1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

“Rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2 trong dạy học Tập đọc”

108 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập đọc với tư cách là một phân môn của tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu này, hình thành và phát triển năng lực cho học sinh.Từ những lí do nêu trên cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2 trong dạy học Tập đọc” để có thể giúp các em phát âm chính xác, đọc đúng từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học tiếng việt ở tiểu học.

Trang 1

LỜI CÁM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô giáo - ThS Phan Thị Hương Giang - Giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học – Trường ĐHSP Huế, người đã quan tâm, hướng dẫn tận tình cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cám ơn quý Thầy Cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu Trường ĐHSPH, thư viện, phòng tư liệu đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành đề tài

học-Đồng thời em cũng xin gửi lời cám ơn đến các thầy cô giáo và học sinh trườngTiểu học Phú Mậu đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian khảo sát và thực nghiệm tại trường

Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng để hoàn thành đề tài những không tránh khỏi

những hạn chế, thiếu sót rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo cùng các bạn để đề tài hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cám ơn!

Huế, tháng 5 năm 2018 Sinh viên

Nguyễn Thị Kim Hương

MỤC LỤC

Trang 3

kĩ năng đọc như: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm, học sinh có nhữnghiểu biết về kiến thức văn học, ngôn ngữ và ngược lại Đọc là một hình thái chuyển

mã từ kí hiệu ngôn ngữ trong văn bản thành biểu tượng, hình ảnh để làm giàu nhậnthức, đồng thời đọc cũng là một phương pháp phát triển tư duy Hoạt động đọc giúpcác em mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, về đất nước, về cuộc sống, con người, vềphong tục tập quán của các dân tộc trên thế giới Dạy đọc có ý nghĩa rất to lớn ởtiểu học Đầu tiên trẻ phải học đọc sau đó trẻ phải đọc để học Đọc là môn họcmang tính giáo dục cao, là nguồn gốc của tư duy Nó là điều kiện để cho học sinh

có khả năng tự học và học tập cả đời

1.2 Rèn kĩ năng phát âm cho học sinh tiểu học được thực hiện thông qua phân

môn Tập đọc Vào lớp 1 các em học sinh bắt đầu làm quen với: Nghe, nói, đọc, viếttrong đó đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữviết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng),

là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có

âm thanh (ứng với đọc thầm), mà muốn đọc được thì các em phải có khả năng nghe

và phát âm chính xác từ đó các em mới đọc đúng và đúng nhanh, đọc một cách có ýthức cũng sẽ tác động tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy củangười đọc.Việc luyện đọc để nâng cao chất lượng đọc thành tiếng còn tùy thuộcvào đặc trưng riêng của từng lớp học, học sinh lớp 2 mới bắt đầu hoàn thiện dầnmức độ đọc, cũng như luyện đọc để có thể đọc tốt Mức độ các em cần đạt được làđọc đúng, liền mạch các từ, cụm từ trong câu, đọc trơn đoạn, bài đơn giản (khoảng

120-150 chữ), tốc độ khoảng 50 - 60 chữ/phút, biết nghỉ hơi ở chỗ có dấu câu.

Trang 4

Bước đầu biết đọc thầm, hiểu nội dung của đoạn văn, đoạn thơ, bài văn, bài thơ vàmột số văn bản thông thường đã học.Trong thực tế giảng dạy việc tổ chức cho họcsinh đọc từ, đọc câu, đọc đoạn là rất phù hợp với năng lực của học sinh lớp 2.Việcluyện đọc từ khó, sửa cách phát âm người giáo viên cần làm gì? Làm như thế nào?

Để từ đó đưa việc đọc vào cuộc sống, thông qua môn học góp phần đắc lực phục vụmục tiêu đào tạo con người

1.3 Học sinh tiểu học nhất là bậc học mới chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui

chơi ở trường mầm non sang hoạt động học tập ở trường tiểu học nên việc rèn kĩnăng đọc thành tiếng sẽ có rất nhiều khó khăn cho các em Rèn kĩ năng đọc thànhtiếng là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của phân môn Tập đọc ở tiểu học, việcrèn kĩ năng đọc thành tiếng để hỗ trợ dạy học phân môn Tập đọc chưa đáp ứngđược đòi hỏi ngày càng cao của ngành Giáo dục và toàn xã hội Thực trạng dạy họctrong thời gian gần đây cho thấy tình trạng dạy luyện đọc thành tiếng cho học sinhcòn rất khó khăn nguyên nhân chủ yếu là do các em chưa phân biệt được cách phát

âm hoặc do sự ảnh hưởng của ngôn ngữ nơi các em sinh sống Mặc dù rèn kĩ năngđọc thành tiếng cho học sinh tiểu học là vấn đề đã được nhiều nhà giáo dục quantâm và đề ra nhiều phương pháp cũng như khai thác nhiều khía cạnh để hỗ trợ chocác em những vẫn chưa có đề tài nào đi sâu vào phân tích biện pháp rèn kĩ năngđọc thành tiếng để hỗ trợ rèn kĩ năng phát âm cho các em Bên cạnh những thànhcông còn nhiều hạn chế, học sinh đọc chưa tốt, phát âm chưa chuẩn được như mongmuốn Làm thế nào để chữa lỗi và rèn cho học sinh khi đọc thành tiếng? Làm thếnào để các em phát âm chuẩn để từ đó giúp các em đọc hay hơn, diễn cảm hơn, làmtiền đề để các em hiểu văn bản được đọc, để cho những gì đọc được tác động chínhvào cuộc sống của các em

Những điều vừa trên đã khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và pháttriển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh.Tập đọc với

tư cách là một phân môn của tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầunày, hình thành và phát triển năng lực cho học sinh.Từ những lí do nêu trên cũngnhư nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học

sinh, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học

Trang 5

sinh lớp 2 trong dạy học Tập đọc” để có thể giúp các em phát âm chính xác, đọc

đúng từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học tiếng việt ở tiểu học

2 Lịch sử nghiên cứu

Rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho các em đọc chuẩn và chính xác là vấn đềđược nhiều nhà giáo dục quan tâm, việc phát âm chuẩn sẽ giúp người nghe cảmnhận được đầy đủ và chính xác giá trị nội dung của văn bản.Vì vậy việc rèn kĩ năngđọc thành tiếng cho học sinh là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm

hiểu.“Phương pháp dạy học tiếng Việt” của tác giả Lê phương Nga cung cấp cho

người đọc được tiếp cận với một số nguyên tắc đặc thù về tiếng Việt ở tiểu

học.“Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1”của các tác giả Lê Phương Nga (NXB Đại

học Sư phạm Hà Nội, 2003) đề cập đến phân môn Tập đọc về: mục tiêu, cơ sở tâm

lí học, ngôn ngữ của việc dạy Tập đọc, một số nguyên tắc dạy Tập đọc, phương

pháp dạy Tập đọc, quy trình dạy các kiểu bài học Tập đọc “Phương pháp dạy học tiếng việt ở Tiểu học”, NXB Đại học Sư Phạm, 2002 với mục tiêu trang bị cho học

sinh những kiến thức cơ bản hiện đại và các kĩ năng giảng dạy Tiếng Việt ở tiểuhọc Giáo trình cung cấp thông tin về những vấn đề chung của phương pháp dạyhọc Tiếng Việt và phương pháp dạy học trong các phân môn của Tiếng Việt ở TiểuHọc, bên cạnh đó tác giả còn đưa ra nhiều phương pháp dạy học và hình thức tổchức dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong từng phân môn cụ

thể Giáo trình“Phương pháp dạy học Tiếng Việt” của Lê A cũng đưa ra cơ sở lí

luận các nguyên tắc và phương pháp dạy Tập đọc, nhấn mạnh đến các phương phápnhư phương pháp trực quan, phương pháp đàm thoại, phương pháp luyện tập theomẫu

Tập đọc là phân môn thực hành có nhiệm vụ quan trọng hình thành năng lựcđọc cho học sinh Để góp phần nâng cao chất lương dạy và học đối với phân mônTập đọc ở Tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng đã có không ít các giáo sư, tiếnsĩ, đã dày công nghiên cứu và đưa ra các biện pháp thích hợp Điển hình là các

công trình sau: Công trình nghiên cứu “Dạy học Tập đọc ở Tiểu học”(Lê Phương

Nga, Nxb Giáo dục ,2003), tác giả đã đưa ra những phương pháp và hình thức tổchức dạy học rất phong phú nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn

Tập đọc Giáo trình“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” (tài liệu đào tạo

Trang 6

GV – 2007) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, dự án phát triển GV tiểu học, tác giả cậpnhật những thông tin đổi mới về nội dung chương trình SGK mới, về phương phápdạy và học theo chương trình mới.Tác giả đã trình bày một cách chi tiết, cụ thể vềcấu trúc, nội dung và phương pháp dạy học cho từng môn Đặc biệt tác giả còn giớithiệu được một số phương pháp dạy học tích cực theo hướng đổi mới như: sử dụng

bộ đồ dùng trong học tập, trong dạy học, sử dung máy chiếu, băng hình, nhằm

phục vụ cho quá trình dạy học đạt kết quả cao nhất Công trình nghiên cứu“Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học” Bộ GD- ĐT, dự án phát triển GV tiểu học, Nxb

Giáo dục, Hà Nội, (2005), tác giả đã chỉ ra những đổi mới trong nội dung vàphương pháp bài dạy phân môn Tập đọc theo chương trình sách giáo khoa mới,nắm được bản chất và phương pháp dạy học Tập đọc theo hướng tích cực hóa hoạt

động của HS Công trình nghiên cứu “Vui học tiếng việt”,Trần Mạnh Hưởng, tập

1(2002), NXB Giáo Dục, tác giả nhấn mạnh những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúphọc sinh luyện tập thành thạo các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, từ đó các em sẽ biếtsuy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ

viết của dân tộc Giáo trình “Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt”(giáo trình đào tạo

giáo viên tiểu học hệ Cao đẳng sư phạm và sư phạm), tác giả Đào Ngọc - Nguyễn

Quang Ninh đã tập trung nghiên cứu kĩ thuật đọc ở các hình thức đọc thành tiếng

và đọc thầm Theo tác giả Nguyễn Trí: Dạy học ở bậc Tiểu học, nhất là các lớp1,2,3 nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các trò chơi học tập thì sẽ có tác dụngrất tích cực, kích thích hứng thú học tập và tạo được chất lượng cho bài học Cáctác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga thông qua

cuốn“Trò chơi học tập tiếng Việt 2,3”, NXB Giáo dục, 2003, 2004 đã bàn về việc

sử dụng trò chơi học tập: Những trò chơi đưa vào sách thường dựa vào nội dung cụthể của từng phân môn.Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào từng địa bàn, từng đốitượng học sinh để có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lí “Phát triển lời nói cho học sinhtiểu học trên bình diện ngữ âm” (tài liệu đào tạo GV tiểu học, trình độ đại học), dự

án phát triển GV tiểu học của Nguyễn Thị Xuân Yến- Lê Thị Thanh Nhàn (NXBGiáo dục 2007) đã mô tả hệ thống âm chuẩn trong tiếng Việt hiện đại xác định lỗiphát âm, xác định biến thể phát âm theo các vùng phương ngữ cho HS tiểu học

“Dạy học tập đọc ở tiểu học”- Lê Phương Nga đã nghiên cứu đến việc xác định

Trang 7

chuẩn chính âm trong tiếng việt và hướng đến một trong ba mẫu hình lý tưởng đểluyện phát âm cho học sinh Đây là cơ sở quan trọng cho giáo viên vận dụng dạyphát âm và sửa lỗi phát âm cho tất cả học sinh nói chung và học sinh dân tộc thiểu

số nói riêng.Trong cuốn này tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận một số phương phápdạy học phát âm ở tiểu học Sáng kiến kinh nghiệm của Thái Thị Thanh, Giáo viên

trường Tiểu học Thị trấn Than Uyên về “Biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 2 trong giờ Tập đọc”cũng đã đưa ra lí luận cũng như đề xuất một số biện pháp rèn

đọc cho học sinh cũng là cở sở quan trọng để tôi thực hiện đề tài nhưng vẫn đangtrên cơ sở lí luận và đưa ra biện pháp nhưng chưa đi sâu vào phân tích cũng nhưchưa ứng dụng trò chơi để có thể nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh

Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến những vấn đề khác nhau của phânmôn Tập đọc cho học sinh lớp 2 nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứuthiết kế nêu rõ về rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2 Các công trình

nghiên cứu trên là cơ sở lí luận quý báu để chúng tôi thực hiện đề tài “Rèn kĩ năng

đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2 trong dạy học phân môn Tập đọc”.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu các vấn đề lí thuyết về hoạt động đọc,vai trò và thựctiễn tổ chức hoạt động đọc thành tiếng ở tiểu học, đề tài nhằm xây dựng các biệnpháp rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh ở lớp 2, từ đó góp phần nâng caochất lượng dạy học Tập đọc ở tiểu học

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề lí luận về năng lực đọc, kĩ năng đọc thành tiếng, các

yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đọc thành tiếng của học sinh lớp 2 trong dạy họcTập đọc để xác lập cơ sở lí luận của đề tài

- Khảo sát thực trạng về dạy học Tập đọc và chất lượng đọc thành tiếng của

học sinh lớp 2 ở trường tiểu học trên địa bàn Thừa Thiên Huế để làm cơ sở thựctiễn cho đề tài

- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2

trong dạy học Tập đọc

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của các

biện pháp đã đề xuất

Trang 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2 trong dạy học Tập đọc.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Các biện pháp rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh trong dạy học Tập

đọc ở lớp 2

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nghiên cứu những cơ sở lí luận liên quanđến đề tài, sách giáo trình, sách giáo viên, nguồn internet

- Phương pháp phân tích tổng hợp: thông qua việc phân tích, tổng hợp đặcđiểm nội dung, chương trình để rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2trong dạy học Tập đọc sáng tạo, phù hợp

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng: nhằm khảo sát thực trạng dạy họcđọc thành tiếng hiện nay của GV ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Huế,đánh giá nội dung, cách thức tổ chức hiện nay

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: sử dụng để đánh giá tính khả thi, hiệuquả về rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2 trong dạy học Tập đọc đã đềxuất, thiết kế

Trang 9

Đọc thành tiếng là hoạt động dùng mắt để nhận biết một văn bản viết và đồngthời sử dụng cơ quan phát âm ra thành âm thanh để người khác nghe được.

Hoạt động đọc của con người thực hiện được nhờ sự tham gia đồng thời củatrung ương thần kinh, thị giác và bộ máy phát âm.Tất nhiên để có thể đọc đượcngười đọc phải biết thứ chữ ghi trong văn bản Khi đọc, người đọc phải tiến hànhcác thao tác như: mắt nhìn vào dòng chữ cần đọc, bộ não hoạt động để nhận ra hìnhthức âm thanh của từng tiếng, từng từ, hiểu được ý nghĩa của các từ, của câu vàđồng thời phát âm ra thành tiếng để giáo viên và người khác nghe rõ

Đọc thành tiếng là hoạt động chuyển văn bản ngôn ngữ viết thành văn bảnngôn ngữ âm thanh

Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viếtsang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc thành tiếng),

là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có

âm thanh (ứng với đọc thầm) Đọc không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm haiphần chữ viết và phát âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thànhtiếng theo đúng như các kí hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để cókhả năng thông hiểu những gì được đọc.Trên thực tế, nhiều khi người ta không hiểukhái niệm “đọc” một cách đầy đủ Nhiều chỗ, người ta chỉ nói đến đọc như nói đến

Trang 10

việc sử dụng bộ mã chữ - âm, còn việc chuyển từ âm sang nghĩa đã không được

chú ý đúng mức

Hình thức đọc thành tiếng được sử dụng rộng rãi trong nhà trường và trongcuộc sống hằng ngày của con người Đọc thành tiếng giúp trẻ chiếm lĩnh được ngônngữ trong giao tiếp và học tập, nó cũng là công cụ để học các môn học khác, nó tạo

ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện cho học sinh có khả năng tự học Biếtđọc sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, hướng các em tới cái thiện, cái đẹp, dạycho học sinh biết cách suy nghĩ logic, tư duy có hình ảnh, khơi dậy tiềm lực hànhđộng, sức sáng tạo cũng như bồi dưỡng tâm hồn, sự rung động, đặc biệt trong thờiđại công nghệ thông tin, biết đọc ngày càng có vai trò quan trọng vì nó sẽ giúp conngười ta sử dụng các nguồn thông tin Đọc chính là học nữa, học mãi, đọc để tự học

- học cả đời Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện đọc, đọc thành tiếng một văn bản

hay một bài thơ, một câu chuyện, một vở kịch Khi giao tiếp với nhau, kể chuyệncho nhau nghe, đọc báo, đọc sách cho các em nghe… tất cả đều phải đọc thànhtiếng, mọi hoạt động xung quanh cũng được phản ánh qua lời nói vì thế đọc thànhtiếng chiếm một vị trí rất quan trọng

1.1.2 Vai trò của hoạt động đọc thành tiếng đối với sự phát triển của trẻ

Đọc thành tiếng là một hình thức luyện đọc quan trọng trong luyện đọc ở tiểuhọc Ngay từ các lớp đầu bậc học khi dạy tập đọc các em đã được giáo viên luyệnđọc thông qua đọc thành tiếng là chủ yếu dưới các hình thức tổ chức luyện đọc

khác nhau : đọc cá nhân, đọc nhóm, đọc đồng thanh, giáo viên đọc mẫu cho học

sinh.Tổ chức luyện đọc thành tiếng sẽ giúp giáo viên kiểm tra được trình độ, khảnăng luyện đọc của các em để có những điều chỉnh phù hợp

Đọc thành tiếng giúp học sinh rèn luyện được đầy đủ bốn kĩ năng đọc: đọcđúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm đảm bảo hoàn thiện mục tiêu dạy đọc ởtiểu học mà muốn đọc được thì các em phải có khả năng nghe và phát âm chính xác

từ đó các em mới đọc đúng và đúng nhanh, đọc một cách có ý thức từ đó tác độngtích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc, việc dạy đọc sẽ giúphọc sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy chocác em biết suy nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh, có điều kiệnnghe lời thầy (cô) giảng trên lớp, đọc sách giáo khoa, sách tham khảo…từ đó có

Trang 11

điều kiện học tốt các môn học khác có trong chương trình Nếu chỉ đọc thầm họcsinh sẽ không rèn luyện được kĩ năng đọc diễn cảm mà chỉ có ba kĩ năng còn lại.Khi đọc lên trẻ mới biết mình phát âm chính xác chưa, mới thông hiểu được nộidung, khám phá thêm nhiều điều qua cách đọc, tiếp nhận được nội dung, ca từ củabài đọc, hiểu đúng nội dung văn bản, giáo dục các em lòng yêu sách, nó trở thànhmột thứ không thể thiếu được trong nhà trường và gia đình, làm giàu kiến thức vềngôn ngữ và tư duy cho các em, giáo dục tư tưởng tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ chocác em.

Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phong cách và thói quen làmviệc với sách của học sinh Nói cách khác thông qua việc dạy đọc phải giúp chohọc sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc là có lợi cho các em trong suốtchặng đường của cuộc đời, phải làm cho các em thấy đó là một trong những conđường đặc biệt để giúp các em có hiểu biết về cuộc sống, khám phá đầy đủ khotàng kiến thức, phát triển trí tuệ Ngoài việc dạy đọc cho các em còn có nhiệm vụgiúp học sinh làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, về đời sống và kiến thức về văn họccho học sinh Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh thông qua đó giáo dục tưtưởng đạo đức, tình cảm thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh, giúp học sinh biết đọc đểgiao tiếp và giải trí

1.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG RÈN KĨ NĂNG ĐỌC THÀNH TIẾNG CHO HỌC SINH LỚP 2 Ở THỪA THIÊN HUẾ

1.2.1 Chất lượng đọc và yêu cầu về chất lượng đọc thành tiếng trong dạy học Tập đọc lớp 2

1.2.1.1 Chất lượng đọc thành tiếng

Chất lượng đọc thành tiếng là khái niệm dùng để chỉ mức độ đạt được của họcsinh khi thực hiện bốn kỹ năng: đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm củahọc sinh

Đọc đúng: Đọc đúng là cách phát âm thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn.Nói cách khác là phải đọc đúng chính âm, không đọc theo cách phát âm địa phương

vì phát âm địa phương sẽ có chỗ sai với âm chuẩn Đọc đúng đòi hỏi thể hiện chínhxác các âm vị của âm tiết: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu Ngoài rađọc đúng còn có nghĩa là đúng ngữ điệu, bao gồm lên giọng, xuống giọng, nhấn

Trang 12

giọng, chuyển giọng, ngắt hơi, cường độ giọng… Đọc đúng quan trọng nữa là phảiđúng nội dung của từ, của câu, đúng phong cách chức năng của văn bản Đọc đúngchính là nền tảng để thực hiện các kỹ năng còn lại đồng thời cũng là yêu cầu cơ bảnnhất đối với học sinh trong phân môn Tập đọc.

Đọc nhanh: Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là nói đến phẩmchất đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắc ngứ Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt

ra sau khi đã đọc đúng Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn: đọc không ê a,ngắc ngứ, không vừa đọc vừa đánh vần Về sau tốc độ đọc phải song song với việctiếp nhận có ý thức bài đọc Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi nó không tách rờiviệc hiểu rõ điều được đọc Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xácđịnh tốc độ nhanh nhưng đủ để cho người nghe hiểu kịp được Vì vậy, đọc nhanhkhông phải là đọc liến thoắng Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thànhtiếng trùng với tốc độ của lời nói Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn nhiều.Đọc hiểu: Hiệu quả của việc đọc (nhất là đối với hình thức đọc thầm) được đobằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc Do đó, dạy đọc phải gắn với đọc

có ý thức, đọc hiểu: hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài, tức là toàn bộ những

gì được đọc Để đọc hiểu, còn có hình thức đọc lướt (lướt nhanh toàn bộ văn bản),đọc quét hay còn gọi là đọc nhảy cóc, là cách đọc lựa chọn từng phần của văn bản

để tìm ra thông tin văn bản, đọc kỹ để thu nhận thông tin chi tiết, giáo viên cần cóbiện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc, bắt đầu từ việc hiểu nghĩa từ Do vậy, giáoviên phải có hiểu biết về từ địa phương cũng như có vốn từ của tiếng mẹ đẻ vùngdân tộc mình để chọn từ giải thích cho thích hợp, đồng thời phải chuẩn bị để sẵnsàng giải đáp cho học sinh về bất cứ từ nào trong bài mà các em không hiểu

Đọc diễn cảm: Đọc diễn cảm là đọc có tác dụng diễn ý, diễn cảm Đọc diễn ýlàm rõ nghĩa từ, câu, văn bản Đọc diễn cảm làm rõ sắc thái biểu cảm của từ, câu,văn bản Tùy thuộc vào nội dung của văn bản mà người đọc sử dụng ngữ điệu phùhợp nhằm diễn tả những điều tác giả muốn nói trong văn bản đọc Đọc diễn cảm làmột yêu cầu được đặt ra khi đọc những văn bản, văn chương hoặc có yếu tố củangôn ngữ nghệ thuật và chỉ có thể tiến hành khi đã hiểu thấu đáo bài đọc

Trang 13

1.2.1.2 Yêu cầu về chất lượng đọc thành tiếng trong dạy học Tập đọc lớp 2

Đọc bao gồm các yếu tố: tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát

âm, các cơ quan thính giác và xử lý thông tin của não để thông hiểu những gì đọcđược

Đối với học sinh lớp 2, yêu cầu về chất lượng đọc đã khác hơn nhiều so vớilớp 1 Học sinh phát âm chuẩn hơn, nghe hiệu quả hơn, xử lí thông tin được đọcnhanh hơn Cụ thể là:

- Đọc được một bài khoảng 100 chữ trong thời gian 2-3 phút

- Đọc đúng, rõ ràng từng từ, từng câu trong 1 đoạn, bài văn, thơ ngắn (biết nghỉ hơi ởdấu chấm, ngắt hơi ở dấu phẩy)

- Bước đầu biết đọc thầm, hiểu nội dung bài đọc ở lớp.Cụ thể hiểu được nghĩa của từngữ trong bài, nắm được ý chính của từng câu, nêu được ý chính của đoạn văn haybài thơ đã học, trả lời được những câu hỏi về nội dung chính của bài đọc

- Bước đầu có giọng đọc phù hợp với nội dung vui buồn hay trang nghiêm của bàivăn (khoảng 60 tiếng), bài thơ ngắn (8-10 dòng)

Trên đây là những yêu cầu cơ bản về chất lượng đối với học sinh lớp 2 Bêncạnh đó còn tùy vào từng địa phương và năng lực của học sinh, phù hợp với vănbản đọc (ảnh hưởng đến đánh giá về chất lượng đọc) trình độ cụ thể của từng họcsinh mà giáo viên có những điều chỉnh về yêu cầu sao cho phù hợp nhất với họcsinh để đạt kết quả cao nhất

