Ăng-ghen viết: “Do việc mua bán ruộng đất, do sự phát triển hơn nữa của phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thương nghiệp và hàng hải, và những thành viên của cá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
Trương Nhựt TânNguyễn Hoàng PhươngHuỳnh Gia Hân
Thái Minh NgọcPhạm Văn Tuấn Thiện
Thứ bảy, ngày 14 tháng 11 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC 1
I Khái niệm dân tộc: 1
1 Thị tộc: 1
2 Bộ lạc: 3
3 Bộ tộc: 4
4 Dân tộc: 5
Theo nghĩa thứ nhất… 5
Về nghĩa thứ hai… 7
Kết luận: 9
II Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc: 9
Xu hướng thứ nhất 9
Xu hướng thứ hai 10
III Những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc: 14
Vị trí của vấn đề dân tộc trong xã hội chủ nghĩa 14
Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong chủ nghĩa xã hội được thể hiện trong cương lĩnh dân tộc của Lênin 14
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng: 14
Các dân tộc được quyền tự quyết: 16
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc: 16
Mối quan hệ giữa các nội dung trong cương lĩnh dân tộc 17
Câu hỏi trắc nghiệm 18
Trang 3MỤC LỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1- Thị tộc 2
Hình 1.2- Bộ lạc 3
Hình 1.3- Bộ tộc 4
Hình 1.4.1- Dân tộc Tày 5
Hình 1.4.2- Dân tộc Chà Và ở Indonesia 6
Hình 1.4.3- Dân tộc Trung Hoa 7
Hình 1.4.4- Dân tộc Lào 7
Hình 2.1- Đông TiMor 10
Hình 2.2- Các nhóm và tổ chức trên thế giới hiện nay 11
Hình 3.1.1- Bình đẳng trong kinh tế 15
Hình 3.1.2- Sách tiếng việt ( tiếng mẹ đẻ ) của người Việt Nam 15
Hình 3.2.1- Quyền tự quyết 16
Hình 3.3- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc 17
Trang 4BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC ST
1 Vũ Đức Trung 2005190754 Xu hướng khách
quan thứ hai, liênhiệp công nhân tất
cả các dân tộc,đánh Word,powerpoint
Tốt
2 Trương Nhựt Tân 2005191254 Quyền bình đẳng,
đánh Word,powerpoint
Tốt
6 Phạm Văn Tuấn Thiện Quyền tự quyết,
đánh Word
Tốt
I Khái niệm dân tộc:
Chúng ta cần phải biết rằng trước khi có dân tộc thì đã có những hình thức
cộng đồng người gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Sau đây ta sẽ tìm hiểu lần lượt về
các cộng đồng người này:
1 Thị tộc:
Khoa học lịch sử đã chính minh rằng loài người đã xuất hiện cách đây hàng
triệu năm, lao động sản xuất có vai trò quyết định trong việc chuyển hóa từ một
loài vượn cao cấp sang loài người Ngay từ khi mới thoát khỏi dưới lớp động
vật, con người đã không sống đơn độc - cũng như loài vượn, người nguyên thủy
sống bằng tập đoàn đó là những bầy người nguyên thủy Phương thức kiếm ăn
chủ yếu của họ là săn bắt và hái lượm và khi đã tiến đến 1 trình độ cao hơn
những bầy người đó phát triển thành Thị tộc Tổ chức xã hội đầu tiên của loài
người chính là thị tộc Thị tộc là hình thức cộng đồng người sớm nhất của loài
người Thị tộc theo Angghen:” là một thể chế chung cho tất cả các dân tộc “
Thị tộc được hình thành trên cơ sở những mối liên hệ huyết thống, những người
Trang 5trong một thị tộc đều có cùng một tổ tiên sinh ra Hình thức liên hệ cộng đồngđơn giản nhưng bền vững này thích hợp trong điều kiện sản xuất thấp kém thờibấy giờ Sự phân công lao động giữa phụ nữ và đàn ông mang tính chất tựnhiên Trong giai đoạn đầu, thị tộc là thị tộc mẫu quyền Ngoài quan hệ cộngđồng thân tộc – huyết thống là đặc trưng chủ yếu, thị tộc còn có những mối liên
Trang 6Quy mô của thị tộc còn nhỏ bé, thường chỉ bao gồm từ mấy chục đến vàitrăm thành viên Theo tiến trình lịch sử, nhiều thị tộc sẽ liên kết với nhau thành
tù trưởng và thủ lĩnh quân sự Bộ lạc có một vị thủ lĩnh tối cao nhưng quyềnhành rất hạn chế hình thái kinh tế – xã hội thống nhất một cách tự nhiên vàtương đối đơn giản Khi trình độ của lực lượng sản xuất còn rất thấp, sự phâncông xã hội ở quy mô lớn chưa diễn ra, chưa có sự trao đổi sản phẩm thườngxuyên thì những mối liên hệ thân tộc – huyết thống là nhân tố tự nhiên và cầnthiết đối với việc củng cố và phát triển hình thức cộng đồng người
Sự phân công lao động lại thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanhchóng hơn nữa Chế độ tư hữu, sự bất bình đẳng về tài sản, sự phân chia giaicấp diễn ra trong lòng công xã nguyên thủy đưa chế độ công xã đến tan rã và nó
bị thay thế bằng chế độ xã hội có giai cấp Cùng với sự thay đổi hình thái kinh
Trang 7tế – xã hội này cũng diễn ra sự thay đổi hình thức cộng đồng người tươngứng: Bộ tộc thay thế cho thị tộc và bộ lạc Đó là quá trình lâu dài mang tính tựphát.
