng đến BCTĐNVCSH: ảnh hưởng đến BCTĐNVCSH khi chuyển đổi BCTC sang IFRS là do mức độ khác biệt giữa hệ thống CMKT
Trang 32quốc gia và hệ thống IAS/IFRS liên quan đến lập BCTĐNVCSH BCTĐNVCSH là báo cáo bắt buộc trong hệ thống BCTC theo IFRS, yêu cầu lập báo cáo này theo IFRS bao gồm: các nghiệp vụ giao dịch về vốn với các chủ sở hữu và việc phân phối lợi nhuận cho các chủ sở hữu; Số dư của khoản mục lãi/lỗ luỹ kế vào thời điểm đầu và cuối niên độ và những biến động trong niên độ; Đối chiếu giữa giá trị ghi sổ của mỗi loại vốn góp, thặng dư vốn cổ phần, các khoản dự phòng vào đầu và cuối niên độ và trình bày riêng biệt từng sự biến động Một số quốc gia không yêu cầu bắt buộc lập BCTĐNVCSH trong hệ thống BCTC, cụ thể là hệ thống CMKT Việt Nam, đây là ảnh hưởng của chuyển đổi BCTC sang IFRS vì sẽ làm tăng thêm số lượng BCTC bắt buộc so với yêu cầu lập BCTC theo CMKT quốc gia
- Ảnh hưởng đến TMBCTC: ảnh hưởng đến Bản TMBCTC khi chuyển đổi BCTC sang IFRS là do mức độ khác biệt giữa hệ thống CMKT quốc gia
và hệ thống IAS/IFRS liên quan đến thuyết minh các khoản đầu tư, các khoản
cổ tức phải trả, hoạt động liên tục/không liên tục, thuyết minh các bên liên quan Như vậy, chuyển đổi BCTC từ CMKT quốc gia sang IFRS tác động trực tiếp đến việc tính toán từng khoản mục trên các BCĐKT/BCTHTC; BCKQHĐKD và BCLCTT Đồng thời việc chuyển đổi BCTC sang IFRS làm thay đổi việc giải trình, công bố thông tin trên bản TMBCTC và ảnh hưởng của việc lập thêm BCTĐNVCSH theo yêu cầu lập và trình bày BCTC của IFRS
1.5 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI BCTC THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
1.5.1 Các lý thuyết nền của nghiên cứu
Lý thuyết quản trị doanh nghiệp (Corporate Governance Theory -
CG): Mathiesen (2002) nhận định quản trị công ty nghiên cứu cách thức quản
trị hiệu quả DN bằng việc sử dụng hợp đồng, cấu trúc tổ chức và quy chế, quy
Trang 33tắc Lý thuyết quản trị doanh nghiệp thường giới hạn trong phạm vi cải thiện hiệu suất tài chính, chẳng hạn, cách nào chủ sở hữu động viên giám đốc DN đem lại lợi suất đầu tư hiệu quả hơn Charreaux (2002)[19] định nghĩa quản trị
DN là tập hợp cơ chế tổ chức có tác dụng phân định quyền hạn và tác động quyết định quản lý (chi phối hành vi và giảm thiểu việc DN trình bày sai lệch
các khoản mục kế toán)
Vận dụng lý thuyết này cho nghiên cứu:
IFRS cải thiện chất lượng thông tin công bố bằng việc gia tăng sự minh bạch Thực tế, hầu hết thông tin kinh tế tài chính được phản ánh bởi sự ra đời của khái niệm giá trị hợp lý Để đạt mục tiêu minh bạch, IASB đã quyết định giảm lựa chọn kế toán, sử dụng phương pháp duy nhất cho quá trình ghi nhận theo nhóm của hoạt động và yêu cầu phổ biến thông tin mà trước đây chỉ dành cho giám đốc điều hành
Theo nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1978)[20], cho thấy các DN lớn có khả năng tuân thủ CMKT cao hơn các DN nhỏ và vừa Bởi các DN bị ràng buộc nhiều quy tắc, nguyên tắc của các yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp để mang lại thông tin chất lượng trên BCTC Các DN nhỏ và vừa mức độ cấu trúc DN khá đơn giản và rủi ro thấp, do đó dẫn tới bất cân xứng thông tin nên chất lượng BCTC của DN nhỏ và vừa không được quan tâm nhiều Quy mô của doanh nghiệp giúp cho việc phân loại loại hình doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ Vì vậy, quy mô của doanh nghiệp có tác động đến việc chuyển đổi CMKT BCTC quốc tế
Tóm lại, Lý thuyết quản trị doanh nghiệp góp phần giải thích tác động của các nhân tố quy mô doanh nghiệp và các đơn vị thành viên đến việc