1.2.2 Ảnh hưởng của phát âm phương ngữ đến hoạt động luyện đọc thành tiếng

Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ biến thể được sử dụng để chỉ sự thể hiện cụthể của một yếu tố ngôn ngữ ở những điều kiện, vị trí khác nhau Biến thể ngữ âm

là những biểu hiện khác nhau của các âm vị theo điều kiện phân bố (bảng phân bố),theo từng vùng phương ngữ hoặc theo đặc trưng phát âm của các cá nhân sử dụng.Vùng phương ngữ là khái niệm chỉ một phạm vi lãnh thổ trong đó hệ thốngngôn ngữ chứa đựng các biến thể với những khác biệt trong cơ cấu ngữ âm, trong

hệ thống từ vựng, trong cấu tạo từ

Bảng Hệ thống phụ âm, thanh điệu các vùng phương ngữ tiếng Việt

Trang 14

Phương ngữ Âm đầu Vần Thanh điệu

âm /-η, -k/ có thể kết hợp với nguyên âm ở cả 3 hàng Đặc biệt: Hệ thống ngữ âmphương ngữ miền Trung chủ yếu khác ở các thanh điệu Ở đây chỉ có 5 thanh, nóichung không có sự phân biệt (?)/ (~), lại có địa phương có lúc mất hẳn thanh (~),được thay thế bằng thanh (.) Về mặt điệu tính lại giống với thanh điệu Nghệ

Tĩnh.Thừa Thiên - Huế có hệ thống vần và âm cuối giống phương ngữ Nam điều này có nguồn gốc lịch sử - xã hội Mặt khác phương ngữ Thừa Thiên - Huế có sự

pha trộn giữa phương ngữ Trung và phương ngữ Nam nên nó không tiêu biểu cho

cả vùng

Ví dụ trường hợp lẫn lộn giữa các dấu thanh: (lên) xã → (lên) xả, (nước)

lã → (nước) lả, bã (trầu) → bả (trầu), hoặc (tất) cả → (tất) cã, cả xã → cạ xạ, (học) chữ → (học) chự,

Trong hệ thống âm cuối, các âm –n, –t → –ng, –k

Ví dụ: • –n → ng, bắn → bắng, khăn (mặt) → khăng (mặc), bàn → bang…

• t → c (âm là /–k/): cát → các, mát → mác, đan lát → đang lác,

Cách xử lý thanh điệu không ngoài gì khác là tự học (nghe, đọc nhiều thànhquen), tra từ điển và nghe theo lời bài hát Học sinh có thể chơi trò chơi đố thanhcác từ mà các em hay đọc sai thanh Đồng thời luyện tập, phấn tích cấu tạo của cáctiếng, đưa chúng vào ngữ cảnh để chữa lỗi sai cho các em giúp các em khắc phụcmột cách tốt nhất

Trang 15

Thực tế cho thấy học sinh bậc tiểu học thường hay mắc các lỗi phát âm mộtphần là do ảnh hưởng của phương ngữ, yếu tố tâm sinh lý mặt khác còn bởi các tậtphát âm, cụ thể là hệ thống cấu âm có vấn đề nên khi học sinh phát âm thường bịngọng, nói đớt, nói lặp, chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở tiểu học.Những hạn chế của phương ngữ vùng miền cũng như cách phát âm của học sinh sẽảnh hưởng rất nhiều đến việc luyện đọc thành tiếng cho học sinh nhưng nếu biết sửdụng đúng phương pháp và đúng cách có thể sữa và chữa được các lỗi của các em,giúp các em luyện đọc một cách hiệu quả nhất.

1.2.3 Trọng âm, ngữ điệu với hoạt động luyện đọc thành tiếng

1.2.3.1 Trọng âm với hoạt động luyện đọc thành tiếng

Trong việt ngữ học, trọng âm là một vấn đề ít được quan tâm.Trọng âm là độmạnh và độ vang khi phát ra âm tiết (tiếng) Dựa vào sự phát âm một tiếng mạnhhay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanh điệu rõ hay không rõ, người tachia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng có trọng âm (tiếng có trọng âm mạnh)

và không có trọng âm (tiếng có trọng âm yếu).Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyềnđạt thông tin hoặc có tầm quan trọng trong câu.Trọng âm yếu đi với những từkhông có hoặc có ý thông tin mới Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn giọnghay kéo dài những từ quan trọng trong bài

Ví dụ:

Trong âm là sự nhấn mạnh vào một yếu tố nào đó trong chuỗi ngữ lưu Xét vềphẩm chất âm thanh, trọng âm được chia làm ba loại: trọng âm lực (thực hiện bằngcường độ, âm tiết được phát ra dài hơn các âm tiết khác), trọng âm lượng (thực hiệnbằng trường độ, âm tiết được phát ra dài hơn các âm tiết khác) và trọng âm nhạctính (loại trọng âm được thực hiện bằng cao độ, âm tiết có trọng âm nhạc tính đượcphát ra cao hơn so với các âm tiết phi trọng âm khác) Ba loại này không loại trừlẫn nhau mà có thể tồn tại như là những phẩm chất của cùng một yếu tố được nhấn.Xét về chức năng, trọng âm được phân thành trọng âm từ (có tác dụng trong phạm

vi từ), trọng âm cú pháp (có tác dụng trong phạm vi ngữ đoạn và thường ở cuối ngữđoạn) và trọng âm logic (nằm ở yếu tố truyển đạt thông tin mà người nói muốn nêubật)

Trang 16

Trọng âm không có tác dụng các tiếng về mặt nghĩa mà chỉ có tác dụng phâncắt về mặt ngữ đoạn và góp phần xác định ý nghĩa ngữ pháp.Trong câu, mỗi ngữđoạn (mà đường ranh giới là những chỗ ngắt nghỉ) được kết thúc bằng một trọng

âm Đây là căn cứ quan trọng để xác định chỗ ngắt nghỉ trong câu văn, thơ, cũng làcăn cứ để xác định chỗ cần luyện, ngắt giọng trong bài Xác đinh đúng trọng âm sẽgiúp học sinh nhấn giọng đúng chỗ, hỗ trợ cho việc luyện đọc và đọc đúng Hơnnữa xác định đúng trọng âm còn giúp học sinh thể hiện được những điểm nhấntrong từng ý văn, ý thơ, cảm xúc của nhân vật thể hiện trong bài, nỗi niềm của tácgiả gửi gắm Do đó, hướng dẫn học sinh phát âm đúng trọng âm là điều không thểkhông chú trọng trong quá trình luyện đọc thành tiếng cho học sinh

1.2.3.2 Ngữ điệu với hoạt động luyện đọc thành tiếng

Ngữ điệu tiếng Việt chưa được nghiên cứu nhiều, đây cũng là lí do khiến chophương pháp dạy học không đưa ra được những chỉ dẫn cụ thể cho hoạt động luyệnđọc thành tiếng mà đành lòng với nhưng cách nói chung chung, hời hợt Các vấn đềliên quan đến ngữ điệu mới có những quy tắc ít ỏi về mặt ngữ pháp: đọc kết thúc câu

kể phải xuống giọng, hết câu hỏi phải lên giọng nên chỉ có những chỉ dẫn chungchung về giọng đọc như: bài thơ được đọc với giọng thiết tha, sôi nổi, nhẹ nhàng,dứt khoát còn những chỉ dẫn có tính chất định lượng về mối tương quan giữa cao độ,cường độ, trường độ, chỗ ngắt của đoạn, bài chưa xác định.Vì vậy việc dạy đọcnhiều lúc còn mang tính chủ quan, cảm tính Điều này gây nên những khó khăn nhấtđịnh trong việc xác định nội dung và phương pháp dạy học

Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên caohay xuống thấp giọng nói hay giọng đọc Để giúp học sinh đọc tốt thì phải hướngdẫn học sinh tìm hiểu thật tốt văn bản, chữ nghĩa, nội dung văn bản và “lắng nghe”xem văn bản đã gây cảm xúc gì về âm thanh, ngữ điệu.Vì vậy ngữ điệu rất quantrọng trong việc đọc diễn cảm và trong việc đọc hiểu văn bản

Ví dụ: Bài “Ông Mạnh thắng Thần Gió”

- Đoạn 1: Giọng kể chậm rãi.

- Đoạn 2: Nhịp nhàng hơn, nhấn giọng những từ ngữ tự sự, ngạo nghễ của

Thần Gió, sự tức giận của ông Mạnh“Xô, ngã lăn quay, lồm cồm, quát, ngạo nghễ ”

Trang 17

- Đoạn 3, 4: Đọc nhấn giọng các từ ngữ thể hiện quyết tâm chiến thắng Thần

Gió của ông Mạnh, sự điềm tĩnh, kiên quyết của ông trước thái độ tức tối của Thần

Gió,“quyết chống trả, quật đổ, thật vững chãi, lớn nhất, thật to, thét, không, giận

Cao độ: Khi nói đến việc sử dụng cao độ để đọc diễn cảm, nói đến những chỗlên giọng, xuống giọng có dụng ý nghệ thuật, dùng để phân biệt lời tác giả và lờicác nhân vật, thể hiện được sự chuyển giọng

Tốc độ chi phối sự diễn cảm, có ảnh hưởng đến việc thể hiện nghĩa, cảm xúc.Trước khi nói đến việc làm chủ tốc độ đọc để đọc diễn cảm thì phải rèn cho họcsinh khả năng đọc đúng, đọc nhanh không ê, a, ngắc ngứ thì học sinh mới làm chủđược tốc độ đọc Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn, đọc không ê, a, ngắcngứ, không vừa đọc vừa đánh vần về sau tốc độ đọc phải đi song song với tiếp nhận

ý thức của bài đọc Khi đọc người đọc phải làm chủ được tốc độ đọc tùy vào từngbài đọc để xác định tốc độ đọc phù hợp để người nghe có thể nghe kịp và hiểu nộidung của bài đọc

Ví dụ: khi đọc các bài “Danh sách học sinh tổ 1, lớp 2A, Mục lục sách, Thờikhóa biểu, Nhắn tin, Thời gian biểu” thì tốc độ đọc nhanh hơn đọc một văn bản.Tốc độ đọc truyện kể như “Bác sĩ Sói, Tôm Càng và Cá Con” thì lời các nhân vậtnhanh hơn để thể hiện được giọng của nhân vật Đọc thơ thì tốc độ đọc chậm lại đểbộc lộ được cảm xúc của tác giả gửi gắm qua bài thơ

Cường độ nói đến độ mạnh của dây thanh, điều chỉnh ở độ to - nhỏ, nhấn giọng - nhẹ giọng Trong lời nói của con người, nếu dây thanh bị trấn động mạnh

dẫn đến biên độ dao động càng lớn thì phát âm ra càng to Sự thay đổi cường độcủa các yếu tố trong chuỗi lời nói chính là một trong những nhân tố của hoạt độngđọc diễn cảm Cần phải biết tiết chế giọng đọc về mặt cường độ, tiết chế cường độtuyệt đối tức là độ to trong giọng nói của một cá nhân để điều chỉnh giọng cho phù

Trang 18

hợp với môi trường và hoàn cảnh giao tiếp, tiết chế cường độ tương đối tức là sựthay đổi giọng đọc trong câu để thực hiện mục đích biểu cảm, thể hiện cảm xúc.

Ví dụ: Tới nơi, khỉ đu vút lên cành cây, mắng:

- Con vật bội bạc kia!/ Đi đi!? Chẳng ai thèm/ kết bạn/ với những kẻ giả dối

như mi đâu (Qủa tim khỉ- TV3, tập 2)

Đây là giọng đọc quát mắng nên đọc với cường độ mạnh nên cần nhấn mạnhnhững từ bội bạc, đi đi, giả dối để thể hiện sự tức giận, khinh ghét

Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc “Chim sơn ca và bông cúc trắng” khi đọc đoạn:

“Bên bờ rào, giữa đám cỏ dại, có một bông cúc trắng Một chú sơn ca sàxuống, hót rằng:

Cúc ơi! Cúc xinh xắn làm sao!” cần hướng dẫn nhấn giọng ở từ “sà xuống”.Luyện đọc thành tiếng không dừng lại ở việc luyện chính âm (phát âm đúngcác âm vị) mà cần phải luyện đọc cho đúng ngữ điệu Để tạo ra ngữ điệu, HS phảilàm chủ các thông số âm thanh của giọng, tạo ra cường độ bằng cách điều khiểngiọng đọc to nhỏ, nhấn giọng, lơi giọng, tạo ra tốc độ bằng cách điều khiển giọngnhanh chậm và chỗ ngắt nghỉ của lời, tạo ra cao độ bằng cách nâng giọng, hạ giọng,tạo ra trường độ bằng cách kéo dìa giọng (ngân giọng) hay không kéo dài

Ví dụ: Khi dạy bài Tập đọc “Bác sĩ Sói (Tiếng việt 2, tập 2- trang41)

Khi đọc đoạn: Sói đáp:

- Chà! Chà! Chữa làm phúc, tiền với nong gì Đau thế nào lại đây ta xem

- Đau ở chân sau ấy ạ Phiền ông xem giúp

Giáo viên hướng dẫn cho học sinh lời sói giả nhân, giả nghĩa, còn lời ngựa giả

vờ lễ phép và rất bình tĩnh

Những yếu tố này không tồn tại một cách cô lập mà thống nhất lại thành một

tổ hợp phản ánh thái độ, tình cảm, cảm xúc của tác giả thì mới tạo thành ngữ điệu.Ngữ điệu chính là sự hòa đồng về âm hưởng trong bài đọc, nó có giá trị lớn để bộc

lộ cảm xúc Vì vậy, để đọc hay, cần phải làm chủ ngữ điệu nghĩa là phải có khảnăng sử dụng phối hợp tổng hòa các yếu tố âm thanh ngôn ngữ để phô diễn và táihiện được cảm xúc của tác giả trong văn bản được đọc

Trong cấu trúc ngữ điệu có “phần cứng” và “phần mềm” Phần cứng là nhữngđặc trưng vốn có của các thành phần tham gia cấu thành ngữ điệu (như đặc trưngvốn có của cao độ, trường độ, cường độ…) Phần này mang tính bắt buộc, tính xã

Trang 19

hội, tính phổ quát Phần mềm là sự sáng tạo của người nói, người đọc khi sử dụngngữ điệu, phần này mang tính cá nhân, tính nghệ thuật, gắn với những tình huốnggiao tiếp, những trường hợp sử dụng cụ thể, đồng thời cũng mang tính sáng tạo Vềmặt ý nghĩa, cũng có thể xét ngữ điệu ở hai mặt: biểu thị ý nghĩa ngữ pháp và biểuthị sắc thái nội dung, tình cảm, cảm xúc Chính vì vậy, khi bàn về luyện đọc có thểchia ra thành đọc diễn ý (còn gọi là đọc ngôn ngữ) và đọc diễn cảm (còn gọi là đọcvăn học) Đó cũng là hai mức độ khác nhau của đọc thành tiếng Tất nhiên, đây làhai mặt liên quan mật thiết, không thể tách rời nhau: không đọc đúng, không diễn ýđược thì không thể đọc diễn cảm.

Dựa vào chức năng ngôn ngữ, người ta chia ngữ điệu thành ngữ điệu cảmthán, ngữ điệu cầu khiến, ngữ điệu mệnh lệnh, ngữ điệu kết thúc, ngữ điệu hỏi, ngữđiệu liệt kê Ở ngữ điệu cảm thán, từ được tách ra phát âm cao hơn so với trong câutường thuật nhưng lại thấp giọng hơn so với câu hỏi Dựa vào sự đối lập về cao độ

và cường độ của âm thanh, người ta chia ngữ điệu câu thành ngữ điệu xuống (hạgiọng) thường xuất hiện ở cuối câu cho biết rằng người nói tin chắc vào hiệu quảlời nói của mình và người nghe sẽ phản ứng một cách nào đó Khi dùng ngữ điệunày ở những câu tường thuật và câu mệnh lệnh người nói cho rằng người nghe sẽchấp nhận, còn dung nó ở câu hỏi thì người nghe sẽ chờ đợi, trong chữ viết nóđược ghi bằng dấu chấm Ngữ điệu treo (lên giọng) giọng nói lên cao ở cuối câu,ngữ điệu này thường thấy ở câu tường thuật những mệnh lệnh không quả quyết vànhững câu hỏi để thông báo Ngữ điệu mạnh có khi ở giữa câu nói nhưng thôngthường thì rơi vào nhưng âm tiết cuối câu, ở ngữ đoạn nó nêu bật những từ màngười ta muốn nhấn mạnh, thường dùng trong câu cảm thán, câu mệnh lệnh haycâu hỏi mà người nói ít chú ý đến câu trả lời Ngữ điệu yếu xuất hiện ở cuối ngữđoạn thì có nghĩa rằng người nói chưa hoàn thành lời nói của mình, khi ở cuối phátngôn nó có thể có nghĩa là người nói bị ngắt lời vì một ý nghĩ nào đó hay vì mộtkích thích bên ngoài hoặc chỉ đơn giản có nghĩa là người nói để lững Phân biệt vàhướng dẫn cho học sinh các dạng ngữ điệu này thì khả năng thể hiện cảm xúc tronggiọng đọc sẽ được cải thiện rất nhiều

* Ngữ điệu lên xuất hiện ở các câu hỏi:

Ví dụ: Bạn là ai? Vì sao bạn khóc?

Trang 20

(Quả tim khỉ, Tiếng việt lớp 2, trang 50)

* Ngữ điệu yếu, nghỉ hơi dài sau chỗ có dấu chấm lửng

Ví dụ : - Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại…

(Người ăn xin, Tiếng việt lớp 4)

* Ngữ điệu mạnh xuất hiện ở câu cảm và câu khiến như là:

Ví dụ: Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao?

(Con chuồn chuồn nước,Tiếng việt lớp 4 )Chà! chà ! Chữa làm phúc, tiền với nong gì Đau thế nào? Lại đây ta xem

(Bác sĩ Sói, Tiếng việt lớp 2- trang 41)

Để đọc đúng ngữ điệu, trước hết cần đọc đúng chỗ ngắt nghỉ và đọc đúng ngữđiệu câu Chỗ ngắt nghỉ mà chúng ta đang nói ở đây chính là chỗ ngắt giọnglôgic.Trong những ngày đầu tiên đi học học sinh đã được dạy: “Nói, đọc hết câuphải nghỉ hơi” Như vậy, khi đọc mà nhìn thấy trên văn bản có dấu chấm thì phảinghỉ hơi, nhờ chỗ nghỉ hơi cùng một ngữ điệu kết thúc của người đọc nên ngườinghe mới có thể phân cắt dòng ngữ lưu ra từng ý mà tiếp nhận Chỗ nghỉ giữa cáccâu quan trọng như vậy nhưng trên thực tế học sinh và thậm chí cả giáo viên tiểuhọc không ý thức được tầm quan trọng của điều này nên đã đọc không tách câu,gây khó khăn cho người nghe khi tiếp nhận Còn chỗ ngắt hơi trong văn bản đượcthể hiện bằng dấu phẩy Có thể định lượng: sau dấu chấm nghỉ hơi lâu hơn hai lần

so với chỗ ngừng sau dấu phẩy Sau dấu chấm xuống dòng phải ngừng lâu gấp đôi

so với chỗ ngừng sau dấu chấm Có nghĩa là thời gian ngừng sau mỗi dấu câu là cókhác nhau, cần lưu ý là thời gian ngừng sau dấu phẩy không phải lúc nào cũngbằng nhau, dấu phẩy phân cắt hai vế của câu trong câu ghép đẳng lập ngừng lâuhơn, dấu phẩy sau trạng ngữ ngừng lâu hơn dấu phẩy phân cắt các bộ phận đẳnglập

Thực tế học sinh còn ngắt nhịp sai do câu có cấu trúc phức tạp, do chưa nắmđược quan hệ ngữ pháp giữa các từ hoặc do thói quen ngắt nghỉ tùy tiện như: Đọcsai chỗ ngắt giọng phản ánh một cách hiểu sai nghĩa hoặc ít ra là một cách đọckhông để ý đến nghĩa.Vì vậy, đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nóiriêng vừa là mục đích của dạy học thành tiếng vừa là phương tiện giúp học sinhchiếm lĩnh nội dung bài đọc Chúng ta cần nắm cơ sở ngữ nghĩa, ngữ pháp của chỗ

Trang 21

ngắt giọng, dự tính những chỗ học sinh hay ngắt giọng sai khi đọc, cũng như xácđịnh những chỗ cần luyện giọng trong bài tập đọc cụ thể, từ đó dạy đọc đúng vàhiểu đúng các bài tập đọc ở tiểu học cho học sinh.

Ví dụ 1: Trong bài: Sơn Tinh, Thủy Tinh (TV2, tập 2, trang 61)

Học sinh đọc: Từ đó/ năm nào Thuỷ Tinh cũng dâng nước đánh/ Sơn Tinh gây lũ lụt khắp nơi/ nhưng lần nào Thuỷ Tinh cũng chịu thua.//

Học sinh đã đọc tách Sơn Tinh ra khỏi động từ “đánh” làm người nghehiểu sai ý nghĩa của câu văn

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh ngắt như sau: Từ đó/ năm nào Thuỷ Tinh cũng dâng nước đánh Sơn Tinh/ gây lũ lụt khắp nơi/ nhưng lần nào Thuỷ Tinh cũng chịu thua.//

Ví dụ 2: Khi đọc một số câu thơ do không chú ý đến quan hệ ngữ pháp mà chỉchú ý đến sự cân đối về âm thanh mà học sinh đã ngắt nhịp sai

Anh Lừa / lo chuyện / gạo tiền

Giấy tờ thỏ chạy/ giao liên tài tình

Nếu học sinh ngắt nhịp như trên đã tách cụm từ “thỏ chạy” ra khỏi cụm

“giao liên tài tình” làm người nghe tưởng như chú giao liên tài tình chứ không phải “thỏ chạy giao liên tài tình” để khắc phục tình trạng đó với lớp 2 thì việc

luyện đọc, đọc mẫu của giáo viên là cần thiết Ngoài ra giáo viên cũng cần giảng đểhọc sinh hiểu nội dung câu văn, câu thơ, quan hệ ngữ pháp để học sinh điều chỉnhnếu như học sinh đọc sai

1.2.4 Đặc điểm tâm lí và ngôn ngữ của học sinh lớp 2 với hoạt động đọc

Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi, trẻ em ở lứa tuổi này thìtri giác của học sinh tiểu học phản ánh những thuộc tính trực quan, cụ thể của sựvật, hiện tượng và xảy ra khi chúng trực tiếp tác động lên giác quan Học sinh tiểuhọc lứa tuổi chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ đạo của trẻ sang hoạt động học tậpđòi hỏi sự tập trung cao hơn Tâm sinh lí tưởng tượng của học sinh tiểu học đã pháttriển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinhnghiệm ngày càng phong phú Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng cònđơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khảnăng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ

Trang 22

định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đếnnhững môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranhảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ cònyếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quátrình học tập, hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi Ởcuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũtrẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ởgiai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽtranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽbởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền vớicác rung động tình cảm của các em.

Học sinh lớp 2 đã bắt đầu hoàn thiện các chức năng, bộ phận cơ quan trong

cơ thể, các em có đủ chiều cao và cân nặng để thực hiện các hoạt động vui chơi,lao động và học tập trong nhà trường Ở lứa tuổi này các kĩ năng: nghe, nói,đọc,viết cơ bản là hoàn thiện Các em tiến hành các thao tác: tư duy, suy luận hợp

lý trong các tình huống riêng trong mối quan hệ với sự vật cụ thể Ở lứa tuổi nàycác em thích tìm tòi, khám phá thế giới, sự vật xung quanh và mong muốn được thểhiện bản thân Phân môn Tập đọc là phân môn sẽ đáp ứng những mong muốn trêncủa học sinh Qua các bài tập đọc được nghe, câu chuyện được kể sẽ đưa các emđến những vùng đất mới, các em được gặp gỡ những nhân vật mới, ở đó trí tưởngtượng của các em sẽ phong phú, bay bổng khơi dậy sự tò mò, khám phá thế giớiphù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Ở lứa tuổi này các em sẽ thích đọccác bài thơ, các mẫu chuyện, bài tập đọc bởi ngay từ khi sinh ra các em đã được bố

mẹ đọc, kể cho nghe những câu chuyện cổ tích, chuyện thiếu nhi các câu chuyện đó

đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi đứa trẻ, nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển tình cảmcho các em Đọc và thích đọc giúp các em nhận thức thế giới, chính xác hóa biểutượng đã có về tự nhiên và xã hội Đồng thời, thông qua các bài tập đọc, qua cácvần thơ, câu chuyện sẽ phát triển các cảm xúc thẩm mĩ, trẻ biết và cảm nhận được

vẻ đẹp của tự nhiên, con người, đồ vật,…Góp phần khơi gợi ở trẻ năng lực sáng tạocái mới, cái đẹp Bồi dưỡng những tư tưởng lành mạnh biết thương cảm trướcnỗi bất hạnh, đau khổ của con người, biết tỏ thái độ trước cái thiện và cái ác,

Trang 23

giáo dục trẻ tình yêu quê hương, đất nước, sự vật, cuộc sống xung quanh Tuynhiên, kĩ năng đọc của học sinh còn nhiều hạn chế, vì vậy việc tìm ra biện phápnhằm rèn kĩ năng đọc cho học sinh là một việc làm vô cùng cấp thiết.

