- Tác giả Phạm Thị Lan Anh 2017 với đề tài “Hoàn thiện công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSĐP cho ngân sách quận, huyện tại Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng” đã nghiên cứu về NSNN và n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN THỊ ÁNH HỒNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN VÀ QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH – KẾ HOẠCH THỊ XÃ AN NHƠN,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ánh Hồng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị xã An Nhơn hiện nay đang tập trung xây dựng thị xã lên Thành phố vào năm 2025 Điều đó đòi hỏi thị xã phải có nhiều giải pháp tích cực triển khai thực hiện, trong đó về quản lý NSNN tại thị xã cũng cần có những giải pháp đổi mới và tích cực hơn nữa Tuy nhiên trong những năm gần đây, địa phương cũng đã có nhiều giải pháp nhằm phục vụ công tác quản lý ngân sách thị xã ngày càng tốt hơn như: quy định về quy trình trong công tác lập dự toán ngân sách và tổ chức thực hiện ngân sách đã được phê chuẩn, thực hiện công khai dự toán sau khi đã được cấp có thẩm quyền thống nhất, phê duyệt
Tuy nhiên qua các báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách tại thị xã An Nhơn qua các năm cho thấy vẫn còn nhiều tồn tại, chưa sát, gây thất thoát và lãng phí Quyết toán thu, chi ngân sách luôn vượt và tăng nhiều so với dự toán thu, chi trong các năm gần đây Điều này sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách quản lý thu, chi ngân sách nhà nước cũng như các chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương Xuất phát từ thực tế đó, tác giả chọn đề
tài: “Hoàn thiện công tác lập dự toán và quyết toán ngân sách Nhà nước tại Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã An Nhơn” để làm Luận văn tốt nghiệp
2 Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan
NSNN nói chung và ngân sách cấp huyện nói riêng được coi là huyết mạch của nền kinh tế một quốc gia cũng như từng địa phương Để Ngân sách được sử dụng một cách có hiệu quả, ngay từ bước lập dự toán từ đơn vị cơ sở cho đến các đơn vị cấp trên phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt, có hệ thống, trên nguyên tắc tiết kiệm Thực tế cho thấy có nhiều nghiên cứu về việc lập dự toán, được các tác giả đi trước nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện như:
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác lập, phân bổ và giao dự toán
Trang 4ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Nguyễn Thị
Hồng Phúc (2013), Đại học Đà Nẵng Luận văn đã hệ thống hóa những vấn
đề lý luận cơ bản về NSNN; về công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách để làm cơ sở nghiên cứu đề tài Đặc biệt, luận văn làm rõ vị trí, vai trò của công tác này đã ảnh hưởng, tác động đến quá trình phát triển KT-XH của đất nước nói chung và của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010-2012, chỉ rõ những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế trong việc tổ chức thực hiện công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa phương tại Quảng Ngãi; tác giả đã đề xuất các giải pháp cụ thể, giải pháp có tính định hướng nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSNN nói chung, đối với tỉnh Quảng Ngãi nói riêng trong thời gian đến
- Đề tài “Hoàn thiện công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSĐP trên địa bàn tỉnh Bình Định” của tác giả Huỳnh Nguyên Ngọc (2014) nghiên cứu,
đánh giá về thực trạng công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSĐP tại tỉnh Bình Định giai đoạn 2008 - 2012, đồng thời dựa trên cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn, tác giả đã chỉ ra những điểm còn hạn chế và nghiên nhân của nó
- Tác giả Nguyễn Quốc Anh (2015) với đề tài “Quản lý NSNN tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh” tập trung trả lời câu hỏi: Thực trạng của công
tác quản lý NSNN tại địa bàn huyện Đức Thọ thời gian qua thế nào và giải pháp cơ bản nào để hoàn thiện công tác quản lý NSNN tại huyện Đức Thọ thời gian tới Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý NSNN nói chung và quản lý ngân sách cấp huyện nói riêng, thực hiện việc phân tích, đánh giá tương đối đầy đủ thực trạng công tác quản lý NSNN trên địa bàn huyện Đức Thọ, chỉ ra những kết quả đạt được, mặt hạn chế và
Trang 5nguyên nhân, từ đó đề ra những quan điểm và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý NSNN trên địa bàn huyện Đức Thọ trong thời gian tới
- Tác giả Phạm Thị Lan Anh (2017) với đề tài “Hoàn thiện công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSĐP cho ngân sách quận, huyện tại Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng” đã nghiên cứu về NSNN và nội dung quản lý nhà
nước, những nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSĐP cho ngân sách quận, huyện tại Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng, thực trạng về công tác thực hiện dự toán NSĐP nói chung và ngân sách cấp quận, huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, để từ đó tác giả đề ra những khuyến nghị cấp thiết giúp hoàn thiện công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSĐP cho ngân sách quận, huyện tại Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng
Qua các nghiên cứu trên cho thấy, mỗi địa phương có đặc điểm riêng, ảnh hưởng đến công tác lập dự toán và quyết toán ngân sách
Riêng đối với công tác lập dự toán và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã An Nhơn cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này nên chưa thể áp dụng vào điều kiện thực tế của thị xã Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn nêu lên một số vấn đề đã có, những thành quả, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần với đề tài; đồng thời, sử dụng các công cụ để phân tích và đề xuất các giải pháp để công tác lập dự toán và quyết toán NSNN có hiệu quả hơn trong thời gian đến
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Luận văn có các mục tiêu nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác lập dự toán và quyết toán NSNN cấp thị xã;
- Phân tích thực trạng công tác lập dự toán và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã An Nhơn để đánh giá kết quả đạt được và
Trang 6tìm ra nguyên nhân của những hạn chế;
- Qua nghiên cứu thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập dự toán và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thị
xã An Nhơn trong thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu công tác lập dự toán và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã An Nhơn
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác lập dự toán NSNN tại thị xã An Nhơn
Các số liệu minh họa là số liệu dự toán thu, chi và quyết toán ngân sách
từ năm 2016 đến 2019 tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu: tác giả tiến hành thu thập thông tin thứ cấp thông qua các ấn bản phẩm đã công bố như: sách, bài báo chuyên ngành, các công trình nghiên cứu khoa học, các tài tiệu, báo cáo của ngành và của Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã An Nhơn
- Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu: từ dữ liệu thông tin thứ cấp thu thập được, tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích thành các bảng biểu, sơ đồ,
để phục vụ cung cấp thông tin theo nội dung cần phân tích
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trang 7vào công tác lập dự toán và quyết toán NSNN
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia thành 3 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác lập và quyết toán ngân sách nhà nước cấp huyện
Chương 2: Thực trạng công tác lập và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã An Nhơn
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác lập và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã An Nhơn
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP
VÀ QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
1.1 TỔNG QUAN VỀ NSNN VÀ NSNN CẤP HUYỆN
1.1.1 Khái niệm, bản chất của NSNN
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù lịch sử, phản ánh các quan hệ kinh tế trong điều kiện kinh tế hàng hoá - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ để thực hiện chức năng của Nhà nước Sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Để phục vụ cho hoạt động của mình, nhà nước cần phải có nguồn lực tài chính và đó là cơ
sở hình thành nên ngân sách nhà nước, một bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nước
Định nghĩa về NSNN được đánh giá dưới nhiều khía cạnh khác nhau như: “NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử NSNN phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ
sở luật định” [5]
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [3]
Theo Khoản 14, Điều 4, Luật NSNN đã được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9, thông qua ngày 25/6/2015,
định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán
và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Với khái niệm Ngân sách nhà nước theo Luật ngân sách, khi nói đến
Trang 9NSNN, người ta thường đề cập tới 3 đặc tính cơ bản:
+ Tính pháp lý: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện
+ Tính kinh tế: phản ảnh các khoản thu và các khoản chi
+ Tính niên độ: thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định
Theo Điều 5, Luật NSNN, nội dung thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước như sau:
* Thu ngân sách nhà nước bao gồm:
- Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí;
- Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; - Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các
tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
* Chi ngân sách nhà nước bao gồm:
- Chi đầu tư phát triển;
- Chi dự trữ quốc gia;
Trang 10Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về NSNN nhưng đều có chung bản chất là NSNN gắn liền với nhà nước NSNN nhằm đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước, đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
1.1.2 Chức năng của NSNN
NSNN thể hiện trong mối quan hệ kinh tế - tài chính giữa nhà nước với các chủ thể của nền kinh tế trong quá trình hình thành, phân bổ và sử dụng NSNN, quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước
NSNN là một bộ phận rất quan trọng đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia Vì vậy, NSNN cũng có hai chức năng là chức năng phân phối, chức năng điều chỉnh và kiểm soát [6]
- Chức năng phân phối: để tồn tại và phát triển, Nhà nước cần phải có nguồn lực tài chính để đáp ứng các khoản chi tiêu cho hoạt động của mình, muốn vậy Nhà nước phải huy động vốn trong, ngoài nước Nguồn huy động trong nước chủ yếu là nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu hợp pháp khác Nguồn huy động từ nước ngoài gồm viện trợ, vay nợ, chênh lệch xuất, nhập khẩu Vốn huy động được Nhà nước thực hiện phân phối mang tính chất không hoàn trả trực tiếp
- Chức năng điều chỉnh và kiểm soát: thể hiện quá trình huy động và sử dụng NSNN phải được thể hiện bằng các văn bản pháp luật Nhà nước cần phải theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra chặt chẽ các khoản thu, chi NSNN theo những tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định
Với hai chức năng trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách Từ đó phát huy vai trò tích cực của NSNN đối với quá trình quản lý vĩ mô nền kinh tế, giúp cho Nhà nước quản lý NSNN được hiệu quả, đúng quy định pháp luật
Trang 111.1.3 Vai trò của NSNN
Ngân sách nhà nước có vai trò rất to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại Vai trò đó thể hiện trên các mặt như: vừa là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ môi trường
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có vai trò quyết định sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ sở của chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của nhà nước Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, NSNN có các vai trò chủ yếu sau:
- Với chức năng phân phối, ngân sách nhà nước có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước và thực hiện cân đối thu chi tài chính của nhà nước Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi mô hình kinh tế Nó gắn chặt với các chi phí của nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình
- NSNN là công cụ tài chính của nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ chính
để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá cả cũng như giải quyết các nguy
cơ tiền ẩn về bất ổn định kinh tế - xã hội Muốn thực hiện tốt vai trò này NSNN phải có quy mô đủ lớn để nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội
- NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc
Trang 12đẩy phát triển bền vững Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo phương thức riêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó Mặt trái của nó
là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội Bên cạnh
đó, do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa và dịch vụ xã hội cần nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hàng hóa công cộng Do đó, nếu để kinh tế thị trường tự điều chỉnh mà không có vai trò của nhà nước thì sẽ phát triển thiếu bền vững Vì vậy Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ chính là chính sách thuế khóa và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công trong xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái
Như vậy, vai trò của NSNN là rất lớn Nó đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương để duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước Tác động tích cực đến cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo cân đối hợp lý, góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế Điều tiết thị trường, ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát, đó là điều tiết cung - cầu, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất và người tiêu dùng, thông qua các hình thức trực tiếp như chi ngân sách mua hàng hóa, dịch vụ để điều chỉnh tổng cầu, trợ giá, bình ổn giá;
