1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án nghiên cứu hệ thống điều khiển của máy dệt HENQUN FX798 model 2003

58 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với duy trì và phát triển nghề truyền thống, đến nay nghề dệt khăn mặt ở Phùng Xá không chỉ tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động địa phương ở hai thôn Hạ và thôn Thượng của x

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA CƠ ĐIỆN VÀ CÔNG TRÌNH

Trang 2

L ỜI MỞ ĐẦU

Để làm ra những chiếc khăn mặt với mẫu mã khác nhau, các hộ gia đình phải

thực hiện một quy trình sản xuất đủ các công đoạn khác nhau như mắc sợi, dệt, tẩy, nhuộm, máy Tại xưởng sản xuất của công ty mỗi công đoạn làm lúc nào cũng duy trì 5-6 công nhân làm việc liên tục với mức lương thu nhập hàng tháng từ 3-4 triệu đồng/người

Đến nay ở Phùng Xá có hơn 70% các hộ gia đình làm sản xuất khăn và kinh doanh hàng khăn mặt, không chỉ cung cấp các sản phẩm khăn mặt ra thị trường các

tỉnh, thành phố trong cả nước mà còn xuất khẩu sang các nước Trung Quốc, Nhật

Bản, Đài Loan… Cùng với duy trì và phát triển nghề truyền thống, đến nay nghề

dệt khăn mặt ở Phùng Xá không chỉ tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động địa phương ở hai thôn Hạ và thôn Thượng của xã mà còn cho lao động các vùng lân

cận

Nhằm cải thiện khả năng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm của hệ

thống máy dệt HEQUN FX798 MODEL-2003 Đây là sản phẩm thực tế, ứng dụng trong công việc sau này của em và em muốn cải tiến và nâng cao năng suất, đáp ứng được những tiêu chuẩn, đủ điều kiện suất khẩu sang các nước phát triển như EU góp phần đẩy mạch phát triển kinh tế ở địa phương tạo thêm việc làm cho người dân tại địa phương hoặc người dân lân cận

Xuất phát từ nhận thức trên và dựa trên kiến thức học được, em đã lựa chọn

đi sâu nghiên cứu rõ hơn về đề tài : “Nghiên cứu hệ thống điều khiển của máy dệt HENQUN FX798 Model-2003 ”

Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp bao gồm 4 chương:

Trang 3

Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, nên không tránh khỏi có những sai sót Em rất mong nhận được sự nhận xét, đánh giá, đóng góp ý kiến của các thầy

cô trong khoa và bạn bè để đề tài này của em được hoàn thiện hơn

Hà N ội, ngày 20 tháng 6 năm 2020 Sinh viên th ực hiện đề tài

Nguy ễn Tấn Thủy

Đỗ Văn Long

Trang 4

NH ẬN XÉT (C ủa giảng viên hướng dẫn)

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

(Ch ữ ký, họ tên)

Trang 5

NH ẬN XÉT (C ủa giảng viên phản biện)

GI ẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

(h ọ tên và chữ ký)

Trang 6

M ỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH

TỔNG QUAN ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1

NỘI DUNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA BÁO CÁO 3

Chương 1: Tổng quan 3

1.1 Lịch sử phát triển và thực trạng của máy dệt 3

1.2 Xu hướng phát triển và sử dụng máy dệt trên thế giới 5

1.2.1 Máy dệt vải sợi RF50N 5

1.2.2 Máy dệt vải PP 6

1.2.3 Máy dệt LG798 7

1.2.4 Máy dệt khí JAT 810 7

1.2.5 Máy dệt nước SD822 8

1.3 Xu hướng phát triển và thực trạng sử dụng máy dệt công nghiệp trong nước 9

1.4 Ưu và nhược điểm 13

Chương 2: Nghiên cứu hệ thống mạch động lực của máy dệt HENQUN FX798 Model-2003 14

