1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh đăk nông

135 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 311,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một bộphận CBQL và giáo viên trường THPT chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, ýnghĩa và tầm quan trọng của công tác kiểm định chất lượng giáo dục; chất lượngbáo cáo tự đánh giá của nhiều tr

Trang 1

NGUYỄN ĐỨC HƯNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK NÔNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 8 14 01 14

Người hướng dẫn: TS MAI XUÂN MIÊN

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.

Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung cam đoan trên.

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Hƣng

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, cùng tập thể các thầy cô giáo Khoa Tâm lý Giáo dục và Công tác xã hội (nay là Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn) Trường Đại học Quy Nhơn đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Mai Xuân Miên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở GD&ĐT Đắk Nông và các phòng ban thuộc Sở đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện về thời gian, đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn.

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhưng

do điều kiện và năng lực còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các nhà khoa học, quý thầy cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp góp ý chỉ bảo để luận văn được hoàn thiện hơn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Đắk Nông, tháng 9 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Đức Hưng

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Hội nghịTrung ương 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thịtrường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế đã khẳng định: “trong thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạtđược những thành tựu quan trọng… Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục

và đào tạo còn thấp so với yêu cầu…” [25]

Ngày nay, nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóanên rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao Để đáp ứng yêu cầu nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực, chúng ta không thể không chú trọng chất lượng, hiệuquả giáo dục và đào tạo Đây cũng là một yêu cầu khách quan trước xu thếhội nhập quốc tế và cũng là yếu tố mang tính quyết định đối với các cơ sởgiáo dục Chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung, chất lượng giáo dụctrung học phổ thông (THPT) nói riêng, ngày càng được xã hội quan tâm.Hiện nay, nó trở thành yếu tố sống còn đối với các cơ sở giáo dục Mọi hoạtđộng giáo dục được thực hiện đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượnggiáo dục, trong đó hoạt động KĐCLGD cần được xem là một trong nhữnggiải pháp quan trọng mà các cơ sở giáo dục cần triển khai

Kiểm định chất lượng giáo dục không những khẳng định về chất lượngđào tạo mà còn mang lại cơ hội và động cơ để nâng cao chất lượng cho cáctrường đã qua kiểm định Kiểm định chất lượng giáo dục nói chung, kiểmđịnh chất lượng các cơ sở giáo dục phổ thông nói riêng là một nhiệm vụ cầnthiết và quan trọng, góp phần làm chuyển biến và nâng cao chất lượng giáodục trong giai đoạn hiện nay

Kiểm định chất lượng giáo dục đã được Bộ GD&ĐT xác định là một giải

Trang 5

pháp quản lý giáo dục quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục, đánh giáhiện trạng, xác định chính xác các điểm mạnh, điểm yếu của các cơ sở giáodục Từ đó xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng phát huy điểm mạnh, khắcphục điểm yểu nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường.

Trong quản lý chất lượng giáo dục, kiểm định chất lượng giáo dụcđược coi là giải pháp, công cụ, phương tiện xây dựng “văn hóa chất lượng”của các cơ sở giáo dục, mục tiêu cuối cùng là phải làm cho mỗi cơ sở giáo dụcđều hiểu rằng chất lượng là vấn đề sống còn của chính mình

Trước yêu cầu mới về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới cănbản, toàn diện GD&ĐT, tiến tới thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới,chúng ta cần tiếp tục tăng cường công tác kiểm định chất lượng giáo dục Cùngvới việc triển khai hoạt động kiểm định chất lượng bậc đại học, hoạt động kiểmđịnh chất lượng cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và thường xuyên đã được

Bộ GD&ĐT chỉ đạo triển khai hơn 10 năm qua và có những kết quả đáng ghinhận Theo báo cáo công tác kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục mầmnon, phổ thông, thường xuyên giai đoạn 2015-2017, hoạt động kiểm định chấtlượng giáo dục tiếp tục đổi mới, các giải pháp phát huy hiệu quả và đã đạt đượcnhững kết quả rất quan trọng, góp phần duy trì đảm bảo và nâng cao chất lượnggiáo dục các nhà trường Tính đến tháng 5/2017, toàn ngành có 29,8% trườngTHPT đã được đánh giá ngoài [50] Tuy nhiên, thời gian qua, công tác kiểmđịnh chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và thường xuyênxuất hiện những hạn chế, bất cập

Bên cạnh các địa phương triển khai hiệu quả, còn có các địa phương triểnkhai hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục chưa tốt Hoạt động đánh giángoài do 63 Sở GD&ĐT tiến hành, vì thế khó có thể bảo đảm tất cả các trườngtại các địa phương được đánh giá như nhau, tạo nên sự bất cập trên phạm vi vĩ

mô Việc được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục chưa

Trang 6

có ý nghĩa thực sự đối với các nhà trường Chính vì vậy, hơn bao giờ hết,kiểm định chất lượng giáo dục là giải pháp quan trọng để nâng cao chấtlượng giáo dục, là nhiệm vụ cấp bách của toàn ngành giáo dục.