sử dụng thuế để tác động gián tiếp vào cung - cầu thông qua hạn chế hoặc khuyến khích Giải quyết các vấn đề xã hội như điều tiết, làm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập, hạn chế sự phân hóa giữa các tầng lớp nhân dân và góp phần vào thực hiện công bằng xã hội; thông qua các khoản chi tiêu ngân sách mà thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng và an sinh
xã hội…
Trang 13xã, thành phố thuộc tỉnh
Ngân sách xã, phường, thị trấn
1.1.4 Hệ thống NSNN ở Việt Nam
Theo Điều 6 Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015, “NSNN gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương”
Hệ thống NSNN ở Việt Nam gồm 2 cấp: Ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách địa phương gồm có 3 cấp là ngân sách cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương), ngân sách cấp huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và ngân sách cấp xã (phường, thị trấn) như Sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hệ thống NSNN Việt Nam
(Nguồn: Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015)
Qua Sơ đồ 1.1 cho thấy mối quan hệ giữa ngân sách các cấp theo các nguyên tắc sau đây:
- Ngân sách Trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể đối với từng cấp ngân sách
- Có sự bổ sung ngân sách từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
để đảm bảo cân bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Số bổ
Trang 14sung ngân sách từ cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới
- Trong trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải có nghĩa vụ chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó
- Ngoài việc bổ sung nguồn thu và thực hiện ủy quyền thực hiện nhiệm
vụ chi nêu trên, không được dùng ngân sách này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác
1.1.5 Ngân sách nhà nước cấp huyện trong hệ thống NSNN
a Khái niệm và đặc điểm NSNN cấp huyện
Ngân sách nhà nước cấp huyện được định nghĩa: "Ngân sách huyện (quận) là quỹ tiền tệ tập trung của huyện (quận) được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi huyện (quận)" [4]
Như vậy, Ngân sách nhà nước cấp huyện (quận) thực hiện vai trò, nhiệm vụ thu, chi NSNN trên phạm vi địa bàn huyện (quận) đó
Chính quyền cấp huyện là chính quyền trung gian giữa tỉnh (thành phố) với xã, phường, thị trấn Ngân sách nhà nước cấp huyện (quận) là công cụ quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện (quận) Do đó chính quyền cấp huyện không chỉ thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh (thành phố) mà còn có những định hướng riêng phù hợp với tình hình thực tế của huyện (quận) theo quy định của pháp luật
b Nội dung ngân sách nhà nước cấp huyện
* Thu ngân sách nhà nước cấp huyện:
Thu ngân sách huyện là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách huyện, đóng vai trò quan trọng, quyết định đến việc chi ngân sách huyện Để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, cần phải có chính sách thu hợp lý, hiệu quả, tập hợp
Trang 15các biện pháp, chủ trương nhằm huy động nguồn thu vào cho ngân sách [3] Theo Luật ngân sách nhà nước 2015, thu ngân sách nhà nước cấp huyện bao gồm các khoản sau:
- Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%:
+ Thuế tài nguyên, trừ thuế tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí;
+ Thuế môn bài: là một khoản thu hàng năm từ các cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế
+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
+ Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp;
+ Tiền sử dụng đất, trừ thu tiền sử dụng đất tại điểm k khoản 1 Điều 35 của Luật này;
+ Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước;
+ Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
+ Lệ phí trước bạ: là một loại lệ phí mà người có tài sản phải nộp khi đăng ký quyền sở hữu (trừ trước bạ nhà, đất)
+ Thu từ quỹ dự trữ tài chính địa phương;
+ Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu tiền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương quản lý;
+ Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương;
+ Lệ phí do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện thu;
+ Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện;
Trang 16+ Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương xử lý;
+ Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;
+ Huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
+ Thu kết dư ngân sách địa phương: là chênh lệch giữa tổng số thu ngân sách địa phương lớn hơn tổng số chi ngân sách địa phương; chi ngân sách bao gồm cả những khoản thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán, các khoản chi chuyển nguồn sang năm sau để thực hiện những nhiệm vụ chi được cấp có thẩm quyền quyết định tiếp tục được thực hiện trong năm sau (bao gồm cả số dư tạm ứng kinh phí hết thời gian chỉnh lý quyết toán chưa đủ chứng từ thanh toán, được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển năm sau thanh toán) Căn cứ nghị quyết phê chuẩn quyết toán của HĐND cấp huyện
để xử lý kết dư ngân sách huyện, cơ quan tài chính có văn bản gửi KBNN đồng cấp để làm thủ tục hạch toán vào thu ngân sách năm sau theo chế độ quy định
+ Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
- Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương theo quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này
- Thu bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương
- Thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang: là việc chuyển nguồn kinh phí năm trước sang năm sau để thực hiện các khoản chi đã được bố trí trong dự toán năm trước hoặc dự toán bổ sung nhưng
Trang 17đến hết thời gian chỉnh lý chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong được cơ quan có thẩm quyền cho tiếp tục thực hiện chi vào ngân sách năm sau và được hạch toán thu chuyển nguồn ngân sách năm trước sang năm sau
* Chi ngân sách nhà nước cấp huyện:
Chi ngân sách huyện là việc Nhà nước cấp huyện phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng của Nhà nước, đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế, xã hội theo các nguyên tắc nhất định Phạm vi chi ngân sách huyện rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng, nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước chính quyền cấp huyện, tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hóa, xã hội
và đảm bảo an ninh, quốc phòng [3]
Theo Luật ngân sách nhà nước 2015, chi ngân sách nhà nước cấp huyện gồm các khoản như:
- Chi đầu tư phát triển: chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như: chi cho các công trình giao thông; các công trình đê điều, hồ đập, kênh mương; các công trình bưu chính viễn thông, điện lực, cấp thoát nước; các công trình giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, phúc lợi công cộng…
- Chi thường xuyên của địa phương trong các lĩnh vực:
+ Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề;
+ Sự nghiệp khoa học và công nghệ;
+ Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phần giao địa phương quản lý: Tổ chức hội nghị, tập huấn nghiệp vụ và các nhiệm vụ khác về công tác quốc phòng trên địa bàn huyện Chi cho hoạt động của các cơ quan quân
