1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) khảo sát tình hình sử dụng thuốc, hóa chất và tồn dư kháng sinh trong tôm thẻ chân trắng nuôi ở các huyện hoài nhơn, phù mỹ, phù cát, tỉnh bình định từ năm 2015 đến năm 2016

108 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 4,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN PHẠM THỊ CẦM KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC, HÓA CHẤT VÀ TỒN DƯ KHÁNG SINH TRONG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG NUÔI Ở CÁC HUYỆN HOÀI NHƠN, PHÙ MỸ, PHÙ CÁT... Xuất phát

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

PHẠM THỊ CẦM

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC, HÓA CHẤT VÀ TỒN DƯ KHÁNG SINH TRONG

TÔM THẺ CHÂN TRẮNG NUÔI Ở CÁC

HUYỆN HOÀI NHƠN, PHÙ MỸ, PHÙ CÁT

TỈNH BÌNH ĐỊNH

TỪ NĂM 2015 ĐẾN NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Bình Định - Năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

PHẠM THỊ CẦM

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC, HÓA CHẤT VÀ TỒN DƯ KHÁNG SINH TRONG

TÔM THẺ CHÂN TRẮNG NUÔI Ở CÁC

HUYỆN HOÀI NHƠN, PHÙ MỸ, PHÙ CÁT

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS Phan Trọng

Hổ đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập

và đưa ra những ý kiến đóng góp hết sức quý báu cho luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn anh Ý, anh Cánh ở Chi cục Chăn nuôi thú y Bình Định, chị Khánh ở Chi cục quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Bình Định, anh Phải và chị My ở Chi cục nuôi trồng thủy sản Bình Định

đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp những thông tin, số liệu để tôi hoàn thành luận văn của mình

Xin được cảm ơn Quý Thầy, Cô trong khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp trường đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi được học và hoàn thành khóa học

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình cùng toàn thể bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt thời học tập và hoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn!

Người viết luận văn

Phạm Thị Cầm

Trang 4

vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng đến người tiêu dùng và xuất khẩu cũng như sức khỏe của nguời nuôi Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc, hóa chất và tồn dư kháng sinh trong tôm thẻ chân trắng nuôi ở các huyện Hoài Nhơn, Phù

Mỹ, Phù Cát tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến năm 2016”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát mức độ, hàm lượng sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm thẻ chân trắng theo định hướng bảo vệ môi trường và sản xuất sản phẩm có chất lượng an toàn, vệ sinh thực phẩm

Xác định loại kháng sinh và mức độ tồn dư trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Trang 5

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

4 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,

bố cục luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan tài liệu

Chương 2 Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả và bàn luận

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan tình hình phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng

1.1.1 Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới

Tôm thẻ chân trắng là đối tượng có giá trị kinh tế cao thị trường tiêu thụ rộng, thời gian sinh trưởng ngắn (3 – 3,5 tháng), nhu cầu protein trong khẩu phần ăn cho tôm TCT 20 - 30%, thấp hơn so với các loài tôm nuôi cùng

họ khác Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm rất cao, trong điều kiện nuôi thâm canh, hệ số chuyển hóa thức ăn dao động từ 1,1 – 1,3 Tôm TCT lột xác vào ban đêm, thời gian giữa hai lần lột xác khoảng 1 – 3 tuần, tôm nhỏ (<3g) trung bình một tuần lột xác 1 lần, thời gian giữa hai lần lột xác tăng dần theo lứa tuổi tôm, đến giai đoạn lớn (15 - 20g), trung bình 2,5 tuần tôm lột xác một lần Tôm TCT có tốc độ sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi, với môi trường sinh thái phù hợp, tôm có khả năng đạt 8 -10g trong 60-80 ngày, hay đạt 35-40g trong khoảng thời gian 180 ngày Tôm tăng trưởng nhanh hơn trong 60 ngày nuôi đầu, sau đó tăng trọng giảm dần theo thời gian nuôi Tôm TCT cho năng suất cao (trên 4 tấn/ha), thâm canh có thể đạt đến 20 tấn/ha, đồng thời có giá trị dinh dưỡng cao nên hiện nay tôm TCT đang được người tiêu dùng ở các thị trường lớn ưa chuộng Mỹ là thị trường tiêu thụ tôm chân trắng lớn nhất sau đó là châu Âu và Nhật Bản[15]

Tôm thẻ chân trắng là loài tôm được nuôi phổ biển nhất ở Tây bán cầu Sản lượng của loài tôm này chiếm hơn 70% (1992) và có thời kỳ chiếm tới 90% (1998) các loài tôm he Nam Mỹ Các nước có sản lượng cao trên thế giới như là Equado, Mêhicô, Panama … Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở các nước này ngày càng phát triển, sản lượng cũng tăng lên nhanh chóng, chỉ tính riêng Equado, là nước đứng đầu về sản lượng trên thế giới thì từ năm 1991 đã đạt

103 nghìn tấn, năm 1998 là 120 nghìn tấn chiếm 70% sản lượng châu Mỹ, năm 1999 đạt 130 nghìn tấn[3]

Tuy nhiên, những thành công của các chương trình nghiên cứu tạo đàn tôm giống sạch bệnh và cải thiện chất lượng di truyền ở châu Mỹ như Hawaii

Trang 7

đã mở ra hy vọng cho việc duy trì và phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng nói riêng và nghề nuôi tôm biển nói chung ở tất cả các vùng sinh thái trên thế giới [3]

Ngoài các nước Nam Mỹ, tôm thẻ chân trắng cũng được nuôi ở Đông Á

và Đông Nam Á như Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Malayxia, Thái Lan… và cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao Năm 2004, Trung Quốc đạt sản lượng 700.000 tấn, Thái Lan 400.000 tấn và Indônêxia là 300.000 tấn[20]

1.1.2 Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam

Tôm thẻ chân trắng là một đối tượng nuôi rất mới ở Việt Nam Tôm thẻ chân trắng nhập lần đầu tiên vào nước ta được nuôi thử ở công ty Duyên Hải – Bạc Liêu từ tháng 1 năm 2001 Tuy nhiên, do đây là đối tượng nuôi mới và trước những diễn biến dịch bệnh tôm thẻ chân trắng trên thế giới nên việc nuôi đối tượng này chỉ mang tính chất thử nghiệm ở một số địa phương như Bạc Liêu (Công ty Duyên Hải – Bạc Liêu – 4/2001), Khánh Hòa (Công ty trách nhiệm hữu hạn Long Sinh – 3/2001), Phú Yên (Công ty TNHH quốc tế Asia Hawai )

Năm 2006 do lo ngại về dịch bệnh của tôm thẻ chân trắng như hội chứng taura có thể lây nhiễm sang tôm sú và các loài tôm khác, ảnh hưởng tới nghề nuôi tôm sú như ở các nước Thái Lan, Trung Quốc đã gặp phải nên để đảm bảo tính phát triển bền vững của nghề nuôi tôm sú, Bộ Thuỷ sản đã ra công văn số 475/TS-NTTS ngày 6/3/2006 không cho các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh được sản xuất

và nuôi tôm thẻ chân trắng nhưng để sử dụng hợp lý và có hiệu quả môi trường vùng nước nuôi tôm, góp phần đa dạng hoá tôm nuôi nước lợ đồng thời đảm bảo an ninh sinh thái, bền vững môi trường nên các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận có thể đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi bổ sung dưới sự quản lý chặt chẽ

Năm 2008, trước tình hình tôm thẻ chân trắng đã và đang phát triển theo hướng tốt, nhu cầu thị trường tăng cao đồng thời do tôm sú đang gặp khó khăn về vấn đề dịch bệnh và xuất khẩu, ngày 25/01/2008 Bộ Thủy sản đã ra

Trang 8

chỉ thị cho phép các tỉnh Nam Bộ được nuôi tôm thẻ chân trắng theo hình thức thâm canh và theo quy hoạch Theo thống kê của Tổng cục thủy sản thì sản lượng tôm thẻ chân trắng cũng tăng nhanh qua các năm: năm 2002 là 10.000 tấn; năm 2003 là 30.000 tấn, năm 2004 đạt sản lượng 50.000 tấn, năm

