1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) kiểu tác giả nhà nho ẩn dật

84 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm về tác giả nhà nho ẩn dật, chúng tôi đồng quan điểm với cách hiểu của Lê Văn Tấn: Tác giả nhà nho ẩn dật là những tác giả có thể chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo trong

Trang 1

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH KIỂU TÁC GIẢ NHÀ NHO ẨN DẬT NGUYỄN KHUYẾN

1.1 Bối cảnh lịch sử - văn hóa của nước ta cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Về mặt lịch sử, Việt Nam có những chuyển biến quan trọng cuối thế kỷ

XIX - đầu thế kỷ XX Sự kiện quan trọng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử dân

tộc lúc bấy giờ chính là cuộc xâm lược của thực dân Pháp vào sáng ngày 1/9/1958 Theo Nguyễn Lộc, thực dân Pháp đã có dã tâm cướp nước ta từ trước đó:

Vào cuối thế kỉ XVIII, lợi dụng lúc Nguyễn Ánh đang lúng túng trong việc chống Tây Sơn, thực dân Pháp đã viện trợ cho Nguyễn Ánh, và buộc ông

ký với triều đình Luy XVI một hiệp ước nhường cho “nhà vua và triều đình Pháp quyền sở hữu tuyệt đối và chủ quyền về cửa bể Đà Nẵng”, và người Pháp là người nước ngoài duy nhất được buôn bán hoàn toàn tự do “trên các

xứ thuộc quyền vương quốc Nam Kỳ” Nhưng âm mưu xâm chiếm của Pháp nửa chừng bị dừng lại vì cuộc Cách mạng tư sản 1789-1794 và vì một loạt biến cố khác Mãi đến giữa thế kỷ XIX, con bạch tuộc chủ nghĩa thực dân mới lại thò vòi sang các nước phương Đông [26, tr.613]

Thực dân Pháp lấy cớ triều đình nhà Nguyễn ngăn cản việc thông thương và giết giáo sĩ, chúng nổ súng bắn phá và đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà đánh dấu sự xâm chiếm Việt Nam Sau năm tháng nhận thấy cuộc chiến tranh của mình không có tiến triển, thực dân Pháp đã thay đổi kế hoạch Chúng để lại một lực lượng nhỏ ở Đà Nẵng để giam chân quân lính triều đình, còn lại kéo vào tấn công Gia Định ở miền Nam Từ Vũng Tàu, thực dân Pháp pháo kích các con đường thủy vào Gia Định vào ngày 10 tháng 2 năm 1859, chỉ mấy ngày sau đó Pháp đã chiếm được thành Gia Định Thời gian sau đó, thực dân Pháp lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và ba tỉnh miền tây Nam

Trang 2

Kỳ Sau khi toàn bộ Nam Kỳ đã rơi vào tay giặc, chúng bắt đầu đánh ra Trung

Kỳ, Bắc Kỳ, hoàn toàn đặt ách thống trị lên toàn bộ đất nước ta Đây là sự kiện quan trọng nhất làm khuynh đảo nước ta cuối thế kỉ XIX

Thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế về chính trị điển hình của chủ nghĩa thực dân cũ Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp, tuy nhiên chúng lại duy trì chính quyền phong kiến làm tay sai, bù nhìn, chỗ dựa Pháp chia rẽ ba nước Đông Dương Tại Việt Nam, chúng chia nước ta thành ba kì với ba chế độ cai trị khác nhau (Bắc Kì là đất “bảo hộ”, Trung Kì

là xứ nửa bảo hộ, còn Nam Kì là đất thuộc địa) Việt Nam từ một nước phong kiến trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Điều này nảy sinh ra những giai cấp, những tầng lớp mới trong xã hội như công nhân, tư sản, tiểu

tư sản, …

Sự nhu nhược của triều đình phong kiến thể hiện rõ rệt khi kí hòa ước Pa-tơ-nốt vào ngày 13 tháng 5 năm 1884 chấp nhận sự bảo hộ của Pháp, đánh dấu sự đầu hàng của triều đình Nhà Nguyễn thay vì cùng nhân dân đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước lại vì quyền lợi của mình, muốn giữ vững ngai vàng mà chấp nhận đầu hàng, làm tay sai cho giặc Người dân phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” Nhân dân trước kia chịu sự áp bức, bóc lột của giai cấp phong kiến nay lại khốn đốn hơn với chính sách cai trị của chế độ thực dân Hoàn cảnh lịch sử đã đẩy người dân trở nên bi thảm hơn bao giờ hết

Bên cạnh đó, cả dân tộc ta với tinh thần yêu nước mãnh liệt đã tiến hành các phong trào khởi nghĩa, đấu tranh cũng diễn ra rầm rộ chống lại kẻ thù Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối một phần, nhưng dần dần họ quay lại thỏa hiệp và đầu hàng thực dân Pháp Trong bộ phận chủ chốt, đầu não của triều Nguyễn lúc bấy giờ cũng chia làm hai phái, một phái với tư tưởng chủ hòa với giặc với chủ trương giữ thế với giặc, họ muốn kéo dài thời gian để

Trang 3

thực dân Pháp “mệt mỏi”; còn một phái với tư tưởng chủ chiến đánh giặc Điển hình như phong trào Cần Vương (1885-1896) do nhà vua yêu nước Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Đông Kinh nghĩa thục, cuộc vân động Duy Tân,… Thất bại của phong trào Cần Vương cũng như những phong trào đấu tranh, yêu nước khác

đã chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm

vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra

Trong khi Nam Kỳ chống giặc thì miền Trung và miền Bắc bọn phong kiến lại tăng cường bóc lột người dân thậm tệ Chính vì vậy, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra Nhà Nguyễn đứng trước hai mâu thuẫn, bên ngoài thực dân Pháp đang xâm lược, bên trong phong trào khởi nghĩa nông dân ngày càng rầm rộ Triều đình nhà Nguyễn quay lại cấu kết với kẻ thù để đàn áp nhân dân Từ đây, triều đình mất đi vai trò của mình và là mục tiêu đả kích của nhân dân bên cạnh thực dân Pháp

Sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hóa phương Tây gắn liền với cuộc xâm lược và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã dẫn đến những chuyển biến sâu sắc về mặt văn hóa – xã hội của nước ta cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Thực dân Pháp tiến hành chính sách giáo dục thực dân, kìm hãm và nô dịch

về mặt văn hóa, thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề thống trị Chúng ngăn cản những ảnh hưởng tiến bộ của thế giới vào Việt Nam, khuyến khích những văn hóa độc hại, ru ngủ nhân dân bằng các hoạt động mê tín dị đoan Một loạt những đô thị mới ra đời gắn liền với sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của tầng lớp tiểu tư sản, thị dân, những quan chức mới phục vụ cho Pháp Cơ cấu các giai tầng trong xã hội thay đổi, đồng tiền ngày càng được đề cao, lối sống phương Tây du nhập một cách ồ ạt, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ít nhiều bị mai một

Hệ tư tưởng nho giáo dần lụi tàn và đổ vỡ, mất đi vai trò độc tôn của

Trang 4

nó, trở nên lỗi thời Nho giáo đã bộc lộ những nhược điểm và yếu kém của nó

về mọi mặt, cản trở sự phát triển của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Đứng trước thực tế mất nước và sự bế tắc về hệ tư tưởng, đường lối cứu nước, tầng lớp nho sĩ đã có sự xáo trộn, phân hóa mạnh mẽ

Thực dân Pháp cũng bắt đầu chú ý về vấn đề hoạt động văn hóa Ở Nam Kỳ, chúng tiến hành mở trường dạy Pháp – Việt cho trẻ em, sau này mở them nhiều trường dành cho cả trẻ em và người lớn, thực dân còn mở cả trường thông ngôn để đào tạo hàng loạt tay sai cho giặc Chúng còn có ý định thay chữ Hán bằng chữ quốc ngữ theo mẫu tự La tinh nhưng bị phản đối gay gắt của nhân dân Cuối thế kỷ XIX, trong đời sống văn hóa tư tưởng đã nổ ra những chủ trương cải cách xã hội của một số sĩ phu theo hướng tiếp thu những nền văn hóa ngoại lai như phương Tây

Tựu chung, xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là một xã hội

ba đào đầy biến động Thực dân Pháp xâm lược tạo ra trang sử đau thương cho dân tộc kèm với đó là sự biến đổi về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục,… đầy phức tạp Chính những điều kiện lịch sử, xã hội này đã tạo nên sự biến chuyển mạnh mẽ trong đội ngũ nhà nho Đây cũng là một trong những điều kiện hình thành kiểu tác giả nhà nho ẩn dật Nguyễn Khuyến

1.2 Kiểu tác giả nhà nho ẩn dật trong văn học trung đại Việt Nam

Văn học trung đại kéo dài từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX là chặng đường đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong dòng chảy của văn học Việt Nam, với sự góp mặt đông đảo của lực lượng sáng tác là nho sĩ Loại hình tác giả nhà nho ẩn dật hình thành từ thế kỉ XIII và kéo dài đến hết thế kỉ XIX là một trong hai loại hình tác giả chính thống bên cạnh nhà nho hành đạo Các tác giả là nho sĩ ẩn dật này đã đóng góp những thành tựu to lớn vào nền văn học trung đại Việt Nam

Nghiên cứu về nhà nho ẩn dật, tác giả Lê Văn Tấn đã chỉ ra điều kiện

Trang 5

hình thành và cơ sở để nhận diện loại hình nhà nho ẩn dật trong văn học trung đại Việt Nam [47] Trước hết, cần hiểu ẩn là biết mà che đi, giấu đi, lánh đi, không bộc lộ ra Ẩn dật nghĩa là lánh đời ở ẩn, yên vui ở một nơi nào đó Theo Lê Văn Tấn, tùy theo mức độ ẩn mà xác định có bốn loại:

Loại tỵ ngôn (giấu ngôn): biết mà không nói, tức không bộc lộ cái thật của mình

Loại tỵ sắc (giấu đi hình thức, hình thể, những suy nghĩ bên trong): không bộc lộ, không biểu hiện ra bên ngoài

Loại tỵ địa (giấu nơi ở): không ở chỗ này mà chuyển sang địa điểm, không gian khác