Tại tỉnh Đắk Nông, sau tám năm triển khai công tác kiểm định chấtlượng giáo dục ở các trường phổ thông nói chung và trường THPT nói riêng

đã đạt được những kết quả quan trọng Theo Công văn số QLCL ngày 05/6/2018 của Sở GD&ĐT Đăk Nông về việc báo cáo kết quảkiểm định CLGD năm học 2017-2018, thống kê số liệu tính đến ngày31/5/2018, có 76,47% trường THPT đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá, trong

1024/SGDĐT-đó có 44,12% trường đã được đánh giá ngoài [46]

Kết quả trên cũng là đáng ghi nhận; tuy nhiên, công tác kiểm định chấtlượng giáo dục trường THPT còn tồn tại một số khó khăn và hạn chế Một bộphận CBQL và giáo viên trường THPT chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, ýnghĩa và tầm quan trọng của công tác kiểm định chất lượng giáo dục; chất lượngbáo cáo tự đánh giá của nhiều trường chưa đạt yêu cầu, chưa phản ánh đượcchất lượng và thực tiễn của cơ sở giáo dục; một số trường chỉ đạo thiếu kiênquyết, không thực hiện triển khai đúng tiến độ, chưa quan tâm đúng mức đếncông tác tự đánh giá; việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đánh giá ngoàichưa tương xứng và hiệu quả chưa cao; số trường THPT được đánh giá ngoàicòn thấp Vì vậy, trong thời gian đến, ngành Giáo dục tỉnh Đăk Nông cần tậptrung đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai công tác kiểm định chất lượng cáctrường THPT Là một cán bộ làm công tác kiểm định chất lượng của SởGD&ĐT Đăk Nông, để hỗ trợ cho công tác, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài

“Quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” với mong muốn góp phần nâng cao hiệu

quả công tác kiểm định chất lượng các trường THPT trên địa bàn tỉnh ĐắkNông nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Trang 7

theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, luận giải cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểmđịnh chất lượng giáo dục trường THPT và khảo sát thực trạng quản lý hoạtđộng kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường THPT tỉnh Đắk Nông,luận văn hướng tới đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động kiểm định chấtlượng giáo dục trường THPT trên địa bàn tỉnh, góp phần giúp cơ sở giáo dụctăng cường công tác đảm bảo chất lượng, có kế hoạch cải tiến, nâng cao chấtlượng giáo dục trong nhà trường Đồng thời góp phần nâng cao năng lực của

Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Nông trong việc đánh giá và công nhận cơ sở giáo dụcđạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục các trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục các trường THPTtrên địa bàn tỉnh Đắk Nông

4 Giả thuyết khoa học

Kiểm định chất lượng giáo dục THPT là một giải pháp quản lý giáo dụcquan trọng, giúp nhà trường THPT cải tiến liên tục nhằm đảm bảo và nâng caochất lượng giáo dục nhà trường Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục cáctrường THPT ở tỉnh Đắk Nông hiện nay còn khá nhiều bất cập Nếu nghiên cứu

lý luận và thực trạng quản lý hoạt động kiểm định chất lượng các trường THPT

ở tỉnh Đắk Nông một cách khoa học thì có thể đề xuất được các biện pháp quản

lý phù hợp với thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm định chấtlượng giáo dục các trường THPT trên địa bàn tỉnh, giúp các

Trang 8

trường cải tiến liên tục để đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT công lập trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục các trường THPT công lập trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

- Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp do luận văn đề xuất

6 Phạm vi nghiên cứu

Kiểm định chất lượng trường THPT gồm các hoạt động: Tự đánh giácủa nhà trường, đánh giá ngoài và công nhận kết quả Do thời gian, điều kiện

có hạn, tác giả nghiên cứu các biện pháp quản lý của Phòng chức năng thuộc

Sở GD&ĐT đối với hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trườngTHPT công lập tỉnh Đắk Nông

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, khái quát những vấn đề lý luận về kiểm định chấtlượng giáo dục và quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục cáctrường THPT để xây dựng khung lý luận của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát thực tế việc triển khai và quản lý công tác kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường THPT tỉnh Đắk Nông

- Phương pháp khảo sát, điều tra bằng phiếu hỏi: Thu thập ý kiến đánhgiá của CBQL, giáo viên và nhân viên về các vấn đề liên quan đến hoạt động

Trang 9

kiểm định chất lượng các trường THPT trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: đó là báo cáo tự đánh giá nhà trường và các minh chứng kèm theo

- Phương pháp phỏng vấn các cán bộ tham gia công tác kiểm định chất lượng để bổ sung thông tin cho kết quả khảo sát thực trạng bằng bảng hỏi

- Phương pháp khảo nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá tính khả hi tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất

7.3 Phương pháp bổ trợ

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý, phân tích các số liệu của đề tài; sử dụng các bảng biểu, sơ đồ…

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm định chất lượng

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ngoài nước

Thực tế, từ những năm 1930 và 1940, ở Hoa Kỳ, tư tưởng về đảm bảochất lượng và quản lý chất lượng tổng thể (TQM) đã được một số học giả khởixướng và phát triển; trong đó phải kể tên tuổi của W Edwards Deming, Walter

A Shewart,… Là người đi tiên phong trong quản lý chất lượng, W EdwardsDeming (1900-1993) đã có ảnh hưởng lớn như như một nhà lý luận về quản lý

và nổi tiếng tại Nhật Bản từ những năm 1950 khi được mời trở lại để giảng vềKiểm soát chất lượng bằng thống kê Ứng dụng phương pháp Kiểm soát quátrình thống kê của Walter A Shewhart vào tính toán và quản lý tiến trình công

việc, Deming đã phát triển thành chu trình PDCA (Plan - Do - Check - Act, tức

là Lập kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Hành động cải tiến) - “được coi là

phương pháp đầu tiên cho quản lý cải tiến chất lượng liên tục.” [32]