2011 sản lượng 139.400 tấn

1.1.3 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bình Định

Tại Bình Định tôm TCT được đưa vào nuôi đầu tiên vào năm 2003

ở vùng nuôi trên cát xã Mỹ An, Mỹ Thắng huyện Phù Mỹ với diện tích 30 ha Vào những năm sau đó diện tích và sản lượng nuôi đối tượng này tăng nhanh chóng Tính đến nay người dân đã chuyển đổi hoàn toàn diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh của tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng Vào năm

2006 diện tích tôm chân trắng là 134 ha (chiếm 5,4% tổng diện tích) , năm 2010: 489 ha (19,8 %) đến năm 2011 là 561 ha chiếm 23% diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ toàn tỉnh[22]

Năng suất trung bình 5-10 tấn/ha/vụ của tôm thẻ chân trắng cao hơn nhiều so với tôm sú, cá biệt có ao lên đến 18-20 tấn/ha/vụ Sản lượng tôm nuôi cũng tăng nhanh qua các năm, năm 2006: 1.203 tấn; năm 2010: 5.617 tấn; năm 2011: 5.829,5 tấn, sản lượng chủ yếu tập trung vào vụ chính từ tháng

2 đến tháng 5 dương lịch Sản lượng tôm sú nuôi ngày càng giảm dần, nhưng ngược lại sản lượng tôm thẻ chân trắng ngày càng tăng cao và là nguồn chủ lực của sản lượng tôm nuôi trong tỉnh

Vào năm 2007 diện tích tôm chân trắng là 287,4 ha chiếm 11,60%, nhưng đến năm 2011 là 984,3 ha chiếm 39,98% diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ toàn tỉnh Hiện nay người nuôi tự lấn chiếm đất xây dựng ao nuôi ồ

ạt, không theo quy hoạch, thải vô tội vạ làm ô nhiễm môi trường vùng nuôi Tuy nhiên có một số bộ phận người nuôi vẫn chưa tuân thủ Một số hộ vì muốn có tôm thu hoạch sớm, bán giá cao mà chấp nhận rủi ro, thả giống nuôi sớm trước khung thời gian của LTV khi điều kiện thời tiết chưa phù hợp Việc này gây mối nguy hiểm tiềm tàng cho cả vùng nuôi, vì một khi có dịch bệnh bùng phát thì dễ lây lan nhanh ra cả vùng Thời gian thả sớm hơn lịch

Trang 9

thời vụ từ 1-1,5 tháng Các huyện thường có diện tích thả sớm nhiều là Hoài Nhơn, Phù Mỹ

Theo số liệu của Phòng nông nghiệp và Trạm Chăn nuôi Thú y huyện Phù Mỹ năm 2011, diện tích thả nuôi ngoài lịch thời vụ là 69,1/573,7 ha, chiếm 12,04% diện tích có của vùng và chỉ nằm ở vùng nuôi tôm trên cát Ở huyện Hoài Nhơn diện tích thả nuôi ngoài lịch thời vụ nằm rải rác ở vùng đầm và vùng nuôi tôm trên cát với diện tích 43,32/212,2 ha, chiếm 20,42% diện tích cả vùng

Từ năm 2003, ngành Thủy sản đã chỉ đạo Trung tâm Khuyến ngư và Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thủy sản Bình Định phối hợp với địa phương của các huyện, thành phố ven biển tiến hành khảo sát, xác định địa điểm, qui

mô diện tích, tổng số hộ tham gia theo từng chi hội, tổ dựa trên đặc thù từng khu vực cụ thể Đồng thời tổ chức họp các hộ nuôi, tuyên truyền, tổ chức các lớp tập huấn hội thảo, vận động các hộ nuôi tham gia thành lập các Chi hội, tổ nuôi tôm theo hình thức quản lý cộng đồng Kết quả đã hình thành được 30 Chi hội, tổ cộng đồng, với số hộ tham gia 844, diện tích 654,6 ha Sau một thời gian hoạt động do nhiều nguyên nhân khác nhau, đến nay chỉ còn 20 Chi hội, tổ hoạt động, trong đó có 07/20 chi hội, tổ cộng đồng còn duy trì họat động nhưng ít hiệu quả, chủ yếu là giải quyết các bức xúc về đất đai, điện, đường, 13 chi hội hoạt động không hiệu quả Còn 10 Chi hội, tổ đã tự giải thể[21]

1.2 Ðặc điểm sinh học tôm thẻ chân trắng

Trang 10

Loài: Penaeus vannamei Boone, 1931

Hình 1 Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)

Tên tiếng Anh: White Leg shrimp

Tên tiếng việt: Tôm thẻ chân trắng, tôm chân trắng

1.2.2 Đặc điểm của tôm thẻ chân trắng

1.2.2.5 Hình thái

Tôm TCT vỏ mỏng có màu trắng đục nên có tên là tôm Bạc, bình thường

có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi tôm chân trắng Chùy tôm gồm có 2 - 4 răng cưa ở dưới, 8 - 9 răng cưa ở phía trên Vỏ đầu ngực

có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi (gai telssm), không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chuỳ khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầu ngực Gờ bên chùy ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng vị

Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có Telson (gai đuôi) không phân nhánh Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp Xúc biện của hàm dưới thứ nhất thon dài

và thường có 3 - 4 hàng, phần cuối của xúc biện có hình roi Gai gốc (basial)

và gai ischial nằm ở đốt thứ nhất chân ngực 5

1.2.2.6 Sinh sản

Tôm TCT thành thục sớm, con cái có khối lượng từ 30 - 45 g/con

là có thể tham gia sinh sản Ở khu vực tự nhiên có tôm TCT phân bố thì quanh năm đều bắt được tôm chân trắng Song mùa sinh sản của tôm chân trắng ở vùng

Trang 11

biển lại có sự khác nhau ví dụ: ở ven biển phía Bắc Equađo tôm đẻ từ tháng 12 đến tháng 4 Lượng trứng của mỗi vụ đẻ phụ thuộc vào cỡ tôm mẹ: Nếu tôm

mẹ từ 30 - 45 g thì lượng trứng từ 100.000 - 250.000 trứng, đường kính trứng 0.22 mm Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng tôm lại phát triển tiếp Thời gian giữa 2 lần đẻ cách nhau 2 - 3 ngày Con đẻ nhiều nhất tới 10 lần/năm Thường sau 3 - 4 lần đẻ liên tục thì có lần lột vỏ[15]

1.2.2.7 Sinh thái

Tôm TCT là loài tôm nhiệt đới, có khả năng thích nghi với giới hạn rộng

về độ mặn và nhiệt độ Tôm có khả năng sinh trưởng ở độ mặn thích hợp: 27

- 340/00 và tăng trưởng tốt ở độ mặn: 10-250/00; nhiệt độ thích hợp 25 - 32oC tuy nhiên chúng có thể sống được ở nhiệt độ 12 - 28oC.; pH thích hợp là 7,5 – 8,5; Oxy hòa tan lớn hơn 4mg/l; COD nhỏ hơn hoặc bằng 6,8mg/l; hàm lượng khí độc NH3 nhỏ hơn 0,1mg/l; H2S nhỏ hơn 0,03mg/l

Mặc dù tôm có khả năng thích nghi với giới hạn rộng về nhiệt độ

(15-330C), nhưng nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm là 23-300C Tuy nhiên, trong điều kiện nhiệt độ thấp tôm mẫn cảm hơn với các bệnh do virus như bệnh đốm trắng và hội chứng Taura

Trong vùng biển tự nhiên, tôm TCT ở nơi có đáy cát bùn, độ sâu của nước khoảng <72 m, tôm trưởng thành phần lớn sinh sống ở ven biển gần bờ, tôm con phân bố nhiều ở vùng cửa sông – nơi giàu chất dinh dưỡng[15]