2.1 Sơ đồ nguyên lý của máy dệt công nghiệp HENQUN FX798 Model-2003 14

2.2 Các thiết bị trong tủ điện 15

2.2.1 Nút nhấn 15

2.2.3 Công tắc tơ 18

2.2.4 Aptomat 19

2.2.5 Quạt hút 19

2.2.6 Biến tần 20

2.2.7 Các loại cảm biến trên máy dệt công nghiệp 21

2.2.8 Biến áp 23

2.3 Hệ thống động cơ 24

2.3.1 động cơ ba pha chính của máy 24

2.3.2 Động cơ nhả, cuộn dọc của máy 25

2.3.4 Nguyên lý hoạt động của hệ thống động cơ 26

2.4 Hệ thống biến tần 26

Trang 7

Chương 3: Nghiên cứu các chế độ hoạt động và hệ thống điều khiển của máy dệt

HETQUN FX798 model-2003 27

3.1 Các chế độ hoạt động của máy dệt công nghiệp 27

3.2 Chế độ chạy trơn 27

3.3 Chế độ chạy tự động dừng theo kích thước đặt sẵn 28

3.4 Nghiên cứu hệ thống điều khiển của máy dệt công nghiệp 28

3.4.1 Sơ đồ hệ thống nút nhấn 28

3.4.2 Hệ thống Aptomat cấp nguồn cho toàn bộ hệ thống 28

3.4.3 Hệ thống nút điều khiển và chức năng của từ nút điều khiển 29

3.4.4 Các bước vận hành máy dệt công nghiệp 31

3.4.5 Các bước tắt máy dệt công nghiệp 31

3.5 Nghiên cứu hệ thống đèn báo của máy khi hoạt động và báo lỗi 32

3.5.1 Sơ đồ hệ thống đèn báo lỗi 32

3.5.2 Đèn báo lỗi màu vàng 32

3.5.4 Đèn báo lỗi màu đỏ 33

3.5.5 Đèn báo lỗi màu trắng (dừng nhả sợi ngang) 34

3.5.6 Các cảm biến điều khiển lỗi hệ thống 35

Chương 4: Một số đề xuất cải tiến, nâng cao hiệu quả sử dụng 37

4.1 Lựa chọn và so sánh thông số kỹ thuật của hệ thống khi làm việc với một số sản phẩm 37

4.2 Đề xuất cải tiến và nâng cấp hệ thống điều khiển tự động dừng động cơ 3 pha khi máy dừng quá lâu mà không được sử lý các lỗi báo đèn 38

4.2.1 Biện pháp cải tiến 1: Lắp thêm hệ thống dao cắt biên 38

4.2.2 Biện pháp cải tiến 2: Hệ thống chốt điện từ, kẹp(kẹp khí nén) và cắt khi máy dừng và báo đủ kích thước 39

4.3 Quy trình kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ các thiết bị điều khiển của máy dệt HENQUN FX798 Model 2003 48

4.3.1 Mục đích kiểm tra định kỳ và thời gian kiểm tra định kỳ 48

KẾT LUẬN 49

Trang 8

DANH M ỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Thị phần các loại máy dệt trên thế giới 5

Hình 1.2: Máy dệt vải sợi RF50N 6

Hình 1.3: Máy dệt vải PP 6

Hình 1.4: Máy dệt LG798 7

Hình 1.5: Máy dệt khí nén 7

Hình 1.6: Máy dệt nước SD822 8

Hình 1.7: Khung dệt chuyền thống của dân tộc Việt Nam 10

Hình 1.8: Sử dụng máy dệt công nghiệp của người dân làng nghề Phùng Xá 12

Hình 2.1: Sơ đồ nguyên lý dệt kiếm+thoi kẹp 14

Hình 2.2: Nút nhấn 16

Hình 2.3: Nút dừng khẩn cấp 16

Hình 2.4: Rơle đóng ngắt 18

Hình 2.5: Công tắc tơ 19

Hình 2.6: Aptomat 19

Hình 2.7: Quạt làm mát 20

Hình 2.8: Biến tần 21

Hình 2.9: Cảm biến từ trường 22

Hình 2.10: Cảm biến lực căng 23

Hình 2.11: Máy biến áp 24

Hình 2.12: Động cơ ba pha của máy 24

Hình 2.13: Động cơ phụ của máy 25

Hình 3.1: Aptomat tổng và Aptomat nhánh 28

Hình 3.2: Nút điều khiển động cơ ba pha ON/OFF mặt bên phải tủ điện 29

Hình 3.3: Nút điều khiển hoạt động của máy được gắn ở xà ngang trên máy 30

Hình 3.4: Nút điều khiển động cơ phụ quay thuận/nghịch được gắn ở xà ngang trên máy 30

Hình 3.5: Hệ thống đèn báo lỗi các khuyết sợi ngang và cò ngang 32

Hình 3.6: Hình ảnh cảm biến sức căng và đèn báo lỗi 33

Hình 3.7: Hệ thống (pen) nhận biết đứt dọc và đèn báo lỗi 34

Trang 9

Hình 3.8: Đèn báo lỗi màu trắng 34

Hình 3.10: Hình ảnh mô phỏng cảm biến load cell trên máy dệt công nghiệp 36

Hình 3.11: Hình ảnh mô phỏng cảm biến load cell báo đứt dọc(đèn màu đỏ) 36

Hình 4.1: Hệ thống dao cắt khổ vải trực tiếp trên máy 39

Hình 4.2: Van điện từ điều khiển khẹp 40

Hình 4.3: Kẹp khí nén 41

Hình 4.4: Chốt điện từ 42

Hình 4.5: Bản vẽ mô phỏng hệ thống chốt, kẹp và cắt 42

Trang 10

T ỔNG QUAN ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống điều khiển máy dệt HENQUN FX798 Model-2003:

- Hệ thống điều khiển trung tâm (tủ điện)

- Hệ thống điều khiển phụ (các nút nhấn điều khiển )

- Hệ thống thiết bị trường gồm, hệ thống thiết bị điện, hệ thống động cơ, vv, được trang bị trong máy dệt công nghiệp HENQUN FX798 MODEL 2003

2 Mục tiêu nghiên cứu

Để xây dựng được quy trình sử dụng và điều khiển của máy dệt công nghiệp (công nhân, nhân viên kỹ thuật vận hành dây chuyền), nghiên cứu này đặt ra các

mục tiêu sau:

- Đưa ra được kiến thức cơ bản về máy dệt công nghiệp

- Đưa ra quy trình sử dụng hệ thống điều khiển gồm các bước:đóng điện dây chuyền; vận hành dây chuyền; dừng hoạt động dây chuyền

- Đưa ra các bước kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ thiết bị điều khiển dây chuyền

gồm: Các thiết bị cần phải kiểm tra bảo dưỡng; chu kỳ thời gian để tiến hành kiểm tra và bảo dưỡng

3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung trên các phương pháp nghiên cứu được sử dụng như

sau:

Trang 11

3.1 Phương pháp kế thừa

Sưu tầm, thu thập các tài liệu liên quan.Tính toán thiết kế các hệ thống điều khiển bộ phận và hệ thống điều khiển trung tâm cho toàn bộ hoạt động của hệ thống để làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình công nghệ sử dụng hệ thống điều khiển, cải tiến và lang cao hiệu quả làm việc của máy

3.2 Phương pháp thực nghiệm

Thông qua quá trình làm thực nghiệm việc điều khiển hoạt động của máy để từ

đó đưa ra được quy trình sử dụng hệ thống điều khiển bộ phận và trung tâm của máy dệt công nghiệp HENQUN FX798 Model 2003 tự động

4 Đối tượng nghiên cứu

Máy d ệt công nghiệp HENQUN FX798 Model-2003

- V ề không gian: Đề tài được nghiên cứu tại xưởng sản xuất khăn mặt bông

- V ề thời gian: Bắt đầu từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020

6 K ết quả dự kiến đạt được

- N ắm rõ cách thức vận hành và kiểm tra, bảo dưỡng hệ thống máy và các linh

Trang 12

N ỘI DUNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA BÁO CÁO

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 L ỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CỦA MÁY DỆT

Trong thời kỳ cổ đại, may dệt cũng tuỳ thuộc vào thổ nhưỡng và sinh hoạt

kinh tế: các dân tộc sống về chăn nuôi dùng len (Lưỡng Hà, Trung Đông và Trung

Á), vải lanh phổ biến tại Ai Cập và miền Trung Mỹ, vải bông tại Ấn Độ và lụa (tơ tằm) tại Trung Quốc Các dân tộc Inca, Maya, Tolteca, v.v tại châu Mỹ thì dùng các sợi chuối (abaca) và sợi thùa (sisal) Theo Kinh Thi của Khổng Tử, tơ tằm được tình cờ phát hiện vào năm 2640 trước Công nguyên Sau khi vua Phục Hy, vị hoàng

đế đầu tiên của Trung Quốc, khuyến khích dân chúng trồng dâu nuôi tằm, tơ lụa trở thành một ngành phồn thịnh, một trong những hàng hoá đầu tiên trao đổi giữa Đông

0hay từ thực vật như da, sợi len, tơ tằm, v.v Vì thế sản xuất bị giới hạn, vải vóc vẫn

là sản phẩm quý, những y phục gấm vóc dành cho giai cấp quý tộc, thượng lưu, đại

đa số dân chúng chỉ mặc vải thô, quanh quẩn với một vài màu mè kiểu cọ Mãi đến giữa thế kỷ 18, với cuộc cách mạng kỹ nghệ bên Anh và sự ra đời của các máy dệt

cơ khí hoá, chạy bằng hơi nước (steam loom), ngành dệt mới thật sự ra khỏi sản xuất thủ công để trở thành một kỹ nghệ

Tuy nhiên, con người vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên, và nhiều nhà khoa học

ở Âu Châu tìm tòi cách làm ra một loại sợi nhân tạo có thể sản xuất hàng loạt, với giá rẻ Phải đợi đến năm 1884, một người Pháp, bá tước Hilaire Bernigaud de Chardonnet mới phát minh một cách chế tạo tơ nhân tạo, sau 6 năm nghiên cứu, song song với nhà khoa học Louis Pasteur, để tìm cách khắc phục các bệnh dịch tàn phá các cơ sở nuôi tằm Năm 1889, ông Chardonnet trưng bày tại Hội chợ triển lãm thế giới Paris một máy kéo sợi nhân tạo và những tấm lụa nhân tạo đầu tiên Năm sau, ông khánh thành nhà máy sợi nhân tạo, bắt đầu sản xuất năm 1892 Nhưng lúc

ấy các phương pháp chưa hoàn chỉnh và giá thành còn cao nên phải đợi đến đầu thế

kỷ 20, cơ sở này mới hoạt động với quy mô lớn và thành công

Năm 1900, trên thế giới có 1,6 tỷ người, tiêu thụ 3,8 triệu tấn sợi, hầu như toàn

bộ là các sợi tự nhiên - bông (81%) và len (19%), số sợi hoá học dưới 1000 tấn Năm 1975, thế giới tiêu thụ 26 triệu tấn sợi, trong đó 50% bông, 6% len và 44% sợi