Hầu hết học sinh lớp 2 đã có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắtđầu xuất hiện ngôn ngữ viết đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầuhoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ

có khả năng tự đọc, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thânthông qua các kênh thông tin khác nhau, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tưduy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông quangôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta cóthể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

Hằng ngày học sinh thông qua đọc các loại sách báo có lời và không lời, cóthể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, hoặc tổ chức cáccuộc thi kể truyện đọc thơ, thi đọc thơ, Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốnngôn ngữ phong phú và đa dạng, qua lăng kính nghệ thuật các nhà văn đã gọt giũa,nhào nặn làm cho cái đẹp vốn đẹp lại càng rực rỡ, lóng lánh hơn Thông qua cácphẩm văn học học sinh không chỉ nhận thức cái đẹp một cách tinh tế, nhạy bén màcòn biết khám phá cái đẹp Qua đọc các bài tập đọc trong chương trình tiểu học, các

em được nhìn thấy, được sờ, cảm nhận vẻ đẹp của quê hương đất nước, con ngườithông qua ngôn từ Đồng thời, các em cũng nhận ra được đâu là điều thiện, đâu làđiều ác, các em sẽ vui thích khi điều thiện bao giờ cũng chiến thắng cái ác, các emcũng vui buồn và khóc cười với nhân vật trong truyện, cảm nhận vẻ đẹp do nộidung tác phẩm mang lại, người đọc, người nghe còn cảm nhận được vẻ đẹp củangôn từ Từ đó ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đặc biệt trong dạy tập đọc, trẻphải hiểu điều mình đọc khi đó mới gây được hứng thú, giúp trẻ ham thích đọc.Tuy nhiên hiện nay việt ngữ học vẫn chưa thống nhất được một chuẩn chính âm,những nghiên cứu ít ỏi về ngữ điệu tiếng việt… làm cho phương pháp luyện đọccho học sinh không tránh khỏi lúng túng khi giải quyết vấn đề về đọc đúng, đọcdiễn cảm Khi không giải quyết được vấn đề về phát âm địa phương một cách cótính nguyên tắc, không có được những chỉ dẫn cụ thể cho đọc diễn cảm có khi lạiđành lòng với những cách đọc chung chung, hời hợt, mang tính khái quát, đọc kết

Trang 24

thúc câu kể phải xuống giọng, hết câu hỏi phải lên giọng chỉ đưa lại những chỉ dẫnchung chung về giọng đọc còn những chỉ dẫn có tính định hướng về mối tươngquan giữa cao độ, cường độ, ngắt nhịp… của đoạn, bài chưa được xác định đây sẽ

là một khó khăn không nhỏ trong việc xác lập nội dung của phương pháp dạy đọccho học sinh để mang lại hiệu quả cũng như giúp các em đọc đúng, đọc hay truyềntải được nội dung của bài đọc Như vậy ngôn ngữ có ảnh hưởng vô cùng to lớn đếnhoạt động đọc cho học sinh đặc biệt là trong định hướng đổi mới giáo dục, pháttriển khả năng giao tiếp cho học sinh

1.3 THỰC TRẠNG RÈN KĨ NĂNG ĐỌC THÀNH TIẾNG CHO HỌC SINH LỚP 2 Ở THỪA THIÊN HUẾ

1.3.1 Năng lực tổ chức dạy học Tập đọc lớp 2 của giáo viên

Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học nhìn chung năng lực của giáo viênbậc tiểu học nói chung và giáo viên lớp 2 nói riêng ngày càng được nâng cao về khảnăng sư phạm cũng như chuyên môn nghiệp vụ Xu hướng hiện nay đòi hỏi giáo viênphải có nhiệt huyết đổi mới phương pháp để phù hợp với thời đại, để có thể truyềnđạt kiến thức đến học sinh một cách dễ hiểu và đưa lại hiệu quả cao

Trong dạy học phân môn Tập đọc thì mục tiêu luyện đọc và nâng cao chấtlượng đọc cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của giáo viên Điều này

có thể nhận thấy giáo viên cũng ý thức được tầm quan trong khi dạy tập đọc đểluyện đọc cho các em Qua khảo sát 3 giáo viên dạy lớp 2 trường tiểu học Phú Mậubằng phiếu khảo sát cả 3 giáo viên đang giảng dạy lớp 2 đều khẳng định việc luyệnđọc thành tiếng là quan trọng, đó là luyện cho học sinh cả bốn kỹ năng: đọc đúng,đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm Mỗi giáo viên đều xác định để luyện đọc thànhtiếng cho các em cần nắm vững kiến thức, không ngừng đổi mới phương pháp, nắmbắt được tâm sinh lí cũng như trình độ đọc của các em để có những chuẩn bị chuđáo và đưa lại hiệu quả tốt nhất, đồng thời trau dồi kĩ năng, kinh nghiệm của bảnthân, nắm chắc mục tiêu, nội dung cần đạt khi luyện đọc thành tiếng trong phânmôn Tập đọc cho học sinh nói chung và đặc biệt là học sinh lớp 2 Tuy nhiên để cóthể luyện đọc thành tiếng cho các em thì đòi hỏi giáo viên phải nắm chắc cơ chếphát âm, phát âm chuẩn, có phương pháp luyện phát âm cho phù hợp, khả năng sưphạm cao để có thể xử lí tốt các tình huống xảy ra trong quá trình luyện đọc cho

Trang 25

học sinh Môn Tiếng Việt ở Trường tiểu học nhằm: Hình thành và phát triển ở họcsinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếpvới môi trường và tham gia các hoạt Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, gópphần rèn luyện các thao tác tư duy, cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản vềTiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người,về văn hoá,văn học của Việt Nam và nước ngoài Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thànhthói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhâncách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó giáo viên vẫn còn cónhững hạn chế nhất định như chưa chú ý đến cách đọc đúng nhịp điệu thơ, đọcngắc ngứ những câu văn dài của một số học sinh, khi sử dụng các hình thức trựcquan chỉ dừng ở chỗ giáo viên làm động tác minh họa hoặc đưa ra vật thật, cáctranh đưa ra còn hạn hẹp điều nay không gây được hứng thú học tập cho các em.Giáo viên chưa kiểm soát được số đông học sinh trong lớp và dành nhiều thời gianhợp lí cho các em hoạt động tự tìm kiếm, lĩnh hội kiến thức theo khả năng củamình Học sinh lớp 2 đa số học sinh đọc được nội dung bài và bước đầu có kỹ năngđọc đúng, một số em đã biết đọc diễn cảm và có ý thức học tập tốt, hăng hái phátbiểu ý kiến xây dựng đa phần các em cũng có hứng thú và thích học môn Tập đọc.Tuy nhiên bên cạnh những học sinh học tốt và những học sinh có hứng thú họccũng có không ít học sinh còn ảnh hưởng từ cách nghĩ, cách học của học sinh lớp 1

mà các em vừa trải qua, chưa tập trung vào bài học,vẫn còn ham chơi, số đông họcsinh khác đọc trôi chảy song chưa biết nhấn mạnh ở các từ ngữ cần chú ý cũng nhưcách ngắt nghỉ đúng dấu câu, nhiều em tiếp thu bài nhanh, đọc tốt song vẫn còn tồntại một số lỗi phát âm sai ch/tr, s/x…phát âm lẫn lộn giữa các thanh ?/ ~… một số

em khi đọc bài còn mắc nhiều lỗi phát âm, đọc và trả lời câu hỏi còn nhỏ, trả lờikhông đủ câu, đọc kéo dài Do đó, giáo viên cần phải nắm bắt được tâm lí của họcsinh từ đó có những phương pháp và cách thức tổ chức dạy học phân môn Tập đọccho thích hợp, muốn học sinh phát âm đúng thì mỗi giáo viên khi luyện phát âmphải có sự vận dụng mềm dẻo, trong phần luyện tập có chia ra nội dung bắt buộc vànội dung lựa chọn, giúp học sinh đạt được kết quả cao trong học tập cũng như rènluyện cho các em kĩ năng đọc tốt Khi dạy tập đọc cho học sinh điều quan trọng làgiáo viên phải rèn cho các em có được những kĩ năng và thói quen khi đọc, muốn

Trang 26

vậy giáo viên phải cho học sinh đọc nhiều Đồng thời giáo viên phải biết vận dụngtốt các phương pháp trong qua trình giảng dạy kết hợp với khả năng ứng xử nghệthuật sư phạm của mình để giúp học sinh Sau mỗi bài học giáo viên không nhữngrèn cho học sinh các thao tác nghe - nói - đọc viết, mà còn tạo được hứng thú chohọc sinh khi học Tập đọc, từ đó góp phần rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2.

Qua nghiên cứu thực tế ở các trường Tiểu học hiện nay việc học tậptheo hướng lấy học sinh làm trung tâm đã phần nào phát huy được tính tích cực củahọc sinh, học sinh không còn thụ động, không khí lớp học sôi động, kích thíchhứng thú của các em, góp phần nâng cao hiệu quả cao cho các em Bên cạnh đóchất lượng dạy Tập đọc ở Tiểu học chưa cao nguyên nhân là do lượng kiến thứcnhiều, truyền đạt vẫn còn quen sử dụng phương pháp truyền thống, ít gợi ý để họcsinh khám phá, tìm hiểu Khả năng đọc của một số giáo viên còn chưa được tốt.Giáo viên tiểu học còn lúng túng các bước khi dạy tập đọc theo chương trình mới,vận dụng quy trình còn máy móc, dạy còn theo sách giáo viên, sách thiết kế bàisoạn chứ không chú ý đến đặc thù của địa phương, có những cách hiểu và cách diễngiải khác nhau dẫn đến hiệu quả đạt được trong giờ Tập đọc chưa cao Giáo viên

dựa trên hướng dẫn của sách giáo khoa bằng phương thức giáo viên hỏi - học sinh

trả lời Chính vì vậy mà đã bộc lộ nhiều nhược điểm trong việc quản lí lớp cũngnhư khả năng kích thích hứng thú học tập của học sinh tham gia tìm hiểu, xây dựngbài Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh còn hạn chế và sau một giờ,một bài học sinh ít có khả năng đọc hay, diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy

đủ từ đó các em chưa có được phương pháp đọc tốt Từ đó, các em chưa có đượcnhiều phương pháp tốt để học tập mang lại hiệu quả cao Ngoài ra còn có các yếu tốkhách quan hạn chế về tài liệu dạy Tập đọc: Hệ thống văn bản chưa mẫu mực, chưa cónhiều lợi thế để dạy đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng và đọc diễn cảm Câu hỏi

và bài tập chỉ yêu cầu học sinh một phương thức hành động duy nhất là dùng lời Điềunày có nhiều hạn chế, số lượng học sinh làm việc trên lớp rất ít bởi một người nói phải

có người nghe, không thể học sinh cùng nói, không tích cực hoá được hoạt động họccủa học sinh Đây là nguyên nhân chính làm cho số lương học sinh hoạt động tích cựctrong giờ Tập đọc ít cũng như về mặt thời gian nên việc luyện đọc sẽ rất khó đối vớihọc sinh và giáo viên Các câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa chủ yếu yêu cầu học

Trang 27

sinh tái hiện lại các chi tiết của bài ít đưa vào các câu hỏi suy luận, mang tính sáng tạo.Nhiều câu hỏi bài tập mang tính áp đặt vì chúng ta nêu ra các bước trước cách hiểu,học sinh chỉ còn là người nêu ra cho những nhận xét nên điều này sẽ làm cho các emkhông hiểu sâu được, nắm không kĩ bài nên sẽ làm cho các em gặp nhiều khó khăntrong khi luyện đọc đặc biệt là ngắt giọng và đọc diễn cảm bài bởi chỉ nắm rõ nộidung, hiểu được các em mới thể hiện tốt được giọng đọc, đọc có cảm xúc Mỗi giáoviên đều có 1 phương pháp năng lực tổ chức riêng, phương pháp giảng dạy khác nhau,trên thực tế việc dạy tập đọc cho các em đòi hỏi giáo viên phải đưa ra các phươngpháp khác nhau, áp dụng nhiều hình thức để dạy tập đọc cho các em cũng như ngay từđầu dạy tập đọc là mục đích quan trọng nhất trong phân môn Tập đọc và hình thànhcho các em được khả năng đọc, luyện đọc thành tiếng cho các em thì giáo viên phảinắm chắc kiến thức, phương pháp để có thể nâng cao chất lượng đọc: đọc đúng, đọcnhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm Qua khảo sát các giáo viên đều nói việc rèn luyệnđọc thành tiếng của các em là rất quan trọng, cũng như giáo viên nêu ra những khókhăn khi dạy luyện đọc thành tiếng cho học sinh, đa số giáo viên đều sử dụngphương pháp luyện theo mẫu để luyện đọc thành tiếng cho học sinh, cũng như thấy

được trong một tiết dạy Tập đọc thầy cô thường dùng 10-12 phút để luyện đọc cho

các em, để nâng cao hiệu quả luyện đọc thành tiếng các giáo viên ba giáo viên đềucho rằng cần nắm vững chuẩn kiến thức kĩ năng, đầu tư thời gian để soạn giáo ánthật tốt Không ngừng trang bị kiến thức, tìm tòi, nắm bắt thông tin một cách nhanhchóng để tìm ra nhiều phương pháp phù hợp nhất với học sinh để luyện đọc cho các

em một cách tốt nhất Tăng cường dự giờ, thao giảng để thu thập them nhiều kinhnghiệm từ những đóng góp của ban giám hiệu, của đồng nghiệp đồng thời tích lũycàng nhiều bài học quý cho bản than, không ngừng nâng cao nghiệp vụ Thườngxuyên tham gia các buổi tập huấn về công tác giảng dạy, nghiên cứu về luyện đọcthành tiếng để luyện tập cho học sinh đạt kết quả tốt nhất đồng thời các cô cũngđưa ra để xuất biện pháp để năng cao khả năng luyện đọc thành tiếng cho học sinhtrong quá trình giảng dạy Cô giáo Hoàng Thị Tường Loan “

Năng lực tổ chức ở đây nói đến nhiều khía cạnh, bao quát lớp học, khả năngthích ứng, hứng thú lôi cuốn các em vào tiết học, biết vận dụng linh hoạt các phương

Trang 28

pháp để giảng dạy cho các em Nhưng trên thực tế giáo viên vẫn dạy chủ yếu dựavào giáo án, chưa chú trọng phát huy tính tích cực của học sinh, vẫn còn áp dụng cácphương pháp dạy học truyền thống, chưa có sự đổi mới để tạo ra cái mới cho các em,

sử dụng nhiều phương pháp hay để giúp cho việc luyện đọc của các em đạt hiệu quảcao, rèn luyện tính tích cực, độc lập trong học tập của các em kích thích hứng thú,ham muốn của các em từ đó các em mới có được sự ham muốn, ham muốn đượckhám phá, được tìm tòi bởi tâm lí của các em rất tò mò, thích khám phá mới giúp các

em sẽ tiếp thu rất nhanh Vì vậy vai trò của người giáo viên trong một giờ học rấtquan trọng để có thể tổ chức luyện đọc cho các em một cách hiệu quả nhất, các em

có thể đọc đọc thành thạo và đọc một cách có ý thức, đọc lôi cuốn được sự chú ý củangười khác, thể hiện được giọng đọc của mình, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâmhồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cao đẹp, cái thiện và cách ứng xử đúng mứctrong cuộc sống, hứng thú đọc sách và yêu thích tiếng Việt cụ thể từ những mẫutruyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa từ đó hình thành ham muốn đọcsách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học, cảm thụ vẻ đẹp tiếng việt và tình yêu tiếngviệt Cần đọc bài tập đọc như thế nào, làm thế nào để chữa lỗi phát âm cho học sinh,làm thế nào để các em đọc đúng, đọc nhanh hơn, diễn cảm hơn Làm sao để phối hợpđọc thành tiếng và đọc hiểu,…đó là một vấn đề đặt ra cho giáo viên?

1.3.2 Chất lượng đọc thành tiếng của học sinh lớp 2

Tập đọc là một môn học mang tính chất tổng hợp, vì ngoài nhiệm vụ dạy đọc

nó còn có nhiệm vụ trau dồi kiến thức về Tiếng Việt Cho nên sau khi học phânmôn Tập đọc, yêu cầu học sinh cần đạt được là:

Trang 29

học sinh phải luyện thành thói quen để tạo được hứng thú khi đọc sách báo Ngoài rađọc đúng còn có ý nghĩa là đọc đúng ngữ điệu, bao gồm lên giọng, xuống giọng,nhấn giọng, ngắt hơi, cường độ, cao độ, Để giúp học sinh đọc tốt thì phải hướngdẫn học sinh tìm hiểu thật tốt văn bản, chữ nghĩa, nội dung văn bản và “lắng nghe”xem văn bản đã gây cảm xúc gì về âm thanh, ngữ điệu Vì vậy ngữ điệu rất quantrọng trong việc đọc diễn cảm và trong việc đọc hiểu văn bản

Qua khảo sát ở trường tiểu học Tiểu học Phú Mậu về khả năng đọc và khảnăng phát âm của học sinh đã thu được kết quả:

ST

T

Lớp Tổng số

học sinhtham gia thựcnghiệm

Đọc tốt Đọc được Đọc yếu Phát âm

đúng

Phát âm chưa đúng

độ đọc còn chậm

Qua kết quả thu được từ khảo sát thực tế cho thấy khả năng đọc của các emcòn gặp nhiều hạn chế, các em chưa có khả năng tự đọc cao, và đọc để hiểu làmnền tảng cho đọc diễn cảm, ngoài ra còn do ảnh hưởng của phương ngữ khiến cho

Trang 30

một số em còn phát âm chưa đúng, các em còn nhầm lẫn âm này với âm khác,trong lúc đọc còn ngập ngùng, đọc không lưu loát, dứt khoắt, ngắt nghỉ không đúngchỗ, tự nhấn giọng lên, xuống Một số em chưa thực sự tập trung vào bài học, sốđông học sinh đọc trôi chảy song chưa biết nhấn mạnh ở các từ ngữ từ ngữ cầnnhấn mạnh, gợi tả, cách ngắt nghỉ đúng dấu câu, lên giọng, xuống giọng Ngoài racòn do điều kiện, hoàn cảnh sống của các em, do ảnh hưởng của phương ngữ, tậptục địa phương nên các em rất hay đọc ngọng phụ âm l/n, ch/tr, s/x… phát âm lẫnlộn giữa các thanh ?/ ~ … Một số em khi được gọi đọc bài còn mắc nhiều lỗi phát

âm, đọc và trả lời các câu hỏi còn nhỏ, trả lời không đủ câu, đọc kéo dài

Trang 31

Tiêu chí hàng đầu trong mọi lĩnh vực từ giáo dục cho đến đời sống xã hội thìmục tiêu luôn được con người đặt ra hàng đầu, có mục tiêu con người mới cóphương hướng, mới xác định được mục đích hướng tới để đem lại được hiệu quảđặc biệt nhất là trong dạy học xác định được mục tiêu thì mới đem lại được hiệuquả còn không thì sẽ không biết dạy như thế nào và cần cung cấp gì cho học sinh,giúp học sinh đạt được những gì cũng như điều chỉnh sao cho phù hợp với trình độcủa học sinh cũng như việc đề xuất biện pháp rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho họcsinh lớp 2 cũng cần đề ra mục tiêu thì mới xây dựng được kế hoạch, phương pháp

và mang lại được hiệu quả cao, thiết thực

Môn Tiếng việt là môn học quan trọng hàng đầu ở bậc tiểu học đặc biệt làphân môn Tập đọc mục tiêu quan trọng hàng đầu là rèn kỹ năng đọc (đọc đúng, đọcnhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm) cho học sinh Bên cạnh đó Tập đọc còn luyện các kĩnăng nghe, nói cho học sinh góp phần phát triển tư duy cũng như nhận thức chohọc sinh,từ đó các em có thêm nhiều hiểu biết, tích lũy được nhiều kiến thức Tậpđọc trong chương trình lớp 2 đặt ra cho các em rất nhiều mục tiêu, mục tiêu quantrọng hàng đầu là luyện đọc cho các em….Vì thế việc xây dựng các biện pháp đểrèn kĩ năng luyện đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2 cũng phải được xây dựng trênmục tiêu và nội dung của bài học mới đạt được hiệu quả tốt nhất, đem ra đượcnhững biện pháp để nâng cao chất lượng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2 Nếucác biện pháp được xây dựng không có kế hoạch, mục tiêu thậm chí không manglại hiệu quả ngược lại đôi khi còn mang lại hiệu quả xấu, ảnh hưởng đến chất lượnghọc cũng như các kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh

Trang 32

2.1.2 Đảm bảo tính thiết thực, hiệu quả

Đây là nguyên tắc không thể thiếu khi xây dựng, đề xuất các biện pháp đểnâng cao chất lượng đọc thành tiếng, khi đưa ra các biện pháp rèn kĩ năng đọcthành tiếng có hiệu quả cho các em, biện pháp đem ra phải đảm bảo tính thiết thực,phù hợp với từng đối tượng, điều kiện, cơ sở vật chất, tình hình thực tế nhà trường

và phải mang lại hiệu quả cụ thể đó là nâng cao chất lượng đọc thành tiếng cho các

em vì đó cũng là mục tiêu quan trọng hàng đầu của phân môn Tập đọc Một biệnpháp không mang tính thiết thực đồng nghĩa với không có tính khả thi, không thểnào giúp học sinh nâng cao được kỹ năng đọc thành tiếng nếu xa rời với thực tế,không có tính thực tiễn vì thế phải có tính thiết thực, phù hợp với tình hình thực tếmới nâng cao được hiệu quả, phù hợp với trình độ của học sinh nâng cao được chấtlượng đọc thành tiếng cho học sinh, mới giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp củangôn từ trong bài học Cũng như trong cuộc sống những gì xuất phát từ thực tiễn,

có tính thực tiễn sẽ đem lại hiệu quả, có tính khả thi và những gì gần gũi thiết thựcvới cuộc sống của các em, những gì quen thuộc và phù hợp với tâm lí của các em

từ đó mới nâng cao hiệu quả và rèn luyện các kĩ năng cho các em một cách hiệuquả, thiết thực.Các biện pháp rèn kĩ năng đọc thành tiếng đưa ra trước hết phải dựatrên thực tế tình trang đọc của học sinh, trên cơ sở những khó khăn trong khi đọc để

đề ra những biện pháp thiết thực nhằm giúp các em khắc phục những sai lầm trongcách đọc của mình, tránh tình trạng rập khuôn, máy móc, phương pháp lặp đi lặp lại

sẽ gây ra sự nhàm chán, không gây được hứng thú cho học sinh

2.1.3 Đảm bảo tính vừa sức, tích cực hoá hoạt động đọc của học sinh lớp 2

Các biện pháp rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh phải đảm bảo tính vừasức, phù hợp với năng lực của tất cả học sinh bao gồm học sinh giỏi và học sinhyếu về luyện đọc để có thể đem lại hiệu quả, để tất cả học sinh có thể thực hiện kể

cả học sinh yếu với nỗ lực cao nhất, sự cố gắng từ đó có thể nâng cao được kỹ năngluyện đọc cho học sinh Các biện pháp đưa ra để luyện tập cho các em cần phảiđảm bảo tính vừa sức, tạo ra được hứng thú, kích thích được học sinh, không tạo ra

áp lực hoặc làm cho các em chán nản ngược lại nếu dễ quá sẽ không kích thíchđược tư duy, sự tưởng tượng, sáng tạo, dễ quá thì không tích cực hóa được hoạt

Trang 33

động tự học, tự nghiên cứu, thực hành Vì vậy khi đưa ra biện pháp nào để luyệncho các em phải đảm bảo dung hòa vừa phải phù hợp với các em đồng thời pháthuy được tính tích cực, tự giác trong học tập mới mang lại được hiệu quả tối đa,học sinh sẽ tích cực tiếp thu và tích lũy kinh nghiệm cho bản thân và sẽ có khảnăng cảm thụ từ đó các em sẽ chủ động, sáng tạo, tìm tòi và mong muốn khám phá

từ đó sẽ khơi dậy ở các em hứng thú, nâng cao hiệu quả học tập cũng như phù hợpvới trình độ, tâm sinh lí của các em Phải hướng dẫn các em bắt đầu từ cái đơn giản