1.2.2.8 Sinh trưởng

Tôm TCT là loài ăn tạp có phổ thức ăn rộng, cường độ bắt mồi khỏe, tôm

sử dụng được nhiều loại thức ăn tự nhiên có kích cỡ phù hợp từ mùn bã hữu

cơ đến các động vật thủy sinh

Nhờ đặc tính ăn tạp, bắt mồi khỏe, linh hoạt, nên tôm TCT trong quần đàn

có khả năng bắt mồi như nhau, vì thế tôm tăng trưởng khá đồng đều, ít

bị phân đàn[15]

Trang 12

1.2.4 Tính bắt mồi

1.2.4.1 Tính ăn

Tôm chân trắng là loài ăn tạp, nhu cầu đối với thức ăn mang tính động vật cũng khá nghiêm ngặt Chỉ cần tỉ lệ protein trong thành phần thức ăn chiếm 20% trở lên, tôm thẻ chân trắng sẽ phát triển bình thường Nuôi tôm thẻ chân trắng có thể sử dụng nguồn thức ăn thực vật để thay thế thức ăn chăn nuôi cao cấp giá thành cao, từ đó có thể tiết kiệm đáng kể chi phí nuôi tôm

1.2.3.2 Tính bắt mồi

Tôm thẻ chân trắng là loài ưa hoạt động mạnh về đêm, ban ngày thường vùi mình dưới đáy, không chủ động ra ngoài kiếm ăn, nhưng trong môi trường nuôi trồng nhân tạo, nếu ban ngày ta cho ăn tôm sẽ vẫn bắt mồi bình thường, nguyên nhân là do bị kích thích bởi thức ăn ở cự li gần Khi cho

ăn, hợp lý nhất là ban ngày cho ăn khoảng 25~35% và ban đêm cho ăn khoảng 65~75%

Trong ao nuôi, tốc độ sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng

tỷ lệ thuận với số lần cho ăn, cho ăn nhiều thì tôm sẽ phát triển nhanh[14]

1.2.4 Lột vỏ

Tốc độ sinh trưởng của tôm có liên quan đến 2 nhân tố lớn sau :

+ Tần số lột xác, tức là khoảng thời gian của mỗi lần lột vỏ

+ Mức độ tăng trưởng sinh sản, tức là mức tăng thể trọng sau mỗi lần lột

vỏ tính đến trước khi lột vỏ đợt sau

Mỗi khi sinh trưởng đến một giai đoạn nhất định, vỏ của tôm thẻ chân trắng bị lão hóa, vỏ mới được hình thành từ bên trong, và xuất hiện vết nứt giữa vỏ mới và vỏ cũ Khi đến thời gian lột vỏ, các cơ thịt của tôm bật mạnh, lớp vỏ giáp đầu ngực và các vết nứt trên cơ thể bật tách ra sau, lần lượt bong hết ra Những con tôm khỏe mạnh, chỉ cần 3 ~ 5 phút là có thể lột xác xong

Cơ thể tôm khi mới lột xác có màu trong, yếu, bơi lờ đờ trên mặt nước, hoặc vùi dưới đáy ao Tôm non khoảng 1 ~ 3 gram, vài tiếng sau vỏ mới mới có thể cứng trở lại, còn tôm lớn thì 1 - 2 ngày sau vỏ mới cứng lại được[13]

Trang 13

Ở giai đoạn ấu trùng, khi nhiệt độ nước khoảng 28℃, khoảng 30 ~ 40 tiếng tôm sẽ lột vỏ một lần, tôm lớn khoảng 15 ngày mới lột vỏ một lần Lột

vỏ của tôm thẻ chân trắng có liên quan đến hiện tượng trăng tròn trăng khuyết, vào ngày mùng một trăng khuyết âm lịch hoặc 15 trăng tròn tôm sẽ lột vỏ rất nhiều

Độ mặn thấp hoặc nhiệt độ cao sẽ tăng số lần lột vỏ của tôm Môi trường nuôi thay đổi, hoặc sử dụng các chất hóa học cũng ép buộc kích thích tôm lột

vỏ Mỗi lần lột vỏ của tôm đều là một thử nghiệm quan trọng cho sự sinh trưởng

Có hai vấn đề thường xuất hiện nhất:

+ Khi cơ thể tôm còn yếu dễ bị các con tôm khác ăn thịt;

+ Khi lột vỏ, tỉ lệ hô hấp khí ôxy tương đối thấp, nếu như lột vỏ không thuận lợi thì có thể gây ra hiện tượng thiếu ôxy, dẫn đến phát bệnh mà chết

1.3 Tổng quan về thuốc và hóa chất

1.3.1 Thuốc (kháng sinh)

1.3.1.1 Khái niệm

Kháng sinh[23] còn được gọi là trụ sinh là những chất có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu Nó

có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng của

vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn

Từ "antibiotics" (kháng sinh) có nguồn gốc từ chữ "antibiosis" ;"anti" có nghĩa là "chống lại" và "biosis" có nghĩa là "cuộc sống" Chất kháng sinh tác

động, chống lại một số loại vi khuẩn Thật vậy, chất kháng sinh là chất hoá học lấy từ cơ thể các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm mốc, hoặc một vài thực vật

1.3.1.2 Các loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất trong nuôi trồng thuỷ sản[17]

(1) Nhóm Sulfamid: bao gồm các tác nhân kháng khuẩn có tác dụng kìm hãm hoạt động của axit folic và có thể hình thành tác dụng hiệp đồng (synergism) Các kháng sinh nhóm Sulfamid kết hợp trimethoprim được sử

Trang 14

dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản (đặc biệt điều trị tiêu chảy phân trắng

ở tôm)

(2) Nhóm Tetracyline : là một nhóm gồm nhiều kháng sinh chủ yếu có tác dụng kìm hãm vi khuẩn có trong tự nhiên Chúng làm ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp protein trong cả các vi khuẩn Gram âm (-) và vi khuẩn Gram dương (+) Những kháng sinh này được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản

(3) Nhóm Quinolone: Chúng có tác dụng mạnh đối với các vi khuẩn Gram (+) và được sử dụng nhiều tại Nhật Bản Tác dụng kháng khuẩn bao gồm cả tác dụng kìm hãm và tiêu diệt vi khuẩn do chúng có thể gây ảnh hưởng đến cấu trúc xoắn của ADN trong vi khuẩn

1.3.2 Hóa chất

1.3.2.1 Khái niệm

Hóa chất: Là sản phẩm hoá học được dùng để xử lý, cải tạo môi trường, phòng và trị bệnh cho nuôi trồng thủy sản

1.3.2.2 Một số loại khoáng và hóa chất thường dùng

Theo GESAMP (1997)[19], hóa chất sử dụng trong NTTS với nhiều mục đích khác nhau như: xử lý nước, chất lắng đọng, tăng năng suất thủy vực, thức ăn bổ sung, kích thích sinh trưởng

(1) Vôi được dùng rộng rãi để trung hòa axit, tăng độ kiềm, phổ biến là vôi nông nghiệp CaCO3, Dolomite MgCa(CO3)2 Trong chuẩn bị ao, bón với liều lượng 10 -15 kg/100m2, dùng ổn định môi trường 20 – 25 kg/1.000m2 Việc bón vôi có tác dụng để trung hòa axit sunfuric sinh ra từ quá trình oxy hóa tầng phèn trong các ao được xây dựng từ vùng rừng ngập mặn

(2) Zeolite có thành phần là SiO2, Al2O3 dùng để hấp thu khí độc như NH3, NO2 với liều lượng 10-50 kg/1.000m2, giảm tác dụng khi sử dụng trong nước lợ do bị kiềm chế bởi nồng độ cation

(3) Phèn (Sunfat nhôm ˗Kali) được sử dụng với nồng độ 10–20 ppm, làm giảm độ đục ở các ao nuôi tôm

Trang 15

(4) Phân bón được sử dụng nhằm làm tăng nguồn thức ăn tự nhiên trong

ao, phân hữu cơ dùng phổ biến là phân gà, phân bò, phân lợn, với liều lượng 100-200 kg/1.000m2 Phân vô cơ được dùng chủ yếu dùng là NPK (16-20-0), DAP (18-46-0), URE (46-0-0) với liều lượng 2-3 kg/1.000m2

(5) Thạch cao (Canxi sunfat) được sử dụng rộng rãi ở nồng độ 1.000 ppm làm giảm độ đục ở các ao nuôi tôm

250-(6) Potassium permanganat (Thuốc tím) cấu tạo hóa học là KMnO4, dạng hạt mịn màu tím đen dễ tan trong nước dùng để lắng phù sa, diệt khuẩn, nấm và ký sinh trùng, nồng độ sử dụng 4-5 ppm (ngâm) Ngoài ra thuốc tím là chất oxy hóa mạnh, nên khi sử dụng thuốc tím cần chú ý đến liều lượng sử dụng Đối với nước có nhiều tảo, hợp chất hữu cơ lơ lửng, sau thời gian xử lý, nước trở nên rất trong, do tảo và các hợp chất hữu cơ lắng xuống đáy

(7) Chlorine (Ca(OCl)2) dùng để khử trùng bể ương, các dụng cụ, xử lý bệnh vi khuẩn,…với nồng độ từ 25-250 ppm, chlorine cũng có hiệu quả đối với các chất hữu cơ, có tác dụng làm giảm lượng hữu cơ, độ đục trong nước, tính oxy hóa mạnh, phản ứng hầu hết với các chất như Fe, Mn, H2S, NH3… (8) Rotenon (dây thuốc cá) dùng để diệt tạp, trong ao trước khi thả tôm,

cá giống, hợp chất này có thể làm tê liệt đường hô hấp với liều lượng 1 kg/100m3

(9) Chloramin T có tác dụng diệt khuẩn phổ rộng được sử dụng trị các bệnh như trùng mặt trời, trùng quả dưa… nhưng không có khả năng tẩy mạnh Không dùng Chloramin T ở nồng độ cao bằng phương pháp nhúng bởi vì chất này sẽ gây hủy hoại tổ chức mang của động vật thủy sản[17]

(10) Benzalkonium chlorin BKC 80% được khuyến cáo sử dụng trong NTTS diệt khuẩn phổ rộng, tảo, nấm, protozoa, trị và phòng bệnh phát sáng, khống chế sự phát triển của phiêu sinh thực vật, trị bệnh đống rong, đen mang, khử mùi hôi đáy ao nuôi, thường sử dụng khi thời tiết thay đổi đột ngột, tảo trong ao có biểu hiện tàn, hay tôm yếu với liều lượng 0,5 - 1 ppm

Trang 16

(11) Iodine sản phẩm được dùng phổ biến để diệt khuẩn rất hiệu quả, dùng để sát trùng nguồn nước 2 - 3 ppm, dùng để trị bệnh 0,5 - 1 ppm, iodine giảm tác dụng trong môi trường có độ kiềm cao do phản ứng tự khử

(12) Ethylenediaminetetraacetic acid (EDTA) có công thức hóa học là (C10H16N2O8) dùng để kết tủa kim loại nặng, như đồng, sắt, cadium,… có trong nước ảnh hưởng đến tôm dùng để xử lý nước trước khi nuôi với liều lượng 10 - 15 ppm và phòng trị bệnh do vi khuẩn từ 2 ˗ 3 ppm

(13) Vitamin C (Axit ascorbic) dùng tăng cường sức đề kháng và hội chứng suy giảm miễn dịch ở cá, vẹo cột sống, xuất huyết toàn thân Tôm sú thiếu axit sẽ không có khả năng lột xác, khuyết tật ở vỏ giáp, rối loạn trao đổi khí ở mang và tỷ lệ chết cao

(14) Vitamin E (Tocoferol) giúp tăng cường sức đề kháng, ngăn ngừa hội chứng suy giảm, suy dinh dưỡng thiếu máu và tác hại đối với màng tế bào, thoái hóa bắp thịt, gan ,não, mỡ

(15) Vitamin B1 (Thyamin) có tác dụng giúp ngăn ngừa viêm thần kinh,

tê phù, nếu thiếu vitamin B1 tuyến sinh dục kém phát triển, trứng dễ thối hóa, kém ăn và sinh trưởng chậm

1.3.3 Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất ở nước ta

Hiện nay nghề nuôi tôm không ngừng phát triển cả về diện tích cũng như

mô hình nuôi, trong đó mô hình công nghiệp đã thay thế cho mô hình quảng canh và bán thâm canh Việc sử dụng thuốc, hóa chất từ cải tạo ao cho đến quản lý môi trường ao nuôi từ mô hình nuôi công nghiệp, gây nên hiện tượng

ô nhiễm đã xuất hiện trên nhiều vùng nuôi tôm trọng điểm, do người nuôi ngày càng sử dụng nhiều thức ăn, thuốc, hóa chất xuyên suốt trong quá trình nuôi Nhưng các sản phẩm này được sử dụng theo thói quen của người nuôi

và hàm lượng thường vượt mức cho phép Việc dùng kháng sinh để trị bệnh cho tôm cũng làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, bên cạnh đó các chất thải luôn tồn đọng trong ao nuôi mà chưa có biện pháp xử lý hiệu quả, khi cho ra môi trường ngoài sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh thái ngoài tự nhiên, trong khi đó

hệ thống thủy lợi trong tình trạng yếu kém) Với mức độ sử dụng thuốc trừ

Trang 17

sâu ngày càng tăng, chắc chắn sẽ tác động xấu đến nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên và sử dụng các loại phân hoá học cũng có ảnh hưởng đến nguồn lợi thuỷ sản

Theo Nguyễn Văn Năm và Phạm Văn Ty ( 2007)[16], việc hình thành lớp bùn đáy là do tích lũy dần các chất hữu cơ đây là nơi sinh sống của sinh vật thối rửa, vi sinh vật sinh khí độc, vi sinh vật gây bệnh và các loại nấm nguyên sinh động vật Thông thường các vi sinh vật này hiện diện trong môi trường, nhưng khi có sự mất thăng bằng các yếu tố trong ao nuôi thì chúng sẽ gây hại đến vật chủ, ngoài ra môi trường bị ô nhiễm, tôm bị tress cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và khi có cơ hội sẽ bộc phát thành bệnh Khi đó để trị bệnh cho động vật thủy sản người nuôi dùng kháng sinh và các loại hóa chất, tuy nhiên các loại hóa chất và kháng sinh thường có tác dụng phụ, nếu sử dụng đúng quy định có thể sử dụng một cách an toàn Theo (Nafiquved, 2006)[4], danh mục thuốc thú y thủy sản (TYTS) sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường trong nuôi tôm, được cấp giấy chứng nhận đăng ký sản xuất là 1.939 sản phẩm, trong đó bao gồm 99 sản phẩm để phòng bệnh, 756 dùng để bổ sung dinh dưỡng và 1.084 sản phẩm dùng để xử lý và cải tạo môi trường Theo (GESAMP, 1997)[19], trong mô hình nuôi quảng canh thì nhu cầu

sử dụng thuốc, hóa chất là tối thiểu, chỉ giới hạn trong việc bón phân, xử lý nước, diệt tạp, nhưng trong mô hình nuôi thâm canh thì nhu cầu sử dụng thuốc và hóa chất nhiều hơn, về chủng loại thuốc cũng như mức độ đầu tư Hiện nay, người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu sản phẩm thuỷ sản ngày càng quan tâm đến chất lượng sản phẩm hơn, nhiều rào cản kỹ thuật đã dựng lên như tiêu chuẩn về dư lượng hay độ tồn lưu thuốc kháng sinh, hóa chất trong sản phẩm Do đó các nước sản xuất cũng có những chiến lược kịp thời, nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng duy trì thị trường Đặc biệt, người nuôi phải sử dụng hợp lý thuốc, hóa chất trong sản xuất, góp phần tạo ra những sản phẩm an toàn, tạo lòng tin ở những thị trường xuất khẩu Nhưng trong thời gian qua, tình hình sử dụng thuốc kháng sinh nhiều trong nuôi tôm, nên thủy sản Việt Nam đã mất thị trường Cannada