Loại tỵ thể (tránh trời, giấu trời, giấu đi tâm thể, cảm xúc): tự làm cho mình “lạnh việc đời”, đây được coi là chỗ của bậc đại ẩn

Quan niệm về tác giả nhà nho ẩn dật, chúng tôi đồng quan điểm với cách hiểu của Lê Văn Tấn:

Tác giả nhà nho ẩn dật là những tác giả có thể chịu ảnh hưởng của hệ

tư tưởng Nho giáo trong việc lựa chọn con đường hành đạo - nhập thế nhưng khi về ẩn dật, họ đã tiếp thu linh hoạt tư tưởng Lão - Trang và phần nào tư tưởng Phật giáo; họ có thể đi ở ẩn suốt đời hoặc chỉ đi ở ẩn trong khoảng thời gian nào đó và có sáng tác văn chương thể hiện cuộc sống, tư tưởng ẩn dật [47, tr.41]

Nhà nho hành đạo tìm lẽ sống cho mình trong học thuyết nho giáo Nhà nho ẩn dật viện đến học thuyết Lão Trang hay đạo Phật mà tìm ý nghĩa cuộc đời ngoài cái nho giáo chỉ cho họ

Kiểu tác giả nhà nho ẩn dật trải qua bốn giai đoạn hình thành, phát triển, hoàn thiện và kết thúc kéo dài sáu thế kỉ (từ thế kỉ XIII đến hết thế kỉ XIX):

Giai đoạn hình thành loại hình tác giả nhà nho ẩn dật cuối thế kỉ XIII đến hết thế kỉ XIV Đây là giai đoạn phong kiến cực thịnh, nhà Lý và đặc biệt

Trang 6

là triều đại nhà Trần với hệ thống minh quân sáng suốt, tướng lĩnh, quần thần tài giỏi Những nhà nho như Chu Văn An, Trần Nguyên Đán đã ít nhiều thực hiện được những dự định của mình nên khi về ở ẩn họ không day dứt, đau khổ mà mang tâm thế an nhàn, thoát tục, yên tâm, thanh thản Bên canh đó cũng có nhiều nhà nho thành đạt trên hoạn lộ nhưng lại không có dịp để khẳng định tài năng của mình Đến cuối triều Trần, chế độ phong kiến lại phơi bày ra những mặt tiêu cực Tầng lớp vua chúa, quan lại bắt đầu ăn chơi, hưởng thụ một cách sa đọa với những trò lố lăng Cuối thế kỉ XIV, nhà Trần

đã không còn quan tâm đến đời sống nhân dân, chăm lo chính trị mà trở nên mục ruỗng không cứu vãn được Trước tình hình này, các nhà nho tỏ ra chán nản, thất vọng và họ không còn khát khao hành đạo mà chọn cho mình con đường thoát lui, từ quan về ở ẩn

Giai đoạn phát triển loại hình tác gia nhà nho ẩn dật trong thế kỉ XV Đây là một thế kỉ đầy phong ba bão táp của chế độ phong kiến Việt Nam khi triều đại nhà Lê đã đánh đuổi quân Minh và bắt đầu xây dựng bộ máy chính quyền, làm nên một trang sử mới cho dân tộc Tuy nhiên, một số nhà nho sống ở triều đại nhà Trần lại chưa thể chấp nhận thực tế lịch sử, tư tưởng

“trung quân” của họ xem mình là thần dân nhà Trần không chấp nhận phục vụ triều đại mới Trong giai đoạn này, Nho giáo đã vươn lên đến vị trí độc tôn, trở thành tư tưởng chính thống trong xã hội Những nho sĩ thuận thời thì theo nho giáo, còn thất thế họ tìm đến Lão Trang hay đạo Phật để bớt khổ đau và giải tỏa những ẩn uất trong lòng Nguyễn Trãi là một bậc đại nho hiển hách trong hoạn lộ nhưng lại phải chịu những oan ức thấu trời, nhiều lúc chán nản, bất đắc chí mà ông chọn con đường ở ẩn Tuy nhiên, ông ở ẩn mà vẫn day dứt, trăn trở, thể hiện sự dùng dẳng của ông về lẽ xuất xử Cảm xúc này chi phối các sáng tác của ông tạo nên một nét riêng biệt trong thơ ca ẩn dật và về sau Nguyễn Khuyến đã kế thừa một cách xuất sắc

Trang 7

Giai đoạn hoàn thiện loại hình tác gia nhà nho ẩn dật là thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII Bước sang thế kỉ XVI, chế độ phong kiến thời hậu Lê khủng hoảng và u ám, đời sống nhân dân lâm vào tình cảnh khốn cùng, đói khổ, các tham quan thi nhau bóc lột dân chúng Những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài nối tiếp, hết chiến tranh Nam – Bắc triều lại đến Trịnh – Nguyễn phân tranh Với tình hình đất nước như vậy, các nho sĩ đã có sự phân hóa sâu sắc Tư tưởng Lão Trang là điểm tựa chi phối tư tưởng, lựa chọn cuộc đời, lối sống và phong cách sáng tác văn chương của nhiều nhà nho Các nhà nho ẩn dật tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hãng Nếu nơi Nguyễn Dữ, Nguyễn Hãng lựa chọn để ẩn dật là núi cao thì Nguyễn Bỉnh Khiêm lại lựa chọn về làng Và ở họ đều có điểm chung là ít quan tâm đến cuộc sống xã hội cũng như không nuối tiếc về con đường ẩn dật mình đã lựa chọn như Nguyễn Trãi ở giai đoạn trước

Giai đoạn kết thúc loại hình nhà nho ẩn dật kéo dài từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX Đây là hai thế kỉ biến động nhất trong lịch sử Việt Nam Thực dân Pháp xâm lược, chiến tranh xảy ra khiến xã hội loạn lạc, phức tạp, cuộc sống nhân dân lâm vào cảnh bi đát Các nhà nho cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng đó Nho giáo giai đoạn này đã không giữ vững được vai trò độc tôn của mình Phật giáo, Đạo giáo và các tôn giáo khác theo đó vươn lên lấn

át Triều đình phong kiến lung lay, không có lập trường, không hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình Tầng lớp Nho sĩ bắt buộc phải lựa chọn những hướng

đi khác nhau Một hướng nho sĩ chấp nhận cộng tác với giặc, làm tay sai cho giặc vì sự “thức thời” theo chủ nghĩa cơ hội Một hướng khác, các nho sĩ yêu nước đã dũng cảm đứng lên để chống lại thực dân Pháp, đánh đuổi giặc ngoại xâm Hướng còn lại, họ không có dũng khí tham gia khởi nghĩa nhưng cũng không “bán nước cầu vinh”, họ chấp nhận lui về ở ẩn, sống cuộc đời trong

Trang 8

sạch, liêm khiết mặc dù còn nhiều trăn trở với tình hình đất nước Tiêu biểu cho hướng thứ ba trong giai đoạn này là ba nhà nho Lê Hữu Trác, Nguyễn Huy Vinh, Nguyễn Khuyến

1.3 Con người, sự nghiệp sáng tác và sự lựa chọn con đường ẩn dật của Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến sinh ngày 18 tháng Giêng năm Ất Mùi (Minh Mệnh thứ 16), tức ngày 15 tháng 2 năm 1835, mất ngày 15 tháng Giêng năm Kỷ Dậu, tức ngày 5 tháng 2 năm 1909, thọ 74 tuổi Ông sinh ra tại quê mẹ, làng Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Ông lớn lên và sinh sống ở quê cha tại làng Vỵ Hạ, xã Yên Đổ, Huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Nguyễn Khuyến tự là Miễn Chi, hiệu Quế Sơn Nguyên tên nhà thơ là Nguyễn Thắng, về sau tham gia kì thi Hội năm 1865 không đỗ, ông đổi tên là Nguyễn Khuyến (Khuyến có nghĩa là cố gắng) để khích lệ bản thân, tỏ rõ ý chí quyết tâm học hành của bản thân mình

Sinh ra trong một gia đình dòng dõi khoa bảng, Nguyễn Khuyến đã tiếp nối truyền thống của gia đình khiến cho người đời vô cùng ngưỡng mộ Cụ tổ bảy đời của Nguyễn Khuyến làm quan cho nhà Mạc được phong đến Quang Lượng hầu, cụ bốn đời đậu tiến sĩ và giữ chức Hiến sát xứ Thanh Hóa Ông nội của Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Tích đỗ nho sinh, cha là Nguyễn Tông Khải đậu ba khoa tú tài (Tú mền), chuyên nghề dạy học Mẹ ông cũng là con gái của một gia đình có truyền thống Nho học Chính nền tảng gia đình như vậy nên

từ bé Nguyễn Khuyến đã nổi tiếng là một cậu bé thông minh, học giỏi

Nguyễn Khuyến được vua Tự Đức ban cờ biển cho ông, viết hai chữ

“Tam nguyên”, và người ta gọi ông là Tam nguyên Yên Đổ vì ông đã đạt được những vinh hiển nơi cửa Khổng sân Trình, đỗ đầu cả ba kì: thi hương, thi hội, thi đình Năm mười bảy tuổi, ông đi thi hương với cha nhưng không

đỗ Sau đó, cha mất, nhà nghèo, ông phải đi dạy thuê kiếm sống nuôi mẹ

Trang 9

Năm 1864, ông đỗ đầu kì thi hương với Dương Khuê và Bùi Văn Quế là hai người bạn thân của ông Năm 1871, Nguyễn Khuyến đỗ Hội nguyên, sau đó vào thi đình, đỗ Đình nguyên

Đạt được nhiều thành công về thi cử là vậy nhưng cuộc đời làm quan của Nguyễn Khuyến lại trải qua nhiều thăng trầm Nguyễn Khuyến là người tài giỏi nhưng lại không gặp thời Ông ra làm quan khi đã ba mươi bảy tuổi Quãng thời gian làm quan của ông kéo dài mười một năm (1872 - 1883) với những chức vụ “nhàn quan”, cụ Tam Nguyên không có cơ hội bộc lộ hết tài năng của mình