Trang 18sự, công an, biên phòng các cấp và các hoạt động đảm bảo trật tự an toàn xã hội theo phân cấp
+ Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình;
+ Sự nghiệp văn hoá thông tin;
+ Sự nghiệp phát thanh, truyền hình;
+ Sự nghiệp thể dục thể thao;
+ Sự nghiệp bảo vệ môi trường;
+ Các hoạt động kinh tế;
+ Hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các
tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật;
+ Chi bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi thực hiện các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật;
+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
- Chi trả nợ lãi các khoản do chính quyền địa phương vay
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương
- Chi chuyển nguồn sang năm sau của ngân sách địa phương
- Chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới
c Vai trò của ngân sách nhà nước cấp huyện
- Thu ngân sách nhà nước cấp huyện là công cụ để điều tiết nền kinh tế
cấp huyện Thông qua thu ngân sách mà các nguồn thu được tập trung nhằm
Trang 19tạo lập quỹ tiền tệ để sử dụng vào các mục đích mà huyện được phân cấp quản lý kinh tế xã hội Đồng thời giúp chính quyền nắm bắt được số lượng, quy mô phát triển các ngành nghề trên địa bàn, hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, tình hình doanh thu, chi phí của doanh nghiệp cũng như mức thu nhập của người lao động trên địa bàn huyện Từ đó, chính quyền huyện có cơ sở để điều tiết, phát triển nền kinh tế tại địa phương [4]
- Thu ngân sách nhà nước cấp huyện góp phần điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Thông qua thu ngân sách nhà nước để đảm bảo công bằng giữa những người có nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách hoặc miễn giảm cho các loại hình sản xuất kinh doanh mới phát triển, cần vốn lớn, nhất là ngành nghề thu hút nhiều lao động tại địa phương góp phần giải quyết công
ăn việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, góp phần phát triển kinh tế chung của địa phương [4]
- Chi ngân sách nhà nước cấp huyện hiệu quả góp phần phát triển kinh
tế - xã hội tại địa phương Tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng quy mô công nghiệp và dịch vụ; rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi; góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội như xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng bền vững [4]
1.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC LẬP VÀ QUYẾT TOÁN NSNN CẤP HUYỆN
1.2.1 Công tác lập dự toán thu, chi NSNN huyện
Lập dự toán NSNN là quá trình xây dựng và quyết định dự toán thu, chi ngân sách của Nhà nước trong thời hạn một năm [6]
Lập dự toán thu, chi NSNN huyện là khâu đầu tiên của chu trình quản
lý NSNN, tạo tiền đề cơ sở cho các khâu tiếp theo, quyết định nhiệm vụ và quy mô thu, chi ngân sách trong một năm của ngân sách huyện cũng như của
Trang 20một đơn vị dự toán cấp huyện Lập dự toán quyết định chất lượng quản lý vì quản lý ngân sách trước hết là quản lý theo dự toán được duyệt Nếu việc lập
dự toán được tiến hành trên cơ sở có đầy đủ căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn, đảm bảo đúng tiến độ, thời gian quy định thì việc tổ chức thực hiện
và quyết toán NSNN sẽ có chất lượng hiệu quả hơn
Dự toán ngân sách là bản dự trù các khoản thu, chi ngân sách theo các chỉ tiêu xác định, được HĐND huyện phê chuẩn, UBND huyện quyết định là căn cứ để thực hiện thu, chi NSNN huyện
a Căn cứ và yêu cầu đối với lập dự toán
* Theo Điều 41, Luật ngân sách nhà nước năm 2015, dự toán ngân sách phải được lập dựa trên các căn cứ cơ bản như sau:
- Nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng,
an ninh nói chung và nhiệm vụ cụ thể của địa phương nói riêng
- Quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và chế độ thu ngân sách nhà nước; định mức phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước
- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia đối với các khoản thu phân chia và mức bổ sung cân đối ngân sách của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
- Văn bản pháp luật của các cấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau
- Kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước
03 năm, kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển
KT-XH và dự toán ngân sách năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về lập dự toán ngân sách; Thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và xây
Trang 21dựng kế hoạch phát triển KT-XH, kế hoạch phát triển vốn đầu tư thuộc NSNN
và các văn bản hướng dẫn của UBND tỉnh, Sở Tài chính, UBND huyện Trong đó lưu ý: mức độ tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu phát triển KT - XH
- Số kiểm tra về dự toán thu, chi NSNN
- Các kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực hiện ngân sách năm trước đặc biệt là năm báo cáo
* Theo Điều 42, Luật ngân sách nhà nước năm 2015, dự toán ngân sách phải được lập phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Dự toán ngân sách nhà nước phải tổng hợp theo từng khoản thu, chi
và theo cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi dự trữ, chi trả nợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách
- Dự toán ngân sách của đơn vị dự toán ngân sách các cấp được lập phải thể hiện đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng biểu mẫu, thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Trong đó:
+ Dự toán thu ngân sách được lập trên cơ sở dự báo các chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô và các chỉ tiêu có liên quan, các quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và chế độ thu ngân sách;
+ Dự toán chi đầu tư phát triển được lập trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước, khả năng cân đối các nguồn lực trong năm dự toán, quy định của pháp luật về đầu
tư công, xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan;
+ Dự toán chi thường xuyên được lập trên cơ sở nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Việc lập dự toán ngân sách của các cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Trang 22về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính; đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính thực hiện theo quy định của Chính phủ;
+ Dự toán chi ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo
và dạy nghề, khoa học và công nghệ bảo đảm tỷ lệ theo quy định của pháp luật có liên quan;
+ Dự toán chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia được lập căn cứ vào danh mục các chương trình, tổng mức kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia trong từng giai đoạn do Quốc hội quyết định, mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ và chi tiết các dự án thành phần đối với từng chương trình mục tiêu quốc gia;
+ Dự toán chi trả nợ được lập trên cơ sở bảo đảm trả các khoản nợ đến hạn của năm dự toán ngân sách
b Phương pháp lập dự toán
Việc lập dự toán thu, chi ngân sách được dựa trên các giả định thực tế, không tính toán quá cao các chỉ tiêu về thu ngân sách, ngược lại không tính quá thấp các khoản chi tiêu bắt buộc là hết sức quan trọng để đảm bảo tính khả thi của kế hoạch ngân sách