Trang 13

hoá học Như thế, chỉ trong 3 phần tư thế kỷ, số lượng tiêu thụ đã nhân lên 4,3 lần cho sợi bông, 2,2 lần cho sợi len, và 11 000 lần cho sợi hoá học Mức tăng trưởng phi thường này tuy thế khựng lại sau năm 1973, vì cuộc khủng hoảng về dầu lửa và giai đoạn kinh tế suy thoái sau đó Ngoài ra, vì dầu hoả là nguyên liệu chính của sợi hoá học, khuynh hướng thay thế các sợi tự nhiên bằng sợi hoá học cũng chậm lại và ngày nay sợi tự nhiên, chủ yếu là bông, vẫn tồn tại trên thị trường, và sợi hóa học chỉ chiếm đa số với khoảng 60%

Sản phẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo, vải vóc và các vật dụng quen thuộc như khăn bàn, khăn tắm, chăn mền, nệm, rèm, thảm, đệm ghế, ô dù, mũ nón v.v mà còn cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt: lều, buồm, lưới

cá, cần câu, các loại dây nhợ, dây thừng, dây chão, các thiết bị bên trong xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu bè (một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17 kí sợi vải), vòng đai cua-roa, vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì, và nói chung mọi vật liệu dùng để đóng gói, bao bọc, để lót, để lọc, để cách nhiệt, cách âm, cách điện, cách thuỷ, và cả những dụng cụ y khoa như chỉ khâu và bông băng

Có thể hiểu tại sao ngành dệt may đã đi liền với sự phát triển của các nước công nghiệp, cùng với sắt thép là hai ngành vừa được ưu tiên thừa hưởng những phát minh kỹ thuật vừa là động cơ chuyển biến cả nền kinh tế từ thủ công sang công nghiệp trong thời kỳ cách mạng kỹ nghệ Điều này cũng giải thích tại sao các nước công nghiệp vẫn quyết tâm bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh của các nước nghèo, từ thập niên 1970 trở đi, khi các nước này tập trung xây dựng ngành này thành trọng điểm của chiến lược phát triển Và tại sao đó cũng là một trong những mối tranh chấp căng thẳng từ nhiều năm trong quan hệ thương mại giữa các nước giàu và nghèo

Trang 14

1.2 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG MÁY DỆT TRÊN THẾ GIỚI

Hình 1.1: Th ị phần các loại máy dệt trên thế giới

Thế giới ngày một phát triển, công nghệ ngày càng được cải thiện và tốc độ làm việc của máy móc cũng được đẩy nhanh hơn, giảm sức lao động của con người làm tăng năng suất, tạo ra được những sản phẩm có mẫu mã đẹp và phong phú đáp ứng được nhu cầu của thị trường.Với việc sử dụng rất nhiều loại máy dệt khác nhau như ( Máy dệt nước, máy dệt khí, máy dệt kiếm + thoi kẹp) hiện nay máy dệt kiếm + thoi kẹp được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới

Sau đây là một số loại máy dệt công nghiệp trên thế giới mà em tìm hiểu và biết đến:

1.2.1 Máy d ệt vải sợi RF50N

Máy dệt vải sợi RF50N loạt có cấu trúc nổi tiếng mạnh mẽ, thành phần nhỏ

gọn và mô đun loạt trong thiết kế, kết quả trong máy này là sự lựa chọn đầu tiên của

khách hàng Thông qua động cơ điện từ với biến tần, tốc độ có thể được lập trình

Hệ thống phanh điện từ đảm bảo phanh chính xác, ổn định và ít tiếng ồn Các thiết

bị biến tần có thể tiết kiệm điện năng tiêu thụ lên đến 20% - 35%, tốc độ của máy vượt trội hơn các máy đời cũ , khích thước nhỏ gọn Máy được sử đụng để sản xuất các loại khăn mặt, khăn tắm, thảm, bao bì …

Trang 15

Hình 1.2: Máy d ệt vải sợi RF50N

1.2.2 Máy d ệt vải PP

Hình 1.3: Máy d ệt vải PP

Đây là máy dệt vải có xuất sứ từ Nhật Bản có kích thước nhỏ, tốc độ làm việc cao, năng suất lao động cao hơn so với việc dệt vải theo cách truyền thống, giảm bớt được một công đoạn sau tách khổ vải sau này

Trang 16

thực hiện như một nhân viên có tay nghề cao

Trang 17

1.2.5 Máy d ệt nước SD822

Hình 1.6: Máy d ệt nước SD822

 Khổ máy: từ (150-380) cm

 Tốc độ: (500-1000) rpm, tùy theo cấu hình vải dệt

 Máy dệt nước SD822 có khả năng để dệt sợi siêu mịn và vải mật độ (pick) cao

 Hệ thống chọn sợi ngang điện tử, tùy biến giúp tạo ra vải giá trị gia tăng cao

 Sử dụng dệt tối đa 4 màu, đáp ứng tốt nhu cầu thực tế hiện nay

 Take-up điện tử & Let-off điện tử đảm bảo kiểm soát chính xác độ căng sợi dọc

 Chiều rộng dệt tối thiểu lên đến 40 inch

 Thiết kế chống rung có hiệu quả cải thiện tuổi thọ của các bộ phận máy cũng như tránh khuyết tật vải