Sau khi đậu xong, Nguyễn Khuyến được bổ làm quan ở Nội các Huế, năm sau đổi làm Đốc học Thanh Hóa, rồi Án sát Nghệ An, nhưng được mấy tháng thì mẹ mất, ông xin về để tang mẹ Mãn tang, ông vào Kinh làm Biện lý

bộ Hộ Năm 1877, đổi làm Bố chánh Quãng Ngãi, năm 1879, Nguyễn Khuyến

bị điều về Kinh sung chức Trực học sĩ và làm Toản tu ở Quốc sử quán [26,

tr.775]

Năm 1883, Nguyễn Khuyến được cử làm Tổng đốc nhưng ông kiên quyết từ chối, lấy cớ đau mắt để cáo quan về quê Yên Đổ bắt đầu cuộc sống của một nho sĩ ẩn dật

Nguyễn Khuyến sáng tác cả trước và sau khi từ quan về quê, nhưng thời gian trở về vùng đồng bằng chiêm trũng là giai đoạn sáng tác chủ yếu của

nhà thơ Theo Nguyễn Văn Huyền trong Nguyễn Khuyến tác phẩm (1984) và Nguyễn Huệ Chi trong Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ (1994), Nguyễn

Khuyến hiện còn 400 bài thơ được ông sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm

và ông thành công trên cả hai phương diện Ngoài thơ, Nguyễn Khuyến còn sáng tác các thể loại khác như: câu đối, hát nói,

Có thể nói, trong con người Nguyễn Khuyến vừa có những biểu hiện của một nhà nho hành đạo lại vừa có những biểu hiện của một nhà nho ẩn dật

Trang 10

Nguyễn Khuyến là một nhà nho ba lần đỗ đạt cao, được vua ban cho cờ biển,

vinh quy bái tổ Ông là một nhà nho chính thống theo con đường học hành - thi cử - làm quan Tư tưởng Nho giáo ở ông rất sâu nặng Nhưng hoàn cảnh

lịch sử lúc bấy giờ đầy biến động, thực dân Pháp thống trị, triều đình vì muốn giữ lại ngai vàng và những lợi ích của mình mà thỏa hiệp, đầu hàng với giặc, làm tay sai cho giặc Nguyễn Khuyến ý thức rất rõ vai trò của một nhà nho, rất yêu nước nhưng ông phải thừa nhận rằng cơ đồ nhà Nguyễn đã sụp đổ và

tư tưởng trung quân đã mất đi vai trò lịch sử Làm quan giữa lúc nước mất nhà tan, ông không thể thực hiện giấc mơ trị quốc bình thiên hạ Nguyễn Khuyến bất lực vì không thể làm gì được để thay đổi thời cuộc Nhà nho có

ba con đường để lựa chọn và Nguyễn Khuyến lựa chọn con đường ở ẩn mặc

dù khát vọng hành đạo của ông vẫn luôn cháy bỏng Nguyễn Khuyến chọn con đường cáo quan về ở ẩn trong tâm trạng bất mãn, chán chường Đây không phải như “một bước chạy làng” trước tình hình của đất nước Nguyễn Khuyến chọn con đường ẩn dật nhưng có sự nhất quán với con đường hành đạo bởi suy cho cùng, khát vọng lớn nhất trong cuộc đời Nguyễn Khuyến vẫn

là khát vọng hành đạo Nguyễn Khuyến là đại diện cho kiểu nhà nho đạo đức, ông sống giản dị, kín đáo, thâm trầm nhưng có phần hóm hỉnh Chính cá tính

và tính cách này chi phối trong các sáng tác thơ văn của ông khá nhiều, tạo nên một nét riêng biệt trong phong cách của Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến được xem là nhà nho ẩn dật cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam và là biệt lệ cho mẫu hình nhà nho ẩn dật Biệt lệ bởi vì

ở ẩn không phải là con đường mà Nguyễn Khuyến mong muốn lựa chọn mà

nó là một bước thoái lui đầy miễn cưỡng Nguyễn Khuyến ở ẩn nhưng cái tâm của ông không yên, vẫn khát đời và lo lắng cho nhân dân

Trang 11

Tiểu kết chương 1

Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam, là biệt

lệ cho loại hình kiểu tác giả nhà nho ẩn dật Những yếu tố hình thành nên kiểu tác gia ẩn dật Nguyễn Khuyến là một bối cảnh lịch sử, xã hội đầy biến động, phức tạp của xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Đây là yếu tố quan trọng chi phối lựa chọn con đường ẩn dật của nhà thơ

Nguyễn Khuyến là đại diện cuối cùng của loại hình kiểu tác giả nhà nho ẩn dật trong văn học trung đại Việt Nam Thi nhân đã kế thừa và phát huy những thành tựu của các nho sĩ ẩn dật giai đoạn trước, đặc biệt là Nguyễn Trãi Điều kiện cuối cùng để hình thành nên kiểu tác giả nhà nho ẩn dật Nguyễn Khuyến chính là tài năng và tấm lòng của ông

Thành công của Nguyễn Khuyến đã để lại những giá trị to lớn cho lịch

sử văn học dân tộc

Trang 12

Chương 2 KIỂU TÁC GIẢ NHÀ NHO ẨN DẬT NGUYỄN KHUYẾN

- NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG NGHỆ THUẬT

2.1 Hệ thống đề tài, chủ đề

Tác phẩm văn học là sự khúc xạ hiện thực cuộc sống Chính vì thế, đề

tài, chủ đề là khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện quan trọng trong cấu

tạo tác phẩm văn học Đề tài, chủ đề là hai lớp cơ bản và đầu tiên của nội dung một tác phẩm văn học

Ta có thể hiểu thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện tượng đời sống được miêu tả Cuộc sống hiện thực có bao nhiêu hiện tượng thì có bấy nhiêu đề tài được thể hiện trong tác phẩm Đề tài có vai trò rất quan trọng,

đúng như Phương Lựu đã nhận định: “Đề tài là cơ sở để nhà văn khái quát những chủ đề và xây dựng những hình tượng, những tính cách điển hình” [27, tr.262] Còn chủ đề lại là “vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra nội dung cụ thể của tác phẩm văn học” [14, tr.52]

Với tư cách là một nhà nho ẩn dật, trong sáng tác của Nguyễn Khuyến, chúng tôi nhận thấy tồn tại ba hệ thống đề tài, chủ đề chính

2.1.1 Ẩn dật và sự giải phóng cho nhà Nho về mặt tư tưởng

Nguyễn Khuyến là một nhà nho đã “lăn lộn” gần ba mươi năm với sự nghiệp thi cử nơi cửa Khổng sân Trình, đã từng đạt đến đỉnh cao của danh vọng, và có hơn mười năm gắn bó với cuộc sống quan trường Việc ông về quê ở ẩn là sự bất đắc chí, việc đã rồi, không còn con đường, lựa chọn nào khác Mặc dù Nguyễn Khuyến ở ẩn khi “tâm chưa yên” nhưng đó cũng là lúc ông được tự do, tìm về với lạc thú, niềm vui trong cuộc sống của một ẩn sĩ

2.1.1.1 Sự hòa nhập với cuộc sống thôn dã

Theo thống kê của tác giả Lê Văn Tấn, trong 353 bài thơ của Nguyễn Khuyến có tới 27 bài thơ nói về niềm vui và sự hòa nhập với cuộc sống thôn

Trang 13

dã [47, tr.122] Ông là nhà thơ có nhiều bài thơ nói về cuộc sống thôn dã nhất Điều này cũng dễ hiểu vì sao Nguyễn Khuyến lại được mệnh danh là "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” Phần lớn cuộc đời của Nguyễn Khuyến gắn bó với cuộc sống thôn dã của vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc Bộ, nhất là thời gian sau khi ông từ quan đã tạo nên sự liên kết mật thiết giữa nhà thơ với cuộc sống của người nông dân Vì vậy, ông có sự hòa nhập hơn các nhà nho ẩn dật khác về cuộc sống thôn dã được thể hiện trong các sáng tác của ông Hòa mình trong cuộc sống thôn dã, Nguyễn Khuyến thấy thoải mái hơn với những

ẩn ức của bản thân mình trước nhân tình thế thái, xã hội đương thời

Nếu như cảm hứng trong thơ Tú Xương là cảnh phố xá đang trên đà

“đổi mới” dưới chế độ thực dân đầy nhố nhăng, lố bịch, trơ trẽn thì trong thơ Nguyễn Khuyến cuộc sống thôn dã nghìn xưa của đất nước lại hiện lên đầy chất thơ với ngõ trúc, ao bèo, chợ đồng,

Cuộc sống thôn dã đi vào trang thơ Nguyễn Khuyến đậm chất hiện thực hơn các nhà nho ẩn dật trước đó Những sinh hoạt thường ngày hiện hữu trong từng câu thơ đầy sống động và nhộn nhịp đã phá bỏ tính ước lệ công thức của văn học lúc trước:

Gậy men ngõ trúc dạo đường quai, Quá bước lên nhà bác Đặng chơi

Một lũ tóc râu đều tuổi tác, Nửa phần làng xóm đã thay dời

(Đến chơi nhà bác Đặng)

Qua các câu thơ này, ta có thể thấy được sự gắn bó của Nguyễn Khuyến với cuộc sống nơi đây Phải là người dân thật sự ở nơi đây mới có thể cảm nhận được sự đổi thay “nửa phần làng xóm đã thay dời”, hay hình ảnh những người bạn cùng ông đã “tóc râu đều tuổi tác” Qua đó cho thấy Nguyễn Khuyến đã gắn bó với mảnh đất này từ rất lâu rồi

Trang 14

Cuộc sống Nguyễn Khuyến khi chọn về ở làng Yên Đổ sôi động hẳn lên so với các nhà thơ ẩn dật trước khi tìm đến núi rừng hay nơi biệt lập, cách

xa cuộc sống xã hội Trong thơ Nguyễn Khuyến, ta thấy xuất hiện rất nhiều hình ảnh gắn với cuộc sống thôn dã:

Trâu già gốc bụi phì hơi nắng, Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người

(Đến chơi nhà bác Đặng)

Hình ảnh con “trâu già” hay “chó nhỏ” cùng với âm thanh thở phì phò, tiếng sủa át tiếng người gợi lên cho người đọc cả không khí cảnh vật trong xóm làng, một làng quê bình dị Những con vật bình thường đã đi vào trang thơ ông như một bức tranh về cuộc sống làng quê Ta còn bắt gặp những âm thanh khác như:

Quyên đã gọi hè quang quác quác,

dã ấy

Các nhà nho ẩn dật giai đoạn đầu thường đưa vào trong thơ mình những hình ảnh “tùng, cúc, trúc, mai” để thể hiện cung cách thanh cao, khí chất của mình thì đến Nguyễn Khuyến ta thấy ông hòa nhập vào cuộc sống nơi thôn dã gần như là tuyệt đối với cách sống như một người nông dân, với những hình ảnh quen thuộc của làng quê như: ao sâu, vườn rộng, gà, cải, bầu, mướp,… lại hiện lên thật đẹp đẽ

Trang 15

Hiếm hoi lắm ta mới thấy cái niềm vui được mùa, cái vui vẻ thầm lặng

và bình dị của người nông dân trong thơ Nguyễn Khuyến khi cùng nhau được gói cái bánh chưng, cùng nhau chung miếng thịt Nguyễn Khuyến đã đưa nét sinh hoạt ngày Tết truyền thống của Việt Nam vào sáng tác thật sâu sắc:

Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng, Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt

(Cảnh Tết)

Nhưng hoàn cảnh hiện tại xã hội đang bị thực dân Pháp đô hộ, triều đình cũng thay nhau bòn rút nhân dân, bởi thế niềm vui bình dị, yên ả kia kéo dài không lâu mà thay vào đó là:

Ra đời gặp buổi truân chiên, Loạn ly, cùng quẫn, lại thêm mất mùa

(Năm mất mùa II - dịch)

Xã hội loạn lạc, những chính sách sưu thuế đè nặng lên đôi vai vốn đã còng của nhân dân, nhưng như vậy là chưa đủ khổ ải khi việc đồng án (áng) lại luôn “mất mùa” Nguyễn Khuyến thấu hiểu công việc đồng áng, việc làm

ăn của nông dân với những vụ mùa mất trắng Cái khó, cái khổ trong việc

“cày cấy” được nhà thơ miêu tả thật chân thực:

Năm nay cày cấy vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa

(Chốn quê)

Vùng quê Hà Nam là một mảnh đất khô cằn, đầy khốn khó Cuộc sống của người dân ở làng quê tác giả cũng chẳng khác là bao Nguyễn Khuyến hiểu rõ những điều đó và đưa vào trong thơ văn của mình đầy ám ảnh Việc sử dụng cấu trúc lặp lại và điệp từ “mất” thể hiện sự lặp đi lặp lại cái khó khăn trong việc đồng áng của người dân thật vất vả và lam lũ

Cuộc sống của người dân làng Yên Đổ nói riêng và nhân dân vùng Hà

Trang 16

Nam nói chung không chỉ chịu sự khắc nghiệt của thời tiết, mà hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ đã đẩy người nông dân vào cảnh sống “một cổ hai tròng” khốn cùng, túng quẫn với cái ách “ông lớn”, cái khổ với “ông bé”:

Vận nhà vận nước ngang nhau,

“Ông lớn”, “ông lợn” chung vào một tên

(Năm mất mùa IV - dịch)

Những khung cảnh lao động nông nghiệp thường ngày nơi thôn dã như cày bừa, trồng dâu, cấy lúa, gặt hái, làm cỏ, bắt sâu, tát nước, chống hạn,… cũng đi vào trang thơ Nguyễn Khuyến một cách thắm thiết và da diết:

Con gái chăm tằm lo gió máy, Người già phơi thóc chạy cơn giông

Ruộng lầy tham buổi người về muộn, Vàng nhật rèm mây ánh vẫn hồng

2.1.1.2 Những thú vui tao nhã

Đề tài, chủ đề về những thú vui tao nhã, chúng ta không chỉ bắt gặp

trong sáng tác của những nhà nho ẩn dật mà nó còn là sở thích của các nhà nho nói chung Thú vui tao nhã có thể kể đến như: uống trà, uống rượu, chơi

Trang 17

cờ, đọc sách, ngâm thơ,… Tuy nhiên, với nho sĩ ẩn dật, những thú vui này làm nên đặc trưng riêng trong văn chương của họ, nó xuất hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày Nhà nho hành đạo chỉ tìm đến nó sau những giờ phút quan trường Còn nhà nho ẩn dật trở về với cuộc sống nhàn tản, an yên, tĩnh lặng nên phần lớn thời gian của mình họ dành cho những thú vui tao nhã, giải phóng bản thân mình khỏi những khát vọng hoạn lộ, những tâm sự trong lòng Điều này tạo nên nét riêng của người ẩn dật

Nguyễn Khuyến là một nhà nho ẩn dật có nhiều u uất Khi trở về Yên

Đổ, ông luôn muốn tìm đến những thú vui tao nhã để “quên đời”, cố gắng để trở thành một nho sĩ ẩn dật đúng nghĩa Theo bảng khảo sát của Lê Văn Tấn

về số lượng bài thơ có câu thơ nói về những thú vui tao nhã trong 353 bài thơ của Nguyễn Khuyến thì có 73 bài thơ nói về vấn đề này [47, tr.126]

Thú vui lớn nhất mà Nguyễn Khuyến đưa vào trong thơ mình chính là rượu Uống rượu vốn đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa của các thi nhân xưa:

“rượu ngon phải có bạn hiền”, “túi thơ bầu rượu”, … Nguyễn Khuyến không chỉ đến với rượu để vui mà còn để say, say để mà quên Trong một loạt bài thơ của tác giả, ta thường thấy xuất hiện hình ảnh một túy ông:

Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng, Chén rượu bên đèn luống tỉnh say

(Nghe hát đêm khuya)

Trang 18

khỏa những trở trăn về thế sự:

Bàn cờ, cuộc rượu, vầy hoa trúc,

Bó củi, cần câu, chốn nước non

(Thơ Nôm, số 29 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Nguyễn Khuyến nhắc đến rượu rất nhiều nhưng niềm vui thì ít mà nỗi buồn sâu thẳm không lối thoát thì nhiều Thi nhân tìm đến rượu để say, say để quên

đi những bất lực của bản thân mình trước thời cuộc, trước vận mệnh dân tộc:

Khi buồn chén rượu say không biết, Ngửa mặt lờ mờ ngọn núi xa

(Cáo quan về ở nhà)

Là một bậc đại nho nhận được vua ban cho cờ, biển, được nhận bổng lộc của triều đình, mang ơn vua sâu đậm, ông ý thức rất rõ vai trò của mình Thi sĩ lo đời, thương dân nhưng đành bất lực, giương mắt mà nhìn thời cuộc mặc dù bản thân ông vẫn còn nhiều ước mơ, khát vọng, hoài bão dùng sức mình mà phụng sự trung quân

Cảm xúc chi phối nhiều trong các bài thơ khi tìm đến rượu của Nguyễn Khuyến là buồn và bất lực:

Lúc hứng uống thêm dăm chén rượu, Khi buồn ngâm láo một câu thơ

(Đại lão)

Nguyễn Khuyến say nhưng ý thức rất rõ cái “say” của mình, và càng ý thức rõ điều đó nhà thơ lại càng không thể quên được, càng bế tắc giữa thực tại và hoài bão của bản thân một hoài bão lớn lao, đẹp đẽ Nhà nho ẩn dật khi

về với cuộc sống tự do, tự tại, sống an nhàn thường tìm đến chén rượu, câu thơ với bao niềm hứng khởi nhẹ nhàng Nguyễn Khuyến lại tìm đến rượu những lúc tâm tư ông buồn sầu vô tận, không dứt được nợ nước non:

Nước non man mác về đâu tá?

(Cảm hứng)

Trang 19

Ngoài thú vui tao nhã là uống rượu thì trong thơ Nguyễn Khuyến còn xuất hiện thú vui đọc sách, ngâm thơ Ông đọc sách thánh hiền, gương cổ nhân làm điểm tựa tinh thần cho mình dù ông nhận thấy rằng sách vở buổi này chẳng giúp ích được gì cho đất nước:

Sách vở ích gì cho buổi ấy,

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

(Ngày xuân dạy các con)

Nhưng ông vẫn đọc và khuyên con cháu nên đọc sách vì với ông, sách cũng

là nghiệp, là bạn giúp ông vui thú với những ngày về ở ẩn Hơn nữa, đọc sách còn giúp ông ôn lại nghiệp cũ đèn sách, quan trường một thời:

Tân tuế phương lai cựu tuế trừ, Thanh bần ngô tự ái ngô lư

Hoàn cư bất mãn cửu cao thổ,

Tổ nghiệp vô tha nhất thúc thư

(Xuân nhật thị chư nhi I)

(Năm mới đương đến, năm cũ đã qua/ Cảnh nghèo trong sạch, ta yêu nhà ta/ Khu nhà ở quây quần không đầy chín sào đất/ Nghiệp cũ chẳng có gì ngoài

một bó sách - Ngày xuân dạy các con I)

Niềm vui với thơ cũng được thể hiện khi Nguyễn Khuyến trở về vườn Bùi:

Thi tập hành ngâm tửu úng biên, Bất thăng than tưởng thị ông hiền!