chuyển đổi BCTC sang IFRS
Lý thuyết hành vi kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB):
được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1975)[21],
Trang 34giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nổ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen,
1991)
Vận dụng lý thuyết này cho nghiên cứu:
Dựa trên nền tảng cơ sở của Lý thuyết hành vi kế hoạch và thông qua những nghiên cứu liên quan đến vận dụng IFRS của lý thuyết này cho thấy rằng việc vận dụng IFRS thông qua thái độ tích cực hoặc không tích cực đối với hành vi, hành vi chuyển đổi BCTC sang IFRS Thái độ hướng đến vận dụng hoặc e ngại rủi ro vận dụng IFRS do quyết định của ban quản trị của
công ty (nhân tố Quan điểm của nhà quản trị) đây là một yếu tố ảnh hưởng
đến yếu tố còn lại của Thuyết hành vi kế hoạch đó là hướng đến đầu tư cho giáo dục, đào tạo IFRS được xem là rất quan trọng Thái độ của chuyên gia kế toán cũng ảnh hưởng đến khác biệt hiện tại giữa hệ thống CMKT quốc gia và IFRS, nhìn nhận những khác biệt của hai hệ thống chuẩn mực kế toán
từ đó giải quyết những khó khăn, thách thức cho việc vận dụng IFRS thông qua việc tăng cường đầu tư đào tạo, cập nhật kiến thức IFRS cho người làm
kế toán (nhân tố Năng lực người làm kế toán)
Kinh nghiệm và trình độ của kế toán là năng lực của người làm kế toán thực hiện hoàn thành công tác kế toán và là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc áp dụng CMKT Nghiên cứu của Shima và Yang (2012)[22] cho thấy nhân
tố trình độ kế toán viên là yếu tố ảnh hưởng tích cực để tuân thủ việc áp dụng IFRS Đồng quan điểm nghiên cứu của các tác giả trên, các nghiên cứu như Trần Thị Thanh Hải (2015)[6], Trần Đình Khôi Nguyên (2013)[7] và Nguyễn Thị Thu Hoàn (2018)[8] đã chứng minh việc trình độ kế toán viên có tác động cùng chiều đến việc áp dụng CMKT Vì vậy, năng lực người làm kế toán có
Trang 35tác động đến việc chuyển đổi BCTC theo chuẩn mực kế toán quốc tế
Lý thuyết thông tin hữu ích (Usefulness Theory): thông tin hữu ích
cho việc ra quyết định là cơ sở cho việc xác định mức độ sử dụng thông tin tài chính của các đối tượng (Staubus, 2000)[23] Theo lý thuyết, kế toán được xem
là một quá trình cung cấp thông tin hữu ích liên quan đến các đối tượng sử dụng (Gray và cộng sự, 1995)[24] Vì thế tính thông tin hữu ích được đánh giá thông qua mức độ thông tin hỗ trợ cho các đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định
Vận dụng lý thuyết này cho nghiên cứu:
Dựa trên nền tảng của Lý thuyết thông tin hữu ích và những nghiên cứu liên quan, có thể thấy rằng tầm quan trọng của thông tin tài chính được công
bố trên BCTC, chất lượng thông tin đầy đủ, minh bạch, có thể so sánh BCTC giữa các doanh nghiệp cùng ngành trong và ngoài nước sẽ rất hữu ích cho người sử dụng thông tin Luận văn sử dụng Lý thuyết thông tin hữu ích để đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi BCTC theo IFRS của doanh nghiệp, trên cơ sở đó ban lãnh đạo của doanh nghiệp ra quyết định chuyển đổi BCTC theo IFRS bên cạnh việc hỗ trợ đào tạo nhân lực, tài chính (nhân tố
quan điểm nhà quản trị)
Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy Theory): cho rằng hoạt động của tổ
chức phải theo các giá trị hay các chuẩn mực xã hội mà tổ chức đó hoạt động Việc các tổ chức không tuân thủ các giá trị hay chuẩn mực xã hội có thể dẫn tới những khó khăn cho tổ chức đó trong việc đạt được sự ủng hộ của cộng đồng để tiếp tục hoạt động Vì thế, tính hợp pháp tạo nên áp lực cho các doanh nghiệp thực hành quản lí môi trường và thay đổi hệ thống kế toán để phù hợp với các chuẩn mực và giá trị cộng đồng Lý thuyết này giải thích cho động cơ mà kế toán quản trị môi trường được sử dụng như một công cụ để tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội nhằm đạt được sự hoạt động hợp pháp