Lập dự toán hàng năm được tiếp cận như sau:
+ Cách tiếp cận từ trên xuống: xác định tổng các nguồn lực; lập số kiểm tra về dự toán thu, chi cho các đơn vị phù hợp với chính sách của Nhà nước, thông báo số kiểm tra cho các đơn vị, hướng dẫn lập dự toán
+ Cách tiếp cận từ dưới lên: các đơn vị đề xuất dự toán của mình trên
cơ sở các hướng dẫn của cấp trên
Trao đổi, đàm phán, thương lượng: đàm phán dự toán ngân sách giữa các đơn vị với cơ quan tài chính là rất quan trọng để xác định dự toán ngân
Trang 23sách cuối cùng trình lên cơ quan có thẩm quyền quyết định trên cơ sở đạt được sự nhất quán giữa mục tiêu và nguồn lực sẵn có
c Quy trình lập dự toán và phân bổ dự toán
Quy trình lập và giao dự toán ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính -
Kế hoạch cấp huyện được thực hiện như Sơ đồ 1.2
Quy trình lập dự toán
Sơ đồ 1.2: Quy trình lập và giao dự toán ngân sách tại Phòng Tài chính - Kế hoạch
cấp huyện
(Nguồn: Bộ Tài chính)
Quy trình lập dự toán NSNN cấp huyện được thực hiện như sau:
Vào tháng 6 hàng năm, Thủ tướng Chính phủ quyết định lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm sau Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập và thông báo số kiểm tra
Trang 24đối với các ngành, địa phương để lập dự toán từ cơ sở
Đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính - Kế hoạch chủ trì phối hợp với Chi Cục thuế tổ chức làm việc với UBND các xã, thị trấn, các cơ quan, đơn vị dự toán ngân sách huyện về dự toán ngân sách; Phòng Tài chính - Kế hoạch có quyền yêu cầu bố trí lại những khoản thu, chi trong dự toán chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn, chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, chưa phù hợp với khả năng ngân sách và định hướng phát triển KT-XH của huyện
Đối với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính - Kế hoạch chỉ làm việc khi UBND các xã, thị trấn có đề nghị; trong quá trình làm việc nếu có ý kiến khác nhau giữa cơ quan tài chính với các cơ quan cùng cấp và chính quyền cấp dưới, cơ quan tài chính phải báo cáo UBND huyện quyết định
Phòng Tài chính - Kế hoạch chủ trì phối hợp với Chi Cục thuế và các
cơ quan liên quan cùng cấp trong việc tổng hợp, lập dự toán ngân sách theo lĩnh vực ở cấp mình Đề xuất các phương án cân đối ngân sách và các biện pháp nhằm thực hiện chính sách tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách
Quyết định, phân bổ, giao dự toán NSNN huyện:
Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của UBND tỉnh; UBND huyện trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày HĐND tỉnh trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ ngân sách
Căn cứ Nghị quyết của HĐND huyện, UBND huyện quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách chi từng cơ quan, đơn vị trực thuộc huyện và giao nhiệm vụ thu, chi và mức bổ sung ngân sách cho từng xã, thị trấn trước ngày 31 tháng 12 hàng năm Chậm nhất 5 ngày sau khi HĐND quyết định dự
Trang 25toán ngân sách hoặc dự toán ngân sách điều chỉnh, UBND huyện có trách nhiệm báo cáo UBND tỉnh và Sở Tài chính
Phòng Tài chính – Kế hoạch kiểm tra Nghị quyết về dự toán ngân sách của HĐND cấp xã, trong trường hợp cần thiết báo cáo UBND huyện yêu cầu HĐND cấp xã điều chỉnh lại dự toán ngân sách cấp xã [4]
1.2.2 Công tác quyết toán thu, chi NSNN huyện
Quyết toán ngân sách là tổng kết quá trình thực hiện dự toán ngân sách nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm ngân sách từ đó rút ra
ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cần thiết trong việc quản lý ngân sách huyện cho những năm tiếp sau đó
Sau khi kết thúc công tác khóa sổ kế toán cuối ngày 31 tháng 12, số liệu trên sổ sách kế toán của đơn vị phải bảo đảm cân đối và khớp đúng với chứng từ thu, chi ngân sách của đơn vị và số liệu của cơ quan Tài chính, KBNN về tổng số và chi tiết; trên cơ sở đó đơn vị dự toán tiến hành lập báo cáo quyết toán năm
Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có trách nhiệm chỉ đạo công tác kế toán ngân sách thuộc phạm vi quản lý, tổng hợp và lập báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, chi ngân sách địa phương do huyện quản lý
Số liệu báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, đầy đủ Nội dung báo cáo quyết toán ngân sách phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được giao (hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép) và chi tiết theo Mục lục NSNN Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ; chịu trách nhiệm về những khoản thu, chi, hạch toán, quyết toán ngân sách sai chế độ
Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có trách nhiệm thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã; lập quyết toán thu, chi ngân sách huyện; tổng hợp, lập báo cáo thu NSNN trên địa bàn huyện và quyết toán thu, chi ngân sách
Trang 26huyện bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã trình UBND huyện xem xét gửi Sở Tài chính, đồng thời trình HĐND huyện phê chuẩn Trường hợp báo cáo quyết toán năm của huyện
do HĐND huyện phê chuẩn có thay đổi so với báo cáo quyết toán năm do UBND huyện đã gửi Sở Tài chính thì UBND huyện báo cáo bổ sung, gửi Sở Tài chính
Sau khi HĐND huyện phê chuẩn, trong phạm vi 5 ngày, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện gửi báo cáo quyết toán đến các cơ quan: 01 bản gửi HĐND huyện; 01 bản gửi UBND huyện; 01 bản gửi Sở Tài chính; 01 bản lưu tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Đồng thời, gửi KBNN huyện Nghị quyết phê chuẩn quyết toán của HĐND huyện
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, là công cụ góp phần phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương Quản lý Ngân sách nhà nước ngày càng trở nên quan trọng đối với các chính quyền địa phương khi Chính phủ ngày càng phân cấp mạnh về quản lý ngân sách cho các địa phương
Hệ thống Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, trong hệ thống đó ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, ngân sách địa phương là ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp, đối với Việt Nam bao gồm ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, đồng thời thực hiện nguyên tắc phân định rõ ràng các nguồn thu, nhiệm vụ chi đối với ngân sách địa phương
Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận đối với Ngân sách nhà nước như: khái niệm, bản chất, chức năng, vai trò của Ngân sách nhà nước, hệ thống Ngân sách nhà nước ở Việt Nam, Ngân sách nhà nước cấp huyện, cơ sở của quy trình lập dự toán và quyết toán NSNN sẽ giúp cho những người làm công tác này nhìn nhận rõ hơn từ căn cứ, yêu cầu, phương pháp và vai trò của nó để công tác quản lý ngân sách ngày càng hiệu quả
Để hiểu rõ hơn về tầm quan trọng đó, trong Chương 2 tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về thực trạng công tác lập dự toán và quyết toán Ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã An Nhơn trong những năm vừa qua, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những mặt còn tồn tại, hạn chế trong công tác lập dự toán và quyết toán Ngân sách nhà nước để từ đó đưa