Trong môi trường kinh doanh, đảm bảo chất lượng được xem là mộtquá trình mà ở đó một nhà sản xuất phải đảm bảo với khách hàng là sản phẩmhay dịch vụ của mình luôn đáp ứng được chuẩn mực Trong giáo dục, kiểmđịnh chất lượng được xem là một trong những hoạt động của hệ thống đảmbảo chất lượng, là giải pháp hữu hiệu được nhiều nước trên thế giới sử dụng

để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

Theo Phạm Xuân Thanh (2014) [49], KĐCLGD có nguồn gốc từ Hoa

Kỳ và Bắc Mỹ từ hơn 100 năm nay, và hiện nay đang được nhiều nước sử

Trang 11

dụng Trên thế giới hiện có hơn 150 nước có hệ thống quốc gia đảm bảo vàKĐCLGD Hoa Kỳ là một trong những nước có hệ thống đảm bảo vàKĐCLGD lâu đời và cũng là quốc gia tiên phong trong lĩnh vực KĐCLGD,ban đầu là với các trường đai học Hiện nay, ở Hoa Kỳ có 56 tổ chức kiểmđịnh chất lượng độc lập, phần lớn đều do khu vực tư nhân hoặc hiệp hội nghềnghiệp đảm nhiệm (tính đến 2013) Nhà nước Liên bang chỉ thành lập Ủy ban

tư vấn quốc gia về chất lượng và liêm chính đại học (NACIQI), giao tráchnhiệm công nhận, quản lý và hỗ trợ các tổ chức, trung tâm kiểm định chấtlượng độc lập trên toàn nước Mỹ

Hiện nay, trên thế giới có nhiều mạng lưới tổ chức chất lượng/ đảmbảo chất lượng như: Mạng lưới các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đạihọc quốc tế (International Network for Quality Assurance Agencies in HigherEducation – INQAAHE); Mạng lưới chất lượng châu Á - Đắk Nông Dương(Asia-Pacific Quality Network – APQN); Mạng lưới đảm bảo chất lượngASEAN (ASEAN Quality Assurance Network – AQAN); Mạng lưới cáctrường đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network - QualityAssurance, viết tắt là AUN-QA)… Ở các quốc gia Đông Nam Á, mô hìnhđảm bảo chất lượng cũng rất đa dạng, nhưng điểm chung là hầu hết các tổchức/ cơ quan đảm bảo chất lượng quốc gia đều do nhà nước thành lập, đượcnhà nước cấp kinh phí và chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kiểm định chất lượng

Theo Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO)(2002), ĐBCLGD có thể là những quan điểm, chủ trương, chính sách, mụctiêu, hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, mà thông qua sự hiện diện và

sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng sứ mạng và mục tiêu giáo dục đang đượcthực hiện, các chuẩn mực đang được duy trì và nâng cao ĐBCLGD là thuậtngữ chung đề cập đến một loạt các biện pháp và cách tiếp cận, sử dụng đểnâng cao chất lượng giáo dục

Trang 12

“Khung đảm bảo chất lượng trong khu vực” của SEAMEO (2003) đã

chỉ ra: Hệ thống ĐBCL đào tạo bao gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, các quátrình và các nguồn lực cần thiết của các cơ sở đào tạo dùng để thực hiện quản

lý đồng bộ, nhằm đạt được những tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số cụ thể donhà nước ban hành, để nâng cao và liên tục cải tiến chất lượng đào tạo nhằm

thỏa mãn yêu cầu của người học và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động [40]

Theo Phạm Xuân Thanh (2014), ĐBCLGD có thể là đánh giá chấtlượng giáo dục (education quality assessment), kiểm toán chất lượng (qualityaudit) và KĐCLGD (education quality accreditation) KĐCLGD nhằm gópphần đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục; xác nhận mức độ cơ sở giáodục đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định; làm căn cứ để cơ

sở giáo dục giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và xãhội về thực trạng chất lượng đào tạo; làm cơ sở cho người học lựa chọn cơ sởgiáo dục và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực [49]

Trong “Quản lý chất lượng trong các trường học”, D Warren Piper

(1993) đã xác định các chức năng đảm bảo chất lượng của cơ sở đào tạo baogồm: xác lập chuẩn, xây dựng quy trình, xác định tiêu chí đánh giá và vậnhành, đo lường, đánh giá, thu thập và xử lý số liệu [40]

Hội đồng Kiểm định giáo dục đại học (Council for Higher EducationAccreditation – CHEA) của Hoa Kỳ (2003) định nghĩa: “Kiểm định chấtlượng là một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đạihọc sử dụng để khảo sát, đánh giá các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạonhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng.” [22]

Như vậy, trên thế giới, KĐCLGD đã có một lịch sử phát triển lâu dài ởHoa Kỳ và Bắc Mỹ, nhưng trước đây ít được các nước khác biết đến Hiệnnay KĐCLGD ngày càng trở nên phổ biến hơn, bởi nó chứng tỏ là một công

cụ hữu hiệu giúp nhiều quốc gia trên thế giới duy trì các chuẩn mực chất

Trang 13

lượng giáo dục và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

KĐCLGD là một trong những hoạt động đảm bảo chất lượng bên ngoài

cơ sở đào tạo Mục tiêu chính của KĐCLGD là nhằm đảm bảo đạt đượcnhững chuẩn mực nhất định trong đào tạo và không ngừng cải tiến, nâng caochất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng nguồn nhân lực vàđảm bảo quyền lợi cho người học Ở một số nơi, KĐCLGD còn nhằm mụcđích giải trình với xã hội, với các cơ quan quyền lực hay với các cơ quan, tổchức tài trợ, cấp kinh phí Ngoài ra, KĐCLGD còn nhằm đưa ra các quyếtđịnh công nhận về mức độ tiến bộ và ĐBCLGD tại các cơ sở giáo dục…

Tóm lại, tổng quan một số nghiên cứu về đảm bảo và kiểm định chấtlượng giáo dục ở ngoài nước, có thể đi đến một số nội dung sau: Một tổ chức

có chất lượng thì sản phẩm hay dịch vụ của nó sẽ có chất lượng Đặc trưngchất lượng của sản phẩm và dịch vụ cũng không hoàn toàn giống nhau do sựkhác nhau giữa sản phẩm và dịch vụ Trong giáo dục, đảm bảo chất lượng cóthể liên quan đến một chương trình đào tạo hay một cơ sở giáo dục

Mỗi mạng lưới tổ chức chất lượng đều đưa ra khung đảm bảo chấtlượng bao gồm các khía cạnh chiến lược, hệ thống và thực hiện chức năng,với các tiêu chuẩn mở theo một khung ma trận có thể hỗ trợ linh hoạt lựachọn các tiêu chuẩn thích hợp cho từng cấp độ chương trình đào tạo hay cơ sởgiáo dục

Mỗi cơ sở giáo dục có một quy trình đảm bảo chất lượng bên trongriêng và có thể sử dụng nó theo cách riêng của mình để quản lý, cải tiến vàphát triển Tổ chức/ cơ quan KĐCLGD thực hiện đánh giá chất lượng bênngoài (kiểm định chất lượng) để đưa ra báo cáo về các ưu điểm và khuyếnnghị để cho các cơ sở giáo dục tự cải tiến, nâng cao chất lượng

Hệ thống ĐBCL bên trong bao gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, các quátrình và các nguồn lực cần thiết của các cơ sở giáo dục dùng để thực hiện

Trang 14

quản lý đồng bộ, đạt được những tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số cụ thể donhà nước ban hành.

Các chức năng kiểm định chất lượng của cơ sở giáo dục bao gồm: xáclập chuẩn; xây dựng các quy trình; xác định các tiêu chí đánh giá; vận hành

đo lường, đánh giá, thu thập và xử lý số liệu

Bên trên là một số luận điểm được rút ra từ công bố của các tổ chứcchất lượng và các nghiên cứu về đảm bảo và KĐCLGD trên thế giới Nhữngluận điểm này có thể được kế thừa và phát triển khi nghiên cứu về quản lýđảm bảo và kiểm định chất lượng ở Việt Nam

1.1.2 Trong nước

Bước vào thế kỷ XXI, trước sự phát triển vượt bậc của cuộc cáchmạng công nghiệp 4.0 với kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá, hội nhậpquốc tế, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức lớn, đòi hỏicác nhà quản lý quốc gia ý thức được sâu sắc và thực sự thức tỉnh về vai trò,sức mạnh to lớn của giáo dục trong công cuộc chấn hưng đất nước mình.Trong bối cảnh đó, giáo dục Việt Nam không những phải mở rộng quy mô màcòn phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhằm cungcấp được nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,hiện đại hóa, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước

Nhận thức về vai trò quan trọng của đảm bảo và KĐCLGD trong việcchấn hưng nền giáo dục, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nướctrong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, ngay từ thập niên đầu của thế

kỷ XXI, Đảng, Nhà nước cũng như Bộ GD&ĐT đã quan tâm xây dựng vàphát triển hệ thống đảm bảo và KĐCLGD tuy đây là những vấn đề tuy cònkhá mới ở Việt Nam Năm 2002, ở cấp quốc gia, một đơn vị chuyên tráchkiểm định chất lượng mới hình thành thuộc Vụ Đại học, sau đó là Cục Khảothí và KĐCLGD thuộc Bộ GD&ĐT (3003), và hiện nay là Cục Quản lý chất

Trang 15

lượng - Bộ GD&ĐT (2017) Tương tự như nhiều nước khác, ở Việt Nam,việc xây dựng một hệ thống đảm bảo và KĐCLGD ở cấp quốc gia có ý nghĩahết sức quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực và không ngừng nâng caochất lượng giáo dục; vì vậy, hệ thống này liên tục được củng cố và phát triểntheo xu thế chung của quốc tế Đối với các cơ sở giáo dục, đảm bảo vàKĐCLGD sẽ trở thành công cụ hữu hiệu giúp các nhà trường tổ chức đào tạo

có chất lượng và có hiệu quả tương xứng với các điều kiện hiện có của nhàtrường, kiểm soát và đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao nănglực cạnh tranh cho các cơ sở giáo dục