3 Bộ tộc:
Bộ tộc được hình thành thoạt đầu từ sự liên kết nhiều bộ lạc và liên minh
bộ lạc trên một vùng lãnh thổ nhất định Song bộ tộc không còn là cộng đồng
chỉ gồm hầu hết những người cùng huyết thống
Ph Ăng-ghen viết: “Do việc mua bán ruộng đất, do sự phát triển hơn nữa của phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thương nghiệp và hàng hải, và những thành viên của các thị tộc, bào tộc và bộ lạc chẳngbao lâu đã phải sống lẫn lộn với nhau; và lãnh thổ của bào tộc và bộ lạc đã phải thu nhận những người tuy cũng là đồng bào, nhưng lại không thuộc các tập đoàn ấy, tức là những người lạ xét về nơi ở”
Bộ tộc đông đảo hơn bộ lạc rất nhiều.Mỗi bộ tộc cũng có tên gọi riêng Nếu như bộ lạc đã có vùng lãnh thổ tương đối ổn định thì lãnh thổ của bộ tộc được xác định hơn, mặc dù nó thường bị chia cắt thành nhiều lãnh địa do các quý tộc,lãnh chúa cát cứ
Hình 1.3- Bộ tộc Trong bộ tộc, các mối liên hệ kinh tế dưới hình thức phân công tự nhiên(đặc trưng của thị tộc, bộ lạc) phải nhường chỗ cho những quan hệ kinh tế mới
đa dạng, phức tạp Tuy nhiên, kinh tế hàng hóa chưa phát triển, đời sống kinh tế
Trang 8vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp thì cộng đồng người đông đảo này chưa thể là mộtcộng đồng thật ổn định, bền vững, có tính thống nhất cao (trừ một số trườnghợp đặc thù).
Các thành viên của bộ tộc có quan hệ cộng đồng ngôn ngữ Ngôn ngữ bộ tộc
được hình thành bởi sự giao lưu, kết hợp ngôn ngữ của các bộ lạc cũ, thườngtrên cơ sở ngôn ngữ của một trong những bộ lạc phát triển nhất Tính thống nhấtcủa ngôn ngữ bộ tộc chưa cao: Nhiều địa phương, tộc người vẫn dùng thổ ngữcủa các bộ lạc cũ
Bộ tộc có một nền văn hóa chung trình độ cao hơn, phong phú hơn nhiều sovới những yếu tố văn hóa của bộ lạc Sự giao lưu văn hóa trong bộ tộc thườnggặp trở ngại do tình trạng phân tán, cát cứ về mặt kinh tế và chính trị
Trong thời đại bộ tộc đã có nhà nước và quốc gia, có các đế quốc lớn Phạm
vi thống trị của nhà nước có thể không trùng với bộ tộc: Có nhà nước một bộtộc, có nhà nước nhiều bộ tộc, sắc tộc Không ít nhà nước tập quyền phong kiếntiến bộ đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự thống nhất kinh tế, vănhóa trong bộ tộc, tăng cường mối liên hệ giữa các bộ tộc trong quốc gia nhiều
Theo nghĩa thứ nhất thì khái niệm dân tộc dùng để chỉ cộng đồng tộc
người (ethnic) hình thành phát triển trong lịch sử, trên lãnh thổ nhất định, cómối quan hệ tương đối bình vững về kinh tế, ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt vănhóa và ý thức tự giác dân tộc Như vậy theo nghĩa thứ nhất dân tộc bao gồmnhững tộc người trong 1 quốc gia chẳng hạn như dân tộc Kinh, dân tộc Chăm,dân tộc Thái, dân tộc Tày…
Trang 9Hình 1.4.1- Dân tộc Tày
Hình 1.4.2- Dân tộc Chà Và ở IndonesiaVậy khái niệm tộc người bao gồm ba đặc trưng cơ bản sau:
Đặc trưng thứ nhất về ngôn ngữ chung: các thành viên trong 1 dân tộc
đều có một ngôn ngữ chung gọi là tiếng mẹ đẻ, dùng để giao tiếp nội bộ dân tộc,
để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Đây là đặc trưng quan trọng để xác
định dân tộc tuy nhiên trên thế giới không phải có bao nhiêu ngôn ngữ là bấynhiêu dân tộc, trong quá trình phát triển tộc người vì nhiều nguyên nhân khácnhau, có những tộc người không còn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữkhác làm công cụ giao tiếp Hiện nay trên thế giới có khoảng 6000 ngôn ngữnhưng chỉ có 2000 dân tộc
Trang 10Đặc trưng thứ hai có chung đặc điểm sinh hoạt văn hóa: tạo nên bản
sắc văn hóa của dân tộc, để phân biệt văn hóa dân tộc này với văn hóa dân tộckhác Ngày nay cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thếbảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi tộc người
Đặc trưng thứ ba có chung một ý thức hệ dân tộc: đây là ý thức tự
khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người dù cho có những tác độnglàm thay đổi địa bàn cư trú, lãnh thổ hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh
tế, văn hóa….Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quantrực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc người và được biểu hiệncao nhất ở việc tự nhận tên gọi của dân tộc mình và chúng thường được ghi lạitrong chứng minh thư
Về nghĩa thứ hai thì thuật ngữ dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng
người sinh sống trong một quốc gia ( nation ) được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập ra một lãnh thổ chung, có nền kinh tế thống nhất Ví dụ: dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào,…
Trang 11Hình 1.4.3- Dân tộc Trung Hoa
Hình 1.4.4- Dân tộc LàoVậy khái niệm dân tộc quốc gia bao gồm năm đặc trưng cơ bản sau:
Đặc trưng thứ nhất về phương thức sinh hoạt kinh tế : đời sống kinh
tế chung với một thị trường và đồng tiền chung thống nhất Đây là đặc trưngquan trọng nhất làm nền tảng, điều kiện vật chất, cơ sở bảo đảm cho sự cố kếtbền vững của quốc gia đó
Đặc trưng thứ hai có lãnh thổ chung được phân định bằng đường biên
giới quốc gia mà ở đó có 1 hay nhiều tộc người cùng sinh sống Hiện nay trênthế giới có hơn 200 quốc gia trong đó chỉ có khoảng 10 quốc gia chỉ có 1 tộcngười, còn lại các quốc gia là đa tộc người Lãnh thổ là tiêu chí là đặc trưng cơbản của một quốc gia trong lịch sử và trong giai đoạn hiện nay không ít nhữngxung dột giữa các quốc gia đều có liên quan đến biên giới Vậy vận mệnh dântộc là một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ quốc giadân tộc
Đặc trưng thứ ba về ngôn ngữ giao tiếp chung ( bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết ) trong quốc gia là quốc ngữ Trong quốc gia đa dân tộc
Trang 12quốc ngữ của dân tộc đa số sẽ được chọn làm quốc ngữ Vd: quốc ngữ của dântộc VN là tiếng Việt, quốc ngữ của dân tộc Trung Hoa là tiếng Hán…bởi thếcác dân tộc thiểu số song song dùng hai ngôn ngữ trong giao tiếp là tiếng mẹ để
và tiếng phổ thông
Đặc trưng thứ tư có tâm lí chung biểu hiện ở nền văn hóa tạo ra bản sắc
văn hóa của một quốc gia đó và đây là yếu tố cơ bản thể hiện đặc trưng bản sắcvăn hóa dân tộc có ý nghĩa sống còn đối với các quốc gia dân tộc Đảng ta xácđịnh xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay
Đặc trưng cuối cùng có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất để quản lí điều hành mọi hoạt động của quốc gia dân tộc và quan hệ đối
ngoại với quốc gia dân tộc khác Đây là đặc trưng quan trọng quyết định bảnchất chính trị và sự phát triển của quốc gia dân tộc, xét về bản chất hện thốngchính trị xã hội chủ nghĩa có điều kiện tốt nhất để quản lý điều hành mọi mặtđời sống xã hội phát triển đất nước và trong đó có lĩnh vực dân tộc
Sự khác biệt giữa Phương Đông và Phương Tây khi hình thành dân tộc:
Phương Đông
Hoàn cảnh lịch sử có tính đặc thù,
yếu tố tự nhiên - xã hội, quá trình
đấu tranh dựng nước và giữ nước =>
hình thành dân tộc
Dân tộc đã ra đời trước khi CNTB
được xác lập, có thể coi đây là loại
hình dân tộc tiền tư bản hình thành
trên cơ sở 1 nền văn hóa, một ý
thức, tâm lý dân tộc phát triển chin
muồi nhưng lại có 1 cơ sở kinh tế
chưa phát triển
Phương Tây
Sự phát triển lực lượng sản xuấttrên cơ sở nền sản xuất hàng hóa tưbản chủ nghĩa(TBCN) mở rộng =>phá vỡ tình trạng cát cứ phong kiến
=> thị trường địa phương khép kín
bị xóa bỏ => thị trường dân tộc xuấthiện
Cùng với quá trình kinh tế, sự pháttriển chín muồi của ý thức, văn hóa,ngôn ngữ => một bộ tộc hay nhiều
bộ tộc hợp nhất lại
Đây là loại hình dân tộc chịu ảnhhưởng của hệ tự tưởng tư sản, giai
Trang 13cấp tư sản lãnh đạo => dân tộc tư sản.