đến cái phức tạp, từ dễ đến khó cũng như Lê- Nin đã nói: “từ trực quan sinh động

đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Phải lấy thực tế đểbắt đầu hướng dẫn cho các em, phải bắt đầu từ những cái gần gũi thân quen, từ thực

tế để đảm bảo tính khả thi cũng như dựa vào đó để đề xuất và xây dựng được cácbiện pháp phù hợp với các em giúp các em hiểu, tiếp thu một cách dễ dàng manglại những phương pháp học tập hữu ích

2.2 BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC THÀNH TIẾNG CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG DẠY HỌC TẬP ĐỌC

2.2.1 Nhóm biện pháp luyện phát âm

2.2.1.1 Tập lấy hơi và tập thở

Thở là một hoạt động tự nhiên của con người, con người thở một cách tựnhiên không có sự điều khiển hay nhận thức Trong khi đọc cần phải có ý thức điềukhiển kiểm soát hơi thở, cách lấy hơi Không thở đúng lúc, không lấy hơi đúng chỗthì lời đọc không thể mạch lạc, rành rọt, để làm chủ được giọng đọc phải biết lấyhơi, thở một cách hợp lí

Có thể hướng dẫn học sinh luyện tập với những bài tập lấy hơi và luyện thở

Ví dụ: Bài tập lấy hơi và tập thở

Giáo viên sẽ chuẩn bị một đoạn nhạc sau đó hướng dẫn học sinh lắng nghe,tưởng tượng trong một khu vườn xanh thẳm với tiếng nước róc rách, bầu trời trongxanh hòa với tiếng chim ríu rít đồng thời làm động tác hít ra thở vào

Mở một đĩa nhạc kèm hình ảnh cho học sinh xem sau đó hướng dẫn học sinhnhắm mắt lại và nghe cảm nhận đồng thời hít vào và thở ra

Hay giáo viên tổ chức trò chơi cho học sinh trò chơi “Thổi bong bóng”

Trang 34

Mục đích: thông qua trò chơi giúp học sinh luyện tập thêm cách lấy âm và tậpthở ra.

Chuẩn bị: giáo viên chuẩn bị các quả bong bóng, chọn trọng tài, đồng hồ bấmgiờ

Giáo viên chia lớp thành các đôi để tham gia chơi Quy định thời gian chơicho các đội (4-5 học sinh)

Luật chơi: Trong thời gian 2 phút mỗi đội sẽ lần lượt từng đội chơi, mỗi độitham gia chơi xếp thành một hang ngang khi nghe trọng tài hô bắt đầu thì tất cả cácbạn trong đội chơi cùng thổi cho quả bóng to lên cột lại sau đó chạy thật nhanh bỏbóng vào rổ đội mình, khi nào hết thời gian thì các đội kết thúc trò chơi Đội nàothổi được nhiều quả bóng và trong thời gian ngắn nhất sẽ chiến thắng Sau đó đếnđội khác tiếp tục Kết thúc trò chơi giáo viên nhận xét, trọng tài công bố đội thắngcuộc tuyên dương

Hình ảnh minh họa:

Việc lấy hơi, thở liên quan trực tiếp đến việc ngắt, ngừng giọng trong luyệnđọc thành tiếng Muốn đọc thành tiếng có hiệu các em phải biết tập cách lấy hơiđúng chỗ và ngắt nghỉ hơi khi đọc sao cho hợp lí để tạo ra được sự hợp lí trong khiđọc góp phần nâng cao hiệu quả Khi luyện đọc nếu các em cứ đọc liên tục, đọckhông ngừng nghỉ, cứ đọc và đọc thì đấy không phải là để luyện đọc, trong khi đọckhông phải cứ đọc kéo dài liên tục, mà phải có lúc ngừng, nghỉ (ngắt hơi) để có thểđiều tiết giọng đọc cũng như rèn luyện cho các em cách tập lấy hơi và luyện thở.Ngắt hơi cũng là một nhu cầu tất yếu trong quá trình đọc, không ai có thể đọc

mà không ngừng, nghỉ để lấy hơi và bắt nhịp để đọc tiếp Sự ngắt quãng không chỉtạo ra cho cơ quan phát âm của người đọc mà còn tạo ra chỗ nghỉ cho cơ quan thínhgiác của người nghe, việc lấy hơi, luyện thở là cần thiết đối với mỗi học sinh trongkhi luyện đoc Luyện cho học sinh biết ngắt hơi đúng không chỉ giúp cho các em

Trang 35

biết cách đọc đúng mà còn giúp cho các em có quãng nghỉ, quảng lấy hơi hợp lílàm tăng hiệu quả bài đọc, trình bày nội dung bài đọc đúng đắn làm cho người nghe

đỡ căng thẳng bởi nếu nội dung được truyền đạt rõ ràng, mạch lạc sẽ làm chủ đượcgiọng đọc nên đây là yếu tố rất quan trọng trong luyện đọc nếu không được hướngdẫn, luyện tập đúng đắn, ngắt nghỉ hơi một cách tùy tiện, ngẫu hứng sẽ làm chohiệu quả bài đọc trở nên kém đi và không đúng Giáo viên cần luyện cho học sinhthở sâu và lấy hơi ở những chỗ ngắt nghỉ khi đọc, luyện đọc giúp cho học sinh biếtcách lấy hơi dự trữ để tránh hiện tượng bị tụt hơi và lấy được hơi tốt

2.1.1.2 Rèn phát âm chính xác các âm vị tiếng Việt

Để các em luyện đọc thành tiếng thành thạo thì phải rèn cho các em được bốn

kỹ năng đọc: đọc đúng, đúng nhanh, đọc hiểu, đọc điễn cảm mà quan trọng hàngđầu là các em phải đọc đúng mà muốn đọc đúng thì yêu cầu hàng đầu là các emphải phát âm chính xác các từ, chuẩn, rõ thì mới có thể đọc đúng vì đọc đúng cũng

là tiền đề cho các kỹ năng còn lại để học sinh có thể thực hiện tốt Đọc đúng mớigiúp các em hiểu được các ca từ, nội dung từ đọc đúng các em mới đọc nhanh, đọcthầm lướt qua để nắm được ý chính, nội dung của bài Khi hiểu được thì các em sẽ

có khả năng cảm thụ tốt, từ đó biết ngắt, nghĩ, lúc nào cần nhấn mạnh vào những từgợi tả, khi nào lên giọng, khi nào xuống giọng từ đó các em sẽ truyền được cảmhứng cho người nghe, thể hiện được giọng đọc của mình, truyền ra được cảm xúc

mà tác giả gửi gắm trong bài bởi vậy phải rèn cho các em chính xác các âm vị củaTiếng việt Giáo viên cần chú trọng hoạt động đọc mẫu (phát âm mẫu), khâu rèn kỹnăng đọc (kỹ năng phát âm) cho học sinh trong mỗi giờ dạy tiếng Việt Chú ý lắngnghe, quan sát và kịp thời hướng dẫn sửa sai cho học sinh, đọc mẫu và rèn khôngtốt dẫn đến học sinh bắt chước đọc sai, đọc ngọng lâu dần thành thói quen sẽ rấtkhó sửa Học sinh các dân tộc khác nhau thì cách phát âm cũng khác nhau: Ví dụhọc sinh dân tộc Thái khi phát âm tiếng việt phát âm không khác nhiều so với dântộc kinh, dân tộc Lào khi phát âm các âm lưỡi đều uốn cong và bật mạnh dẫn đếncác âm phát ra gần như đều có thêm dấu nặng Riêng học sinh dân tộc Mông khiphát âm, âm phát ra rất nhẹ, như khi ta phát âm tiếng Anh.Vì vậy khi giáo viên dạyphát âm cần chú ý làm mẫu để học sinh quan sát được các cơ quan phát âm bên

Trang 36

ngoài như môi, răng, lưỡi Việc sửa lỗi phát âm giáo viên cần phân biệt rõ 2

trường hợp:

Một là, học sinh phát âm sai do có tật ở một trong các cơ quan của bộ máyphát âm (ngắn lưỡi, dài lưỡi, dính tăng lưỡi, sứt môi, hở hàm ếch…) Trường hợpnày giáo viên mặc dù rất cần thiết sửa cho học sinh, song chúng ta cần hiểu rằngviệc làm này không thể thực hiện một ngày một buổi mà cần có sự kiên trì, bền bỉ,thậm chí có thể kết hợp với bài tập, phẫu thuật hoặc dùng phương tiện hỗ trợ để đạtđược hiệu quả mong muốn Không nên bắt học sinh đọc đi đọc lại nhiều lần lỗi các

em mắc phải trong giờ học để tránh các biểu hiện tâm lí tiêu cực cho trẻ Luyện đọcđúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị tiếng việt Đọc đúng các

phụ âm đầu: Ví dụ có ý thức phân biệt không đọc (“nong nanh”, “lo lê”, “nạnh nẽo”…mà phải đọc “long lanh”, “no nê”, “lạnh lẽo”) Đọc đúng các âm chính:

có ý thức phân biệt để không đọc “ iu tin”, “quả chúi”,…mà đọc “ưu tiên”, “quảchuối”,…Đọc đúng các âm cuối: ví dụ có ý thức không đọc: “chuồng chuồng”,

“con ngang” Đọc đúng các thanh: về thanh có các lỗi phát âm địa phương như sau:không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã như tiếng Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên,… Hai là, học sinh phát âm sai do không cẩn thận, do lỗi phát âm địaphương hoặc phát âm sai bất thường,… cần cố gắng giúp trẻ sửa triệt để, giáo viêncần tăng cường giao tiếp với trẻ để nắm vững điểm mạnh, yếu của từng em để cóhướng giúp đỡ phù hợp trong mỗi giờ học

Đối với việc luyện đọc từ khó, cần chú ý nhiều đến đọc các từ phiên âm tiếngnước ngoài và các từ khi đọc học sinh thường mắc lỗi phát âm địa phương Giáoviên cần xác định cụ thể những lỗi phát âm của từng địa phương để làm tiêu chíchọn từ khó cho học sinh luyện đọc

Giáo viên chú ý rèn học sinh bắt đầu từ phần âm tiếng Việt nhất là các phụ âmtiếng Việt, rèn kỹ việc phát âm cho học sinh giáo viên có thể dung các phươngpháp sau: Phương pháp luyện theo phát âm mẫu còn gọi là phương pháp trực giáchay phương pháp nghe nhìn.Giáo viên cho học sinh tiểu học nghe giọng đọc mẫu,nhìn khuôn miệng (trực tiếp hay gián tiếp qua hình ảnh) và học sinh đọc theo Đây

là phương pháp được giáo viên sử dụng phổ biến trong quá trình dạy học cho họcsinh bởi tiết kiệm thời gian cũng như không phải đầu tư cho việc chuẩn bị nhiều

Trang 37

• Phương phát luyện phát âm theo mẫu.

Bước 1: Cung cấp mẫu phát âm

Bước 2: Phân tích mẫu

Bước 3: Tổ chức cho học sinh phát âm theo âm mẫu

Bước 4: Nhận xét, sửa chữa sản phẩm của học sinh

Bước 5: Đưa âm đã sửa vào ngữ cảnh

Đối với các âm học sinh phát âm sai nhiều như âm: b/v, l/đ,t/th, Thì giáoviên phải phân loại đưa về nhóm âm có đặc điểm phát âm giống nhau, sau đó mô tả

và dùng các bộ phận cấu âm để phát âm mẫu một cách tỉ mỉ (Ví dụ phụ âm b làphụ âm tắc, hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi, phụ âm v lại là phụ

âm hữu thanh, dây thanh rung) hay (phụ âm l là phụ âm sát, hơi đi qua kẽ hởmiệng, nhưng phụ âm đ lại là phụ âm tắc, hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệngvào mũi, dây thanh rung) hoặc (phụ âm t thì luồng hơi ra đằng mũi còn phụ âm ththì luồng hơi sẽ ra theo miệng) Học sinh quan sát khẩu hình và thực hành theo,giáo viên quan sát, phát hiện kết hợp sửa sai kịp thời cho học sinh trong quá trìnhhướng dẫn các em luyện tập Phải luyện phát âm thật kỹ nhiều lần, đúng mới thôi,chú ý hướng dẫn học sinh cách lấy hơi, nhấn giọng Tuy nhiên phương pháp nàykhông mang lại hiệu quả cao nên giáo viên phải kết hợp sử dụng các để có thểluyện đọc cho các em một cách tốt nhất

• Phương pháp phân tích cấu âm

Giáo viên tổ chức cho học sinh mô tả cách thức cấu âm của âm vị mắc lỗi, sosánh, đối chiếu với đặc điểm cấu âm của âm chuẩn kèm theo các hình vẽ minh họa

từ đó giúp học sinh dễ dàng hiểu và nắm bắt được lỗi sai cũng như nguyên nhânmắc lỗi sai để sửa chữa Phương pháp này mang lại hiệu quả rõ rệt giúp học sinhsửa lỗi phát âm nhanh và khắc phục về lỗi âm vần một cách hiệu quả.Tuy nhiênphương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu rộng về ngữ âm, phát âmchuẩn, nắm rõ quy trình, các bước phân tích cấu âm một cách đơn giản và hiệu quảnhất

Phương pháp phân tích cấu âm được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Cho học sinh phát âm tự nhiên

Bước 2: Phân tích cấu âm, sữa lỗi sai cho học sinh

Trang 38

Bước 3: Tổ chức cho học sinh phát âm theo hướng dẫn cấu âm.