 SD822 dùng hệ thống bôi trơn tập trung, giảm thời gian bảo dưỡng định kỳ và hoạt động dễ dàng

 Thiết kế trang bị đà dầm tam giác hoặc năm cạnh đảm bảo hỗ trợ back-up tốt, làm giảm đáng kể độ rung khi đập sợi

Trang 18

1.3 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MÁY DỆT CÔNG NGHI ỆP TRONG NƯỚC

Nghề dệt thổ cẩm là nét văn hóa độc đáo của người một số dân tộc và địa phương Nghề dệt thổ cẩm một nghề đã tồn tại từ lâu đời và đem đến những lợi ích cho đồng bào dân tộc thiểu số cũng là nét văn hoá riêng của đồng bào dân tộc

Những tấm thổ cẩm được dệt với nhiều hoa văn, họa tiết thể hiện bàn tay khéo léo

của người phụ nữ đồng bào dân tộc và làm nên các trang phục đẹp nhiều màu sắc Hiện nay có rất nhiều làng nghề dệt thổ cẩm được lưu giữ và phát triển như: Bon tại xã Đắk Nia, thị xã Gia Nghĩa; bon Đăk Sô, xã Quảng khê; và một số làng tại huyện Cư Jút; xã Phùng xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Theo truyền thống của một số đồng bào dân tộc người ta thường chọn nền vải là màu đen, tượng trưng cho đất; màu đỏ tượng trưng cho sự dũng cảm, sức mạnh siêu nhiên, khát vọng tình yêu; màu xanh tượng trưng cho màu của trời, sông núi; màu vàng tượng trưng cho

sự hài hoà, mơ ước, khát vọng trong cuộc sống của con người Việt Nam Nguyên liệu thường được dùng để dệt váy, áo thổ cẩm của người là những nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên như bông, vỏ cây, rễ cây… Hoa văn trang trí đường viền ở chân váy, cổ áo, tay áo có dạng hình thoi, tam giác được kết lồng vào nhau và điểm xuyến bằng nhiều hình ảnh từ thiên nhiên, hoa, chim, thú …thể hiện mối quan

hệ cộng đồng giữa con người với con người và con người với thiên nhiên

Đây là một nghề truyền thống đã có từ lâu đời, tồn tại và phát triển cùng với

sự phát triển của buôn, làng Khi làm nghề này, người ta đã sử dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ, tạo công ăn việc làm, mang lại thu nhập cho gia đình tại địa phương Tuy nhiên, trong những năm gần đây do nhiều nguyên nhân khác nhau đã khiến cho nghề dệt thổ cẩm cũng như nhiều nét văn hóa khác bị mai một dần Khôi phục các làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cũng là một định hướng phát triển ngành du lịch của tỉnh nhà Những chiếc khăn, khố, váy, áo choàng được thêu hoa văn, màu sắc sặc sỡ từ chất liệu thổ cẩm góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch của địa phương, níu giữ du khách khi đến với vùng đất hình chữ S để chiêm ngưỡng tìm hiểu, khám phá nét độc đáo trong từng trang phục và chọn cho mình những món quà lưu niệm độc đáo, ý nghĩa sau một chuyến đi xa

Trang 19

Sau đây là đôi nét về lịch sử phát triển của làng nghề dệt xã Phùng Xá nơi em sinh ra và lớn lên, em chọn đề tài nghiên cứu này là góp một phần sức của mình để phát triển quê hương

Xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội là một trong số rất nhiều làng nghề truyền thống vẫn còn gìn giữ và phát triển nghề dệt thổ cẩm của cha ông

ta để lại và kế thừa từ thế hệ này đến thế hệ khác Từ bao đời nay làng nghề Phùng

Xá đã nổi tiếng với nghề dệt truyền thống, trải qua hơn 80 năm gìn giữ và phát triển truyền thống, dệt khăn mặt,khăn tắm v.v đã trở thành nghề mang lại thu nhập ngồn thu nhập chính cho người dân nơi đây bên cạnh việc phát triển kinh tế nông nghiệp

Hình 1.7: Khung d ệt chuyền thống của dân tộc Việt Nam

Nghề dệt Phùng Xá được hình thành từ năm 1929, được gìn giữ, duy trì và phát triển cho đến ngày nay Theo thuyết xưa truyền lại thì cụ tổ làng nghề là cụ Hoàng Tiến Gan Cụ xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, quanh năm bán

mặt cho đất bán lưng cho trời, hơn nữa lại là người con của làng quê có nghề chăn

tằm ươm tơ mà vẫn khổ cực áo chẳng đủ mặc, vì thế tâm thức cụ đã nung nấu nghề

dệt Năm 1928, cụ rời làng đi học hỏi nghề dệt ở Bắc Ninh, Hà Đông Năm 1929, cụ mang nghề dệt về làng, cụ tổ chức một nhóm thợ, vừa làm vừa truyền nghề, vừa