Trang 18

1.3.4 Dư lượng kháng sinh

Dư lượng kháng sinh (DLKS)[18] là tình trạng kháng sinh vẫn còn trong thực phẩm ở dạng nguyên chất hay đã chuyển hóa, vì thế có thể gây tác hại đối với người sử dụng Vì thiếu hiểu biết và vì tin tưởng sai lầm, nên ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển, người ta đã dùng kháng sinh quá nhiều, cả khi không cần thiết, không đúng chỉ định và không đúng cách Lạm dụng hoặc chưa hợp lý, dẫn đến những hậu quả khôn lường Không những chi phí tiền thuốc tăng do sử dụng nhiều loại kháng sinh đắt

tiền mà còn làm nhiều loại kháng sinh mới

Các loại kháng sinh này thường không bị phân huỷ và tồn lưu trong môi trường nuôi trồng thuỷ sản trong thời gian dài, khiến các loại vi khuẩn thích nghi với môi trường có kháng sinh Kết quả là các loại vi khuẩn gây bệnh trong thuỷ sản lại có khả năng kháng thuốc kháng sinh Nếu kháng sinh được trộn lẫn vào thức ăn nuôi thuỷ sản, có thể tìm thấy dư lượng kháng sinh trong thịt thuỷ sản và các sản phẩm chế biến Những người ăn thuỷ sản chứa

dư lượng kháng sinh sẽ vô tình hấp thụ kháng sinh vào cơ thể, dẫn đến những thay đổi trong môi trường vi khuẩn bình thường, khiến họ trở nên dễ bị nhiễm khuẩn hơn

Đặc biệt việc lạm dụng chất kháng sinh sẽ gây lờn thuốc, dẫn đến sự phát triển của các loại vi khuẩn có khả năng kháng thuốc trong cơ thể động vật cũng như trong thủy sản

Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cộng đồng và môi trường, là một trong những nguyên nhân gây những bệnh hiểm nghèo như ung thư, đột biến gen, quái thai, dị ứng và tăng nguy cơ xuất hiện nguồn gen kháng thuốc ở các chủng vi sinh vật, đặc biệt

vi sinh vật gây bệnh Do đó cần phải biết được phương pháp xác định dư lượng thuốc trong thực phẩm để hạn chế được những tác dụng nguy hại từ những thực phẩm chứa dư lượng thuốc kháng sinh quá tiêu chuẩn cho phép (phụ lục 1 và phụ lục 2 kèm theo)

Trang 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tôm thẻ chân trắng

Loài: Lipopenaeus vannamei Boone, 1931

2.2 Thời gian và phạm vi nghiên cứu

2.2.1.Thời gian nghiên cứu

Từ tháng: 8/2016 – 5/2017

2.2.2.Địa điểm nghiên cứu

9 xã nuôi tôm TCT thương phẩm tại Bình Định (được thực hiện tại 02 vùng đặc trưng là vùng nuôi trên cát và vùng đầm), cụ thể như sau:

- Huyện Hoài Nhơn: xã Hoài Mỹ (vùng Đầm Công Lương), xã Hoài Hải (vùng Kim Giao Nam), xã Tam Quan Nam (vùng Cửu Lợi Tây, Nam, Bắc)

- Huyện Phù Mỹ: xã Mỹ Thắng (thôn 8 và 9), xã Mỹ Đức (xóm mới), xã

Mỹ chánh (Cao Triều, Thượng An, Trung Xuân, An Hoan)

- Huyện Phù Cát: xã Cát Hải (thôn Chánh Oai, Tân Thắng), xã Cát

Khánh (An Quang Đông), xã Cát Minh (Đức Phổ 1,2)

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng nuôi tôm trên địa bàn 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát của tỉnh Bình Định

- Khảo sát các loại thuốc, hóa chất và tình hình sử dụng thuốc, hóa chất trong nuôi tôm

- Kiểm tra tồn dư kháng sinh trong tôm nuôi

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu

- Số liệu thu đuợc từ các báo cáo hàng năm của Chi cục Chăn nuôi - Thú

y, Chi cục Nuôi trồng thủy sản, Chi cục Quản lý Nông, Lâm sản và Thủy sản,

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định, và các thông tin cập

Trang 20

nhập từ mạng Internet, tạp chí, báo cáo khoa học… Hoặc thông qua hỏi các chuyên gia và người dân tại địa phương

- Điều tra qua phát phiếu tại các hộ nuôi tôm: 90 phiếu (xem phụ lục 3 kèm theo)

Bảng 2.1 Số mẫu điều tra tình hình nuôi tôm TCT tại Bình Định

tôm TCT

Số hộ điều tra

Tổng Vùng đầm Trên cát

- Điều tra phỏng vấn trực cán bộ kỹ thuật, người nuôi theo nguyên tắc

từ trên xuống, nếu đến hộ nuôi nào vắng thì bỏ qua và sang điều tra ở hộ nuôi tiếp theo, nhưng vẫn đảm bảo đúng số lượng điều tra

Trang 21

2.4.2 Phương pháp kiểm tra dư lượng kháng sinh: dùng phương pháp ELISA

2.4.2.1 Cách lấy mẫu[12]

- Xác định vị trí thu mẫu: Mẫu kiểm soát dư lượng tốt nhất là lấy trước khi thu hoạch để ngăn chặn việc phát tán sản phẩm trong trường hợp có dư lượng vượt mức giới hạn cho phép Cụ thể như sau:

+ Mẫu thủy sản nuôi chỉ định phân tích các chỉ tiêu nhóm A, B2a và B3e (các hoạt chất cấm sử dụng): Lựa chọn các đầm, bè nuôi có hình thức nuôi có cho ăn hoặc (và) có phòng trị bệnh, có thời gian nuôi phù hợp với kế hoạch thu mẫu Cần tập trung vào các đối tượng có nghi ngờ sử dụng các hoạt chất cấm, có tiền sử sử dụng hoạt chất cấm Trong trường hợp không có nghi ngờ, cần thu mẫu ngẫu nhiên và tránh thu mẫu lặp lại nhiều lần tại một hộ nuôi Riêng đối với mẫu phân tích chỉ tiêu dipterex (nhóm B2a), ngoài các nội dung trên cần lưu ý các khu vực nuôi chịu nhiều ảnh hưởng bởi canh tác nông nghiệp Đối với mẫu thủy sản thương phẩm, cần thu mẫu từ 20 – 30 ngày trước thời điểm dự kiến thu hoạch

+ Mẫu thủy sản nuôi chỉ định phân tích các chỉ tiêu nhóm B1 (kháng sinh hạn chế sử dụng): mẫu được thu tại đầm, bè nuôi thương phẩm có cho ăn hoặc (và) có trị bệnh Cần tập trung vào các đối tượng có nguy cơ tồn lưu dư lượng do sử dụng kháng sinh Thời điểm thu mẫu là trước khi thu hoạch 10 -

15 ngày

+ Mẫu thủy sản nuôi chỉ định phân tích chỉ tiêu thuốc trừ sâu gốc chlor hữu cơ (nhóm B3a): đối tượng thu mẫu vào thời điểm có khả năng tồn dư cao nhất các thuốc trừ sâu phải kiểm soát Cần chú ý các nguồn nước, nguồn xả thải có ảnh hưởng cao nhất về dư lượng thuốc trừ sâu trong thủy sản Thời điểm thu mẫu là trước khi thu hoạch 20 - 30 ngày

+ Mẫu thủy sản nuôi chỉ định phân tích chỉ tiêu kim loại nặng (nhóm B3c): đối tượng thu mẫu có thời gian sống lâu nhất tại vùng nuôi đó Cần chú

ý các nguồn nước, nguồn xả thải có ảnh hưởng cao nhất về dư lượng kim loại nặng trong thủy sản Thời điểm thu mẫu là trước khi thu hoạch 20 - 30 ngày

Trang 22

+ Mẫu thủy sản nuôi chỉ định phân tích chỉ tiêu độc tố vi nấm (nhóm B3d): cần thu mẫu tại đầm, bè nuôi thủy sản thương phẩm có cho ăn đặc biệt

là thức ăn tự chế Thời điểm thu mẫu tốt nhất là trước khi thu hoạch 20 - 30 ngày

- Thời điểm thu mẫu: Thu mẫu vào buổi sáng lúc 7 - 10 giờ sáng

- Vị trí thu mẫu: Mẫu thu cách tầng mặt khoảng 0,5m và cách đáy ao 0,5m Tùy diện tích từng ao, ao nhỏ thu mẫu từ 1 - 3 điểm, ao lớn thu 3 - 5 điểm như hình vẽ sau mô tả:

Cách bảo quản:

+ Khi thu mẫu phải lập phiếu tương ứng với từng đối tượng, đầy đủ thông tin và có chữ ký của cán bộ thu mẫu, chủ hoặc đại diện cơ sở đã thu mẫu Phiếu lấy mẫu được lập thành 03 bản và được lưu giữ tại cơ sở đã thu mẫu, cơ quan giám sát và cơ quan kiểm tra

Lưu ý:

+ Sau khi tiếp nhận, mẫu phải được bảo quản ngay ở nhiệt độ ≤ -16oC

và chuyển mẫu đến các phòng kiểm nghiệm trong vòng 02 ngày làm việc kể

từ khi tiếp nhận mẫu

+ Sau khi tiếp nhận mẫu từ cơ quan giám sát, cơ quan kiểm tra tiến hành mã hóa và phân mẫu Mỗi mẫu kiểm soát cần được phân thành 3 phần tương đương (mỗi phần đủ để phân tích các chỉ tiêu đã được chỉ định) Một phần lưu tại cơ quan kiểm tra (thời gian lưu mẫu tối thiểu 30 ngày ở nhiệt độ

≤ -16oC) và 2 phần được gửi đến các phòng kiểm nghiệm Sau thời hạn lưu mẫu, cơ quan kiểm tra tiến hành huỷ mẫu lưu Việc huỷ mẫu phải được ghi vào sổ theo dõi hoặc lập thành biên bản

Trang 23

+ Mẫu được gửi đến phòng kiểm nghiệm phải được bao gói trong PE sạch có nhãn ghi tối thiểu các thông tin: tên mẫu, số mã hóa, chỉ tiêu phân tích; đồng thời kèm theo phiếu gửi mẫu ghi đủ các thông như trên và khối lượng tương ứng với từng mẫu Mẫu cần được bảo quản ở nhiệt độ ≤ -4oC trong suốt quá trình vận chuyển để đảm bảo không bị hư hỏng

2.4.2.2 Phương pháp ELISA

ELISA (Enzyme-Linked Immuno Sorbent Assay)[24] là một kỹ thuật sinh hóa để phát hiện kháng thể hay kháng nguyên trong mẫu cần phân tích Hiện nay ELISA được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như

y học, nông nghiệp và đặc biệt là trong quy trình kiểm tra an toàn chất lượng các sản phẩm thực phẩm

Nguyên tắc: Phương pháp ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay- xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme) có rất nhiều dạng

mà đặc điểm chung là đều dựa trên sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể, trong đó kháng thể được gắn với một enzyme Khi cho thêm cơ chất thích hợp (thường là nitrophenol phosphate) vào phản ứng, enzyme sẽ thủy phân cơ chất thành một chất có màu Sự xuất hiện màu chứng tỏ đã xảy

ra phản ứng đặc hiệu giữa kháng thể với kháng nguyên và thông qua cường

độ màu mà biết được nồng độ kháng nguyên hay kháng thể cần phát hiện Phương pháp này được thiết kế cho việc phát hiện và định lượng vật chất như peptides, protein, antibodies, hormone,… Đôi khi nó còn được gọi bởi một tên gọi khác là EIA (Enzyme Immuno Assay)

Kỹ thuật này khá nhạy và đơn giản, cho phép xác định kháng nguyên hoặc kháng thể ở một nồng độ rất thấp (khoảng 0,1 ng/ml) So với kĩ thuật miễn dịch phóng xạ (RIA- Radio Immuno Assay) thì kĩ thuật này rẻ tiền và an toàn hơn mà vẫn đảm bảo độ chính xác như nhau ELISA được dùng để xác định nhiều tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, nấm, kí sinh

Kĩ thuật ELISA gồm ba thành phần tham gia phản ứng là: kháng nguyên, kháng thể và chất tạo màu; thực hiện qua hai bước:

Trang 24

- Phản ứng miễn dịch học: Là sự kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể

- Phản ứng hóa học: Thông qua hoạt tính xúc tác của enzyme làm giải phóng oxy nguyên tử [O] từ H2O2 để oxy hóa cơ chất chỉ thị màu, do đó làm thay đổi màu của hỗn hợp trong dung dịch thí nghiệm

Trang 25

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1 Hiện trạng nuôi tôm tại 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát của tỉnh Bình Định

3.1.1 Năng suất tôm TCT :

Khảo sát diện tích, sản lượng và năng suất tôm nuôi của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát được trình bày qua bảng sau:

Bảng 3.1 Năng suất tôm TCT của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát

2 vụ (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (tấn/ha)

DT nuôi

2 vụ (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (tấn/ha)

Qua bảng 3.1 chúng tôi nhận thấy, diện tích nuôi tôm năm 2016 giảm

so với năm 2015 Trong đó, diện tích nuôi tôm lớn nhất năm 2016 ở huyện Hoài Nhơn là 107,1 ha, thấp nhất ở huyện Phù Cát với diện tích là 66,8 ha Nguyên nhân, là do năm 2015, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, dẫn đến sản lượng nuôi không đạt, nhiều hộ nuôi đã ngừng nuôi tôm vào năm 2016 (xem phụ lục 4, 5 kèm theo)

Rút kinh nghiệm từ năm 2015, năm 2016 người nuôi tôm đã rút kinh nghiệm được và thực hiện tốt các quy trình kỹ thuật trong nuôi tôm TCT, nên sản lượng tôm cũng như năng suất tôm thu được năm 2016 tăng đáng kể so

với năm 2015.(Kết quả điều tra thể hiện ở bảng 3.1 và đồ thị 3.1)

Trang 26

Đồ thị 3.1 Năng suất tôm TCT của 3 huyện năm 2015-2016

Huyện Phù Cát năng suất tôm TCT thu được năm 2016 là 5,04 tấn/ha, tăng 22,63% so với năng suất tôm năm 2015

Huyện Phù Mỹ năng suất tôm TCT thu được năm 2016 là 8,40 tấn/ha, tăng 18,31% so với năm 2015

Huyện Hoài Nhơn, năng suất tôm TCT năm 2016 là 7,68 tấn/ha tăng 4,77% so với năng suất năm 2015

Như vậy, mức tăng năng suất qua các năm ở các huyện là khác nhau Theo đó, mức tăng năng suất ở Phù Mỹ là cao nhất, tiếp đến là Hoài Nhơn và sau đó là Phù Cát

3.1.2 Trình độ văn hóa người nuôi tôm

Điều tra trình độ văn hóa của người nuôi tôm ở 90 hộ nuôi tôm (30 hộ/huyện) ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát Kết quả như sau:

Trang 27

Bảng 3.2 Trình độ văn hóa và khả năng áp dụng kiến thức tập huấn chuyên môn vào nghề nuôi tôm TCT tại 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát

Huyện

Cấp

Các học

chỉ tiêu

Phù Cát (n=30 hộ)

Phù Mỹ (n=30 hộ)

Hoài Nhơn (n=30 hộ)

Nhìn chung, trình độ văn hóa của người nuôi ở 3 huyện chủ yếu là tốt nghiệp cấp II, có trình độ cấp III ở huyện Phù Mỹ là cao nhất, huyện Hoài Nhơn