Trang 36Vận dụng lý thuyết này cho nghiên cứu:
Theo yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của lập và trình bày BCTC theo chuẩn mực kế toán quốc tế Để tiến tới việc áp dụng BCTC theo IFRS, các cơ quan quản lý cần hoàn chỉnh quy định về chế độ kế toán phù hợp Lý thuyết hợp pháp được vận dụng trong đề tài để đánh giá những quy định pháp luật về kế toán (nhân tố chế độ kế toán) có ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC sang IFRS tại DN
Tuân thủ quy định kế toán chính là việc vận dụng những quy định liên quan đến kế toán cung cấp các thông tin hữu ích trên BCTC và tạo niềm tin cho nhà đầu tư và người sử dụng thông tin trên báo cáo này (Nguyễn Thị Thu Hoàn, 2018) Nghiên cứu của Trần Quốc Thịnh (2014) cho rằng, tính tuân thủ các quy định kế toán của các DN ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và làm ảnh hưởng đến chất lượng BCTC
Pháp lý cũng là những nhân tố được ghi nhận sớm về ảnh hưởng đến hệ thống kế toán quốc gia liên quan đến các nghiên cứu của Nobes và Parker (1995)[25], Ajit và cộng sự (2016)[26] Yếu tố pháp lý đã ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán bởi các chuẩn mực này mang tính xét đoán nhiều hơn, được xem xét trên cơ sở nguyên tắc (principles) hơn là các qui định (rules) Do đó các quốc gia thông luật như Anh, Mỹ, Úc có xu hướng
áp dụng dễ dàng hơn bởi tính linh hoạt, trong khi các quốc gia điển luật như Pháp, Đức thì việc vận dụng sẽ gặp những khó khăn nhất định bởi hệ thống luật ràng buộc
Các DN tổ chức sẽ bị tác động theo thói quen tập quán được đảm bảo việc thực thi trong quá trình áp dụng CMKT Kế toán được coi là biểu tượng của tính hợp pháp và CMKT được kế toán áp dụng như là một thể chế lập các BCTC Do đó, chế độ kế toán cũng có tác động cùng chiều với đến việc việc
áp dụng CMKT BCTC quốc tế
Trang 37Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): được khởi đầu
trong nghiên cứu của Freeman (1984) về Strategic Management: A Stakeholder Approach[27], đây là lý thuyết về quản trị tổ chức và đạo đức kinh doanh Trong lý thuyết này, khái niệm "các bên liên quan" là bất kỳ cá nhân hay nhóm người bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi những hành động của tổ chức Lý thuyết các bên liên quan cho rằng, ngoài các cổ đông còn có các đối tượng khác có liên quan đến quá trình hoạt động DN bao gồm cơ quan chính phủ, các nhóm chính trị, các hiệp hội thương mại, công đoàn, cộng đồng, các công ty liên quan, khách hàng tiềm năng và công chúng Từ quan điểm đạo đức, tổ chức có nghĩa vụ phải đối xử công bằng giữa các bên liên quan Trong trường hợp, các bên liên quan xung đột lợi ích, DN phải có nghĩa
vụ đạt được sự cân bằng tối ưu giữa chúng Từ quan điểm quản trị, vai trò quan trọng của quản lý là để đánh giá tầm quan trọng, của việc đáp ứng nhu cầu các bên liên quan để đạt được mục tiêu chiến lược của DN Do đó, vì lợi ích của mình, các bên liên quan luôn mong đợi DN có những ứng xử phù hợp với trách nhiệm môi trường để đạt được sự hoạt động hợp pháp trong xã hội qua đó giúp họ đạt được các lợi ích kinh tế khác Các bên có liên quan cũng
sẽ đánh giá việc thực hiện trách nhiệm môi trường của DN, thông qua các thông tin môi trường mà DN công bố
Vận dụng lý thuyết này cho nghiên cứu:
Lý thuyết các bên có liên quan được sử dụng để giải thích cho lý do các