(Đọc Kiến Nam thi tập)

(Giở tập thơ ra đọc ở bên vò rượu/ Không ngớt khen ngợi ông này tài giỏi -

Đọc tập thơ Kiến Nam)

Thú vui uống trà cũng giúp cho Nguyễn Khuyến giải tỏa những tâm sự trong lòng mình, làm ông khuây khỏa đi những nỗi niềm thế sự đau buồn,

Trang 20

Hay nhà thơ còn tìm đến thú vui câu cá:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

cụ Tam Nguyên, niềm vui tao nhã ấy không đắm say và hết mình như những nhà nho ẩn dật khác mà nó vẫn còn những suy nghĩ về thế sự, về đất nước, về nhân dân Điều đó tạo nên nét riêng biệt của Nguyễn Khuyến trong sáng tác

so với các nhà nho ẩn dật khác

2.1.1.3 Niềm vui thưởng ngoạn thiên nhiên, ngao du sơn thủy

Nho sĩ khi về ở ẩn, họ có nhiều thời gian đi thưởng ngoạn thiên nhiên, ngao du sơn thủy để thanh thản, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo hóa Nhìn chung, các nhà nho hành đạo, ẩn dật hay tài tử đều có thú vui tao nhã này Đây là điểm gặp nhau thú vị giữa các nhà nho Ngô Thì Nhậm là một nhà nho hành đạo cũng có sự say mê cảnh sắc thiên nhiên, hòa nhập và

Trang 21

(Hoa vàng, sắc mùa thu một ngày tạnh ráo/ Cảnh chùa bên sông như mời mọc

ta đến dạo chơi/ Trên lầu cao bên mé nước, bóng quả chuông nho nhỏ/ Mặt

đường sạch đón nắng mai, bụi thoáng dưới bàn chân - Đi dạo nắng ở ngôi chùa bên sông)

Nguyễn Khuyến có 20/353 bài thơ nói về chủ đề thưởng ngoạn thiên nhiên, ngao du sơn thủy [47, tr.142] Nguyễn Khuyến đi rất nhiều nơi như núi

An Lão, chùa Đọi, Tây Hồ, núi Non Nước, núi Ngọc Nữ, ải Quảng Bình,…

và cả những nơi trên quê hương Hà Nam của ông

Các nhà nho ẩn dật khác có người đi nhiều, có người đi ít nhưng nhìn chung, họ đều có niềm vui trọn vẹn khi ngao du sơn thủy, đắm mình vào cảnh sắc thiên nhiên:

Bã thôn sơ yết mộ thiên chung, Nhàn bạng khê kiều yểm khách bồng

Dạ khí tiện thanh hồn bất mị,

Sổ thanh ngư địch nguyệt minh trung

(Nguyệt Sơn kiều dạ bạc - Nguyễn Húc)

(Vừa dừng thuyền ở chòm thôn bỗng nghe tiếng chuông chiều/ Khép cửa sổ thuyền khách, thảnh thơi đậu lại bên chiếc cầu bắc qua con suối/ Khí trời ban đêm dần mát nhưng không sao ngủ được/ Mấy tiếng sáo nhà chai vang lên

trong đêm trăng sáng - Đêm đỗ thuyền bên cầu Nguyệt Sơn)

Tuy nhiên, nếu như các nho sĩ ẩn dật khác hòa mình vào cùng với thiên

Trang 22

nhiên thì Nguyễn Khuyến lại gửi những tâm sự của mình vào đó Hiện lên trong thơ ông là hình ảnh một thi nhân thả hồn mình cùng với cảnh sắc thiên nhiên nhưng những trở trăn, những suy nghĩ về thế thái nhân tình chưa bao giờ thôi canh cánh trong lòng:

Già yếu xa xôi bấy đến nay, Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay!

Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá,

Sư cụ nằm chung với núi mây

Ngắm cảnh non sông kỳ tuyệt ấy,

Nợ đời bỗng chốc chẳng còn đeo

(Lên núi Ngũ Hành lưu đề)

Tác giả thả hồn mình vào thiên nhiên, cảnh vật, đất trời để chiêm nghiệm và vơi đi những trở trăn của thế thái nhân tình:

Thuyền lan nhè nhẹ, Một con chèo đủng đỉnh dạo hồ Tây

Sóng dập dờn sắc nước lẫn chiều mây, Bát ngát nhẽ, ghẹo người du lãm…

(Chơi Tây Hồ)

Trang 23

Niềm vui ngao du sơn thủy, thưởng ngoạn thiên nhiên của thi nhân không được trọn vẹn, vui vẻ như những nho sĩ ẩn dật khác vì hoàn cảnh đất nước bây giờ đang bị giặc Pháp xâm lược và bóc lột Ông ngắm nhìn những cảnh đẹp của đất nước mà mang trong lòng những nỗi đau không làm được gì

để giúp nước, giúp dân, khát vọng hoài bão không thực hiện được

Nguyễn Khuyến là nhà nho ẩn dật, ông cũng có thú vui đi đây đi đó, ngắm nhìn thiên cảnh, hòa mình với đất trời Tuy nhiên, cái tâm của cụ Tam Nguyên không thể bỏ mặc thời thế, bỏ mặc đất nước để vui cái thú vui của riêng mình, ta bắt gặp tâm sự của một nhà nho yêu nước mãnh liệt trong mỗi vần thơ viết về thú vui ngao du sơn thủy Đặc điểm này góp phần tạo nên nét riêng biệt của Nguyễn Khuyến với các nhà nho ẩn dật khác

2.1.2 Ẩn dật và mối quan tâm đến chính trị, khát vọng hoạn lộ

Nội dung này là một vấn đề lớn mà những nho sĩ ẩn dật rất quan tâm và thể hiện nhiều trong các sáng tác của mình Nguyễn Khuyến lựa chọn con đường ẩn dật là một sự miễn cưỡng, không còn chọn lựa nào khác Tư tưởng của ông vẫn mang nặng khát khao muốn hành đạo, phò vua giúp nước Chính

vì vậy, khi rời xa thế sự đương thời, Nguyễn Khuyến vẫn có sự quan tâm mạnh mẽ, mãnh liệt đến chính trị, khát vọng hoạn lộ giống với một số nho sĩ

ẩn dật như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi,…

2.1.2.1 Sự quan tâm đến chính trị

Theo tác giả Lê Văn Tấn:

Nguyên nhân khiến các nhà nho chọn con đường làm ẩn sĩ thường là do

bất đắc chí với một chính sách, một hành động hay thái độ của chính thể đương thời Trong cái nhìn của người ẩn dật, điều đó có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực đối với sự hưng phế của triều đại, đất nước Và cũng vì thế mà cái khát vọng, hoài bão kinh bang tế thế ở nho sĩ không có điều kiện được thực hiện Vì lẽ đó mà dù đứng bên kia dòng sông, ở một không gian xa chốn kinh thành, nho sĩ vẫn

Trang 24

không thôi ngóng trông về thế sự [47, tr.151]

Trong sáng tác của Nguyễn Trãi, ta cũng bắt gặp sự quan tâm đến chính trị, thời cuộc ngay cả khi tác giả đã trở về Côn Sơn để ở ẩn:

Còn có một lòng âu việc nước, Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung

(Thuật hứng, số 23)

Nguyễn Khuyến là một nhà nho điển hình của người có tài năng nhưng lại không có cơ hội để thể hiện tài năng của mình, chính vì vậy ông đã giãi bày, bộc lộ tâm trạng vừa xót xa vửa tủi nhục vì nước mất nhà tan Đấy chính

là tâm trạng chung của những nhà nho yêu nước nhưng “lực bất tòng tâm” trước thời cuộc, hiện thực của đất nước Ông được xem là một nhà nho ẩn dật song hành với nhà nho hành đạo trong chính con người mình là vì vậy Dù trở

về vùng quê cha để sống ẩn dật, nhưng cụ Tam Nguyên Yên Đổ chưa bao giờ hết lo lắng cho dân, hết băn khoăn việc nước, bỏ buông cuộc sống xã hội Điều đó làm nên nỗi buồn bơ vơ phảng phất trong các sáng tác của nhà thơ Mỗi khi nghe tiếng cuốc kêu là lòng ông lại quặn đau nỗi đau đất nước tràn bóng quân xâm lược:

Năm canh máu chảy đêm hè vắng, Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ

(Cuốc kêu cảm hứng)

Âm thanh tiếng cuốc thâu đêm “năm canh”, “sáu khắc” trên cái nền không gian “bóng nguyệt mờ”, thời gian “đêm hè vắng” rất tĩnh lặng, yên ắng dường như thấu đọng lại nỗi đau của một nhà yêu nước thấm vào từng khoảnh khắc thời gian, lan tỏa bao trùm lấy không gian Tất cả điều đó tạo nên một nỗi buồn mênh mông

Ta đã từng bắt gặp tâm trạng nhớ nước thương nhà của Bà huyện Thanh Quan trong bài thơ “Qua đèo Ngang”:

Trang 25

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

(Qua đèo Ngang - Bà huyện Thanh Quan)

Tuy nhiên, bà huyện Thanh Quan mang tâm trạng cô đơn nhưng vẫn còn nước

để mà nhớ, vẫn còn nhà để mà thương Còn với cụ Tam Nguyên thì không còn nước để mà nhớ Chính vì vậy, tiếng cuốc kêu càng làm nỗi lòng của nhà thơ tan nát:

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi, Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ

(Cuốc kêu cảm hứng)

Nhà thơ đặt mình và tiếng cuốc kêu như song hành cảm xúc Cuốc thì còn “tiếc xuân”, níu kéo mùa xuân mà đứng gọi còn nhà thơ thì lại thao thức một nỗi buồn, một gánh sầu của vận nước, để rồi đêm đêm nằm mơ mà nhớ nước Nỗi yêu, nỗi nhớ nước cũng chỉ là trong giấc mơ, đó là bi kịch với ông Mỗi câu chữ trong bài thơ là mỗi gánh sầu của người nho sĩ chân chính giữa bụi mờ của xã hội rối ren

Thời đại mà Nguyễn Khuyến sống là thời đại khủng hoảng toàn diện, mọi giá trị đều bị đảo lộn hoàn toàn Vua quan nhiều kẻ trở thành bù nhìn, bán nước hại dân Là một nhà nho chính thống, Nguyễn Khuyến đã từng có

tư tưởng trung quân sâu đậm Nhà thơ đau nỗi đau không thể làm gì để thay đổi được thời cuộc Lời thơ của ông chan chứa nỗi buồn, nước mắt khi nói

Trang 26

cho mình một lối đi có thể cứu dân, giúp nước nhưng nhà thơ lại bất lực khi nhìn thẳng vào sự thật:

Sách vở ích gì cho buổi ấy,

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

(Ngày xuân dặn các con)

Nguyễn Khuyến mang nặng tư tưởng trung quân của một nhà nho chính thống nhưng ông cũng ý thức rất rõ thể chế chính trị đương thời, ông không ngần ngại ví bọn quan lại như những vai diễn hề trên sân khấu mang lại tiếng cười cho mọi người:

Vua chèo còn chẳng ra gì, Quan chèo vai nhọ, khác chi thằng hề

(Lời người vợ hát phường chèo)

Câu thơ chứa đựng sự khinh bỉ sâu sắc của ông dành cho bọn vua quan lúc bấy giờ Ông coi họ chỉ sánh ngang với bọn kép hát, hạng người theo quan niệm xưa là “xướng ca vô loài” “Vua chèo”, “quan chèo” cũng chỉ là những trò mua vui cho thiên hạ, không có một chút giá trị nào Mặc dù vô dụng nhưng bọn chúng lại là kẻ nắm quyền sống của nhân dân, sống hay chết nằm trong tay chúng Bọn quan lại càng thêm dương dương tự đắc, quên cả phận tôi đòi Nguyễn Khuyến không chịu được trước cảnh lạm quyền, đục khoét trắng trợn nên đã nói thẳng vào mặt chúng:

Ai rằng ông dại với ông điên, Ông dại sao ông biết lấy tiền

(Tặng ông đốc học Hà Nam)

Nguyễn Khuyến đau đớn trước sự đổi thay và biến chất của bọn quan lại Thay vì họ sát cánh cùng nhân dân đứng lên chống lại kẻ thù, thì lại chèo kéo nhau, hô hùa với nhau bóc lột nhân dân, biến nhân dân thành cảnh sống

“một cổ hai tròng” đầy khốn khổ

Sống trong một giai đoạn loạn lạc, trật tự xã hội đảo lộn, đồng tiền ngự

Trang 27

trị, vua quan cùng nhau làm bè lũ tay sai bán nước, giặc ngoại xâm ra sức hà khắc, đàn áp nhân dân,… nhưng Nguyễn Khuyến chỉ biết đứng nhìn thời cuộc một cách bất lực Điều duy nhất mà ông có thể làm lúc bấy giờ là giữ cho tấm lòng của mình được trong sạch, bảo vệ sự liêm khiết của một nhà nho

2.1.2.2 Sự quan tâm đến khát vọng hoạn lộ

Các nho sĩ ẩn dật đời đầu dưới chế độ phong kiến, họ đi theo con đường học hành - thi cử - đỗ đạt - làm quan - cáo quan - ẩn dật, nghĩa là họ đã

có thời gian dùng tài năng của mình mà phò vua giúp nước, đem lại thịnh trị cho dân tộc nên khi lựa chọn ở ẩn, họ thường không bàn đến vấn đề thi cử, làm quan nữa, như Nguyễn Húc, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hãng, Nguyễn Huy Vinh Nguyễn Bỉnh Khiêm bàn đến chuyện quan trường khi đã ở ẩn nhưng nó được thể hiện khá nhẹ nhàng trong thơ ông:

Tằng phù công thất lý nguy gian, Chung hiệu trì khu lực cánh nan

(Cảm hứng thi, kỳ lục)

(Từng giúp nhà nước trải qua gian nguy, nguy hiểm/ Cố gắng ruổi rong cho

đến cùng thì sức mình thấy càng khó - Thơ cảm hứng, kỳ sáu)

Khát vọng lớn nhất trong cuộc đời của Nguyễn Khuyến chính là khát vọng hành đạo Ông luôn muốn đem tài năng của mình mà giúp dân, giúp nước đúng như một nam nhi đứng giữa đất trời theo quan niệm nho giáo Nhưng xã hội mà ông đang sống lại trong cảnh loạn ly, nho sĩ chỉ có ba con đường để lựa chọn thứ nhất thỏa hiệp, làm tay sai cho giặc; thứ hai là thể hiện tinh thần yêu nước, khởi nghĩa chống giặc cứu nước và cuối cùng là con đường về ở ẩn, sống cuộc đời thanh bạch, liêm khiết Nguyễn Khuyến chọn con đường thứ ba mặc dù anh khóa Thắng ngày ấy vẫn xông xáo muốn đem sức mình mà vẫy vùng trong thiên hạ:

Cá thần vùng vẫy vượt qua đăng,

Trang 28

Được nước, nào ai dám rỉ răng?

Cưỡi gió giương vây lên cửa Vũ, Xông mây rẽ sóng động vừng trăng

Hoài tích cánh đa kim nhật cảm, Bán sinh lao lục vị thành danh

(Quá lưỡng trạng nguyên từ)

(Nghĩ đến người xưa, nay càng cảm xúc/ Nửa đời lận đận mà chưa nên danh

vọng gì - Qua hai đền trạng nguyên) Không thể tạo nên được sự nghiệp vẻ

vang, Nguyễn Khuyến đã gửi gắm khát vọng ấy vào con trai của mình:

Ngã dĩ từ quan nhĩ tố quan,

Tố quan năng hội tố quan nan

Danh cư quá mãn ưu lăng tiết,

Sĩ hữu nhân bần thả bão quan

(Xuân nhật thị tử Hoan)

(Ta đã từ quan, con lại ra làm quan/ Làm quan khó ở chỗ biết cách làm/ Danh tiếng nếu lẫy lừng quá e lấn át mất khí tiết/ Làm quan có khi chỉ vì nghèo, thì

hãy làm chức giữ cửa - Ngày xuân khuyên con là Hoan) Ông đã có những lời

khuyên chân thành với con của mình, nếu vì nghèo mà ra làm quan thì đừng nên tham lợi, đừng mong làm quan to

Mặc dù, Nguyễn Khuyến có những khát vọng hoạn lộ mãnh liệt nhưng

Trang 29

ông lại không hối tiếc khi trở về cuộc sống ẩn dật làm một ẩn sĩ Bởi thời thế giờ đã đổi thay, đất nước bị xâm lược, tình hình chính trị, xã hội rối ren và xô

bồ khiến ông cảm thấy đau lòng và thất vọng trước hoàn cảnh đất nước

2.1.3 Ẩn dật và mối quan tâm đến cuộc sống xã hội, đời sống nhân dân

Thể hiện mối quan tâm đến cuộc sống xã hội, đời sống nhân dân, các nho sĩ ẩn dật khác lựa chọn lánh xa cuộc sống xã hội xô bồ mà vui thú cùng thiên nhiên, họ chỉ quan tâm đến những thú vui tao nhã, ở ẩn đúng nghĩa cả về hình thức lẫn tư tưởng Thiên nhiên là bạn, là tri kỉ sống cùng:

Yến tầm cố lũy tương tương khứ, Thiền yết tân thanh lục tục lai

Điểm thủy khê liên vô tục thái, Xuất ly trúc duẩn bất phàm tài

(Sơ hạ - Chu Văn An)

(Chim én lũ lượt kéo nhau đi tìm tổ cũ/ Ve sầu lục tục bay về, cất tiếng kêu đầu mùa/ Hoa sen dưới khe nhấp nhô mặt nước, vẻ thanh tao thoát tục/ Chòm măng vươn ra ngoài hàng rào, khác loài tầm thường)

Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến là hai nhà thơ tạo nên nét phá cách ở mảng sáng tác này Nơi lui về mà Nguyễn Khuyến chọn chính là quê cha Yên Đổ, nơi gắn liền với cuộc sống nhân dân, sinh hoạt của làng quê, thôn xóm Nguyễn Khuyến đã tạo nên tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc trong các tác phẩm của mình để tạo nên tính riêng biệt, đặc trưng riêng của ông trong loại hình tác giả ẩn dật

2.1.3.1 Quan tâm đến cuộc sống xã hội

Nguyễn Khuyến là nho sĩ ẩn dật có phần lớn cuộc đời sống cùng với nhân dân, gắn bó với nhân dân, với vùng nông thôn chiêm trũng đồng bằng Bắc Bộ Do vậy, ông có điều kiện để tiếp xúc và hiểu hơn về cuộc sống “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” của người dân Trần Đình Hượu nhận xét:

Trang 30

Những người chán nản với thực tế của chế độ chuyên chế, chán nản với chông gai, bụi bặm của con đường công danh, rút lui về ẩn dật ở nông thôn, vui với gió trăng, nước non, cây cỏ, với tình bà con, xóm làng thường là những người có cơ hội thuận lợi nắm bắt được thực tế thôn xóm, cảm thông với người lao động… [23, tr.41]

Theo bảng khảo sát số lượng bài thơ có câu thơ thể hiện sự quan tâm của nhà nho tới cuộc sống xã hội của Lê Văn Tấn thì Nguyễn Khuyến chính

là người có số lượng bài thơ nhiều nhất: 88/353 bài [47, tr.162] Mặc dù, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng sống gần gũi với dân, gần với cuộc sống sinh hoạt của người dân nhưng thay vì ông chỉ đứng bên ngoài mà quan sát, ngắm nhìn thì Nguyễn Khuyến lại đứng bên trong cùng tham gia với nhân dân, sống như nhân dân Điều đó thể hiện sự gần gũi với nhân dân, với cuộc sống xã hội và

sự am hiểu của cụ Tam Nguyên về những nét sinh hoạt xã hội, cộng đồng Nguyễn Khuyến đã đem tất cả tâm huyết, tình cảm của mình để đưa những sinh hoạt đời sống xã hội của nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ vào trang thơ, tạo thành những hình tượng nghệ thuật độc đáo

Bước vào trang thơ Nguyễn Khuyến là những gì bình dị nhất, gần gũi, thân thuộc nhất của làng quê Việt Nam: hình ảnh con trâu, đứa trẻ học bài, công việc đồng áng, hình ảnh những người dân đi chợ bàn chuyện giá cả, chuyện nợ nần:

Lãi mẹ lãi con sinh đẻ mãi, Chục năm chục bảy tính nhiều sao?