ra các giải pháp khắc phục và đề xuất trong Chương 3
Trang 28CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP VÀ QUYẾT TOÁN NSNN TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ HOẠCH
kế hoạch và đầu tư theo quy định của pháp luật
Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp, toàn diện của UBND thị xã An Nhơn, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra
về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài chính và Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh Bình Định
Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã An Nhơn có tư cách pháp nhân,
có con dấu và tài khoản
b Nhiệm vụ
- Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị dự toán thuộc thị xã An Nhơn, UBND
xã, phường xây dựng dự toán ngân sách hàng năm; xây dựng trình UBND thị
xã dự toán ngân sách thị xã theo hướng dẫn của Sở Tài chính
- Lập dự toán thu ngân sách nhà nước đối với những khoản thu được phân cấp quản lý, dự toán chi ngân sách cấp thị xã và tổng hợp dự toán ngân sách cấp xã, phương án phân bổ ngân sách thị xã trình UBND thị xã; lập dự toán ngân sách điều chỉnh trong trường hợp cần thiết để trình UBND thị xã; tổ chức thực hiện dự toán ngân sách đã được quyết định
Trang 29- Thẩm tra quyết toán các dự án đầu tư do thị xã quản lý; thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã; lập quyết toán thu, chi ngân sách thị xã; tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã
và quyết toán thu, chi ngân sách cấp thị xã (bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp thị xã và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã, phường) báo cáo UBND thị xã để trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn Tổ chức thẩm tra, trình Chủ tịch UBND thị xã phê duyệt quyết toán đối với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch UBND thị xã Thẩm tra, phê duyệt quyết toán các dự án đầu tư bằng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng
cơ bản thuộc ngân sách do thị xã quản lý
- Quản lý tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc cấp thị xã quản lý theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính Thẩm định, trình UBND thị xã An Nhơn quyết định theo thẩm quyền việc mua sắm, thuê, thu hồi, điều chuyển, thanh lý, bán, tiêu huỷ tài sản nhà nước
- Quản lý giá theo quy định của UBND tỉnh; kiểm tra việc chấp hành niêm yết giá và bán theo giá niêm yết của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hoạt động trên địa bàn
- Tổng hợp và báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với Ủy ban nhân thị xã và Sở Kế hoạch và Đầu tư
- Quản lý và chịu trách nhiệm về cán bộ, công chức, tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của
Ủy ban nhân dân thị xã
- Thực hiện các nhiệm vụ khác về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính theo phân công, phân cấp hoặc uỷ quyền của UBND thị xã An Nhơn và theo quy định của pháp luật
Trang 302.1.2 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã An Nhơn được
thể hiện qua Sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã An Nhơn
(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã An Nhơn)
Hiện tại, Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã có cơ cấu tổ chức gồm: 01 Trưởng phòng, 01 Phó Trưởng phòng và 06 chuyên viên
- Trưởng phòng là người chịu trách nhiệm trước UBND, Chủ tịch UBND thị xã An Nhơn và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Phòng, đồng thời chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư về thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ của Phòng
- Phó Trưởng phòng là người giúp Trưởng phòng, chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và trước pháp luật về các nhiệm vụ được phân công Khi
Chuyên viên phụ trách cấp giấy chứng nhận
KD
Chuyên viên quản lý đầu tư
và quản
lý vốn xây dựng
cơ bản
Chuyên viên quản lý ngân sách xã, phường
Chuyên viên phụ trách thẩm tra, quyết toán vốn đầu tư
Chuyên viên quản lý tài sản công và các hợp tác xã nông nghiệp
Trang 31Trưởng phòng vắng mặt, Phó Trưởng phòng được Trưởng phòng ủy quyền điều hành các hoạt động của Phòng
- Chuyên viên: 6 biên chế như sau:
+ Chuyên viên quản lý ngân sách thị xã
+ Chuyên viên quản lý ngân sách xã, phường
+ Chuyên viên phụ trách cấp chứng nhận kinh doanh, biên lai, ấn chỉ, giá…
+ Chuyên viên quản lý tài sản công và các HTX NN trên địa bàn thị xã + Chuyên viên phụ trách công tác đầu tư, quản lý đầu tư XDCB
+ Chuyên viên phụ trách thẩm tra quyết toán vốn đầu tư các dự án hoàn
thành thuộc thẩm quyển
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP VÀ QUYẾT TOÁN NSNN TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ HOẠCH THỊ XÃ AN NHƠN
2.2.1 Công tác lập dự toán thu, chi NSNN thị xã An Nhơn
Hàng năm, vào đầu quý 3 của năm báo cáo, căn cứ vào Chỉ thị của Chính phủ; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính; UBND tỉnh thông báo số kiểm tra và giao cho Sở Tài chính phối hợp Sở Kế hoạch và đầu tư, Cục Thuế thông báo số dự kiến dự toán và hướng dẫn thị xã lập dự toán ngân sách cho địa phương mình UBND thị xã hướng dẫn các phòng, ban và UBND các xã, phường lập dự toán thu, chi ngân sách Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã là
cơ quan tham mưu trong công tác lập và phân bổ dự toán trên địa bàn thị xã
Quy trình lập và giao dự toán ngân sách trong những năm qua tại Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã An Nhơn: Phòng Tài chính – Kế hoạch xem xét
dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị thuộc ngân sách thị xã; UBND các
xã, phường và dự toán thu NSNN trên địa bàn do Chi cục thuế lập Sau đó trình UBND thị xã để báo cáo thường trực HĐND thị xã An Nhơn xem xét rồi báo cáo UBND tỉnh Tỉnh Bình Định qua Sở Tài chính Sau khi thị xã An Nhơn
Trang 32nhận được quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách trên địa bàn từ UBND tỉnh Bình Định, Phòng Tài chính – Kế hoạch tham mưu UBND thị xã trình HĐND thị xã phê chuẩn Nghị quyết dự toán NSNN thị xã; báo cáo UBND tỉnh Bình Định qua Sở Tài chính dự toán ngân sách thị xã và kết quả phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán ngân sách và UBND các xã, phường thuộc
SỞ TÀI CHÍNH BÌNH ĐỊNH
UBND THỊ XÃ
AN NHƠN
CÁC SỞ
ĐƠN VỊ DỰ TOÁN TRỰC THUỘC
BỘ TÀI CHÍNH
UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH
HĐND TỈNH
BÌNH ĐỊNH
ĐƠN VỊ DỰ TOÁN TRỰC THUỘC
Quy trình lập dự toán Quy trình giao dự toán
Trang 33Nhìn chung, công tác lập và phân bổ dự toán trong những năm qua được Phòng Tài chính – Kế hoạch tham mưu UBND thị xã An Nhơn thực hiện theo đúng thời gian quy định và quy trình lập và giao dự toán của Luật NSNN Tuy nhiên, chất lượng của công tác lập dự toán chưa cao, số liệu dự toán chủ yếu do các cơ quan, đơn vị, địa phương ước số thực hiện năm trước và tăng thêm cho năm kế hoạch để lập dự toán cho năm sau trong thời kỳ ổn định ngân sách Các cơ quan tổng hợp: thuế và cơ quan tài chính lập dự toán chủ yếu dựa vào số kiểm tra của cấp trên giao, hầu như không dựa vào số liệu từ dưới lên.
a Lập dự toán thu NSNN thị xã An Nhơn
Hàng năm, căn cứ vào những quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và chế độ thu NSNN; phân cấp nguồn thu ngân sách; tỷ lệ phần trăm (%) phân chia đối với các khoản thu phân chia; số liệu về tình hình thực hiện thu NSNN các năm trước; số kiểm tra dự toán thu ngân sách; nhiệm vụ phát triển KT-XH tại địa phương , Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã phối hợp với Chi cục thuế thị xã và UBND các xã, phường xây dựng khung thu NSNN tại
mỗi địa bàn thuộc thị xã
- Bước 1: Hàng năm, trước ngày 31/5, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về việc xây dựng kế họach phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm sau Căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm sau, Bộ Tài chính ban hành Thông
tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán NSNN và thông báo
số kiểm tra về dự toán NSNN cho UBND tỉnh
- Bước 2: Căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn, số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính, căn cứ vào định hướng phát triển KT-XH, yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của địa phương, căn cứ khả năng cân đối ngân sách địa phương, Sở Tài chính tham mưu văn
Trang 34bản trình Chủ tịch UBND tỉnh hướng dẫn lập dự toán thu NSNN và thông báo
số kiểm tra về dự toán ngân sách cho UBND các huyện, thị xã, thành phố
- Bước 3: Sau khi nhận được văn bản hướng dẫn của UBND tỉnh,
UBND thị xã giao nhiệm vụ cho Phòng Tài chính - Kế hoạch phối hợp với Chi cục thuế và UBND các xã, phường xây dựng dự toán thu NSNN Các đơn
vị có trách nhiệm xây dựng dự toán thu theo văn bản hướng dẫn và gửi cho
Phòng Tài chính - Kế hoạch tổng hợp
- Bước 4: Phòng Tài chính - Kế hoạch tổng hợp dự toán thu trên cơ sở
dự toán của các đơn vị lập theo từng nội dung và nhiệm vụ thu cụ thể Sau đó, Phòng chủ trì tổ chức thảo luận về dự toán thu NSNN với UBND các xã, phường Trong quá trình thảo luận dự toán thu NSNN, trường hợp có những khoản thu trong dự toán chưa đúng quy định của pháp luật, chưa phù hợp với khả năng ngân sách và định hướng phát triển KT - XH thì Phòng Tài chính -
Kế hoạch yêu cầu điều chỉnh lại, nếu còn ý kiến khác nhau giữa Phòng Tài chính - Kế hoạch với UBND các xã, phường thì Phòng Tài chính - Kế hoạch
báo cáo UBND thị xã quyết định
- Bước 5: Phòng Tài chính - Kế hoạch tổng hợp dự toán các khoản thu
NSNN theo hướng dẫn của Sở Tài chính và trình lên UBND thị xã phê duyệt
- Bước 6: Hoàn chỉnh dự toán và gửi cho Sở Tài chính sau khi được UBND thị xã phê duyệt
Trong năm 2019, để lập dự toán thu ngân sách năm 2019, phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã An Nhơn tiến hành tổ chức thảo luận về dự toán thu ngân sách nhà nước tại thị xã với các UBND các xã, phường Trong quá trình thảo luận có phát sinh nhiều ý kiến về số dự kiến thu ngân sách thị xã giao cao, khả năng thu không đạt chỉ tiêu vì đa số các xã, phường có nguồn thu khác chủ yếu là thu từ đấu giá đất dự phòng nhưng hiện nay nguồn thu này
Trang 35càng giảm vì người dân ít chú trọng vào việc làm nông nghiệp vì chi phí bỏ ra nhiều, tốn công sức nhiều nhưng thu hoạch giá trị không cao so với việc người dân đi làm tại các khu công nghiệp sản xuất gỗ, may mặc trên địa bàn tỉnh, … Nguồn thu từ công chứng giấy tờ lại tập trung chủ yếu vào các Phòng công chứng, ….và nhiều ý kiến khác liên quan đến việc thu không đạt chỉ tiêu giao Trên những ý kiến đó, phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã phải phân tích được những căn cứ để thuyết phục UBND các xã, phường, nhận số giao dự toán thu Chẳng hạn như căn cứ vào số thực hiện thu 3 năm liền kề, gần nhất
là ước thu năm thực hiện tại và số thực thu 6 tháng đầu năm, căn cứ vào nguồn thu phát sinh thêm (thị xã đang đầu tư xây dựng cơ sở để phát triển công nghiệp, có nhiều dự án đầu tư, nhiều công ty sẽ hoạt động tại thị xã trong thời gian tới, …), nguồn thu thực có và ước tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của thị xã, căn cứ vào các chính sách thuế, các khoản thu vãng lai, các dự
án đầu tư mới sẽ thực hiện tại thị xã Sau khi phòng Tài chính – Kế hoạch thị
xã phân tích mà các UBND các xã, phường, vẫn không thống nhất thì phòng Tài chính – Kế hoạch sẽ báo cáo UBND thị xã quyết định
Toàn bộ quy trình lập dự toán như trên và căn cứ vào các báo cáo, số liệu, biểu mẫu và phân bổ dự toán thu do Chi Cục thuế thị xã cung cấp, phòng Tài chính – Kế hoạch tổng hợp nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2019 của thị xã trình cho UBND thị xã UBND thị xã An Nhơn lập Tờ trình về việc giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 trình Hội đồng nhân dân thị xã
An Nhơn xem xét, cho ý kiến và quyết nghị Sau khi Tờ trình được duyệt, Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã An Nhơn lập dự toán thu ngân sách năm
2019 với các nội dung như Bảng 2.1
Trang 36Bảng 2.1: Dự toán thu ngân sách năm 2019
ĐVT: triệu đồng
STT NỘI DUNG
Dự toán
2019 thị xã giao so với tỉnh giao (%)
Dự toán
2019 thị xã giao
so với ước
TH
2018 (%)
Dự toán
Ước
TH
UBND tỉnh giao
HĐND thị xã giao
Tổng thu
Chia ra
NS thị
xã
NS xã, phường
A
Tổng thu NSNN
trên địa bàn 433.940
717.001
369.400
675.400
471.598
203.802 182,8
94,2 I-
Thu NSNN theo
tỉnh giao 416.130
613.380
369.400
664.400
460.598
203.802 179,9
108,3
1 Thuế ngoài QD 140.000
140.000
164.500
164.500
158.564
5.936
100,0
117,5
-
Cục thuế thực
52.000
64.500
64.500
100,0
-
Chi cục thuế thực
hiện
90.000
88.000
100.000
100.000