DN áp dụng kế toán môi trường để công bố thông tin môi trường đáp ứng với những kỳ vọng của các bên có liên quan về trách nhiệm môi trường của DN
Lý thuyết này được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá nhóm nhân tố áp lực từ phía các bên liên quan ảnh hưởng tới khả năng áp dụng kế toán môi trường trong DN
Cũng theo lý thuyết này, một DN không thể tối đa hóa được giá trị mà
Trang 38không duy trì mối quan hệ với các bên liên quan Lý thuyết này nhấn mạnh sự thành công của một DN phụ thuộc vào sự bền vững của các hoạt động kinh doanh, cái mà chỉ đạt được khi xét tới nhu cầu của các bên liên quan tới nó (nhân tố các đơn vị thành viên)
Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng kế toán là hệ thống và dịch vụ cơ bản cần thiết để công việc kế toán vận hành đúng cách Nguyễn Thị Phương Thảo (2019) cho thấy sự phát triển của cơ sở hạ tầng kế toán như sự phát triển của
hệ thống thông tin, phần mềm kế toán,… giúp DN nhỏ và vừa dễ dàng thực hiện công tác kế toán hơn, làm tăng đáng kể mức độ áp dụng quốc tế Nhiều kết quả tương tự xảy ra với nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hải (2015) Có thể thấy sự phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ trong việc cung cấp thông tin, hỗ trợ công việc cho kế toán viên giúp dễ dàng vận dụng CMKT quốc tế hơn Vì vậy, giả thuyết đặt ra là yêu cầu của các bên liên quan có tác động với việc vận dụng CMKT BCTC quốc tế Do đó, yêu cầu của các bên liên quan cũng
có tác động với đến việc chuyển đổi BCTC quốc tế
1.5.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC quốc tế
Từ các lý thuyết nền nêu trên và việc vận dụng các lý thuyết cho nghiên cứu, tác giả tổng hợp các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực BCTC quốc tế tại doanh nghiệp
Bảng 1.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi BCTC quốc tế trên
cơ sở lý thuyết nền
Nhân tố bên trong doanh nghiệp
1 Quy mô doanh nghiệp Lý thuyết quản trị doanh nghiệp
2 Các đơn vị thành viên Lý thuyết quản trị doanh nghiệp
Lý thuyết các bên liên quan
Trang 39STT Tên nhân tố Lý thuyết nền liên quan
3 Năng lực người làm kế toán Lý thuyết hành vi kế hoạch
4 Quan điểm nhà quản trị Lý thuyết hành vi kế hoạch
Lý thuyết thông tin hữu ích Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
6 Yêu cầu các bên liên quan Lý thuyết các bên liên quan
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn đa quốc gia, thì đòi hỏi sớm hoặc muộn các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần thực hiện việc lập BCTC của mình theo IFRS để nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư
Trong chương 1 này, tác giả đã tập trung làm rõ cơ sở lý thuyết của
nghiên cứu như sau:
- Làm rõ những vấn đề cơ bản của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam bao gồm các nội dung như: Quá trình phát triển của chuẩn mực kế toán Việt Nam; Chuẩn mực chung và chuẩn mực trình bày BCTC theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
- Làm rõ những vấn đề cơ bản của chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực BCTC quốc tế, bao gồm các nội dung như: Quá trình phát triển; Khuôn khổ chung và trình bày BCTC theo chuẩn mực BCTC quốc tế
- Làm rõ sự khác biệt giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
- Làm rõ ảnh hưởng từ việc chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực kế toán quốc tế
- Bên cạnh đó, tác giả cũng đã làm rõ các lý thuyết liên quan và các nhân tố ảnh hưởng
Việc làm rõ cơ sở lý thuyết của nghiên cứu ở chương 1 là nền tảng cho việc tổ chức khảo sát, đánh giá ở chương 3 và đề xuất các giải pháp ở chương
4 của luận văn