Trang 31

Ta chung tuổi, mới một trăm hai

Kẻ già nét bút, chăm cùng trẻ, Người khỏe tay dao độ lấy đời

Từ trước bảng vàng nhà sẵn có, Chẳng qua trong bác với ngoài tôi

(Gửi bác Châu Cầu)

Nguyễn Khuyến ở ẩn nhưng ông sống giữa những người dân quê chân chất, thật thà Cuộc sống của ông không lánh xa cuộc sống của xã hội

mà ông hướng sự quan tâm của mình đến xã hội xung quanh Thơ văn khi trở về vườn Bùi của Nguyễn Khuyến đậm nét không khí cuộc sống, phản ánh nét sinh động của cuộc sống Hình ảnh con tằm, cây lúa, chú bé chăn trâu hay ông lão đi thăm ruộng về là bức tranh cuộc sống xã hội quen thuộc của làng quê Việt Nam:

Lão tàm ái táo, miên tương khởi, Tân cốc hàm huyên, phúc tiệm phì

Mục thụ hoành tiên khu độc quá, Lân ông phù tượng khan điền quy

(Hạ nhật tân tình)

(Tằm già thích khô ráo, đương ngủ sắp trở dậy/ Lúa mới ngậm hơi ẩm, đòng đòng dần dần mẫm ra/ Chú bé chăn trâu cầm ngang chiếc roi xua nghé đi qua/

Ông già bên xóm chống gậy đi thăm ruộng trở về - Ngày hè, mới tạnh mưa)

Nguyễn Khuyến đem tất cả những tâm huyết, tình cảm của mình để hướng lòng mình ra cuộc sống xã hội Ông là người có những ràng buộc chặt chẽ với cuộc sống xã hội đương thời Ông gắn bó với bà con lối xóm, bạn bè, nhân dân sâu đậm, điều đó tạo nên nhân cách cao thượng ở Nguyễn Khuyến

mà hiếm nhà thơ trung đại nào thể hiện đầy đủ và sắc nét hơn

Trang 32

2.1.3.2 Quan tâm đến đời sống nhân dân

Nguyễn Khuyến thể hiện rất thành công ở đề tài, chủ đề thể hiện sự quan tâm đến đời sống nhân dân trong sáng tác Theo thống kê của Lê Văn Tấn thì tác giả có 26/353 bài thơ đề cập đến vấn đề này [47, tr.166] Nguyễn Khuyến là thi sĩ có cuộc sống hòa hợp với cuộc sống thôn dã nơi quê cha đất

tổ Ông là nhà thơ của nông thôn nên viết về nông thôn và cuộc sống con người ở đây bằng tất cả những tình cảm thân thuộc nhất Có thể nói, trái tim của ông rung lên cùng nhịp đập với trái tim của những người lao động nghèo Ông đã sống với tâm trạng của họ, vui với cái vui của họ, buồn với cái buồn của họ và ước mơ cái ước mơ của họ Vì vậy, nhà thơ đã thể hiện những tình cảm chân thật của mình, lúc nào cũng gắn bó với những sinh hoạt của nhân dân, với công việc làm ăn, đồng áng của nhân dân:

Lão làm áo tái, miên tương khởi, Tân cốc hàm huyên, phúc tiệm phì

(Hạ nhật tân tình)

(Tằm già thích khô ráo, đương ngủ sắp trở dậy/ Lúa mới ngậm hơi ấm, đòng

đòng dần mẫn ra - Ngày hè mưa mới tạnh)

Trong các sáng tác của mình, ông đã vẽ nên tất cả mọi khía cạnh sinh hoạt đời thường của nhân dân Yên Đổ Các nhà nho khác thường viết về thiên nhiên thanh cao hay những con người anh hùng, vĩ đại, mang tầm vóc lớn lao thì hình ảnh nhân dân và cuộc sống của họ lại hiện lên thật mộc mạc, giản dị, chân thành với tất cả tình yêu thương mà Nguyễn Khuyến dành cho Nếu không quan tâm đến đời sống nhân dân ông đã không lo khi đê vỡ:

Quai mễ Thanh Liêm đã vỡ rồi, Vùng ta thông cũng lụt mà thôi!

(Nước lụt Hà Nam)

Dở trời mưa bụi còn hơi rét, Nếm rượu tường đình được mấy ông?

Trang 33

Hàng quán người về nghe xao xác,

Nợ nần năm trước hỏi lung tung

(Chợ Đồng)

Trong thơ Nguyễn Khuyến có thấm vị mặn của mồ hôi, vị đắng của những vất vả và cơ cực với cuộc sống quanh năm đầu tắt mặt tối của người nông dân Ông dành cho họ một tình cảm đặc biệt, dễ hiểu vì ông sống cùng những người nông dân bình thường suốt một phần tư thế kỉ cuối đời, và ông

đã ảnh hưởng ít nhiều tính cách của họ Tiếng nói của ông cũng chính là tiếng nói của nhân dân:

Còn lo nỗi trời mưa rầm, Còn lo nỗi nước sông lên sớm

Lúa trổ đòng sợ gặp trái gió, Khi đâm bông sợ bị nắng khô

Nhà thơ đau xót, thương dân trước cảnh xác xơ, tiêu điều, nghèo khổ vì

Trang 34

toan tính toán vì công nợ của nhà nông, họ lại sợ năm nay bị mất mùa:

Năm nay cày cấy vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm mùa mất mùa

(Chốn quê)

Bức tranh nông thôn của Nguyễn Khuyến còn phản ánh những sinh hoạt khác, như tâm trạng vui vẻ của người nông dân vào những ngày tết được mùa Ông đã ghi nhận cái vui của ngày hội tết dẫu chỉ là những chút vui mọn:

Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng, Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt

(Cảnh tết)

Cảnh mọi nhà rộn ràng chuẩn bị nấu nồi bánh chưng truyền thống, cảm giác vui vẻ, hạnh phúc, âm thanh xao động như xua tan đi không khí ảm đạm của cuộc sống khốn khó hàng ngày Nhưng chẳng may gặp năm mất mùa, cái buồn của cảnh chợ tết lại u ám thê thảm hơn:

Dở trời mưa bụi còn hơn rét, Nếm rượu tượng đình được mấy ông?

Hàng quán người về nghe xao xác,

Nợ nần năm trước hỏi lung tung

(Chợ đồng)

Cái “xao xác” của phiên chợ nghèo cũng chính là cái xao xác của nhà thơ Ông xót xa trước cảnh nghèo của người nông dân nhưng ông lại không thể làm gì hơn để giúp nhân dân thoát khỏi tình cảnh đó Điều đó là nỗi đau không bao giờ nguôi ngoai của ông

Những vần thơ của Nguyễn Khuyến đã khắc họa hình ảnh nhân dân rõ nét hơn bao giờ hết, hình ảnh cuộc sống tiêu điều, nghèo khổ đến mức ám ảnh của những người nông dân vùng chiêm trũng Nguyễn Khuyến viết về người

Trang 35

nông dân không chỉ ở vùng quê nghèo Yên Đổ mà nó còn điển hình cho cả xã hội nước ta lúc bấy giờ Qua đó, ta thấy cái nhìn độ lượng và tấm lòng nhân hậu, chứa chan tình yêu thương của ông, một con người có nhân cách đẹp đẽ, cao khiết của một bậc đại nho

xã hội được cảm nhận Hình tượng có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó là ở phương diện tinh thần Nhưng nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ tới con người, bao gồm cả hình tượng một tập thể người (như hình tượng nhân dân hoặc hình tượng Tổ quốc) với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú [14, tr.147]

Sáng tác của nho sĩ ẩn dật nổi bật với hai hệ thống hình tượng nghệ thuật xuyên suốt là hình tượng thiên nhiên và hình tượng người ẩn dật Các

hệ thống hình tượng nghệ thuật này hiện hữu nổi bật trong thơ văn của Nguyễn Khuyến

2.2.1 Hình tượng thiên nhiên

Thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thi nhân, là một trong hai hình tượng bao trùm xuyên suốt trong văn chương tác giả nhà nho nói chung và nhà nho ẩn dật nói riêng Thiên nhiên đi vào trong sáng tác nhà nho ẩn dật rất phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc, vì thế đã có những thành tựu to lớn về hình tượng này Nhìn chung, hình tượng thiên nhiên trong sáng tác của loại

Trang 36

hình tác giả nhà nho ẩn dật thường có hai kiểu: thiên nhiên khép kín, vắng bóng cuộc sống xã hội và thiên nhiên sống động, mang không khí cuộc sống

xã hội

2.2.1.1 Thiên nhiên khép kín, vắng bóng cuộc sống xã hội

Có thể nói, số lượng những tác phẩm thơ của Nguyễn Khuyến tồn tại

hình tượng thiên nhiên khép kín, vắng bóng cuộc sống xã hội khá ít so với các

nhà nho ẩn dật giai đoạn đầu: 14/353 bài [47, tr.185] Các nhà nho ẩn dật ở giai đoạn hình thành, tình hình chính trị chưa có nhiều biến động, họ thường chọn môi trường sống cách biệt với cuộc sống xã hội Họ hòa mình vào thiên nhiên, giao cảm với thiên nhiên Họ tìm đến với thiên nhiên để tránh xa chốn thị phi, đầy cám dỗ của xã hội Đó cũng là cách để họ chia sẻ những chức năng phận vị, những tâm tư tình cảm của mình, nuôi dưỡng tâm hồn Con người và thiên nhiên trở nên khắng khít, gần gũi hơn Thiên nhiên hiện lên trong sáng tác của những nhà nho ẩn dật giai đoạn đầu thuần khiết, trong sáng, nguyên sơ,… Đó là hình ảnh cao quý, sang trọng của tùng, cúc, trúc mai; của cỏ cây, hoa lá, trăng nước,… Thiên nhiên tĩnh lặng để đối diện với

cái tôi của người ẩn dật:

Lâu đài kề nước, hoa cỏ hướng dương, Thược dược khéo mười phần tươi tốt

Hây hây ngõ hạnh tường đào quanh nhà Thái tổ, Thây thẩy đường hòe, dặm liễu, bóng gió thiều quang

(Đại Đồng phong cảnh phú - Nguyễn Hãng)

hay Lê Hữu Trác:

Tiêu điều loạn hậu cảnh, Kim nhật thủy trùng quang

Cổ tỉnh trừng lưu nguyệt, Phi niên thụy thổ hương

Trang 37

Lâu cao hưởng trung cổ, Tùng tĩnh vận sinh hoàng

(Thủ 11)

(Giếng xưa phẳng lặng rạng in mặt trăng/ Hoa sen bay ngát mùi hương chỉ điềm tốt/ Lầu cao tiếng chiêng trống vang dội/ Ngọn thông phẳng lặng, tiếng sáo nhịp nhàng)