Trang 20

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, thậm chí đến giải phóng năm 1954, cả làng đã dệt theo hình thức cá thể, tự sản tự tiêu, chủ yếu là dệt tơ tằm, the, đũi với

số lượng ít Sau đó quy mô phát triển hơn thành các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp

dệt các mặt hàng như lụa, satanh và đặc biệt là khăn mặt bông để xuất khẩu sang Liên Xô (cũ) Lúc bấy giờ, hình thức sản xuất là thủ công bởi máy móc còn rất thô

sơ, nguyên liệu dệt là sợi tơ tằm, tơ bông và sợi còn Năm 1992, hợp tác xã giải thể

do không thích nghi được với cơ chế đổi mới Tuy vậy, người dân xã Phùng Xá còn

nặng lòng với nghề dệt lắm, các hộ gia đình đã mạnh dạn tự đầu tư mua máy dệt, nguyên liệu, một mặt duy trì được nghề truyền thống, mặt khác lại đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Sản phẩm dệt khăn mặt của làng rất đa dạng về mẫu

mã, kiểu cách, nào khăn mặt, khăn nhỡ, khăn tắm, nào khăn trơn, khăn hoạ tiết, nào khăn nhuộm màu, phun màu…, bởi thế mà làng nghề Phùng Xá có được tiếng thơm cho đến ngày nay Quy mô làng dệt cũng theo đà đó mà phát triển, đến nay trong làng nghề đã có 28 doanh nghiệp tư nhân, 13 công ty cổ phần với quy mô sản xuất

lớn, ngoài ra còn có các hộ sản xuất tư nhân, nghệ nhân, thợ giỏi và các thợ kĩ thuật

phục vụ cho ngành dệt, đặc biệt có 3 nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh

hiệu nghệ nhân năm 2006 Làng nghề có 2000 máy dệt, trong đó có 220 máy dệt tự động, 3 công ty tẩy, nhuộm, hấp sợi, 1 lò nhuộm mobin hiện đại và 1 máy mắc công nghiệp

Phùng Xá được tỉnh Hà Tây công nhận là làng nghề truyền thống từ năm

2002 Qua hơn 80 năm xây dựng và phát triển, nghề dệt khăn đã trở thành nghề chính mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân bên cạnh trồng trọt và chăn nuôi

Quá trình s ản xuất ra sản phẩm khăn

Chỉ với nguyên liệu đầu vào là những cối sợi trắng, bằng đôi bàn tay khéo léo cùng với óc sáng tạo, người dân xã Phùng Xá đã làm ra những chiếc khăn với đủ

mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, kích cỡ để đến tay người tiêu dùng trong và ngoài nước Đối với làng nghề dệt khăn truyền thống Phùng Xá, quá trình sản xuất ra sản

phẩm khăn trải qua 5 công đoạn: từ mắc sợi, cho đến dệt, tẩy, nhuộm, máy biên mép, cuối cùng là in phun hoa văn, có thể nói đây là quá trình kết hợp giữa lao động

thủ công và sự trợ giúp của máy móc

Trang 21

Hình 1.8: S ử dụng máy dệt công nghiệp của người dân làng nghề Phùng Xá

Hiện nay ở một số tỉnh như Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định…người dân đã mạnh dạng đầu tư nâng cấp máy móc từ để nhằm cải thiện về mẫu mã, tăng năng suất, giảm sức lao động Đặc biệt là không chỉ cung cấp các sản phẩm khăn mặt, khăn tắm… ra thị trường các tỉnh, thành phố trong cả nước mà còn xuất khẩu sang các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan… Cùng với duy trì và phát triển nghề truyền thống, đến nay nghề dệt khăn mặt ở các địa phương không chỉ tạo công

ăn việc làm cho hàng trăm lao động địa phương mà còn tạo việc làm cho lao động các vùng lân cận với mức thu nhập bình quân mỗi tháng 5-7 triệu/người/tháng Hầu hết các loại máy dệt công nghiệp đều được nhập khẩu nguyên chiếc từ Trung Quốc như máy dệt HEQUN FX 798, GA 788, ĐPA 2000…có giá mỗi chiếc từ 200-600 triệu

Trang 22

1.4 ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM

Ưu điểm:

- Tốc độ làm việc của máy nhanh hơn so với việc dệt bằng máy dệt khung gỗ

- Năng suất đạt được cao hơn so với máy dệt tryền thống

- Thời gian làm việc của máy có thể đạt được 24/23

- Mẫu mã, khích thước sản phẩm cuối cùng đạt được những tiêu chuẩn của các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản …

- Có thể dệt được hầu hết các loại sợ có kích thước khác nhau

- Giảm sức lao động của con người (1 người có thể đứng vận hành từ 2-3 máy)

- Đem lại hiệu quả cao về kinh tế cho các doanh nghiệp và các xưởng sản xuất nhỏ

- Cơ cấu ba tăng đơn giản và nhẹ, hành trình chuyển động của ba tăng ngắn, khổ vải rộng

- Cơ cấu tha màu sợi ngang đơn giản

- Không cần chuẩn bị công đoạn đánh suốt so với dệt thủ công

- Sức căng sợi ngang đều

Nhược điểm:

- Giá thành máy dệt công nghiệp quá cao so với các xưởng sản xuất nhỏ

- Tổn hao quá nhiều điện năng gây láng phí

- Trong quá trình sử dụng máy hay xảy ra những trục trặc về các kết cấu thép

- Chi phí bỏ ra cho mỗi lần bảo dưỡng và sửa chữa cao

- Gây ô nhiễm tiếng ồn và ô nhiễm không khí

- Hầu hết các linh kiện, chi tiết của máy đều phải nhập khẩu từ nước ngoài

- Biên vải không chắc chắn và không đẹp

- Tiêu tôn sợi ngang do dùng biên phụ, đầu thừa sợi ngang

Trang 23

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG MẠCH ĐỘNG LỰC CỦA MÁY

của việc lên xuống khung go là để tạo bông đều cả hai mặt của khăn) khi khung go

một di chuyển lên thì khung go hai di chuyển xuống các khung go di chuyển luân phiên nhau khung go chẵn thì là sợi bông dọc, khung go lẻ thì là sợi nền dọc Lúc này thoi kẹp và dây kiếm kẹp ngang sẽ di chuyển đồng thời hai cả bên trái/phải, thoi

kẹp bên trái thì là thoi đưa còn thoi kẹp bên phải thì là thoi nhận sao cho sợi ngang trong mỗi lượt đưa và nhận phải hết chiều rộng của một tấm khăn Sau khi thoi khẹp

sợi ngang di chuyển một nhịp thì lược ép vào và tạo một khoảng trống khi hết hai

nhịp đưa và nhận khung go di chuyển bốn nhịp lên và xuống Cho đến lượt thứ ba

Trang 24

Nhiệm vụ của trục vải là quấn theo chiều ngược chiều kim đồng hồ để quận những

khổ khăn thành thành phẩm lại và tạo thành một tấm Que tách có nhiệm vụ là tách riêng lẻ từ sợi ra tránh không làm cho sợi bị dối lại với nhau, nếu như không có que tách sẽ khiến cho quá trình sản xuất ra bị lối rất nhiều Trong quá trình máy hoạt động bộ vi xử lý sẽ xử lý tín hiệu từ các cảm biến, đồng thời bộ vi xử lý sẽ đếm số lượt nhả ra của trục sợi dọc để biết được khoảng cách chiều dài khổ bông (khoảng cách chiều dài khổ bông thì do ta cài đặt theo mẫu) sau khi bộ vi xử lý đếm hết chiều dài khổ bông thì đến chiều dài khổ nền lúc này lại có một tín hiệu từ vi xử lý

gửi đến động cơ trục sợi dọc làm động cơ quay trậm lại làm tăng lực căng của sợi khiến cho sợi không thể lên bông để tạo thành lền khăn, các cơ cấu go và khung go, lược vẫn hoạt động bình thường

2.2 CÁC THI ẾT BỊ TRONG TỦ ĐIỆN

Tủ điện công nghiệp phục vụ cho các nhu cầu về điện sử dụng ở các nhà máy, công trình, nhà xưởng, nhà ở, bên trong nó chứa các phụ kiện như công tắc, cầu dao…v.v, nhằm đảm bảo tính thẩm mỹ và an toàn về điện Điều khiển đóng cắt nguồn điện, điều khiển máy ON/OFF

2.2.1 Nút nh ấn

– Nút nhấn điều khiển là một thiết bị được dùng để đóng hoặc ngắt dòng điện trong

mạch Hầu hết, các máy móc đều phải sử dụng nút nhấn điều khiển để thực hiện thao tác điều khiển

– Ở mạch điện một chiều, điện áp đến 440V và mạch điện xoay chiều điện áp 500V, tần số 50Hz, 60Hz, nút nhấn thông dụng để khởi động, đảo chiều quay động cơ điện bằng cách đóng và ngắt các cuộn dây của Contactor nối cho động cơ

– Ở mạch điều khiển, nút nhấn cung cấp tín hiệu điều khiển cho PLC, các bộ xử lí

để máy hoạt động theo yêu cầu tác động của người vận hành

– Nút nhấn thường được nghiên cứu, chế tạo làm việc trong môi trường không ẩm ướt, không có hơi hoá chất và bụi bẩn

Khái quát và công dụng:

+ Là 1 khí cụ dùng để đóng ngắt các thiết bị điện

+ Thường đặt trên bảng điều khiển, ở tủ điện, trên hộp nút nhấn…

+ Khi thao tác cần dứt khoát để mở hoặc đóng mạch điện

Trang 25

Ngoài ra còn có nút dừng khẩn cấp (Hình 2.3) được sử dụng trong trường hợp

hệ thống xảy ra sự cố, đóng cắt toàn bộ mạch điện

Trang 26

2.2.2 Rơle điện từ

Rơ le trung gian sử dụng trong hệ thống điện của máy dệt là một kiểu nam châm điện có tích hợp thêm hệ thống tiếp điểm Rơle trung gian còn gọi là rơ le

kiếng là một công tắc chuyển đổi hoạt động bằng điện Gọi là một công tắc vì rơ le

có hai trạng thái ON và OFF Rơ le ở trạng thái ON hay OFF phụ thuộc vào có dòng điện chạy qua rơ le hay không