Bên cạnh phát triển hệ thống đảm bảo và KĐCLGD, việc phát triển hệthống văn bản quy phạm pháp luật về KĐCLGD, kể cả những văn bản quyphạm pháp luật ở cấp cao nhất cũng đã được các cấp cơ quan nhà nước đãđược xây dựng và ban hành

Luật Giáo dục năm 2005 lần đầu tiên đưa vào khái niệm “kiểm định chấtlượng”; tại “Điều 17 Kiểm định chất lượng giáo dục” nêu rõ: “Kiểm định chấtlượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu,chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác.Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cảnước và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dụcđược công bố công khai để xã hội biết và giám sát.” Tại “Điều

58 Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường” cũng ghi rõ: “Tự đánh giá chấtlượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩmquyền kiểm định chất lượng giáo dục.” [38] Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật giáo dục năm 2009, tại Điều 1, Khoản “31 Bổ sung Mục 3a Chương VII” vềkiểm định chất lượng giáo dục gồm 3 điều (110a, 110b, 110c) lần lượt nêu rõ:

“Nội dung quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục”; “Nguyên tắckiểm định chất lượng giáo dục”; “Tổ chức kiểm định

Trang 16

chất lượng giáo dục” [38].

Tiếp đó, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản quy định chi tiết vàhướng dẫn thực hiện, gồm: Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LuậtGiáo dục; trong đó đã dành toàn bộ Chương VII để hướng dẫn về công táckiểm định chất lượng giáo dục, gồm 3 điều (38, 39, 40) lần lượt nêu rõ về:

“Quản lý nhà nước về công tác kiểm định chất lượng giáo dục”; “Các tổ chứcquản lý và tổ chức kiểm định chất lượng”; “Kết quả kiểm định chương trình

và cơ sở giáo dục” [19]; Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11/5/2011 củaChính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CPngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Luật Giáo dục; trong đó Khoản 14 và 15 Điều 1 nêu rõ sửa đổi, bổsung Điều 38 và 39 của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP

Công tác đảm bảo và KĐCLGD cũng được quy định cụ thể trong các

văn bản quan trọng khác của Chính phủ như: Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6

năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ); trong đó, khi xác định “Đổi mới quản

lý giáo dục” như một trong các giải pháp phát triển giáo dục giai đoạn

2011-2020, có nêu rõ: “Tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục: chuẩn hóa đầu

ra và các điều kiện đảm bảo chất lượng trên cơ sở ứng dụng các thành tựumới về khoa học giáo dục, khoa học công nghệ và khoa học quản lý, từngbước vận dụng chuẩn của các nước tiên tiến; công khai về chất lượng giáodục, các điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và tài chính của các cơ sở giáodục; thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục; xâydựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, thực hiện kiểm địnhchất lượng cơ sở giáo dục của các cấp học, trình độ đào tạo và kiểm định cácchương trình giáo dục nghề nghiệp, đại học.” [20]

Trang 17

Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quytrình và chu kỳ KĐCLGD, các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục, kèmtheo đó là các văn bản hướng dẫn chi tiết để triển khai thực hiện hoạt động tựđánh giá và đánh giá ngoài trong KĐCLGD (xin xem các tài liệu từ [4] đến [15]trong Danh mục tài liệu tham khảo của luận văn) Các văn bản quy phạm phápluật là những công cụ pháp lý quan trọng để triển khai các hoạt động KĐCLGD

ở Việt Nam Các văn bản đó còn tạo ra một hành lang pháp lý để đảm bảo chocông tác KĐCLGD được triển khai một cách ổn định và bền vững

Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật như là những công cụ pháp

lý quan trọng để triển khai các hoạt động đảm bảo và KĐCLGD, vấn đề chấtlượng, quản lý và đảm bảo chất lượng cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều

nhà nghiên cứu Trong công trình “Kiểm định chất lượng trong giáo dục”,

Nguyễn Đức Chính (2002) đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của kiểm địnhchất lượng và vai trò, cũng như tác dụng của hoạt động kiểm định chất lượngtrong việc nâng cao chất lương các hoạt động của các cơ sở giáo dục Bêncạnh đó, tác giả cũng đề cập đến quy trình KĐCLGD [18] Trần Thanh Bình

(2009) trong “Một số vấn đề của kiểm định chất lượng giáo dục” cho rằng:

KĐCLGD đã có những đóng góp hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo vànâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Ở Việt Nam, khái niệm này vẫn cònkhá mới mẻ vì chỉ mới xuất hiện vài năm trở lại đây, chưa được xã hội và cácnhà quản lý giáo dục hiểu rõ và quan tâm tương xứng với tầm quan trọng của

nó Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò và tác dụng của KĐCLGD THPT sẽ gópphần tích cực vào chiến lược đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đàotạo bậc THPT trong giai đoạn hiện nay [3]

Sau hơn 10 năm triển khai công tác KĐCLGD do Bộ GD&ĐT giaophó, để giúp các nhà giáo, nhà quản lý và các đối tượng có liên quan nhanhchóng hiểu một cách thống nhất các khái niệm, nội dung, quy trình, công cụ

Trang 18

KĐCLGD, góp phần nhanh chóng nâng cao nhận thức, tạo mối quan tâm vàtăng cường năng lực chuyên môn về KĐCLGD nói chung, Phạm Xuân Thanh(2014) – bấy giờ là Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và KĐCLGD, Bộ GD&ĐT