Trang 28

là thấp nhất Trình độ chuyên môn giữa các huyện là gần tương đương nhau, chủ yếu là chuyên môn được đào tạo từ các lớp tập huấn Song, việc áp dụng các kiến thức chuyên môn tập huấn vào ao nuôi lại khác nhau ở các huyện, Phù Cát đạt tỷ lệ thấp nhất và tỷ lệ cao nhất là Phù Mỹ, vì vậy mà sản lượng cũng như năng suất tôm thu được ở huyện Phù Cát là thấp nhất so với 2 huyện Hoài Nhơn

và Phù Mỹ

Qua điều tra cho thấy, người nuôi chính thường là nam giới có độ tuổi lao động tương đối cao trung bình khoảng 42 – 45 tuổi, độ tuổi thấp nhất là 22 tuổi, cao nhất là 76 tuổi, những người có độ tuổi từ 28 – 42 nuôi thành công hơn những người có độ tuổi còn trẻ hoặc già hơn Ở độ tuổi này trẻ, có sức khỏe và mạnh dạn đầu tư vốn, áp dụng khoa học kỹ thuật mới trong nuôi tôm nên thành công cao hơn, những người có độ tuổi trẻ hơn thì thiếu kinh nghiệm, còn những người có độ tuổi lớn hơn thì thường bảo thủ, khó thay đổi kỹ thuật, thường chỉ áp dụng kinh nghiệm nuôi tôm sú vào nuôi tôm thẻ chân trắng nên khả năng thành công không cao

Do trình độ văn hóa không đồng đều nên việc tiếp thu và áp dụng những kiến thức kỹ thuật vào thực tế còn có hạn chế nhất định

3.1.3 Hình thức nuôi

Theo số liệu điều tra, những năm đầu mới nuôi tôm TCT thì hình thức nuôi là TC, BTC ở các vùng nuôi trên cát, và ở vùng đầm Sau đó, người dân bắt đầu nuôi tôm TCT theo hình thức QCCT, nuôi xen với đối tượng khác như

cá, cua… và có hiệu quả Tỷ lệ diện tích nuôi TC, BTC từ 35,9% giảm xuống

33,01%, tỷ lệ diện tích nuôi QCCT tăng chậm từ 64,10% đến 66,99% (Kết quả điều tra thể hiện ở bảng 3.3 và đồ thị 3.2)

Riêng năm 2016, diện tích nuôi tôm QCCT thân thiện môi trường (TTMT) ở huyện Phù Mỹ tăng nhanh, hình thức nuôi này được thực hiện trên diện tích rộng và mật độ tương đối, đã giúp tăng sản lượng tôm, năng suất thu hoạch cao Diện tích nuôi tôm QCCT TTMT ở huyện Hoài Nhơn cũng tăng, song mức độ tăng không bằng huyện Phù Mỹ, và huyện Phù Cát là thấp nhất (xem phụ lục 4, 5 kèm theo)

Trang 29

Bảng 3.3 Các hình thức nuôi tôm TCT

Chỉ

Tiêu Năm

Vùng nuôi

DT nuôi (ha) Vùng đầm

(n=60 hộ)

Số hộ

Tỷ lệ DT nuôi (%)

Đồ thị 3.2 Các hình thức nuôi tôm TCT ở 3 huyện năm 2015-2016

Đa số các ao nuôi tôm thẻ chân trắng ở Bình Định không có ao lắng và

xử lý nước thải (chiếm 91,67 %), số hộ có ao lắng và xử lý nước thải là rất thấp (chiếm 8,33%) với diện tích dành cho ao xử lý chiếm khoảng 1/5 đến 1/4 diện tích ao nuôi Đây là thực trạng rất khó khăn và không thuận tiện để quản lý ao nuôi giảm thiểu bệnh dịch hàng năm

Trang 30

Hiện nay người nuôi tự lấn chiếm đất xây dựng ao nuôi không theo quy hoạch, chất thải được thải trực tiếp vào nguồn nước nuôi làm môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng hơn Mặc dù một số nơi có hệ thống chứa, xử lý nước thải nhưng qua thời gian sử dụng bị xuống cấp, diện tích không đủ chứa nước

thải của cả vùng nuôi

3.1.4 Mùa vụ thả nuôi

Điều tra khảo sát mùa vụ thả nuôi tôm của 90 hộ, ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát (30 hộ/huyện, vùng trên cát 30 hộ, vùng trên đầm 60 hộ) Kết quả như sau:

Bảng 3.4 Mùa vụ thả nuôi tôm TCT của 3 huyện

Vùng đầm (n=60 hộ)

Toàn vùng (n=90 hộ)

Kết quả điều tra ở bảng 3.4 cho thấy mùa vụ thả nuôi tôm TCT khác nhau

ở từng vùng, cụ thể là có 17,78% hộ thả nuôi 01 vụ/năm (ở Cát Minh, Phù Cát), 53,33% hộ thả nuôi 02 vụ/năm và 28,89% hộ thả nuôi 03 vụ/năm trở lên Cá biệt

có ao nuôi đến 4 - 5 vụ/năm (thời gian nuôi 2 - 2,5 tháng/vụ) thường là các ao lót bạt ở vùng đầm và trên cát (huyện Phù Mỹ và Phù Cát) Thời gian cải tạo ao rất ngắn từ 7 - 10 ngày là lấy nước thả tôm nuôi, tôm giống được ương trước ở ao khác từ 20 đến 30 ngày tuổi Do chính thời gian cải tạo ngắn, công tác diệt khuẩn chưa đạt hiệu quả cao, môi trường nước dễ bị ô nhiễm, nên tình hình dịch bệnh ở các vùng nuôi nhiều vụ/năm sẽ tăng lên, và khó kiểm soát

Trang 31

Qua đồ thị 3.3 chúng tôi nhận thấy, vùng trên cát nuôi tôm 3 vụ là nhiều nhất, vùng trên đầm chủ yếu nuôi tôm 2 vụ/năm Ở cả hai cùng đều có nuôi tôm

1 vụ, song vùng trên đầm nuôi tôm 1 vụ nhiều hơn trên cát Do vùng trên cát thường không ngập lụt, nuôi tôm trên ao lót bạt, nên công tác cải tạo ao dễ dàng

và thời gian được rút ngắn, vì vậy mà số vụ nuôi/năm thường trên 3 vụ

Đồ thị 3.3 Mùa vụ thả nuôi tôm TCT của 3 huyện

Trang 32

Bảng 3.5 Tỷ lệ mật độ thả nuôi tôm TCT của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát

Mật độ chỉ tiêu

(con/m 2 )

Vùng nuôi

Toàn vùng (n=90)

Vùng đầm (n=60)

Vùng trên cát (n=30)

Số

hộ

Tỷ lệ (%)

Đồ thị 3.4 Mật độ thả nuôi tôm TCT của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát

Vùng đầm có nguồn nước không tốt, dễ bị ô nhiễm, ao nuôi có nhiều thành phần khó kiểm soát hơn vùng trên cát Do vậy, để kiểm soát các tác động liên quan của môi trường cũng như hạn chế dịch bệnh, mà tại vùng đầm mật độ nuôi tôm thưa hơn vùng trên cát, chủ yếu là mật độ thấp hơn 80 con/m2 (chiếm

Trang 33

86,67%) Vùng trên cát, người dân nuôi với mật độ dày hơn từ 80 - 120 con/m2(chiếm 50%, thậm chí có nhiều hộ nuôi với mật độ trên 120 con/m2 (chiếm 20%)

3.1.6 Nguồn gốc tôm thẻ thả nuôi

Khảo sát nguồn gốc tôm thẻ chân trắng thả nuôi của 90 hộ, ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát (30 hộ/huyện, vùng trên cát 30 hộ, vùng trên đầm

60 hộ) Kết quả như sau:

Bảng 3.6 Nguồn gốc tôm thẻ chân trắng thả nuôi ở 3 huyện

CP Việt Nam - Chi nhánh Bình Định cung cấp Và có 13,33% hộ dân sử dụng nguồn giống Việt Úc, do Công ty TNHH Việt Úc cung cấp Còn lại một số

Trang 34

nguồn giống như Tuệ Tùng, Con Tôm Vàng… rất ít hộ dân sử dụng, chỉ chiếm 1,11%

Nguồn giống của Công ty TNHH Đầu tư Thủy sản Nam Miền Trung được nuôi theo áp dụng công nghệ sinh học để kiểm soát bệnh, không sử dụng kháng sinh, hạn chế hóa chất, nguồn thức ăn cho ấu trùng tôm là vi tảo nuôi theo phương thức an toàn sinh học công nghệ cao của Mỹ Tôm giống khỏe mạnh, đề kháng tốt, tỷ lệ sống cao, tôm không bị nhiễm các mầm bệnh, không nhiễm kháng sinh, không bị lờn thuốc, dễ dàng điều trị bệnh, cho năng suất cao, nên được nhiều hộ dân lựa chọn

