Mục tiêu: - Phân tích hiện trạng xử lý rác thải của đô thị, đặc biệt là đô thị du lịch - Quy hoạch dòng rác thải tối ưu cho xử lý hiệu quả nhất, kinh tế nhất - Xây dựng các mô hình tối
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TỐI ƯU HÓA MÔ HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CHO ĐÔ THỊ DU LỊCH Ở VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU
ĐIỂN HÌNH CHO THÀNH PHỐ HỘI AN
Mã số: T2019-06-115
Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Phú Song Toàn
Đà Nẵng, 08/2020
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TỐI ƯU HÓA MÔ HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CHO ĐÔ THỊ DU LỊCH Ở VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU
ĐIỂN HÌNH CHO THÀNH PHỐ HỘI AN
Mã số: T2019-06-115
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Trang 3
MỤC LỤC
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình ảnh
Danh mục viết tắt
Thông tin kết quả nghiên cứu
Information on research resuts
Mở đầu ··· 1
Chương 1: Tổng quan ··· 3
1.1 Các vấn đề về chất thải rắn hiện nay ··· 3
1.2 Mục tiêu của đề tài ··· 6
1.3 Quy mô của đề tài và thời gian thực hiện ··· 7
Chương 2: Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu ··· 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu··· 8
2.1.1 Đặc trưng khu vực nghiên cứu ··· 8
2.1.2 Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị tại Hội An ··· 10
2.2 Phương pháp nghiên cứu ··· 13
2.2.1 Phương pháp lấy mẫu và xác định thành phần ··· 13
2.2.2 Phương pháp khảo sát thực trạng và lấy ý kiến ··· 14
2.2.3 Phương pháp phân tích tính chất CTR ··· 15
2.2.4 Phương pháp thống kê ··· 16
2.2.5 Phương pháp xây dựng mô hình ··· 16
2.2.6 Phương pháp đánh giá mô hình ··· 23
Chương 3: Kết quả và biện luận ··· 24
3.1 Định lượng sự phát thải từ các nguồn phát thải chất thải rắn đô thị tại thành phố Hội An ··· 24
3.2 Phân tích thành phần rác thải đô thị ··· 26
Trang 43.3 Đánh giá hoạt động quản lý rác thải tại nguồn ··· 29
3.4 Hiện trạng thu gom và xử lý CTR tại Hội An ··· 31
3.5 Tối ưu hóa dòng rác thải tương ứng với hệ thống xử lý phù hợp··· 34
3.6 Đánh giá mô hình quy hoạch hệ thống quản lý chất thải rắn ··· 41
3.6.1 Hiệu quả giảm lượng chất thải rắn phát sinh tại nguồn··· 41
3.6.2 Thành phần và tính chất CTR thu gom cho xử lý ··· 43
3.6.3 Đánh giá tính kinh tế trong các phương án quy hoạch hệ thống quản lý CTR ··· 44
3.6.4 Đánh giá hiệu quả môi trường trong các phương án quy hoạch hệ thống quản lý CTR ··· 47
Kết luận và kiến nghị ··· 50
1 Kết luận ··· 50
2 Kiến nghị ··· 53
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN C ỨU
1 GS.TS Takeshi Fujiwara
Khoa Khoa học Môi trường và Cuộc sống - Đại học Okayama
2 ThS Kiều Thị Hòa
Khoa Công nghệ hóa học Môi trường – ĐH Sư phạm Kỹ thuật – ĐHĐN
DANH SÁCH ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1 Khoa Khoa học Môi trường và Cuộc sống - Đại học Okayama
2 Công ty Cổ phần Công Trình Công Cộng Hội An
3 Phòng Tài Nguyên Môi Trường Hội An
4 Phòng Thương Mại Du lịch thành phố Hội An
Trang 6DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thành phần CTR được phân tích ··· 14 Bảng 2.2 Đặc trưng và hiện trang thực hiện quản lý CTR tại các cơ sở kinh doanh lưu trú ··· 18 Bảng 2.3 Thông số thực hiện quản lý CTR tại nguồn tại các cơ sở lưu trú ··· 22 Bảng 3.1 Thành phần CTR của các nguồn thải từ hoạt động thương mại du lịch ··· 28 Bảng 3.2 Lượng CTR tái chế được thu hồi trong 2 phương án quy hoạch ··· 43
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính Hội An ··· 8
Hình 2.2 Lượng khách du lịch đến Hội An trong thời gian qua ··· 9
Hình 2.3 Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp du lịch ở Hội An ···· 9
Hình 2.4 Lượng chất thải rắn đô thị ở Hội An trong thập niên qua ··· 10
Hình 2.5 Lượng khách du lịch và lượng CTR phát sinh trong năm 2018 ··· 11
Hình 2.6 Quy trình nghiên cứu ··· 13
Hình 2.7 Phương pháp “Corning and quartering” ··· 14
Hình 2.8 Phương pháp kiểm định chuẩn data ··· 16
Hình 2.9 Mô hình phân tích cấu trúc AHP cho chiến lược cải thiện hệ thống tái chế ··· 17
Hình 2.10 Hệ thống tái chế chính thống··· 20
Hình 2.11 Mô hình kinh tế tuần hoàn chất thải ··· 21
Hình 3.1 Tỷ lệ (a) và lượng (b) CTR phát sinh từ các nguồn phát thải ··· 24
Hình 3.2 Tỷ lệ phát thải CTR từ (a) hộ gia đình, (b và c) từ khách sạn ··· 25
Hình 3.3 Tỷ lệ phát thải CTR tại các hoạt động thương mại khác nhau ··· 26
Hình 3.4 Thành phần CTR sinh hoạt chung (a) và 3 khu vực khác nhau (b) ··· 27
Hình 3.5 Thành phần CTR của ngành Công nghiệp du lịch tại Hội An ··· 27
Hình 3.6 Tỷ lệ thực hiện quản lý CTR tại nguồn ··· 29
Hình 3.7 Hiệu quả thực hiện phân loại CTR tại nguồn ở các đơn vị ··· 30
Hình 3.8 Dòng chất thải rắn từ hoạt động du lịch ở Hội An ··· 31
Hình 3.9 Phân tích dòng CTR đô thị tại HA trong S1 (PA1) ··· 36
Trang 8Hình 3.10 Phân tích dòng CTR đô thị tại HA trong S2 (PA1) ··· 37
Hình 3.11 Phân tích dòng CTR đô thị tại HA trong S3 (PA2) ··· 38
Hình 3.12 Phân tích dòng CTR đô thị tại HA trong S4 (PA2) ··· 39
Hình 3.13 Lượng CTR phát sinh ở các mô hình ··· 42
Hình 3.14 Tính chất của CTR trong các mô hình ··· 43
Đồ thị 3.15 Phân tích chi phí vận hành từ mô hình quản lý CTR ··· 45
Hình 3.16 Phân tích tính kinh tế trong vận hành dự án ··· 46
Hình 3.17 Sự phát thải khí CO 2 từ các phương pháp xử lý CTR đô thị ở Hội An ··· 48
Hình 3.18 Ước tính lượng CO 2 phát thải trong tương lai từ PA1 và PA2 ··· 49
Trang 9Các ký hiệu viết tắt
AHP : Analytic hierarchy process
AP : Application of sanction
BAU : Business as usual
CBA : Cost-benefit analysis
EBO : Economic benefit optimisation
EIM : Environmental impact mitigation
ERS : Economic benefit for recycling sectors
ES : Economic benefit of society
ESH : Economic benefit of hotels
Trang 10MSH : Midle-scale hotels
NGO : Non-government organisation
PET : Polyethylene terephthalate
PR : Promulgation of regulation
RFC : Recycling facility of the city
RFH : Recycling facility of hotels
RP : Recycling practice
RPE : Recycling practice enhancement
RSC : Recycling system of the city
SCI : Social consensus improvement
SP : Separation practice
SSWM : Sustainable solid waste management
SWC : Solid waste composition
SWE : Waste separation efficiency
SWG : Solid waste generation
SWG : Solid waste geeneration
SWGR : Solid waste geeneration rate
SWM : Solid waste management
WMP : Waste management practice
Trang 11ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Tối ưu hóa mô hình quản lý và xử lý chất thải rắn cho đô thị du lịch ở Việt Nam – Nghiên cứu điển hình cho thành phố Hội An
- Mã số: T2019-06-115
- Chủ nhiệm: TS Phạm Phú Song Toàn
- Thành viên tham gia: Gs Takeshi Fujiwara, ThS Kiều Thị Hòa
- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư Phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng
- Thời gian thực hiện: 8/2019 - 8/2020
2 Mục tiêu:
- Phân tích hiện trạng xử lý rác thải của đô thị, đặc biệt là đô thị du lịch
- Quy hoạch dòng rác thải tối ưu cho xử lý hiệu quả nhất, kinh tế nhất
- Xây dựng các mô hình tối thực hiện quản lý chất thải rắn tại nguồn nhằm tối thiểu lượng rác phát sinh, tối đa lượng rác thu hồi cho tái chế, tối ưu kinh tế chất thải và tối thiểu lượng khí phát thải ô nhiễm môi trường
3 Tính mới và sáng tạo:
Đề tài này là một nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực quy hoạch chiến lược phát triển
hệ thống quản lý chất thải rắn cho đô thị Việt Nam trong bối cảnh nhiều đô thị ở Việt Nam
và trên thế giới loay hoay tìm giải pháp và hướng giải quyết
Nghiên cứu này vừa có tính khoa học vừa có tính thực tiễn cao Tính khoa học trong việc phân tích hiện trạng, đánh giá vấn đề và việc sử dụng các công cụ mô hình hóa, quy hoạch và đánh giá mô hình chiến lược Tính thực tiễn được nhấn mạnh trong tính khả thi
và phù hợp của dự án với điều kiện địa phương Nghiên cứu phân tích sâu và rộng những yếu tố ảnh hưởng tới dự án như sự đồng thuận của xã hội, phù hợp với chiến lược phát triển của địa phương, đảm bảo tính tài chính và khả năng chi trả của địa phương, cũng như các yếu tố về vĩ mô về kinh tế và môi trường
4 Tóm tắt kết quả nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu phân tích đầy đủ hiện trạng và các vấn đề mà hệ thống quản lý chất thải rắn của Hội An đang gặp phải Lượng và chất từ các nguồn phát thải được đánh giá chi tiết Nghiên cứu ngày sử dụng các phương pháp thống kê để kiểm định giá trị và dữ
Trang 12liệu khảo sát, sử dụng các công cụ phân tích xã hội, các phương pháp kỹ thuật phân tích chất thải, sử dụng phương pháp mô hình hóa để xây dựng các mô hình chiến lược và sử dụng các phương pháp chuẩn để đánh giá mô hình Mô hình được đánh giá dựa trên các tiêu chí Sự đồng thuận của xã hội – Sự phù hợp và khả thi với địa phương – Tính kinh tế trong vận hành – Hiệu quả môi trường Kết quả cuối cùng là mô hình cải tiến hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị cho Hội An với các giải pháp kết hợp phân tách dòng vật chất tương ứng với khả năng thu hồi và xử lý độc lập
5 Tên sản phẩm:
- Mô hình chiến lược tối ưu cải thiện hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị cho thành phố Hội An (chiến lược quy hoạch 10 năm)
- 1 bài báo SCIE: Song Toan PHAM PHU, Takeshi FUJIWARA, Minh Giang HOANG, Van
Dinh PHAM, Solid waste management practice in a Tourism destination – The status and
challenges: A case study in Hoi An City, Vietnam, Waste Management and Research, 37(11): 1077-1088, 2019
- 1 bài báo SCOPUS:
+ Song Toan PHAM PHU, Takeshi FUJIWARA, Minh Giang HOANG, Van Dinh PHAM,
Enhancing waste management practice – the sustainable strategy for solid waste management in Vietnam , Chemical Engineering Transaction, 78: 319-324, 2020
6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:
Nghiên cứu này có thể được sử dụng bởi chính quyền thành phố Hội An và các đô thị khác làm để xem xét và tiến tới nghiên cứu cách thức triển khai thí điểm tại địa phương Những địa phương có đặc trưng đô thị, cơ cấu xã hội và nền tảng hệ thống quản lý chất thải rắn tương đồng có thể nghiên cứu, cải tiến và ứng dụng thí điểm
7 Hình ảnh, sơ đồ minh họa chính
$
Recycling plant URENCO/PW Co
Communitie
s
Markets
Schools Commercial Tourist area
Trang 13Ngày 19 tháng 09 năm 2020
Hội đồng KH&ĐT đơn vị
(ký, họ và tên)
TS Phạm Phú Song Toàn
XÁC NHẬN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
Trang 14INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information:
Project title: Optimizing municipal solid waste management system for a tourist city
in Vietnam – A case study of Hoi An city
Code number: T2019-06-115
Coordinator: PHAM PHU Song Toan, Ph.D
Implementing institution: The University of Danang, University of Technology and Education
Duration: from August 2019 to August 2020
2 Objective(s):
- Analyzing the current situation and urgent problems of waste management system in Hoi An city
- Designing the suitable concept for waste management system
- Oriented-planning solid waste management system for Hoi An city toward sustainability The targets of sustainability are minimizing waste generation, maximizing recycling practice activities, optimizing economic benefit and mitigating greenhouse gas emission
3 Creativeness and innovativeness:
- This is a pioneering study on oriented-planning solid waste management system aims
to develop the current municipal waste management system in Vietnam in the context the many countries are struggling to find the appropriate solutions
- This study are high scientific and practical The scientific value in using scientific tools and methods to identify, assess and evaluate the current problems The practical values are feasibility and suitability of project to the locality
4 Research results:
- This study identified in detail the waste generation, composition and characterization
of municipal waste from main waste sources in Hoi An city The current situation and urgent problems are described The optimal model of municipal solid waste
Trang 15management system are enhanced-practice model which includes the integrated solutions from waste sources to the disposal A project of developing municipal solid waste management system in Hoi An city was planned in the period of ten years In the implementing process, this model shows the outstanding points comparing to the current model and minimalism model, such as technical performance, economic benefit, environmental efficience and social acceptance
5 Products:
- The optimal oriented-strategic model of municipal solid waste waste development
for the tourism city (a strategy for ten-years project)
- 1 SCIE article paper: Song Toan PHAM PHU, Takeshi FUJIWARA, Minh Giang
HOANG, Van Dinh PHAM, Solid waste management practice in a Tourism destination – The status and challenges: A case study in Hoi An City, Vietnam, Waste Management and Research, 37(11): 1077-1088, 2019
- 1 SCOPUS article papers:
+ Song Toan PHAM PHU, Takeshi FUJIWARA, Minh Giang HOANG, Van Dinh PHAM, Enhancing waste management practice – the sustainable strategy for solid waste
6 Effects, transfer alternatives of reserach results and applicability:
- This study will be transfer to the government of Hoi An city and other cities to consider to pilot-implement The cities that have same feature would be considered to study, modify and apply this model
$
Recycling plant URENCO/PW Co
Communitie
s Markets
Schools
Commercial sector Tourist area
Trang 17những tác động tiêu cực đến môi trường, trong đó rác thải đô thị là minh chứng
rõ ràng nhất
Đối với một đô thị du lịch, hoạt động thương mại du lịch phát thải một lượng
lớn chất thải rắn hàng ngày Trong đó, các nguồn thải chính là từ các cơ sở lưu trú, cơ sở kinh doanh ăn uống, các khu vui chơi giải trí và các khu kinh doanh, mua sắm Việc đảm bảo vệ sinh môi trường tại các đô thị du lịch lại ưu tiên hàng đầu để đảm bảo dịch vụ dụ lịch Vì thế, bài toán giải quyết lượng chất thải rắn phát sinh hằn ngày luôn là muốn quan tâm và thách thức không nhỏ của thành
phố
Trong bối cảnh hiện nay, việc quá tải của các hệ thống quản lý chất thải rắn
đô thị đã làm cho vấn nạn rác thải càng trầm trọng hơn Bài toán tìm ra giải pháp phù hợp để cải thiện hiện trạng hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị hướng tới
sự bền vững đang được các đô thị tìm lời giải Đặc biệt là đô thị du lịch, vấn đề này càng cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết Vì thế, nghiên cứu này nhằm
mục đích đánh giá, khảo sát hiện trạng hệ thống quản lý chất thải rắn của đô thị
du lịch ở Việt Nam; phân tích các vấn đề; tìm ra cơ hội và xây dựng chiến lược phù hợp để cải thiện hệ thống quản lý chất thải rắn cho đô thị du lịch Nhận thấy, thành phố Hội An là một đô thị cổ nổi tiếng với hoạt động du lịch là chủ đạo Hơn nữa Hội An là một đô thị nhảy cảm với các giá trị văn hóa, lịch sử và sinh
thải được UNESCO công nhận là di sản văn hóa, dễ bị tổn thương dưới các tác động từ ô nhiễm môi trường Vì thế, Hội An được xem xét là nghiên cứu điển
Trang 18hình trong nghiên cứu này Hy vọng, kết quả nghiên cứu sẽ có những giá trị nhất định có thể giúp địa phương cải thiện hệ thống quản lý chất thải rắn
Trang 19Chương 1 Tổng quan
1.1 Các vấn đề về chất thải rắn hiện nay
Trong những năm gần đây, chất thải rắn (CTR) trở thành mối quan tâm hàng đầu ở Việt Nam, ở các nước trong khu vực, thậm chí trên toàn thế giới Trong
đó, CTR đô thị là những vấn đề nổi cộm mang tầm cấp thiết, lượng CTR đô thị tăng lên đáng kể, gây nhiều khó khăn cho hệ thống quản lý của địa phương Những đô thị lớn như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đã xảy ra sự quá tải tại các bãi xử lý, gây xáo trộn dân sinh và tồn ứ CTR lâu ngày
ở đô thị
Nếu trong nước đang loay hoay với bài toán giải quyết CTR đô thị tại các địa phương thì thế giới đang nóng lên với rác thải nhựa, và tác động của nó đến môi trường biển, hệ sinh thái biển và đại dương Sự có mặt của nhựa như một thành tựu tiêu biểu của nhân loại, góp phần giải quyết nhiều vấn đề về vật liệu và sản phẩm tiện ích Đồng thời, sự tăng lên về lượng chất thải nhựa trên toàn thế giới
là tất yếu của cả quá trình sử dụng các sản phẩm tiện lợi, đa năng Sự thất thoát nhựa vào biển, đại dương cũng từ các khâu quản lý lỏng lẻo của hệ thống quản
lý chất thải rắn đô thị Hệ thống càng quản lý yếu kém, sự thất thoát càng nhiều Tóm lại, các vấn đề về CTR tại các địa phương hay vấn đề ô nhiễm nhựa đại dương trên toàn cầu đều xuất phát từ các vấn đề của hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị Hệ thống quản lý CTR đô thị càng hoàn thiện, các vấn đề rác thải địa phương càng được giảm thiểu, càng góp phần tích cực vào công cuộc bảo vệ môi trường chung liên quốc gia
Quay lại với các vấn nạn CTR đô thị, sự gia tăng lượng CTR đô thị tại các nước đang và kém phát triển chủ yếu là do sự tăng dân số và quá trình đô thị hóa tăng nhanh và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp trong đó công nghiệp du lịch - dịch vụ và nguồn thải đáng kể Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp không khói – du lịch dịch vụ - phát triển mạnh mẽ và dần trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của các quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt là ở
Trang 20các nước đang phát triển Không thể phủ nhận những lợi ích mà ngành công nghiệp du lịch mang lại, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế và an sinh xã hội Bên cạnh đó, mặt trái của sự phát triển là sự phát sinh đáng kể lượng chất thải ra môi trường, trong đó, sự tăng nhanh lượng chất thải rắn đô thị là thách
thức không nhỏ cho các nhà quản lý (Kaseva and Moirana, 2010; Mateu-Sbert
et al., 2013; Ranieri et al., n.d.; Shamshiry et al., 2011) Vì thế, những giải pháp hợp lý, mô hình xử lý tối ưu, chiến lược quản lý hiệu quả chất thải rắn đô thị hướng tới sự phát triển bền vững không những là nhiệm vụ trước mắt của chính phủ nhằm xử lý triệt để lượng rác phát sinh mà còn là mục tiêu dài hạn của mỗi
quốc gia (Shamshiry et al., 2011)
Trong khi ở các nước phát triển, hệ thống quản lý chất thải rắn đang dần đạt đến sự triệt để trong xử lý và bền vững trong hệ thống quản lý; thì ở các nước đang phát triển, xử lý rác thải và quản lý chất thải rắn vẫn đang loay hoay tìm
giải pháp phù hợp trong việc thu gom, xử lý (Ezeah et al., 2015; Malik and
Kumar, 2012; Omidiani and HashemiHezaveh, 2016) Tái chế được biết đến là một trong những giải pháp hữu hiệu mang lại nhiều lợi ích kinh tế, môi trường cho xã hội Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, việc phân loại rác thải đang gặp rất nhiều khó khăn trong triển khai, thu gom vật liệu tái chế chỉ đạt hiệu quả rất thấp Việc phát thải chất thải rắn có mối quan hệ chặt chẽ đến tính địa phương, lãnh thổ, cũng như yếu tố văn hóa xã hội, kinh tế chính trị, phong tục tập quán của khu vực đó Việc triển khai các giải pháp quản lý phù hợp nhằm giảm thiểu rác tại nguồn và tối ưu rác tại đến địa điểm xử lý phụ thuộc rất lớn đến nền văn minh, trình độ văn hóa, kinh tế và văn hóa của mỗi quốc gia Vì thế mỗi quốc gia, khu vực quản lý tốt nhất rác thải đô thị hướng đến sự phát triển bền vững Quá trình đô thị hóa cộng hưởng cùng quá trình tăng trưởng nhanh chóng của dịch vụ du lịch cũng kéo theo sự phát thải rác tại các khu đô thị nhiều hơn
(Mitchell, 2007) Ở Việt Nam, rác thải không được phân loại, vì thế việc xử lý
tại vị trí tập kết gặp rất nhiều khó khăn và hiệu quả xử lý kém (Thanh et al.,
2012) Công nghệ xử lý thì thô sơ (chôn lấp hoặc bãi đổ), cộng thêm việc quá tải
từ các bãi chôn lấp ngày càng nghiêm trọng Cụ thể, đầu năm 2019, người dân
Trang 21tại bãi rác Nam Sơn chặn xe thu gom tập kết về bãi rác, kết quả sau 3 ngày không thu gom, rác thải ở Hà Nội bị ứ đọng, chất đống cao ngập đầu người tại trung tâm thành phố Rác bắt đầu phân hủy gây mùi hôi, ruồi muỗi, nước rỉ rác tràn ra đường, vệ sinh ở các khu vực này được đưa lên mức báo động Ở thành phố Hồ Chí Minh, lượng rác phát sinh mỗi ngày lên đến gần 10.000 tấn Việc thu gom
và xử lý là vấn đề rất cấp thiết của thành phố khi các bãi chôn lấp dần đầy và quỹ đất ngày càng bị thu hẹp Vấn đề này cũng diễn ra tương tự với thành phố Đà Nẵng, nơi mà lượng rác phát sinh khoảng 1.000 tấn/ngày Việc tăng lượng rác nhanh chóng trong những năm gần đây gây ra những khó khăn nhất định trong việc thu gom Bên cạnh đó, bãi rác duy nhất Khánh Sơn của thành phố đang dần được lấp đầy, giải pháp xử lý và quản lý phù hợp cần được đề xuất để thảo luận hơn bao giờ hết Việc quá tải và ô nhiễm môi trường của các khu xử lý không chỉ là vấn đề ở các thành phố lớn Ở Quảng Nam, một số bãi chôn lấp Tam Kỳ, Đại Lộc đã đầy Tại Hội An, khoảng 100 tấn rác/ngày phải vận chuyển vào Núi Thành (cách 70km) để đổ vì sự quá tải của khu xử lý Hay tại Quảng Ngãi, UBND thành phố Quảng Ngãi phải nhiều lần đối thoại với dân về giải quyết việc ngăn cản xe thu gom rác tập kết về bãi Ở nhiều thành phố khác trong cả nước, hiện trạng quản lý rác thải và sự quá tải của hệ thống xử lý rác cũng diễn ra tương tự Mặc dù rác thải là vấn đề rất đáng quan tâm hiện nay, song, các nghiên cứu nhằm nâng cấp hệ thống xử lý sao cho hiệu quả và phù hợp, cải thiện hệ thống quản lý chất thải rắn nhằm giảm lượng rác phát sinh vẫn chưa được quan tâm Các địa phương chỉ tập trung vào việc làm thế nào để tăng tỷ lệ thu gom rác tối
đa và tìm vị trí để chôn lấp rác Tuy nhiên, đây chỉ là việc làm trước mắt, muốn quản lý bền vững, phải có quy hoạch cụ thể và chi tiết nhằm đưa ra giải pháp tối
ưu và lâu dài cho địa phương Trong nghiên cứu, nhưng mô hình tối ưu, giải pháp hữu hiệu trong xử lý và quản lý rác thải ở Việt Nam chưa được quan tâm Việc phân tích đánh giá hiện trạng rác thải ở một số địa phương mới bước đầu được triển khai nhưng còn nhiều hạn chế, thiếu sót
Hệ thống quản lý chất thải rắn là một quá trình khép kín từ phát thải, thực hiện quản lý tại nguồn, đến thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý và cuối cùng là
Trang 22chôn lấp Ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, công nghệ xử lý rác thải còn lạc hậu, hiệu quả xử lý thấp; chôn lấp toàn bộ rác thải là giải pháp phổ biến nhất Một khi hệ thống rác thải đô thị không được quy hoạch cụ thể, mô hình quản lý tại nguồn chưa được triển khai, hệ thống thu hồi và tái chế còn hạn chế, nên việc quá tải tại các bãi chôn lấp rác là điều tất yếu Ảnh hưởng của bãi chôn lấp đến môi trường dài hạn là không thể tránh khỏi Vì thế, hệ thống quản
lý chất thải rắn đô thị cần được quy hoạch tổng thể sớm nhất có thể từ giải pháp
xử lý phù hợp đến mô hình quản lý và giảm thiểu tại nguồn, từ mô hình tái chế đến việc áp dụng quy định, chế tài xử lý vi phạm Để đạt được mô hình xử lý hiệu quả, hệ thống quản lý chất thải rắn bền vững hướng đến xây dựng đô thị sinh thái, việc quy hoạch và đưa ra các giải pháp phù hợp mang tính quyết định cho sự thành công
1.2 Mục tiêu của đề tài
Xác định việc quy hoạch chiến lược, tìm giải pháp thích ứng và tối ưu hệ thống quản lý CTR đô thị, đặc biệt là các đô thị du lịch, là bước đầu tiên quan trọng cho quá trình cải thiện hệ thống quản lý CTR đô thị Vì thế, nghiên cứu này tập trung tìm hiểu và khảo sát đô thị du lịch điển hình với quy mô nhỏ để xây dựng và mô phỏng các mô hình chiến lược về hệ thống quản lý CTR khác nhau Qua đó, sẽ tìm ra mô hình tương thích với thực tế, phương pháp phù hợp với đối tượng nghiên cứu Địa điểm được chọn nghiên cứu điển hình là Đô thị
du lịch Hội An, Tỉnh Quảng Nam
Một số mục tiêu chính của nghiên cứu:
(1) Phân tích hiện trạng hệ thống quản lý CTR đô thị tại Hội An, chỉ ra các vấn đề đang tồn tại
(2) Phân tích cụ thể lượng phát thải từ các nguồn thải và đặc tính của từng nguồn (các đặc tính kỹ thuật, đến các đặc trưng của các nguồn thải) (3) Xây dựng các mô hình chiến lược cho việc quy hoạch hệ thống quản lý CTR đô thị cho Hội An trong 10 năm, với các mục tiêu:
- Giảm thiểu các vấn đề đang tồn tại tại địa phương
- Mô hình phải thích ứng với địa phương, và phù hợp với hiện trạng
Trang 23- Mô hình hướng tới sự tối ưu, trong các giá trị về sự bền vững luôn
được xem xét: sự đồn thuận của xã hội – tính kinh tế trong triển khai - tính môi trường trong vận hành
1.3 Quy mô của đề tài và thời gian thực hiện
- Đề tài sẽ được nghiên cứu trên toàn bộ các nguồn thải chính ở Hội An, nối tiếp các nghiên cứu cơ bản trước đây của nhóm nghiên cứu
- Thời gian thực hiện: 12 tháng (từ 8.2019 – 8.2020)
Trang 24Chương 2
Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
2 1 Đối tượng nghiên cứu
2 1.1 Đặc trưng khu vực nghiên cứu
Hội An là thành phố cổ du lịch cổ kính nằm ở miền trung Việt Nam Tiếp giáp với thành phố Đà Nẵng (phía Bắc), các huyện của tỉnh Quảng Nam (phía Nam
và Tây) tạo thành một cụm các địa điểm du lịch nổi tiếng ở miền Trung Việt Nam Với diện tích 61.48 km2, Hội An có 13 phường, trong đó có 2 phường trung tâm, 4 phường ven trung tâm và 7 xã vùng nông thôn với tổng số dân khoảng 98.600 người Năm 1999, Hội An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới với quần thể khu đô thị cổ kính được xây dựng từ lâu đời Từ đó, Hội
An được biết đến rộng rãi và là điểm đến du lịch được ưa thích trên toàn thế giới
Hình 2 1 Bản đồ hành chính Hội An
Trong 20 năm qua, Hội An phát triển nhanh chóng, trong đó, ngành công nghiệp không khói du lịch là ngành mũi nhọn, đóng góp phần lớn vào GDP của thành phố Ngành du lịch ở Hội An theo đó cũng có những phát triển vượt bậc
để đáp ứng nhu cầu khách du lịch ngày càng đông Sự phân bố các hoạt động du lịch ở Hội An khá đều, rộng khắp cả thành phố Trung tâm thành phố (vùng màu đen trong hình 2.1) là khu quần thể các công trình kiến trúc cổ được xây dựng từ thế kỷ 16, là trung tâm của các hoạt động tham quan, du lịch Khu vực này có mật độ kinh doanh ăn uống, mua sắm dày đặc, tạo ra một đô thị sầm uất, đặc biệt
Trang 25là vào chiều và tối Khu vùng ven trung tâm (khu vực màu trắng) là khu vực hành chính, là cơ sở của nhiều cơ quan, đơn vị Khu vùng ven nông thôn là địa bàn của các hoạt động lưu trú, du lịch sinh thái Có thể thấy, các hoạt động du lịch ở Hội An được phân bổ rộng khắp trên toàn địa bàn nhằm giảm tải cho các khu trọng điểm và tăng cường phát triển kinh tế cho các vùng lân cận
Hình 2 2 Lượng khách du lịch đến Hội An trong thời gian qua
Với tốc độ tăng lượng khách du lịch hằng năm từ 1.1 đến 1.5 lần, năm 2019 Hội An đón 5,35 triệu lượt khách, trong đó tỷ lệ khách quốc tế chiếm 60% khách quốc nội Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách du lịch trong và ngoài nước, ngành thương mại du lịch theo đó cũng phát triển về số lượng lần chất lượng
Hình 2 3 Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp du lịch ở Hội An
630
3,183 3,354 3,462
3,951 4,493
5,117 6,428 7,795 8294
9789
100 200 300 400 500 600 700
Trang 26Đồ thì hình 3.3 cho thấy sự tăng nhanh chóng số lượng cơ sở lưu trú và số phòng trong thập niên qua Từ năm 2009, với 81 cơ sở lưu trú, công suất 3.183 phòng, sau 10 năm cơ sở lưu trú tăng lên 9 lần với 630 cơ sở với công suất đón khách lên đến gần 10 phòng Đặc biệt, chất lượng, quy mô và loại hình cơ sở lưu trú ngày càng phong phú, đáp ứng đầu đủ nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp du lịch Bên cạnh đó, số lượng cơ sở ăn uống và các dịch vụ du lịch khác như hàng lưu niệm, may mặc, thủ công, giải trí, làm đẹp và nhiều điểm đến sinh thái được thành lập để đón khách, tạo thành một hệ sinh thái du lịch khép kín tại địa phương
2.1.2 Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị tại Hội An
Sự phát triển thần tốc của ngành thương mại du lịch mang lại bộ mặt mới cho
đô thị Hội An, thúc đẩy phát triển kinh tế và mang lại nhiều lợi ích, an sinh xã hội Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển này và các tác động tiêu cực đến môi trường, trong đó, CTR là một điển hình
Hình 2 4 Lượng chất thải rắn đô thị ở Hội An trong thập niên qua
Đồ thị 2.4 cho thấy lượng CTR đô thị ở Hội An tăng nhanh từ 19.282 tấn (năm 2009) lên 33.600 tấn (năm 2018) trong khi dân số ở Hội An (đường nét đứt màu xanh) dường như tăng không đáng kể trong thập niên qua Điều đó cho thấy
19,282 20,147
22,164 23,915 24,548
26,101 28,769 30,131
31,071 33,598
0 5,000 10,000 15,000 20,000 25,000 30,000 35,000
Lượng chất thải rắn đô thị tại Hội An
Trang 27rằng sự phát triển công nghiệp du lịch là nguyên nhân chính tạo ra một lượng lớn CTR đô thị
Hình 2 5 Lượng khách du lịch và lượng CTR phát sinh trong năm 2018
Đồ thị trong hình 2.5 một lần nữa chứng minh rằng hoạt động thương mại du lịch tác động đáng kể đến lượng CTR đô thị phát sinh tại Hội An Theo đó, trong năm 2018 số lượt khách du lịch đến Hội An thay đổi theo từng tháng, với đỉnh điểm của mùa du lịch rơi vào tháng 7 và 8, thì cũng ghi nhận được lượng CTR
đô thị phát sinh vào hai tháng này là cao nhất trong năm
Sự gia tăng lượng CTR đô thị đã mang đến nhiều vấn đề cho hệ thống quản
lý CTR đô thị Cụ thể:
- Hệ thống thu gom ở Hội An hoạt động hết công suất vẫn không kịp thu hồi toàn bộ CTR đô thị, đặc biệt là vào mưa, khi CTR từ cây xanh
và lụt cũng cần một lượng phương tiện và nhân công đáng kể
- Hệ thống xử lý quá tải và bắt đầu xuống cấp Nhà máy composting bắt đầu cho thấy dấu hiệu của sự xuống cấp và quá tải, khi CTR đầu vào không được phân loại Hệ thống phân loại bằng lồng quay không thể hoạt động hiệu quả với công suất lớn Bên cạnh đó, nhà máy đốt rác
403,808
282,377
461,834
490,362 460,761
Trang 28mới được đầu tư lại cho thấy sự bế tắt trong vận hành bởi nhiều lý do, trong đó, vấn đề kỹ thuật là nguyên nhân chính
Để tránh lưu giữ CTR tại đô thị du lịch, thành phố Hội An quyết định vận chuyển toàn bộ CTR hằng ngày từ Hội An vào bãi chôn lấp ở Núi Thành và Đại Lộc Giải pháp cho thấy sự bế tắt và bất lực của hệ thống quản lý CTR ở Hội An, đồng thời cho thấy áp lực mà chính quyền Hội An đang gánh vác, giải pháp quản
lý CTR đô thị nhanh chóng phải được nghiên cứu thay cho giải pháp tạm thời này
Mặc dù đã có một số hành động sớm để hướng tới xây dựng “một Hội An sinh thái” theo đề án thành phố đã đưa ra, tuy nhiên, đến nay hoạt động đó vẫn chưa hiệu quả Cụ thể:
- Hoạt động phân loại CTR tại nguồn đã triển khai từ 2012 theo 2 loại CTR hữu cơ và CTR vô cơ Tuy nhiên sự không đồng bộ của hệ thống thu gom và xử lý và rào cản lớn nhất, gây mất lòng tin trong cộng đồng và niềm tin về chiến lược “Hội An sinh thái” càng bị suy giảm
- Một số hoạt động thu hồi chất thải rắn tái chế tại nguồn cũng được nghiên cứu và triển khai Tuy nhiên, hoạt động với quy mô nhỏ lẻ, điều phối bởi các nhóm xã hội và liên kết với các tổ chức phi chính thống đã không thể duy trì và phát huy hoạt động tái chế tại địa phương
Tóm lại, hệ thống quản lý CTR Hội An không thể thích nghi và theo kịp sự tăng lượng CTR đô thị nhanh chóng qua từng năm Vì thế, sự giới hạn về công nghệ, sự bế tắt trong giải pháp thực thi và cách thức quản lý đã cho thấy sự bất lực của hệ thống quản lý CTR đô thị tại Hội An Cần thiết phải có sự nâng cấp, định hướng chiến lược để giải quyết các vấn đề hiện tại, đồng thời hướng tới sự quản lý bền vững trong tương lai
Trang 292.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp lấy mẫu và xác định thành phần
Lượng phát thải và thành phần CTR được phân tích từ các mẫu thu gom hằng ngày từ các nguồn phát thải Việc xác định số lượng mẫu, lấy mẫu và phân tích mẫu CTR đô thị theo phương pháp Nordtest NT ENVIR 001 và NT ENVIR 004 Quy trình thực nghiệm được mô tả trong hình 2.6
Hình 2.6 Q uy trình nghiên cứu
Số lượng các đối tượng nghiên cứu được tính toán tương ứng với tỷ lệ thực
tế Theo đó, các đối tượng được mã hóa theo nhóm và được chọn ngẫu nhiên với
số lượng mẫu đại diện cho đối tượng nghiên cứu CTR từ các nguồn thải trên được đánh code trên túi thu gom và chở về vị trí tập kết trong 7 ngày liên tục Khối lượng của từng mẫu được xác định qua cân điện tử cầm tay có dãy đo 50 ± 0.001kg
Sau khi cân xong khối lượng, các mẫu cùng nhóm được trộn vào nhau để xác định thành phần Quy trình giảm mẫu được thực hiện theo phương pháp “Corning and Quartering” (hình 2.7) đến khi khối lượng mẫu khoảng 100kg thì tiến hành phân loại thành 17 thành phần như bảng 2.1
Lấy mẫu - KL: lấy trong 7 ngày liên tiếp, và cân khối lượng
- TP: Phân tích thành 17 lo ại (phương pháp ASTM International D5231-92)
Phân tích - TC Vật lý: Khối lượng riêng (ASTM E1109), Độ ẩm (ASTM E949), Nhiệt trị (HHV)
- Chemical characterisation: chemical composition (C, H, N, O, S)
Trang 30Hình 2.7 Phương pháp “Corning and quartering”
Bảng 2.1 Thành phần CTR được phân tích
4 Rác bếp và thức ăn thừa Các loại rác hữu cơ từ bếp và thức ăn thừa
17 Rác nguy hại Các loại hóa chất, pin, ắt quy, …
2.2.2 Phương pháp khảo sát thực trạng và lấy ý kiến
Đối với hiện trạng hệ thống quản lý CTR đô thị, việc khảo sát thực tế bằng cách ghi nhận trực quan, trạng thái vận hành và ý kiến của các bên liên quan về các vấn đề đang tồn tại Đồng thời, khảo sát lấy ý kiến qua bảng hỏi và phỏng vấn cũng được triển khai đối với các đối tượng liên quan như chủ nguồn phát thải, cán bộ quản lý hệ thống xử lý CTR địa phương, lãnh đạo thành phố, các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong mảng quản lý chất thải và các ý kiến từ
Trang 31chuyên gia Theo đó, những thực tế thực hiện quản lý CTR tại nguồn được đánh giá, những khó khăn, rào cản, những mong muốn và động lực được ghi nhận, qua đó Đồng thời, những bế tắc trong phương pháp quản lý và triển khai, những chiến lược và khó khăn khi triển khai áp dụng cũng được thu thập từ các vị trí lãnh đạo Điểm yếu trong hệ thống quản lý thực tế là giữa hành động của địa phương và ý nguyện của cộng đồng, xã hội chưa có “tiếng nói chung” Đây cũng chính là nguyên căn của sự thất bại khi triển khai chương trình, kế hoạch Và vì thế, các chương trình triển khai không có tính khả thi và nhận được sự đồng thuận của cộng đồng
2.2 3 Phương pháp phân tích tính chất CTR
Sau khi mẫu CTR được phân chia thành 17 loại và xác định tỷ lệ mỗi loại trong đống mẫu Các tính chất vật lý và hóa học của CTR lần lượt được phân tích
- Khối lượng riêng: Khối lượng riêng của CTR được xác định bằng khối lượng đo được có trong 100L CTR tự nhiên (không nén ép) Khối lượng riêng được xác định cho từng thành phần và cho cả hỗn hợp CTR
- Độ ẩm của CTR: Độ ẩm của từng thành phần được xác định bằng cách sấy mẫu CTR ướt ở 105 ± 2 oC trong 48 giờ (hoặc đến khi có khối lượng không đổi) Khối lượng trước khi sấy (m1) và khối lượng sau khi sấy (m2) được cân bằng cân phân tích điện tử Độ ẩm của mẫu được tính theo công thức [2.1]:
Độ ẩm (%) =𝑚1 −𝑚 2
- Thành phần hóa học: thành phần hóa học của CTR được phân tích tại phòng thí nghiệm bằng phương pháp đốt ở nhiệt độ 2700 oC bằng thiết bị phân tích 240 CHNS/O Series II Trước đó, mẫu CTR sau khi sấy khô được nghiền mịn để phân tích
- Nhiệt trị (HHV): Nhiệt trị của CTR được tính toán dựa vào công thức Scheurer-Kestner [2.2] :
HHV (kcalkg) = 81 (C −34𝑂) + 342.5𝐻 + 22.5𝑆 + 5734𝑂 − 6(9𝐻 + 𝑊) [2.2]
Trang 32Trong đó: C, O, H, S: là tỷ lệ (%) của các chất Carbon, Oxy, Hydro và lưu huỳnh có trong mẫu CTR khô; W là độ ẩm của CTR
2.2.4 Phương pháp thống kê
Tất cả kết quả thu thập được đều được xử lý thông kê để một lần nữa khẳng định tính đại diện cho đối tượng nghiên cứu của bộ mẫu CTR Một số phương pháp thống kê đã được sử dụng để kiểm định số liệu và phân tích data: ANOVA, Shapiro-Wilk test, Tukey-HSD, Kruskal Wallis và Wilcoxon Rank-Sum test
Hình 2.8 Phương pháp kiểm định chuẩn data
2.2 5 Phương pháp xây dựng mô hình
Các mô hình cho từng đối tượng riêng biệt, từng mục đích khác nhau được xây dựng bằng nhiều biến khác nhau (criteria) Trong mỗi biến sẽ có nhiều biến nhỏ (sub-criteria), mà vai trò, trọng số của chúng cần phải được xác định Trong nghiên cứu này, nhiều mô hình đã được xây dựng và tích hợp với nhau bởi các phần mềm chuyên dụng Điển hình là mô hình phân tích cấu trúc AHP để xây dựng chiến lược phát triển hoạt động tái chế CTR đô thị (Hình 2.9) Theo đó, để xây dựng mô hình này cần phải xác định các biến liên quan trực tiếp và các biến gián tiếp ở các cấp bậc khác nhau Quá trình mô phỏng mô hình này được thực hiện qua 3 bước:
Trang 33Hình 2.9 Mô hình phân tích cấu trúc AHP cho chiến lược cải thiện hệ
thống tái chế Bước 1: Xác đinh ma trận sự tương quan của các cặp biến (A) trong mô hình:
Đối với mô hình tổng thể quy hoạch chiến lược cho hệ thống quản lý CTR ở
Hội An, các thông số được khảo sát, tổng hợp và tính toán cụ thể cho mô hình tích hợp Cụ thể, đặc trưng của các nguồn thải và thực trạng quản lý CTR tại nguồn của các nguồn thải được mô tả trong bảng 2.2 sau:
Tối ưu hệ thống tái chế
Trang 34B ảng 2.2 Đặc trưng và hiện trang thực hiện quản lý CTR tại các cơ sở kinh doanh lưu trú
1 Lượng rác (kg/ngày) 6,556.14 5,464.26 171.20 748.8 618.20
(Song Toan et
al., 2018)
Nhựa 8.32 12.95 14.92 17.13 19.79 Kim loại 0.24 2.05 0.64 2.41 1.4 Thủy tinh 0.95 1.96 2.75 2.54 2.62 CTR hữu cơ 68.58 65.06 42.77 56.77 46.60
6 Tỷ lệ thực hiện phân loại
8 Tỷ lệ thực hiện tái chế (%) 53 60 7 33 30 (Song
Các mô hình quản lý CTR đô thị được xây dựng dựa trên các thông số sau: S0: Mô hình thực tế Mô hình này sẽ mô phỏng và phân tích hiện trạng và các vấn đề của hệ thống quản lý CTR đô thị tại Hội An
Trang 35Chiến lược phát triển hệ thống quản lý CTR đô thị cho Hội An được quy
hoạch theo 2 hướng: “Tối giản” (PA1) và “Cải cách” (PA2) Mô hình quản lý CTR đô thị một cách tối giản là mô hình thường hay áp dụng ở các nước kém và đang phát triển với cơ sở vật chất và điều kiện hạn chế Theo đó, sự tối giản được
thể hiện từ nguồn phát thải cho đến khu xử lý Mô hình quản lý CTR đô thị cải cách là mô hình quản lý tích hợp chất thải rắn đô thị Tại đây, cách thức quản lý tích hợp được áp dụng ngay từ đầu nguồn thải cho đến bước xử lý cuối cùng của dòng chất thải Vì thế mô hình quản lý CTR đô thị cải cách phức tạp và hiệu quả hơn nhiều Mô hình này không còn xa lạ gì ở các nước phát triển và đang cho
thấy hiệu quả tích cực
PA1: Mô hình tối giản – Chất thải rắn sinh hoạt chỉ cần tách CTR tái chế (nhựa, kim loại và Giấy) là những CTR có giá trị thương mại, có thể giao dịch trên thị trường Các loại CTR còn lại là hỗn hợp và được thu gom chung bởi 1
loại xe tải hằng ngày Mô hình này được đại đa số cộng đồng và doanh nghiệp hưởng ứng bởi sự đơn giản và tiện lợi trong thực hiện Việc tách CTR tái chế cơ
bản cũng đã được thực hiện từ trước đến nay, nhưng chưa hình thành một quy định rõ và hệ thống thu gom rõ ràng, nên hiệu quả còn nhỏ lẻ Sự tối giản trong
thực hiện quản lý CTR tại nguồn sẽ kéo theo sự đơn giản của hệ thống thu gom (chỉ 1 xe thu gom chung) Từ đó hiệu quả thu hồi CTR sẽ cao hơn, giải quyết bài toán tồn đọng CTR trong đô thị, đồng thời những nhu cầu thu gom CTR của các
hộ kinh doanh cũng được đáp ứng Với mô hình này, công nghệ đốt phát điện là phù hợp, bởi sự hỗn tạp của CTR là rào cản lớn nhất cho các công nghệ xử lý sinh học (composting, ủ yếm khí) Tuy nhiên, đòi hỏi công nghệ đốt phát điện
phải hiện đại phù hợp với CTR có độ ẩm cao
PA2: Mô hình cải cách – mô hình này yêu cầu CTR phải phân làm 3 loại (hữu
cơ, tái chế, và còn lại) thay vì 2 loại như thực tế đang triển khai (hữu cơ và còn
lại) Thực tế thì CTR tái chế cũng đã được tách riêng ra để bán ve chai, tuy nhiên chưa thực sự hiệu quả Theo khảo sát, việc tiếp tục phân loại CTR tại nguồn là
có thể thực hiện và cũng nhận được sự đồng thuận của đại đa số người dân và doanh nghiệp Hơn nữa, việc phân loại CTR trong giai đoạn này sẽ nhận được
Trang 36sự khuyến khích và hỗ trợ của thành phố Theo đó, các gia đình và cơ sở kinh doanh thực hiện phân loại CTR tại nguồn sẽ được giảm 20% chi phí thu gom
CTR định kỳ Ngoài ra, việc triển khai composting tại nguồn sẽ góp phần giảm
lượng phát thải CTR, đồng thời giảm chi phí thu gom CTR Hệ thống thu gom
CTR đô thị chính thống sẽ được thiết lập, kết nối với hệ thống quản lý CTR đô
thị, tạo ra chu trình khép kín và kinh tế tuần hoàn chất thải
Trang 37Hình 2.11 Mô hình kinh t ế tuần hoàn chất thải
Mặc dù việc xây dựng chiến lược cải thiện hệ thống quản lý CTR tại Hội An theo 2 hướng khác khau nhưng nhằm cùng 1 mục tiêu, đó là sự phù hợp và hướng đến bền vững trong điều kiện của địa phương Điều này có nghĩa là dự án phải đảm bảo:
- Tính tương thích: với các điều kiện hiện có, phải đảm bảo trong khả năng
của địa phương có thể xây dựng, vận hành và quản lý được
- Tính khả thi: Dự án xây dựng phải đảm bảo tính khả thi trong đầu tư và
vận hành, lộ trình dự án xây dựng cần phải khớp và thuận với thực tế Dự
án phải phù hợp với chủ trương của lãnh đạo thành phố và sự đồng thuận
của cộng đồng
- Tính bền vững: Sự bền vững được định nghĩa là sự giao thoa, dung hòa
của các giá trị về “Hiệu quả về kỹ thuật – Tối ưu sự đồng thuận của xã
hội – Hiệu quả về môi trường – Tối ưu về lợi ích kinh tế” Dĩ nhiên trong điều kiện hiện tại, những mức đo lường cho mỗi tham số là khác nhau Tuy nhiên, sự đồng bộ và dung hòa giữa các giá trị đạt được từ dự án luôn luôn hiện hữu Sự mất cân bằng của các giá trị trên sẽ gây nên sự không
bền vững
S1 và S3: Mô hình quản lý CTR đô thị với hiệu quả thực hiện quản lý CTR
mức 1 (thực hiện ý định - intention) “Ý định” và mức độ thực hiện quản lý CTR
Trang 38mà các chủ thể và các bên liên quan sẵn sàng thực hiện khi được đáp ứng một số yêu cầu, hoặc một số khó khăn bị tháo gỡ
- Đối với các chủ nguồn thải: các nhu cầu cần thiết là thông tin, kỹ năng, chính sách và sự đồng bộ trong công tác quản lý để tạo được niềm tin trong cộng đồng
- Đối với đơn vị quản lý hệ thống CTR: việc đảm bảo một số cơ sở vật chất
cơ bản và nguồn nhân lực và yếu tố cơ bản để có thể vận hành hệ thống theo chủ trương đề ra
- Đối với chính quyền: các chiến lược xây dựng cần nằm trong định hướng
của thành phố trong 10 năm đến
S2 và S4: Mô hình quản lý CTR đô thị với mức độ 2 (tối ưu quá trình thực
hiện quản lý CTR) Sự tối ưu trong quá trình thực hiện chỉ đạt được khi có đầy
đủ các yếu tố hành vi tích cực của xã hội và cơ chế chính sách của chính quyền Trong PA1, sự tối ưu ở tỷ lệ phân loại rác tái chế với tỷ lệ phân loại yêu cầu 100% và hiệu quả phân loại tối ưu được tính toán theo sự tăng dần từ thực tế
Hiệu quả phân loại CTR trong 10 năm thực hiện của dự án được ước tính theo phương pháp sau:
B ảng 2.3 Thông số thực hiện quản lý CTR tại nguồn tại các cơ sở lưu trú
S0 Tỷ lệ thực hiện phân loại – hiện
trạng (%)
Hiện trạng hiêu quả
phân loại -WSE0 (%)
Kim loại 33.3 97.6 36.0 87.5 37.2 Thủy
Trang 39WSE* : được tính toán dựa vào phương pháp của Song-Toan et al 2019
2.2.6 Phương pháp đánh giá mô hình
Mô hình được đánh giá tính khả thi, sự đồng thuận của xã hội, tính kinh tế
của dự án và hiệu quả môi trường Theo đó một số phương pháp sau được sử
- Phương pháp phân tích kinh tế dự án CBA
- Phương pháp tính sự phát thải khí nhà kính - IPCC
Tỷ lệ thực hiện composting – hiện
Trang 40Chương 3 Kết quả và biện luận
3.1 Định lượng sự phát thải từ các nguồn phát thải chất thải rắn đô thị tại
thành phố Hội An
CTR đô thị tại HA được xác định sinh ra từ ba nguồn phát thải chính: từ hộ gia đình, từ hoạt động thương mại du lịch và từ các hoạt động khác (trường học, bệnh viện, điểm công cộng, …) Đồ thị hình 3.1a chỉ ra rằng CTR sinh hoạt chỉ chiếm 19.4%, trong khi hoạt động thương mại du lịch chiếm phần lớn (64.6%) Các hoạt động thương mại du lịch bao gồm hoạt động lưu trú, hoạt động ăn uống, giải khát, từ các dịch vụ thương mại du lịch (quầy lưu niệm, spa, tiệm quần áo), chợ, cơ sở sản xuất đồ dùng bằng tay (các cơ sở may mặc, gia công đồ da)
(a) (b)
Hình 3.1 Tỷ lệ (a) và lượng (b) CTR phát sinh từ các nguồn phát thải
Đối với từng hoạt động, đặc trưng phát thải CTR cũng khác khau Cụ thể, đối với nguồn phát sinh CTR từ hoạt động sinh hoạt, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng
sự phát thải trung bình trên đầu người là 0.223 kg/ngày (Hoang et al., 2017) Trong đó, người dân tại khu vực nông thôn phát thải ít hơn ở khu vực thành thị
và trung tâm thành phố (Hình 3.2a)
Trong ngành công nghiệp du lịch, các hoạt động đặc thù đều được phân tích lượng phát thải hằng ngày Đối với hoạt động lưu trú, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng trung bình một ngày khoảng 2.28 kg CTR được phát thải từ 1 du khách lưu
trú tại cơ sở lưu trú (Hình 3.2b)
5,000 10,000 15,000 20,000
SWG (kg)