–đã xây dựng tài liệu “Tổng quan về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam” [49] Trước đó, để giúp các nhà quản lý, nhà giáo ở các

trường phổ thông chủ động trong việc nâng cao nhận thức, năng lực chuyênmôn và triển khai hoạt động KĐCLGD, Lê Đức Ngọc (2009) đã biên soạn tài

liệu tập huấn “Tổng quan về kiểm định và đảm bảo chất lượng về giáo dục phổ thông” [39] Các cuốn tài liệu này được coi là cẩm nang đối với các nhà

quản lý giáo dục, các nhà giáo, các chuyên gia KĐCLGD, các cơ sở giáo dục

và những người quan tâm đến đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo củanước nhà

Một số tác giả cũng đã quan tâm đến vấn đề kiểm định chất lượng giáo

dục phổ thông Dương Nguyên Quốc (2013) trong bài viết “Vai trò của kiểm định chất lượng đối với giáo dục trung học phổ thông” đã xem chất lượng giáo

dục như yếu tố sống còn đối với các cơ sở giáo dục THPT Bài báo làm rõ vaitrò của kiểm định chất lượng đối với giáo dục THPT, nêu lên một số yếu tố ảnhhưởng tiêu cực đến hoạt động KĐCLGD, đồng thời đề xuất một số giải phápnhằm đẩy mạnh hoạt động KĐCLGD ở bậc học này [41] Tác giả Phạm Quốc

Toản (2018) trong bài viết “Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội”, đã đi đến kết luận: “KĐCLGD trường

THPT đã, đang và sẽ giúp cho Sở GD&ĐT rất nhiều trong công tác quản lý cáctrường THPT một cách chặt chẽ và toàn diện Thông qua KĐCLGD thúc đẩytrường THPT cải tiến các điều kiện đảm bảo chất lượng của trường và giúp cáctrường hình thành văn hóa chất lượng trong nhà trường

Tuy nhiên, KĐCLGD trường THPT hiện nay vẫn còn nhiều bất cập vềphân cấp quản lý, về nhận thức của các trường THPT, về tiêu chuẩn đánh giá

Trang 19

chất lượng trường THPT, về công nhận đạt yêu cầu kiểm định, về cơ chế tàichính, về kiểm định viên…, là các vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu vàgiải quyết.” [51].

Vấn đề chất lượng giáo dục và quản lý chất lượng giáo dục cũng đãđược đưa vào chương trình đào tạo đại học và sau đại học Trong giáo trình

sau đại học “Quản lý chất lượng trong giáo dục” [32], Nguyễn Tiến Hùng

(2014) đã đặt ra câu hỏi: “Chất lượng trong giáo dục là chất lượng của sảnphẩm hay dịch vụ?”, và theo tác giả, “cần phân biệt sự khác nhau giữa sảnphẩm và dịch vụ để tìm ra cách làm thế nào để chất lượng trong giáo dụcđược đảm bảo.” Tác giả cho rằng: “Thực tế, các đặc trưng của chất lượngdịch vụ thường khó xác định so với sản phẩm vật chất, vì chúng bao gồmnhiều thành tố chủ quan.”, và tác giả đã khái quát, dịch vụ khác với sản phẩm

ở bảy (7) điểm chính; từ đó đi đến kết luận: “Như vậy để có thể phân tích chấtlượng thì cách tiếp cận hợp lý hơn là xem xét giáo dục như “công nghiệp”dịch vụ hơn là quá trình sản phẩm Một khi quan điểm này được thiết lập thì

hệ thống giáo dục và/ hay cơ sở giáo dục cần xác định rõ các dịch vụ cần cungcấp và các chuẩn mực chất lượng hợp lý để tuân thủ khi cung cấp dịch vụ.”[32, 19-22]

Liên quan trực tiếp đến đề tài là các nghiên cứu về quản lý hoạt độngđánh giá, KĐCLGD trường phổ thông Thực tế đã có một số luận văn thạc sĩ

nghiên cứu về vấn đề này, như: Vũ Dương Uyên (2011), “Quản lý đánh giá chất lượng giáo dục các trường trung học phổ thông tại tỉnh Tuyên Quang theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ QLGD, người hướng dẫn khoa hoc: Nguyễn Hữu Châu [52]; Phạm Thị Như Phong (2014), “Quản lý hoạt động kiểm định chất lượng các trường THPT công lập ở tỉnh Thái Bình”, Luận văn thạc sĩ QLGD,

người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Tính [40]; Lê Trường Sơn

Trang 20

(2016), “Quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ QLGD, người hướng

dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quang Trình [42]… Những công trình nghiêncứu này đã tập trung làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của công tácquản lý hoạt động đánh giá, KĐCLGD ở các trường THPT Trên cơ sở đó cáctác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt độngđánh giá, kiểm định chất lượng ở các trường THPT trên địa bàn triển khai đềtài nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên đây cũng như những công trìnhnghiên cứu đã dẫn ra ở trên là những gợi dẫn khoa học quý báu để chúng tôi

kế thừa và phát triển trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.1.1 Quản lý

James Stoner và Stephen Robbins cho rằng: “Quản lý là tiến trìnhhoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thànhviên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt

được mục tiêu đã đề ra” [17].

Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phâncông, hợp tác lao động Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệuquả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phốihợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý phải có người đứng đầu Đây là hoạtđộng để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm,trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra” [1]

Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm: “Quản lý là sựtác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tớiđối tượng quản lý - trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt

Trang 21

được mục đích của tổ chức” [15] Theo đó, các tác giả phân định rõ hơn vềhoạt động quản lý; đó là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vậndụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.

Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất định nghĩa kháiniệm quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có chủ định, hướng đíchcủa chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các hoạt động hướngtới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của môi trường

Như vậy, quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủthể quản lý; đối tượng quản lý; mục tiêu quản lý; công cụ, phương tiện quảnlý; cách thức quản lý (có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình) và môitrường quản lý Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hìnhthành nên quy luật và tính quy luật quản lý

Có thể biểu diễn cấu trúc hệ thống quản lý như ở sơ đồ sau:

Công cụ/

phương tiện

Chủ thể quản lí

Trang 22

đưa ra dưới các góc độ khác nhau:

Theo Phạm Minh Hạc, “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lýgiáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái nàysang trạng thái khác và dần dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [29]

Theo Trần Kiểm, “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tựgiác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủthể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống từ cấp cao nhất đến các cơ sởgiáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáodục đào tạo mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [33]

Nói cách khác, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kếhoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả cáckhâu, các yếu tố của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong

hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển toàn diện cả về chấtlượng lẫn số lượng

Tóm lại, quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chứccủa các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạyhọc - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mụctiêu giáo dục do Nhà nước đề ra

Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạtkhác nhau, song mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: chủ thểquản lý giáo dục; khách thể quản lý giáo dục; mục tiêu quản lý giáo dục;ngoài ra còn phải kể tới cách thức và công cụ quản lý giáo dục

Trang 23

tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dụcnào từ Trung ương đến địa phương Quản lý nhà trường là một loại hình đặcthù của quản lý giáo dục và là cấp độ quản lý giáo dục vi mô.

Theo Phạm Minh Hạc, “Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lýđội ngũ giáo viên, quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên, tức là làmsao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới

mục đích giáo dục” [29].

Như vậy, quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích,

có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý (Ban Giám hiệu, các bộ phậnchức năng, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cấp trên) nhằm làm choquá trình giáo dục nói chung và các hoạt động giáo dục - dạy học cụ thể đượctiến hành trong nhà trường đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục củacấp học, bậc học và các mục tiêu phát triển nhà trường

1.2.2 Chất lượng, chất lượng giáo dục, kiểm định chất lượng giáo dục

1.2.2.1 Chất lượng

Chất lượng là một khái niệm động, nhiều chiều và có tính tương đối; vìvậy, có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau, phản ánh các quan niệm

cá nhân và xã hội khác nhau, và không có một định nghĩa nào duy nhất đúng

về chất lượng Cho nên khó có thể nói đến chất lượng như một khái niệmđơn nhất mà nên hiểu chất lượng theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối

Chất lượng hiểu theo nghĩa tuyệt đối - đó là thuộc tính hay bản chấtcủa chất lượng “Thuật ngữ chất lượng bắt nguồn từ chữ Latinh “qualis” - cónghĩa là “bản chất của cái gì đó” Chất lượng của cái gì đó chính là phầnthuộc tính hay bản chất của nó, là cái vốn có của mỗi sự vật, nó tồn tại kháchquan và mọi người phải thừa nhận (Sallis, 1993 và 2002).” [32, 15]

Theo cách hiểu này, chất lượng là “Cái tạo nên bản chất của sự vật, làm

cho sự vật này khác với sự vật kia” (theo Đại từ điển tiếng Việt - Nguyễn Như Ý

Trang 24

chủ biên) [56] Chất lượng là “mức hoàn thiện, đặc trưng so sánh hay đặc trưng

tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (theo Oxford Pocket Dictionary) Có nhiều định nghĩa chất lượng được thể hiện trên một tập

hợp nhiều đặc tính của thực thể: Chất lượng sản phẩm là tổng thể những thuộctính của nó quy định tính thích hợp của sản phẩm để thoả mãn và phù hợp vớicông dụng của nó; Chất lượng là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩmđược xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được, nhữngthông số này lấy ngay trong sản phẩm đó hoặc giá trị sử dụng của nó

Tuy nhiên, trong thực tế thì một sản phẩm hay dịch vụ chỉ được coi là

có chất lượng khi nó có khả năng thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng Theocách hiểu này thì chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng, hay chấtlượng là sự phù hợp với yêu cầu Chất lượng hiểu theo ý nghĩa này vừa mangtính chủ quan của người sử dụng, vừa thay đổi theo thời gian, không gian,điều kiện sử dụng và nó cũng có thể được xác định từ trước Có nhiều địnhnghĩa theo cách hiểu này: Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm haydịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng”; Chất lượng là “tổng hợpnhững tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn các yêucầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định”

Như vậy, chất lượng thể hiện trên một tập hợp nhiều đặc tính của thực thể, thể hiện khả năng thỏa mãn nhu cầu người sử dụng Theo cách hiểu này,

chất lượng là “tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thựcthể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầutiềm ẩn” (TCVN - ISO 8402) “Chất lượng là mức độ của một tập hợp cácđặc tính vốn có của một sản phẩm hệ thống hoặc quá trình thoả mãn các yêucầu của khách hàng và các bên có liên quan” “Yêu cầu là những nhu cầu haymong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc.” (Tiêu chuẩn ISO9000:2000)