Cấu tạo và nguyên lý làm việc của rơ le trung gian:

- Cấu tạo của rơ le trung gian

Thiết bị nam châm điện này có thiết kế gồm lõi thép động, lõi thép tĩnh và

cuộn dây Cuộn dây bên trong có thể là cuộn cường độ, cuộn điện áp, hoặc cả cuộn điện áp và cuộn cường độ Lõi thép động được găng bởi lò xo cùng định vị bằng

một vít điều chỉnh Cơ chế tiếp điểm bao gồm tiếp điểm nghịch và tiếp điểm nghịch

- Nguyên lý hoạt động:

+ Khi có dòng điện chạy qua rơ le, dòng điện này sẽ chạy qua cuộn dây bên trong

và tạo ra một từ trường hút Từ trường hút này tác động lên một đòn bẩy bên trong làm đóng hoặc mở các tiếp điểm điện và như thế sẽ làm thay đổi trạng thái của rơ

le Số tiếp điểm điện bị thay đổi có thể là một hoặc nhiều, tùy vào thiết kế + Rơ le có hai mạch độc lập nhau họạt động Một mạch là để điều khiển cuộn dây

của rơ le: Cho dòng chạy qua cuộn dây hay không, hay có nghĩa là điều khiển rơ le

ở trạng thái ON hay OFF Một mạch điều khiển dòng điện ta cần kiểm soát có qua được rơ le hay không dựa vào trạng thái ON hay OFF của rơ le

- Công dụng của rơle trung gian:

Công dụng của Rơle trung gian là làm nhiệm vụ "trung gian" chuyển tiếp

mạch điện cho một thiết bị khác, ví như bộ bảo vệ tủ lạnh chẳng hạn-khi điện yếu thì rơle sẽ ngắt điện ko cho tủ làm việc còn khi điện hoẻ thì nóp lại cấp điện bình thường.Trong bộ nạp ắc quy xe máy, ô tô thì khi máy phát điện đủ khoẻ thì rơ le trung gian sẽ đóng mạch nạp cho ác quy

Trang 27

Hình 2.4: Rơle đóng ngắt

2.2.3 Công t ắc tơ

Công tắc tơ là một thiết bị sử dụng để đóng ngắt tạo nên dòng điện kích hoạt điều khiển các động cơ; máy phát có công suất lớn hoặc nhỏ bằng các tiếp điểm tích hợp trên bản thân thiết bị Mà các tiếp điểm này hoạt động dựa trên nguyên lý co đẩy của chiếc lò xo tích hợp bên trong thiết bị Các công tắc thường thấy như công tắc tơ 25A / 16A / 32A / 40A

Contactor có công dụng quan trọng trong việc điều khiển dạng ON/OFF tạo nguồn cho các thiết bị có công suất nhỏ – trung bình – lớn Chúng ta thường thấy công tắc tơ một pha trong các sơ đồ điện gia đình Còn đối với nhà máy; tải điện cao thế… Đều sử dụng công tắc tơ ba pha

Đặc biệt tại các dây chuyền sản xuất trong nhà máy thì công tắc tơ là thiết bị điều khiển dùng để vận hành các thiết bị điện hoặc các động cơ một cách tự động với mức độ ổn định rất cao Giúp ích rất nhiều trong công cuộc tự động hóa hệ thống nhà máy sản xuất Điểm chung của các loại công tắc tơ so với công tắc hành trình đó chính là những thiết bị làm thay đổi sơ đồ mạch điện và điều khiển các thiết

bị động cơ khác

Trang 28

Hình 2.5: Công t ắc tơ

2.2.4 Aptomat

Aptomat (Hình 2.6) là thiết bị bảo vệ đa năng, có chức năng bảo vệ sự cố ngắn

mạch, quá tải, sự cố dòng điện dò, sự cố quá áp Trên thực tế Aptomat được sử dụng

chủ yếu bảo vệ sự cố ngắn mạch, quá tải cho các động cơ điện Trên thị trường hiện nay đặc biệt đối với các kỹ sư điện đều năm rõ chức năng của loại thiết bị này, Aptomat đang dần thay thế các thiết bị khác như cầu dao hay cầu chì, vận hành tủ

tốt hơn so với 2 loại kia

Hình 2.6: Aptomat

2.2.5 Qu ạt hút

Quạt hút (Hình 2.7) giúp làm mát các phụ kiện bên trong tủ điện Các thiết bị bảo vệ khác như role nhiệt, role bảo vệ pha, đèn báo…

Trang 29

Hình 2.7: Qu ạt làm mát

2.2.6 Bi ến tần

Biến tần (Hình 2.8) là thiết bị biến đổi dòng điện xoay chiều ở tần số này

thành dòng điện xoay chiều ở tần số khác có thể điều chỉnh được

- Nguyên lý cơ bản làm việc của bộ biến tần cũng khá đơn giản Đầu tiên, nguồn

điện xoay chiều một pha hay ba pha được chỉnh lưu và lọc thành nguồn một chiều

bằng phẳng Công đoạn này được thực hiện bởi bộ chỉnh lưu cầu diode và tụ điện

Ngày đăng: 22/11/2021, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w