Kết luận: khái niệm dân tộc và khái niệm quốc gia có sự gắn bó chặt chẽ với
nhau Dân tộc bao giờ cũng ra đời trong một quốc gia nhất định và thực tiễn lịch sử đã chứng minh: những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi thường không tách rồi với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia Đây là những nhân tố bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triển.
II Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc:
Nghiên cứu vấn đề dân tộc và phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lenin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc:
họ mới có quyền quyết định vận mệnh của mình mà quyền cao nhất là quyền tự
do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển
Hình 2.1- Đông TiMor
Trong thực tế , xu hướng này đã biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập
Trang 14 Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản và vẫn còn tác động trong giai đoạn để quốc chủ nghĩa.
Xu hướng thứ hai:
Xu hướng này phổ biến và mở rộng hơn, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Xuhướng này nổi lên trong giai đoạn từ chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc và đi bóc lột thuộc địa Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hoá trong xã hội
tư bản đã làm xuất hiện nhu cầu xoá bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, tạonên mối liên hệ quốc gia và quốc tế rộng lớn giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau
Hình 2.2- Các nhóm và tổ chức trên thế giới hiện nay
Hai xu hướng này vận động trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc gặp nghi ngại Bởi vì nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập, tự do bị chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc xoá bỏ Chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ bé hoặc còn ở trình độ lạc hậu thành thuộc địa và phụ thuộc của nó Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận Thay vào đó
Trang 15họ áp đặt lập ra những khối liên hiệp nhằm duy trì áp bức, bóc lột đối với các dân tộc khác, trên cơ sở cưỡng bức và bất bình đẳng
Vì vậy chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, khi chế độ người bóc lột người bị xoá bỏ thì tình trạng dân tộc này áp bức, đồ hộ các dân tộc khác mới bị xoá bỏ và chỉ khi
đó hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc mới có điều kiện để thể hiện đầy đủ Quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội là sự quá độ lên một xã hội thực sự tự do, bình đẳng, đoàn kết hữu nghị giữa người và người trên toàn thế giới Hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc do V.I Lênin phát hiện đang phát huy tác dụng trong thời đại ngày nay, chúng cùng diễn ra với những biểu hiện rất phong phú, đa dạng và phức tạp
* Xét trong phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa có nhiều dân tộc :
Xu hướng thứ nhất biểu hiện trong sự nỗ lực của từng dân tộc để đi tới sự tự chủ và phồn vinh của bản thân dân tộc mình Xu hướng thứ hai tạo nên sự thúc đẩy mạnh mẽ để các dân tộc trong cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn, hoà hợp với nhau ở mức độ cao hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống Ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, hai xu hướng phát huy tác động cùng chiều, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc, trong cả cộng đồng quốc gia và đến tất cả các quan hệ dân tộc
Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo điều kiện cho từng dân tộc đi nhanh tới sự tự chủ và phồn vinh Bởi vì, nó sẽ tạo điều kiện cho dân tộc đó có thêm những điều kiệnvật chất và tinh thần để hợp tác chặt chẽ hơn với các dân tộc anh em; đồng thời nó cho phép mỗi dân tộc không chỉ sử dụng tiềm năng của cácdân tộc mình mà còn có sự gắn kết hữu cơ với tiềm năng của các dân tộcanh em trong một nước để tiến lên phía trước Sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc trong cùng quốc gia có nghĩa là những tinh hoa, những giá trị của các dân tộc đó thâm nhập vào nhau, bổ sung, hoà quyện vào nhau
để tạo thành những giá trị chung
Tuy nhiên, sự hoà quyện đó không xoá bỏ sắc thái của từng dân tộc , không xoá nhoà những đặc thù dân tộc, ngược lại nó bảo lưu, gìn giữ và phát huy những tinh hoa, bản sắc của từng dân tộc Trong chế độ
xã hội chủ nghĩa, cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư tưởng và hành
vi kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi, xung đột dân tộc Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta