1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu Phát Họa Chân Dung Người Lính pptx

19 627 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thử Phát Họa Chân Dung Người Lính Thời Xưa
Tác giả Đào Đức Nhuận
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 284,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thử Phát Họa Chân Dung Người Lính Thời Xưa ĐÀO ĐỨC NHUẬN Hơn bốn ngàn năm lập quốc, ngay từ những năm tháng sơ khai, dân tộc ta đã phải đương đầu với tai họa chiến tranh.. Và hình ảnh c

Trang 1

Thử Phát Họa Chân Dung Người Lính Thời Xưa

ĐÀO ĐỨC NHUẬN

Hơn bốn ngàn năm lập quốc, ngay từ những năm tháng sơ khai, dân tộc ta đã phải đương đầu với tai họa chiến tranh Cuộc chiến đấu vệ quốc đầu tiên của dân tộc Việt Nam xảy

ra dưới thời Hồng Bàng, cách nay hơn 4 ngàn năm Truyền thuyết kể rằng : “ Đời Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc Ân, hùng mạnh lắm, không ai đánh nổi Vua mới sai

sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước Bấy giờ ở làng Phù Đổng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh) có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc

Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến đi mất Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương.” (1) Đứa-trẻ-chiến-binh của làng Phù Đổng – chính là đại biểu của tuổi trẻ Việt Nam, một tuổi trẻ giàu lòng yêu nước – trải qua mấy ngàn năm lịch sử vẫn được nhân dân ta gọi là Thánh Gióng

! Và hình ảnh của người chiến sĩ đầu tiên đó đã được nhân dân ta nhắc đến với một tấm lòng kính phục và biết ơn sâu sắc :

Nhớ xưa đương thuở triều Hùng

Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa

Trời thương Bách Việt sơn hà

Trong nơi thảo mãng nổi ra kỳ tài

Lên ba đang tuổi anh hài

Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền

Một phen khói lửa dẹp yên

Sóc Sơn nhẹï gót thần tiên lên trời !

Và để tưởng nhớ người chiến binh anh hùng đầu tiên của dân tộc, không biết tự bao giờ,

cứ vào ngày 9 tháng Tư âm lịch, nhân dân quanh làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng, thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh lại tổ chức ngày Hội Gióng :

Mồng bảy hội Khám

Trang 2

Mồng tám hội Dâu

Mồng chín đâu đâu

Thì về hội Gióng

Đây là một ngày lễ hội thật tưng bừng, diễn lại sự tích Thánh Gióng đánh giặc Ân xâm lăng, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cho tổ quốc Việt Nam còn trong thời kỳ non trẻ:

Giáo gươm, cờ xí trùng trùng,

Hàng năm mở hội tưng bừng vui thay !

Nhớ xưa Thánh Gióng tích rày,

Uy phong rạng rỡ đến nay còn truyền !

Và tiếp sau cuộc chiến đấu hào hùng của người chiến binh làng Gióng, lịch sử nước ta đã phải trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh chống lại nạn xâm lăng của người phương Bắc? Nhân dân ta đã phải chống trả lại bao nhiêu cuộc chiến tranh chống lại nạn quấy phá của các nước láng giềng Lão Qua, Bồn Man, Chiêm Thành hay của người Nùng, người Thái

ở miền thượng du đất Bắc đến người sắc tộc thiểu số thuộc dãy Trường Sơn ? Và nhân dân ta đã phải tham gia bao nhiêu cuộc chiến tranh gọi là “mở mang bờ cõi về phương Nam” ? Nhân dân ta đã phải tham gia bao nhiêu cuộc chiến tranh để đàn áp các phong trào nổi dậy của quần chúng bị áp bức ? Và nhân dân ta đã phải tham gia bao nhiêu cuộc chiến tranh tranh quyền đoạt vị giữa các dòng họ từ loạn 12 sứ quân (945-967) của buổi đầu quốc gia độc lập đến những cuộc đánh nhau giữa Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn,

Nguyễn – Tây Sơn với khoảng thời gian 300 năm dài loạn lạc bắt đầu từ ngày Mạc Đăng Dung thoán ngôi vua Lê (1527) đến ngày Nguyễn Ánh thống nhất đất nước lên ngôi cửu ngũ gọi là vua Gia Long (1802) ? Nói thế không có nghĩa là từ ngày Gia Long trị vì đất nước ta đã thôi loạn lạc đâu Thời Gia Long (1802-1819) hàng chục thì từ thời Minh Mang (1820-1840) và các vua kế tiếp đã có hàng trăm cuộc dấy loạn của đám nông dân nghèo khổ nổi lên chống lại sự cai trị hà khắc của triều đình nhà Nguyễn

Lịch sử dân tộc đã ghi lại bao nhiêu chiến công oanh liệt của tiền nhân với những tên tuổi lẫy lừng từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương đến Ngô Quyền, Lý Thướng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung với hàng hàng, lớp lớp những chiến binh anh hùng đã đem xương máu tài bồi cho nền độc lập của Tổ Quốc ! Vậy mà, lịch sử văn học của ta hầu như không để lại một thiên anh hùng ca nào để vinh danh cho những anh hùng hoặc hữu danh hoặc vô danh của dân tộc, ngoại trừ những đoạn mô tả lại hình ảnh hào hùng của các bậc anh hào nữ kiệt trong các tác phẩm diễn ca lịch sử như Thiên Nam Ngữ Lục của Vô danh thị hay Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái !

Và một phần nữa là ở trong Ca Dao.

Trang 3

Mà người lính trong ca dao dù có được nhắc đến cũng không phải là nhiều so với những công trạng, những thử thách, những gian nguy khổ ải mà họ đã phải gánh chịu qua suốt dọc trường kỳ lịch sử của Dân Tộc Vả lại, ngày nay có căn cứ theo ca dao để phác họa lại chân dung của người lính thời xưa thì cũng khó mà phác họa một cách trung thực, bởi

lẽ, ngay trong thời kỳ quốc gia độc lập, trải qua nhiều triều đại cầm quyền, hình ảnh của người lính chắc cũng không có những thay đổi gì nhiều trong cách trang phục và những

vũ khí mà họ sử dụng Và sự thay đổi có xảy ra cũng chỉ là từ khi ta chịu ảnh hưởng phần nào của người Tây phương khi ta bắt đầu giao tiếp với họ bằng con đường tôn giáo và thương mại Vả lại, số ca dao còn lai mô tả về người lính cũng không phải là nhiều so với lượng ca dao đã được sưu tập !

Dưới đây, người viết thử phác họa lại hình ảnh của người lính thời xưa, cái thời mà nền văn minh của nước ta chưa tiếp xúc với nền văn minh Tây phương Dĩ nhiên đây chỉ là hình ảnh người lính chiến thời xưa được dân chúng khắc họa một cách không hoàn hảo,

và cũng dĩ nhiên là ta không rõ đó là hình ảnh người lính chiến thuộc triều đại nào của lịch sử Việt Nam :

Ngang lưng thì thắt bao vàng,

Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.

Một tay thì cắp hỏa mai,

Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền

Dưới đây là hình ảnh của người lính thời xưa trong một bài ca dao khác:

Lệnh bài sai trẩy Cao Bằng

Cái khăn màu đằng, cái áo màu vang

Ngang lưng anh thắt đai vàng

Vai vác quyển súng, tay mang hòm ngòi

Và trong một bài khác nữa:

Ngang lưng thì thắt cái bao

Vai vác khẩu súng con dao nạp rừng

Trang 4

Vua ban cái áo mĩ miều

Nửa nhuộm màu điều, nửa nhuộm màu xanh

Qua những câu được trích dẫn ở trên, ta thấy hình ảnh người chiến binh thời xưa được

mô tả như sau :

Đầu đội nón dấu : nón dấu là loại nón được đan bằng tre, có chóp, dùng cho binh lính

thời xưa Đôi khi, người lính còn chít khăn trên đầu trước khi đội nón (cái khăn màu đằng Màu đằng là màu tím)

Chiến y của người lính xưa thường là màu đỏ :

Lệnh triều sai trẩy Cao Bằng

Cái khăn màu đằng, cái áo màu vang

Màu vang tức là màu đỏ Ta có thành ngữ : “đỏ như vang”

Hay trong câu :

Vua ban cái áo mĩ miều

Nửa nhuộm màu điều, nửa nhuộm màu xanh

Trong bản dịch Chinh Phụ Ngâm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (cuối thế kỷ thứ 18), ta cũng thấy người chiến binh mặc áo đỏ :

Áo chàng đỏ tựa ráng pha

Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

Ngang thắt lưng có thắt một cái hầu bao màu vàng :

Ngang lưng thì thắt bao vàng .

Ngang lưng anh thắt đai vàng .

Và vũ khi của người lính thì quá nhiều :

Trang 5

Này nhé :

- Súng vác vai, hỏa mai tọng nạp

Gươm tuốt trần, giáo cắp, mộc mang

- Ngang lưng anh thắt bao vàng

Vai vác quyển súng, tay mang hòm ngòi

- Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài

Một tay thời cắp hỏa mai

Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền .

Súng đây là loại súng bắn đá gọi là “thạch cơ điểu thương”

Nhiệm vụ chính của người chiến binh là đi đánh giặc:

Chẻ tre đan nón

Tá lý khăn xanh

Đánh giặc vùng Thanh

Những khe cùng núi

Những suối cùng đèo

Phận lính thì nghèo

Tiền lương gạo hết

Ngoài nhiệm vụ đánh giặc (?), người lính thời xưa còn phải làm muôn ngàn công việc vất

vả cực nhọc :

Trang 6

Ba năm trấn thủ lưu đồn

Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan

Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai

Hay: Bài sai anh trẩy trấn Hưng

Đi những đường rừng, uống những nước khe

Ngày thời chém tre

Tối vào canh lũy

Đó là những công việc của người lính ở ngoài biên ải, ở chốn chiến trường : vất vả, gian nan, luôn luôn phải đối đầu với cái chết Nhưng người lính ở hậu phương nào có khác gì Ngay người lính ở kinh đô cũng phải làm muôn vàn công việc vất vả, gian nan, đầy nguy hiểm Chẳng hạn, đây là số phận của người lính dưới thời vua Tự Đức : “Đến năm Bính Dần (1866) là năm Tự Đức thứ 19, nhà vua đang xây Vạn Niên Cơ tức là Khiêm Lăng bây giờ, quân sĩ phải làm lụng khổ sở, có nhiều người oán giận” (2) Có thể nhân lòng dân quân oán hận nhà vua mà những người chủ trương cuộc nội loạn lật đổ nhà vua đã cho loan truyền câu ca dao sau đây để kích động lòng dân chúng :

Vạn Niên là Vạn Niên nào

Thánh xây xương lính, hào đào máu dân !

Ngoài những công việc nặng nhọc, hiểm nguy, người lính lại phải chấp nhận một cuộc sống vật chất thiếu thốn, đầy kham khổ :

Miệng ăn măng trúc, măng mai

Những giang, cùng nứa lấy ai bạn cùng ? !

Lệnh bài sai anh trẩy trấn Tuyên

Muối rang khô đúc vô ống nứa

Trang 7

Gạo nhà chùa bán chợ không đâm

Trên đây là những ghi nhận sơ lược về nhiệm vụ và đời sống vật chất thiếu thốn của người lính thời xưa Còn đời sống tình cảm của họ thì sao?

Ngoại trừ trong những giai đoạn chống giặc xâm lăng phương Bắc hay chống lại những cuộc chiến tranh phá hoại của các lân bang như Lão qua, Bồn Man, Chiêm Thành là lúc tinh thần người lính phấn chấn, họ nhận rõ được trách nhiệm của họ đối với quốc gia, dân tộc, còn trong những giai đoạn nhiễu nhương của đất nước, tinh thần của họ thật sa sút Trước hết, họ thấy mình thật cô đơn Trấn thủ nơi biên ải, họ cảm thấy như mình bị đi đày và không còn biết tin vào ai, biết nương cậy vào ai Ai cũng có thể làm cho họ nghi ngờ Họ chỉ biết tin vào định mệnh khắt khe, định mệnh tàn nhẫn, thế thôi :

Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,

Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai

Miệng ăn măng trúc măng mai

Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng!

Thân ở nơi biên ải mà hồn thì vưởng vất chốn quê nhà, thương cha thương mẹ, thương vợ thương con, ngàn mối lo không cách nào xoay xở nổi :

Thương nàng đã đến tháng sinh

Ăn ở một mình, trông cậy vào ai?

Rồi khi sinh gái sinh trai

Sớm khuya mưa nắng lấy ai bạn cùng?

Ở ngoài biên trấn, nỗi lo âu như quấn chặt lấy họ Lo gì? Nghĩ gì? Trăm mối lo ngổn ngang trong lòng :

Lính anh lính mới chưa từng

Trang 8

Vai vác khẩu súng nửa mừng nửa lo

Gánh nặng chả ai đỡ cho

Cơn nặng thì ít, cơn lo thì nhiều!

Chính những nỗi lo âu dằn vặt tâm hồn họ Họ cảm thấy thực sự bế tắc trong cuộc đời binh ngũ, vì vậy, khi có lệnh xuất quân, họ có cảm nghĩ như mình sắp đi vào tử địa Cái tâm trạng lo âu sợ hãi đã bộc lộ một cách hết sức chân thật bằng những giọt nước mắt chua cay khi có lệnh xuất quân :

Thùng thùng trống đánh ngũ liên

Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Khi nghe tiếng trống xuất quân đổ liên hồi, chàng chiến binh với cái mã ngoài đầy hào hùng với những “súng dài, hỏa mai, giáo” đã òa lên khóc ! Tội nghiệp ! Có thể chàng khóc vì phải xa cha mẹ, vợ con Có thể chàng khóc vì nhiều lý do khác nhau Nhưng chưa hẳn chàng là người hèn nhát Có thể chàng đã khóc vì một lý do chính đáng : chàng không muốn mình phải hy sinh vô nghĩa trong một cuộc chiến tranh tương tàn, tranh quyền đoạt vị giữa các dòng họ

Đây nầy :

Nàng về nuôi cái cùng con,

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng !

Cuộc chiến tranh nào đây ? Đây là cuộc chiến tranh của dòng họ vua Lê và chúa Trịnh tìm cách tiêu diệt dòng họ Mạc đang dùng Cao Bằng làm căn cứ địa cuối cùng để chống với nhà Lê !

Và đây :

Kìa ai tiếng khóc nỉ non

Ấy vợ chú lính trèo hòn Đèo Ngang !

Trang 9

Cuộc chiến tranh nào đây ? Đây là cuộc chiến tranh giữa một bên là vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài với một bên là Chúa Nguyễn ở Đàng Trong !

Và đây nữa :

Tiếng ai than khóc nỉ non

Ấy vợ lính mới trèo hòn Cù Mông .

Cuộc chiến tranh nào đây ? Đây là cuộc chiến tranh giữa chúa Nguyễn và anh em nhà Tây Sơn !

Chắc chắn chàng không phải là người chiến binh dưới ngọn cờ hào hùng của Ngô Quyền trong trận thư hùng trên sông Bạch Đằng đánh tan đoàn quân xâm lăng Nam Hán giành lại nền Độc Lập cho Tổ quốc Việt Nam năm 939 !