Bước 4: Nhận xét, điều chỉnh cho học sinh nếu còn phát âm sai, đưa âm đãsửa vào ngữ cảnh

+ Đối với các vần học sinh phát âm sai như vần: eo/oe, ưu/ươu,eng/anh/em,ua/ươ, êch/êc,…thì giáo viên cho học sinh phân tích kỹ cấu tạo, đánh vần, đọc trơnthạo từng vần rồi mới so sánh sự giống và khác nhau giữa các vần đã học từ việc sosánh để rồi rút ra cách đọc Điểm mấu chốt ta có thể cho học sinh dùng thẻ để tạo từ,dùng đồ dùng trực quan để giải nghĩa từ kết hợp với sự hỗ trợ có hiệu quả của tiếng

mẹ đẻ Học sinh nắm vững cấu tạo vần, tiếng, hiểu nghĩa từ kết hợp quan sát khẩuhình luyện dần để trở thành thói quen làm tăng khả năng đọc đúng Tương tự, các emđọc còn nhầm lẫn chủ yếu giữa thanh ngã và thanh sắc Ví dụ: suy nghĩ/suy nghí,nghĩ kĩ/ nghí kí…Thì giáo viên cho học sinh nắm vững cấu tạo, cách phát âm từngdấu, dùng thẻ tạo từ, nắm nghĩa của từ qua đồ dùng trực quan hoặc bằng hành độngtrực tiếp để từ đó phát âm đúng và tự sửa sai các dấu thanh Đọc đúng các thanh có

các lỗi phát âm địa phương như lẫn thanh (~) và thanh sắc (/) VD: Không đọc Dũng thành Dúng hoặc Dủng Ví dụ: Những tiếng có phụ âm đầu n đọc đầu lưỡi thẳng,

môi trề, bụng hơi hóp lại Những tiếng có âm quặt lưỡi như s – x, r - d- gi, tr- ch thìhướng dẫn các em nói tự nhiên cho hay (không cố gắng đọc nhấn) Ngoài ra trongTiếng Việt có phụ âm đầu là r (là phụ âm quặt lưỡi) thì chúng ta đọc không rung

Ví dụ: Như từ: ra vào, rang lạc, rực rỡ, rung rinh đọc không rung Giáo viênđọc rung những tiếng là tiếng nước ngoài ,ví dụ: Ra đi ô

Phương pháp hướng dẫn học sinh cách phát âm đúng

các âm dễ nhầm lẫn

Hướng dẫn học sinh vị trí đặt lưỡi để phát ra âm

Ví dụ: phát âm l/n

Khi đọc l lưỡi cong lên chạm lợi, hơi đi ra phía bên rìa lưỡi, xát nhẹ

Khi đọc n đầu lưỡi chạm lợi, hơi thoát qua cả miệng lẫn

mũi

Hình ảnh minh họa

Trang 39

Phương pháp luyện tập tổng hợp phân tích:

Phương pháp luyện tập tổng hợp phân tích thực chất là sử dụng nhiều thao tác,công cụ để chữa lỗi phát âm cho học sinh nó thường được dùng để chữa lỗi phầnvần vì các biến thể trong phần vần của từng phương ngữ rất phong phú, đa dạngkhông như biến thể phụ âm đầu Phương pháp này đòi hỏi giáo viên tổng hợp cả haiphương pháp luyện tập được đề cập trên Đầu tiên dùng phương pháp trực quan đểrèn luyện phát âm cho học sinh thông qua giọng đọc, chữ viết, dùng phương phápphân tích cấu âm để phân tích các thành phần của âm mắc lỗi cũng như các thànhphần chuẩn của âm để học sinh có sự nhận diện để trong khi luyện đạt kết quả caohơn Giáo viên phối hợp với học sinh tổ chức, hướng dẫn học sinh luyện tập đưacác âm cần sửa vào ngữ cảnh nhằm khu biệt nghĩa, giúp các em dễ hiểu hơn, luyệntập tốt hơn, đưa các âm vào ngữ cảnh giúp các em hình dung tốt hơn từ đó giúp các

em sữa được các lỗi phát âm sai vì thế yêu cầu giáo viên khi tổ chức luyện tập tổng

hợp- phân tích sửa sai cho các em đòi hỏi giáo viên phải có một cách nhìn tổng

quát, tổ chức cho học sinh luyện tập tổng hợp trước để các em tri giác được cáchphát âm tổng quát, kết hợp với lí giải, phân tích các phần của âm, nghĩa của nó đểhọc sinh có phương pháp luyện tập

Phương pháp luyện tập tổng hợp- phân tích giáo viên có thể tiến hành theo các

bước sau:

Bước 1: Cho học sinh phát âm theo mẫu

Bước 2: Tổ chức cho học sinh phân tích cấu âm, phân tích chính tả, kết hợptìm hiểu nghĩa của tiếng, từ cần sửa

Bước 3: Học sinh phát âm theo mẫu, nhận xét, sửa chữa, điều chỉnh

Bước 4: Luyện tập, đưa âm sai vào ngữ cảnh

Ví dụ: Sử dụng phương pháp luyện tập - tổng hợp phân tích để hướng dẫn học sinh luyện phát âm các vần mà học sinh dễ nhầm lẫn: uôn- uông

Bước 1: Cho học sinh phát âm các tiếng sau: buôn, chuông, muốn ,xuốngBước 2: Cho học sinh phân tích các vần đó

Hướng dẫn các em phân tích cấu âm khi phát âm vần /uôn/lưỡi chạm vòng trêm của miệng khi phát vần /uông/ lưỡi chạm xuống thành dưới của hàm

Trang 40

Cho học sinh phân tích và so sánh cấu tạo của các tiếng: buôn, chuông, muốn ,xuống.

buôn = b+ uô+ n cuốn = c + uô +n + dấu sắcbuông = b + uô + n cuống = c + uô + ng + dấu sắcBước 3: Giáo viên phát âm mẫu sau đó tổ chức cho học sinh luyện phát âm các tiếng đó

Bước 4: Đưa các vần đã sửa vào ngữ cảnh: buôn bán, buông tay, bánh cuốn, cà cuống

Trong khi học sinh đọc, nói (phát âm) tiếng việt giáo viên phải quan sát từng

em, phát hiện chỗ các em đọc sai để kịp thời sửa ngay và hướng dẫn các em đọctheo tốc độ quy định, không quá chậm hoặc quá nhanh, đọc, nói đủ to cho tất cả cácbạn trong lớp nghe được, rèn tư thế đàng hoàng, tự tin, thoải mái khi đọc, nói tiếngViệt Đối với những em đọc sai chính âm tiếng Việt, giáo viên phải rèn luyện đểhọc sinh đọc đúng, đọc đủ, không đọc thừa, đọc sót âm, tiếng, từ,…Đọc với tốc độvừa phải, giọng đọc phải phù hợp với yêu cầu và nội dung từng bài Đối với các emphát âm bị khuyết âm trong tiếng việt chú ý rèn khi phát âm học, nghe và quan sátgiáo viên đọc VD học sinh đọc "thuồng luồng" thường phát âm thành "thuồnluồn", "chín điểm"thành "chí đỉa" học sinh đọc, nói sai vì khi phát âm các tiếngthuồn luồn, chí đỉa luồng hơi đi ra không bị chặn, các em phát âm sai do không làmđược một trong ba yếu tố sau: một là đặt đúng các vị trí của các cơ quan phát âmtham gia tạo nên tiếng đó, hai là tạo luồng hơi chính xác, ba là phối hợp được đặt vịtrí đúng và đẩy hơi để phát tiếng Nếu phát âm đúng "thuồng luồng" và "chín điểm"hơi sẽ bị chặn lại ở một vị trí trong khoang miệng, vì vậy khi hướng dẫn giáo viêncần nắm chắc cách phát âm của các tiếng đó để hướng dẫn một cách dễ hiểu nhấtgiúp học sinh nắm về cách phát âm, học sinh quan sát kĩ khi giáo viên phát âm, vịtrí các cơ quan phát âm và phối hợp giữa các cơ quan đó để có thể luyện tập manglại hiệu quả

Để tiến hành dạy tập đọc, giáo viên phải hiểu rõ học sinh của mình, đặc điểm

và trình độ đọc của học sinh, các em đã có những kiến thức, kĩ năng gì Cụ thể phảihiểu rõ học sinh của mình phát âm có những gì sai chuẩn, khó phát âm những từngữ nào trong bài từ đó làm căn cứ để luyện đọc thành tiếng cho các em một cách

Ngày đăng: 22/11/2021, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê A, Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Trí (1994), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1994
4. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 1998
5. Nguyễn Thị Hạnh (2002), Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2002
6. Vũ Bá Hùng, Chuẩn mực ngữ âm và vấn đề dạy tiếng Việt trong nhà trường (1993), Trong “Giáo dục ngôn ngữ”, Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực ngữ âm và vấn đề dạy tiếng Việt trong nhà trường "(1993),Trong “Giáo dục ngôn ngữ
Tác giả: Vũ Bá Hùng, Chuẩn mực ngữ âm và vấn đề dạy tiếng Việt trong nhà trường
Năm: 1993
7. Đặng Vũ Họat (chủ biên), Giáo trình Giáo dục học tiểu học 1(1997), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục học tiểu học 1
Tác giả: Đặng Vũ Họat (chủ biên), Giáo trình Giáo dục học tiểu học 1
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1997
8. Đặng Vũ Hoạt ( chủ biên), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học (1994), Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học(1994)
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt ( chủ biên), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1994
10. Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Trò chơi học tập Tiếng Việt 2,3, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập Tiếng Việt 2,3
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Lê Phương Nga (2003), Phương pháp dạy học Tập đọc ở Tiểu học, Nxb Giáo dục 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tập đọc ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: Nxb Giáo dục2001
Năm: 2003
12. Lê Phương Nga (2009), Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt ở tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2009
13. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Phương pháp dạy học tiếng Việt (1999), Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Phương pháp dạy học tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQGHà Nội
Năm: 1999
16. Đinh Thị Oanh (2016), Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Đinh Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2016
17. Phạm Toàn, Nguyễn Trường (1982), Dạy đọc và học đọc, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy đọc và học đọc
Tác giả: Phạm Toàn, Nguyễn Trường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
18. Đoàn Thiện Thuật (2003), Ngữ âm tiếng Việt, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Đoàn Thiện Thuật
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2003
19. Nguyễn Minh Thuyết (2003, 2004, 2005), Hỏi đáp về dạy học tiếng Việt 2,3,4, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về dạy học tiếng Việt 2,3,4
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Nguyễn Minh Thuyết, Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1,2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt 2
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. Nguyễn Khắc Viện - Nghiêm Chưởng Châu - Nguyễn Thị Nhất, Tâm lí học sinh tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học sinhtiểu học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
22. Nguyễn Thị Yến (chủ biên) (2005), Phát triển lời nói cho học sinh tiểu học trên bình diện ngữ âm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lời nói cho học sinh tiểu học trênbình diện ngữ âm
Tác giả: Nguyễn Thị Yến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bài giảng bồi dưỡng giáo viên tiểu học Khác
3. Nguyễn Thiện Giáp (2001), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Khác
14. Lê Phương Nga (số 10/1994), Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu học, tạp chí NCGD Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w