Nguyễn Khuyến cũng theo thói quen của các nhà nho ẩn dật xưa, cũng làm rất nhiều về thơ vịnh cảnh, nhưng đối tượng trong thơ của ông đã không còn là tuyết, nguyệt, phong, hoa mà nó mang những cảnh sắc cụ thể của nông thôn Việt Nam, mang đặc điểm của không gian môi trường sống ẩn dật: không gian Yên Đổ với bờ tre, ngõ trúc, vườn cà, luống cải,… Thiên nhiên miền Bắc đã đi vào thơ ông một cách thân thương, giản dị, đầm ấm nhưng mang chút buồn thế thái Qua sự chắt lọc của tâm hồn nhà thơ, thiên nhiên Bắc Bộ hiện lên đẹp đẽ, thi vị, trong sáng, thanh cao mà tĩnh lặng Điều đó thể hiện rõ nét trong chùm thơ thu của ông:

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Thị tản yên sơ nhật chính hoàng,

Cô phàm hà xứ vãn qui mang

(Vãn phố qui phàm)

(Chợ tan, khói thưa, trời ánh vàng/ Cánh buồm lẻ loi từ đâu về muộn)

Trang 38

Hình tượng thiên nhiên trong sáng tác của những nho sĩ ẩn dật như Nguyễn Húc, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hãng,… thường gián tiếp thể hiện tâm trạng thanh thản của các tác giả Sau thời gian vật lộn với “cửa Khổng sân Trình”, họ hết lòng hòa mình với thiên nhiên, giao cảm và tiêu dao cùng thiên nhiên Còn Nguyễn Khuyến lại luôn gửi gắm những ưu tư, phiền muộn của mình vào thiên nhiên Trong ba bài thơ thu, nhà thơ Yên Đổ đã bộc

lộ kín đáo những tâm sự u uất trong lòng, ví như hai câu kết bài “Thu vịnh” là

sự cố nén tủi thẹn của chính tác giả:

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào

“Nhân hứng” rồi lại “nghĩ ra”, đó là sự đối lập giữa chủ quan và khách quan, giữa ước mong với hiện thực, đó là một sự bất như ý của con người Nhà thơ nói “Nhân hứng” là ca ngợi mùa thu đẹp và nên thơ Thế nhứng “toan cất bút” làm thơ rồi lại “thẹn” Thẹn với Đào Tiềm - một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc, đời Tấn Ông nổi tiếng vì thơ hay là một lẽ, lẽ khác còn nổi tiếng vì việc sau một năm làm quan ở Bành Trạch đã rũ áo từ quan bởi không chịu vì

ba đấu thóc mà phải cúi lưng Nguyễn Khuyến tự thấy thẹn là bởi tâm hồn ông đang mang nặng nỗi u hoài, chưa thực sự hài lòng vì lòng còn mang nhiều

Trang 39

xót xa với thời cuộc Ông cáo quan về ở ẩn là vì bất lực trước vận nước Tâm

sự ấy vừa đáng thương vừa đáng trọng Tấm lòng nhà thơ luôn hướng về nhân dân, đất nước Tấm bi kịch nhàn thân mà chẳng nhàn tâm ấy sẽ mãi theo ông trong những năm cuối đời từ khi trở về vườn Bùi chốn cũ đến khi qua đời

2.2.1.2 Thiên nhiên sống động, mang không khí cuộc sống xã hội

Loại hình thiên nhiên thứ hai này, theo bảng thống kê khảo sát của Lê Văn Tấn, trong 353 bài thơ được khảo sát thì Nguyễn Khuyến đã có đến 59 bài thơ nói về kiểu thiên nhiên này [47, tr.201] Qua đó chúng tôi nhận thấy quan niệm về nơi ẩn dật của Nguyễn Khuyến có bước biến chuyển rõ rệt Ông chọn về quê cha, vùng đất Hà Nam đơn sơ, giản dị, gần gũi để sống cùng với nhân dân Một số tác giả giai đoạn đầu như: Chu Văn An, Trần Nguyên Đán,

Lê Hữu Trác,… nơi ẩn dật của họ thường cách xa cuộc sống của người dân, tách biệt với cuộc sống xã hội Họ chọn nơi chỉ có họ hòa cùng với thiên nhiên như núi rừng, những nơi hoang sơ, hẻo lánh, vắng bóng dấu chân con người Còn với Nguyễn Khuyến, trừ mười một năm hoạn lộ quan trường thì phần lớn cuộc đời ông sống cùng với nông dân miền đất Hà Nam, bởi vậy ông

có cơ hội tiếp xúc, hiểu hơn về người nông dân, có những nhận thức mới về nông dân Chính vì vậy, nơi ở ẩn mà ông lựa chọn là vùng đất quê hương có nhiều kí ức đẹp đẽ của ông Đề tài của ông không còn là những điều cao quý, lớn lao mà thiên nhiên quê hương đã đi vào trong thơ một cách hiện thực nhất, đó là chốn vườn cũ với những cảnh vật bình dị, thuần khiết, đơn sơ:

Trang 40

Ngọn gió đông ngoảnh lại lệ đầm khăn

Tình thương hải tang điền qua mấy lớp, Người chớ giận Lỗ hầu chẳng gặp

Như lơ phơ tóc trắng lại làm chi, Muốn về sao chẳng về đi?

(Bùi Viên cựu trạch ca - dịch)

Cảnh vật nhỏ bé, chân chất có vẻ như quê mùa ấy mới đúng là cảnh quê ông Không tô vẽ màu mè mà chỉ là những nét phác họa tinh tế, đó là cái tài của Nguyễn Khuyến Những hình ảnh dân dã qua lăng kính của thi nhân trở nên lấp lánh, chân thực, sống động

Nguyễn Khuyến là nét phá cách, sự độc đáo trong văn chương trung đại nói chung và nhà nho ẩn dật nói riêng khi viết về đề tài này, đúng như lời

nhận xét của Vũ Thanh: “Nguyễn Khuyến chính là nhà thơ viết về nông thôn

số một của văn học dân tộc… Phải đến Nguyễn Khuyến, văn học mới thật sự

“bước xuống” đồng ruộng, đến với người dân nơi thôn dã… thơ ca được kết tinh, trở nên chân thực, chi tiết, sinh động…” [48, tr.33] Với những đóng góp

của mình, Nguyễn Khuyến đã đưa hình tượng thiên nhiên lên một tầm cao mới, từng bước thoát li văn học ước lệ, tượng trưng và đến gần hơn văn học hiện thực

Ta có thể tìm thấy trong thơ tả cảnh của Nguyễn Khuyến những sự vật, hình ảnh, âm thanh cụ thể, gần gũi, quen thuộc như vậy Có khi là hình ảnh của một vườn rau, có bầu, có mướp, có cà:

Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa

(Bạn đến chơi nhà)

Hay hình ảnh một cánh bướm chấp chới trước hiên nhà:

Cá vượt khóm rau trên mặt nước,

Ngày đăng: 22/11/2021, 19:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trịnh Ngọc Ánh (2009), “Tư liệu chữ Nôm về thơ Nôm Nguyễn Khuyến”, Tạp chí Hán Nôm, (3), tr.46-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu chữ Nôm về thơ Nôm Nguyễn Khuyến”, Tạp chí" Hán Nôm
Tác giả: Trịnh Ngọc Ánh
Năm: 2009
[2] Nguyễn Huệ Chi (1985), “Một vài phương hướng tiếp cận thơ văn Nguyễn Khuyến”, Tạp chí Văn học, (4), tr.30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài phương hướng tiếp cận thơ văn Nguyễn Khuyến”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1985
[3] Nguyễn Huệ Chi (chủ biên, 1994), Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[4] Bùi Văn Cường (sưu tầm, biên soạn, 1987), Nguyễn Khuyến và giai thoại, Nxb Hội Văn học nghệ thuật, Hà Nam Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến và giai thoại
Nhà XB: Nxb Hội Văn học nghệ thuật
[5] Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 2004
[6] Ngô Viết Dinh (2001), Đến với thơ Nguyễn Khuyến, Nxb Thanh Niên, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Nguyễn Khuyến
Tác giả: Ngô Viết Dinh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2001
[7] Xuân Diệu (giới thiệu, 1971), Thơ văn Nguyễn Khuyến, Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Khuyến
Nhà XB: Nxb Văn học
[8] Xuân Diệu (2009), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập 2), Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2009
[9] Biện Minh Điền (2008), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, Nxb Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2008
[10] Biện Minh Điền (2015), Loại hình văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: Nxb Đại học Vinh
Năm: 2015
[11] Hà Minh Đức (1993), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
[12] A.Ja. Gurevich (1996), Các phạm trù văn hoá trung cổ (Hoàng Ngọc Hiến dịch), Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phạm trù văn hoá trung cổ
Tác giả: A.Ja. Gurevich
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[13] Đỗ Thị Hạ (2013), “So sánh giọng điệu tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương”, Tạp chí Giáo dục, (Số đặc biệt tháng 4), tr.90-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh giọng điệu tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương”, Tạp chí" Giáo dục
Tác giả: Đỗ Thị Hạ
Năm: 2013
[14] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[15] Dương Quảng Hàm (1938, sử dụng bản năm nào thì ghi năm đó, không cần ghi tái bản hay không), Văn học Việt Nam, Nxb Hồng Đức, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
[16] Đặng Thị Hảo (2013), “Ba loại hình tác gia văn học thời Lý – Trần”, Tạp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba loại hình tác gia văn học thời Lý – Trần
Tác giả: Đặng Thị Hảo
Năm: 2013
[17] Đinh Thị Minh Hằng (2010), “Khuynh hướng đề cao tính chân thực và tình cảm tự nhiên trong quan niệm văn học thế kỉ XVIII – XIX”, Tạp chí nghiên cứu khoa học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng đề cao tính chân thực và tình cảm tự nhiên trong quan niệm văn học thế kỉ XVIII – XIX”, Tạp chí" nghiên cứu khoa học
Tác giả: Đinh Thị Minh Hằng
Năm: 2010
[18] Bùi Văn Hoàng (2007), “Chuyện Nguyễn Khuyến đi thi”, Tạp chí Xưa và nay, (285), tr.36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện Nguyễn Khuyến đi thi”, Tạp chí "Xưa và nay
Tác giả: Bùi Văn Hoàng
Năm: 2007
[19] Nguyễn Phạm Hùng, Văn học Việt Nam (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XX), Nxb Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XX)
Nhà XB: Nxb Quốc gia
[20] Nguyễn Văn Huyền (1984), Nguyễn Khuyến và tác phẩm, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Văn Huyền
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w