Chắc chắn chàng không phải là người chiến binh dưới hàng quân của Lý Thường Kiệt đã từng vượt biên giới Việt Hoa đuổi quân nhà Tống chạy cách xa biên giớiù hàng trăm dặm

và sau đó đã đánh tan quân nhà Tống trên sông Như Nguyệt để giữ vững ngọn cờ Độc Lập của Quốc gia :

Nam Quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

(Sông núi nước Nam : vua Nam coi.

Rành rành phận định ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Trang 10

Bay sẽ tan tành chết sạch toi!)

( Lý Thường Kiệt – Hoàng Xuân Hãn dịch)

Chắc chắn chàng không phải là người chiến binh dưới ngọn cờ bách thắng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 3 lần chiến thắng đoàn quân Nguyên hùng hổ nhất thời bấy giờ

đã từng kéo quân từ Âu sang Á và đến Việt Nam phải khuất phục dưới sức đề kháng kiên cường của quân dân thời nhà Trần !

Sâu nhất là sông Bạch Đằng

Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan !

Chắc chắn chàng không phải là người chiến binh của Bình Định Vương Lê Lợi xuất quân

từ Lam Sơn rồi kéo thẳng ra Đông Đô đúng như lòng ước nguyện của muôn dân :

Lạy trời cho cả gió lên

Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành !

đuổi quân nhà Minh chạy về phương Bắc không dám ngoái đầu lại nhìn đất Đại Việt oai hùng !

Chắc chắn chàng không phải là người chiến binh dưới hàng quân của Quang Trung Nguyễn Huệ trong cái ngày xuất quân từ Phú Xuân ra Bắc Hà để tiêu diệt đội quân xâm lăng của Tôn Sĩ Nghị đang nằm chờ chết ở gò Đống Đa phía nam kinh thành Thăng Long

! “Tinh thần chiến đấu của binh đội Tây Sơn theo nhận xét của nhiều nhà truyền giáo ngoại quốc, rất là cao Người lính nào cũng gan dạ, thuần thục, một chống nổi mười nên đánh đâu thắng đấy” (3) :

Anh đi theo chúa Tây Sơn

Em về cày cuốc mà thương mẹ già !

Trên đây là những thời kỳ oai hùng trong lịch sử dân tộc Mọi người dân đều nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình đối với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc Đứng trước tình trạng sinh tử của đất nước, họ đã nêu cao tinh thần ái quốc một cách triệt để Mọi tình cảm gia đình đều được để riêng một bên, chỉ còn lại tinh thần trách nhiệm cao độ của người con trai đối vối quốc gia:

Con cò lặn lội bờ sông

Trang 11

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng ơi trở lại cùng con

Để anh đi trẩy nước non kịp người

Cho kịp chân ngựa, chân voi

Cho kịp chân người kẻo thiếu việc quan!

Hay:

Lên voi thúc một hồi còi

Thương cha, nhớ mẹ, lệnh đòi phải đi!

Ngay cả người phụ nữ, những người mẹ, người vợ cũng khuyên con, khuyên chồng làm tròn nghĩa vụ của một người dân đối với đất nước :

Khuyên anh đi lính cho ngoan

Cho dân được cậy, cho quan được nhờ

Họ khuyên chồng con đi lính, mọi việc gia đình họ hứa sẽ chu toàn cho người đàn ông khỏi bận tâm:

Chàng ơi, phải lính thì đi

Cửa nhà đơn chiếc đã thì có tôi

Chính tinh thần trách nhiệm của người đàn bà (người vợ) cộng với tinh thần trách nhiệm của mình mà người chiến binh đã có thể an lòng giao việc phụng thờ tiên tổ cho vợ hiền

để chàng theo vua ra trấn biên ải giữ vững an ninh cho Tổ quốc :

Khen ai khéo tiện ngù cờ

Khéo xây bàn án, khéo thờ tổ tiên

Ngày đăng: 20/01/2014, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w