94.064
5.936
100,0
113,6
+ Thuế TNDN 19.600
21.860
20.395
115,7
+ Thuế GTGT 68.340
75.000
70.529
112,1
+ Thuế tài nguyên 1.700
2.700
150,0
2 Lệ phí trước bạ 22.230
22.230
21.300
22.300
19.896
2.404
104,7
100,3
1.100
100,0
115,8
4 Thuế TN cá nhân 11.800
14.000
14.000
14.000
100,0
100,0
5
Tiền cho thuê mặt
đất, mặt nước
14.000
18.500
13.000
16.000
123,1
86,5
190.000
380.000
120.000
411.000
231.000
180.000
342,5
108,2
7 Phí, lệ phí 11.800
11.200
12.500
12.500
10.138
2.362
100,0
111,6
-
Phí BVMT khai
thác khoáng sản 2.600
3.720
3.800
3.800
100,0
102,2
- Lệ phí môn bài
2.000
2.180
2.000
2.000
1.040
960
100,0
91,7
- Phí, lệ phí còn lại 7.200
5.300
6.700
6.700
5.298
1.402
100,0
126,4
8
Thu khác NS thị
xã
9.700
10.500
11.000
11.000
100,0
104,8
9
Thu khác NS xã,
phường 16.000
16.000
12.000
12.000
100,0
75,0
II
Các khoản thu
tỉnh không giao 17.810
103.621
11.000
11.000
Trang 37
1
Thu HĐĐG các
DN vào CCCN
3.000
5.000
4.000
703.420
366.960
672.960
469.158
203.802 183,4 95,67
NS địa phương
hưởng 100% 285.440
558.431
193.744
499.744
301.878
173.216
173.216
167.280
268.356
224.271
44.085 119,7
107,2
-
Thu BS cân đối
NS
147.120
116.944 116.944
147.120
116.944
30.176
125,8
125,8
- BS có mục tiêu 93.233
133.459 107.327
121.236
107.327
13.909
113,0
90,8
*
TỔNG THU
NSNN (A+C)
674.293
967.404 593.671
943.756
695.869 247.887 158,7 97,56
953.823 591.231
941.316
693.429 247.887 159,21 98,69
(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã An Nhơn)
Qua số liệu Bảng 2.1 cho thấy năm 2019 dự toán tổng thu ngân sách trên địa bàn thị xã do HĐND thị xã An Nhơn giao là 675.400 triệu đồng, do UBND tỉnh giao là 369.400 triệu đồng, tỷ lệ thu ngân sách giữa thị xã giao so với UBND tỉnh giao là 182,8%, so với ước thực hiện năm 2018 là 94,2%
Đối với dự toán tổng thu ngân sách nhà nước năm 2019 do HĐND thị
xã An Nhơn giao là 943.756 triệu đồng, do UBND tỉnh giao là 593.671 triệu đồng, tỷ lệ thu ngân sách giữa thị xã giao so với UBND tỉnh giao là 158,7%,
so với ước thực hiện năm 2018 là 97,56%
Như vậy so với ước thực hiện năm 2018, dự toán thu ngân sách năm
Trang 382019 giảm hơn so với năm 2018 chủ yếu do các khoản dự toán thu sau giảm như:
+ Thu từ cho thuê mặt đất, mặt nước năm 2019 bằng 86,5% so với ước thực hiện năm 2018
+ Thu khác ngân sách xã, phường năm 2019 bằng 75% so với ước thực hiện năm 2018
+ Thu Lệ phí môn bài năm 2019 bằng 91,7% so với ước thực hiện năm
Số liệu Bảng 2.2 cho thấy dự toán tổng thu ngân sách qua 4 năm 2016,
2017, 2018, 2019 do Hội đồng nhân dân thị xã giao luôn cao hơn so với dự toán thu do UBND tỉnh giao Năm 2016, UBND tỉnh giao là 408.751 triệu đồng, Hội đồng nhân dân thị xã giao là 539.209 triệu đồng Tương tự năm
2017 lần lượt là 473.304 triệu đồng và 553.304 triệu đồng, năm 2018 là 493.306 triệu đồng và 632.116 triệu đồng, năm 2019 là 593.671triệu đồng và 943.756 triệu đồng Hội đồng nhân dân thị xã giao dự toán thu cao hơn tỉnh giao do Hội đồng nhân dân là người tại địa phương nên nắm được tình hình
cụ thể các nguồn thu có thể phát sinh trong năm Bên cạnh đó, dự toán thu ngân sách nhà nước tại thị xã tăng dần qua các năm Năm 2016 dự toán thu do hội đồng nhân dân giao là 539.209 triệu đồng, năm 2017 tăng lên 553.304 triệu đồng và năm 2018 tăng lên 632.116 triệu đồng và năm 2019 là 943.756 triệu đồng Điều này cho thấy nguồn thu tại thị xã có xu hướng tăng dần, thị
xã ngày càng đầu tư phát triển kinh tế - xã hội góp phần tăng thu ngân sách tại thị xã
Trang 39Bảng 2.2: Dự toán thu NSNN năm 2016, 2017, 2018, 2019 của thị xã An Nhơn
Đvt: triệu đồng
STT Nội dung
UBND tỉnh giao
HĐND thị
xã giao
UBND tỉnh giao
HĐND thị
xã giao
UBND tỉnh giao
HĐND thị
xã giao
UBND tỉnh giao
B Vay NS địa phương
C Thu chuyển giao NS 237.624 245.624 181.124 181.124 198.176 198.176 224.271 268.356
D Thu chuyển nguồn
Trang 40Tuy nhiên, việc lập dự toán thu ngân sách hàng năm tại thị xã chưa có
cơ sở tính toán rõ ràng, các tài liệu liên quan đến lập dự toán như đánh giá tình hình thực hiện của năm trước, phân tích nhiệm vụ phát triển KT-XH năm thực hiện chưa thực sự coi trọng, số liệu dự toán chủ yếu dựa trên con số ước thực hiện của năm trước, do vậy chất lượng của công tác lập dự toán chưa được cao Việc lập dự toán thu còn hạn chế đó là chưa tính toán được hết khả năng thu ngân sách thực tế trên địa bàn thị xã, dự toán chủ yếu phản ánh những khoản thu chắc chắn về khả năng phát sinh trong thực tế, chưa chú ý đến những khoản thu có thể phát sinh thêm, hoặc có sự không chắc chắn thu nên dự toán thu chưa thật sự hiệu quả
b Lập dự toán chi NSNN:
Căn cứ lập dự toán chi NSNN:
Công tác lập dự toán chi ngân sách thị xã trong những năm qua đã thực hiện đúng quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn có liên quan
về thời gian và quy trình lập dự toán Tuy nhiên, để xây dựng dự toán chi NSNN bám sát được những nhu cầu thiết thực của từng nhiệm vụ chi, tránh tình trạng phân bổ quá nhiều, gây lãng phí, tham nhũng Do đó, đòi hỏi công tác lập dự toán chi NSNN tại thị xã ngoài căn cứ vào số kiểm tra về thực hiện
dự toán NSNN của năm trước, các chế độ, tiêu chuẩn, chính sách thì còn phải
dựa vào định mức phân bổ NSNN, cụ thể như sau:
* Định mức phân bổ dự toán chi chi quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp cấp thị xã:
Trên cơ sơ phương pháp xác định một số chỉ tiêu làm cơ sở tính toán dự toán:
- Dân số: Theo niên giám thống kê năm 2015 do Chi cục Thống kê thị xã tính toán theo quy định và chia theo vùng như sau: Tổng dân số trung bình là