Đồ thị 3.5 Nguồn gốc tôm thẻ chân trắng thả nuôi ở 3 huyện

Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam không chỉ cung cấp cho bà con nông dân về mặt con giống chất lượng mà còn đầu tư cả về mặt thức ăn, phân bón, chế phẩm vi sinh cũng như thuốc và hóa chất giúp bà con có động lực hơn trong việc chăn nuôi mà không lo lắng về mặt kinh tế nên đa số người dân ở đây đều chọn nhập nguồn con giống từ công ty CP

Một số nguồn giống như Tuệ Tùng, Con Tôm Vàng…là nguồn giống ở ngoài tỉnh, chất lượng tôm không đạt, tỷ lệ sống không cao, tôm yếu và mắc bệnh, nên rất ít người dân sử dụng

Trang 35

3.1.7 Các khoản chi phí

Khảo sát nguồn gốc tôm thẻ chân trắng thả nuôi của 90 hộ, ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát (30 hộ/huyện, vùng trên cát 30 hộ, vùng trên đầm

60 hộ) Kết quả như sau:

Qua bảng 3.7 chúng tôi nhận thấy giữa các hộ ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù

Mỹ, Phù Cát có sự chênh lệch nhiều về các khoản chi phí sản xuất trong quá trình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh Trong một vụ nuôi thì tổng chi phí trung bình cao nhất là 1229,62 triệu đồng/ha/vụ ở huyện Phù Mỹ, và thấp nhất

là 801,68 triệu đồng/ha/vụ ở huyện Hoài Nhơn.Chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ lớn nhất, sau đó là chi phí con giống và chi phí thuốc, hóa chất cải tạo, đây là các khoản chi phí mà chủ nông hộ quan tâm nhiều nhất Chi phí thức ăn chiếm gần 50% tổng chi phí ở cả hai huyện Phù Mỹ và Phù Cát Ở huyện Phù Mỹ chi phí thức ăn trung bình 583,26 ± 33,46 triệu đồng/ha/vụ, chiếm 47,43% tổng chi phí Ở huyện Phù Cát, chi phí thức ăn là 484,24 ± 42,41triệu đồng/ha/vụ, chiếm 45,63% tổng chi phí, qua đó ta thấy những nông hộ sử dụng thức ăn ở Phù Mỹ

hiệu quả hơn (xem phụ lục 7, 8, 9 kèm theo)

Chi phí thuốc giữa 3 huyện có sự chênh lệch rất lớn, chi phí cao nhất là 245,56 ± 16 ở huyện Phù Mỹ, tiếp đến là 202,12 ± 19,10 ở huyện Phù Cát, và chi phí thấp nhất là 142,83 ± 9,50 ở huyện Hoài Nhơn Qua đó cho thấy, huyện Phù Cát sử dụng thuốc có hiệu quả hơn huyện Phù Mỹ Riêng huyện Hoài Nhơn, chủ yếu cải tạo ao để ngăn ngừa mầm bệnh, nên hạn chế sử dụng thuốc trong điều trị bệnh tôm, do đó chi phí cải tạo ao của huyện Hoài Nhơn cao nhất trong 3 huyện ( đạt 60,72 triệu đồng/ha/vụ)

Trang 36

Bảng 3.7 Các khoản chi phí trong nuôi tôm TCT của 3 huyện

Huyện

Chỉ tiêu

Loại chi phí

Trung bình (triệu đồng/ha/vụ)

Tỷ lệ (%)

Trung bình (triệu đồng/ha/vụ)

Tỷ lệ (%)

Trung bình (triệu đồng/ha/vụ)

Trang 37

3.1.8 Hoạt động của cộng đồng nuôi tôm

Điều tra về ý thức tham gia hoạt động cộng đồng nuôi tôm của 90 hộ, ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát (30 hộ/huyện, vùng trên cát 30 hộ, vùng trên đầm 60 hộ) Kết quả như sau:

Bảng 3.8 Hoạt động cộng đồng nuôi tôm ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát

Vùng trên cát (n=30)

Tại các vùng nuôi trên toàn tỉnh qua điều tra cho thấy từ trước năm 2015 các chi hội cộng đồng hoạt động tương đối hiệu quả: họp định kỳ hàng tháng,

đề ra quy chế và kế hoạch hoạt động cụ thể cho một vụ nuôi Nội dung chủ yếu tập trung vào các khâu kỹ thuật cải tạo ao, chọn giống, thả đúng lịch mùa vụ, gây quỹ hỗ trợ nhau về vốn, xử lý dịch bệnh, họp tổng kết rút kinh nghiệm…Từ năm 2015 đến nay số lượng các chi hội ngày càng giảm, họat động ít hiệu quả,

Trang 38

chủ yếu là giải quyết các bức xúc về đất đai, điện, đường…còn khâu kỹ thuật

thì mạnh ai nấy làm, khó quản lý

3.2 Hiện trạng sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm TCT ở 3 huyện

100% các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng đều sử dụng thuốc và hóa chất trong cải tại ao và điều trị bệnh cho tôm

Số hộ sử dụng (n=90 hộ)

Tỷ lệ (%)

Trang 39

Đồ thị 3.6 Sản phẩm cải tạo ao nuôi

Qua kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy có 75 hộ sử dụng vôi đá chiếm tỷ

lệ cao nhất (83,33%), Iodine và Zeolite có khoảng 35 hộ nuôi sử dụng với tỷ lệ thấp nhất (khoảng 38,89%) Ngoài ra, còn một số sản phẩm khác như vôi nung, Dolomite, Chlorine cũng được người nuôi sử dụng rộng rãi, khoảng hơn nửa số

hộ sử dụng, chiếm từ 52,22% - 73,33% Đây là những loại hóa chất rẻ tiền, dễ mua, có tính sát khuẩn cao đem lại hiệu quả tốt, nên thường được người nuôi sử

dụng trong quá trình cải tạo ao, phòng trị bệnh

Chlorine có tác dụng xử lý đáy ao trước khi lấy nước vào (50 – 100 ppm)

và dùng để xử lý nước trong ao (20 – 30 ppm)

Khi dùng Chlorine sát trùng nước, dư lượng của khí Clo có thể gây độc cho tôm, đặc biệt là ấu trùng tôm Người nuôi nên dùng Chlorine để khử trùng nguồn nước cấp vào đầu vụ nuôi, không xử lý Chlorine khi trong nước ao giàu muối dinh dưỡng và chất hữu cơ vào giữa và cuối vụ nuôi Người nuôi cần phải

sử dụng các loại men vi sinh để khôi phục lại hệ men của đáy ao, không bón vôi trước khi sử dụng Chlorine vì sẽ làm giảm tác dụng Trung hòa Chlorine dư trong ao bằng Natri thiosulfate với tỷ lệ 1:7 (mg/l), và sử dụng chạy sục khí, máy quạt nước để loại bỏ tồn dư của Chlorine trong ao nuôi

Trang 40

Iodine Iodine complex: 7000ml

BKC 80

Benzalkonium Chloride 80% Alkyl dimethyl benzyl ammonium chloride: 24%

Glutaraldehyde: 20%

Dung môi vừa đủ: 1 lít 85

94,44

Qua bảng 3.10 chúng tôi nhận thấy 100% các hộ nuôi đều sử dụng Saponin để diệt tạp, kế đến là BKC có 85 hộ sử dụng (chiếm 94,44%), thấp nhất là Yuca zeo chỉ có 14 hộ (chiếm 15,56%)

Các hộ nuôi sử dụng Saponin nhiều nhất vì chất này có tỷ lệ diệt tạp mạnh

và hiệu quả rất cao, giá thành vừa phải Saponin là chất độc đối với cá nhưng không gây tác hại trên các loài giáp xác nên được dùng để diệt cá tạp trong ao nuôi tôm Saponin sẽ giảm độc tính nhanh trong điều kiện ánh sáng mạnh hoặc

Ngày đăng: 22/11/2021, 19:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w