Trang 25

Chất lượng được thể hiện ở các khía cạnh: sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu

tú, xuất sắc; sự hoàn hảo; sự phù hợp, thích hợp; sự thể hiện giá trị; sự biếnđổi về chất

1.2.2.2 Chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục luôn là vấn đề quan trọng nhất đối với tất cả các

cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học, và việc cải tiến nâng cao chất lượnggiáo dục bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ

sở giáo dục nào Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng giáodục vẫn là một khái niệm khó xác định, khó đo lường, vì vậy nó có nhiềucách hiểu, cách định nghĩa khác nhau Dưới đây là một số quan điểm về chấtlượng trong giáo dục

- Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”: Theo quan điểm này,

một trường học tuyển được người học giỏi, có đội ngũ giáo viên uy tín, có cơ sởvật chất, trang thiết bị dạy học tốt, huy động được nguồn lực tài chính cần thiết,…được xem là trường có chất lượng cao Quan điểm này được gọi là “quan điểmnguồn lực”, nó đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng vàliên tục trong một thời gian dài ở nhà trường

- Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”: Quan điểm này chú trọng

vào “đầu ra”, đó chính là sản phẩm của quá trình giáo dục được thể hiện bằng mức

độ hoàn thành công việc của người học hay khả năng cung cấp các hoạt động giáodục, đào tạo của nhà trường Quan điểm này chưa xem xét đúng mức mối liên hệgiữa “đầu vào” và “đầu ra”; mặt khác, cách đánh giá “đầu ra” của các trường cũng

có sự khác nhau

- Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”: Theo quan điểm

này, chất lượng được phản ánh qua sự gia tăng ở người học kiến thức, kỹ năng vàthái độ sau một quá trình đào tạo Quan điểm này coi chất lượng là hiệu số giá trịcủa “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được là

Trang 26

“giá trị gia tăng” mà nhà trường đã đem lại cho người học khi nó tạo ra được

sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và nhân cách của họ Tuy vậy, nhiềungười cho rằng, khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chấtlượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giáchất lượng của nhà trường

- Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”: Quan điểm này

chủ yếu dựa vào sự đánh giá năng lực học thuật của đội ngũ giảng viên trong từngtrường; tức là trường nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tín khoa học caothì được xem là trường có chất lượng cao

- Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riêng”: Quan điểm

này cho rằng một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “văn hoá

tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiếnchất lượng và nâng cao chất lượng đào tạo

- Ngoài một số cách tiếp cận trên, Tổ chức ĐBCLGD đại học quốc tế(INQAHE - International Network of Quality Assurance in Higher Education)

đã đưa ra 2 quan điểm về chất lượng giáo dục: (1) Tuân theo các chuẩn quy định; (2) Đạt được các mục tiêu đề ra.

Theo quan điểm này, để đánh giá chất lượng giáo dục của một nhàtrường cần có bộ tiêu chuẩn về tất cả các lĩnh vực và việc đánh giá, kiểm địnhchất lượng một trường sẽ dựa vào bộ tiêu chuẩn đó Khi không có bộ tiêuchuẩn, việc thẩm định chất lượng sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực đểđánh giá Những mục tiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước và những điều kiện đặc thù của nhà trường đó

Như vậy, theo quan điểm này, có thể hiểu chất lượng giáo dục của mộtnhà trường là mức độ đáp ứng các yêu cầu hay các chuẩn/ tiêu chuẩn đối vớinhà trường theo quy định; hoặc mức độ thực hiện các mục tiêu đã định sẵn từđầu của một nhà trường

Trang 27

Theo quan điểm chất lượng là sự đáp ứng/ phù hợp với mục tiêu thì mộtnhà trường chỉ được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng khi nhà trường đó đápứng được mục tiêu theo yêu cầu của xã hội, được quy định theo Luật giáo dục,Điều lệ các nhà trường và theo sứ mệnh của nhà trường đó.

Với quan điểm này, một số nhà nghiên cứu như Lê Đức Ngọc, LâmQuang Thiệp cho rằng: Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạtđược mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo Lê ĐứcPhúc định nghĩa: Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêugiáo dục Trần Khánh Đức quan niệm: Chất lượng đào tạo là kết quả của quátrình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng phẩm chất, giá trị nhân cách vàgiá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứngvới mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể…

Theo Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT Quy định về kiểm định chấtlượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường THCS,trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học thì “Chất lượng giáodục trường trung học là sự đáp ứng mục tiêu của trường trung học, đảm bảocác yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật giáo dục, phù hợp với sự phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.” [12]

Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, chất lượng giáo dục được phản ánhtrước hết ở các phẩm chất và năng lực của HS (nhân cách HS) được hình thành

và phát triển thông qua quá trình giáo dục ở các bậc, cấp học theo mục tiêuchung của giáo dục là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạođức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độclập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất

và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc.” (Điều 2 Mục tiêu giáo dục, Luật giáo dục năm 2005) [38].

Mục tiêu này có thể được cụ thể hoá theo các tiêu chí sau: (1) Phẩm

Trang 28

chất về đạo đức, xã hội (đạo đức, ý thức, trách nhiệm…); (2) Các chỉ số vềsức khoẻ, tâm lý, sinh học…; (3) Trình độ kiến thức, kỹ năng (theo các bậchọc vấn phổ thông); (4) Năng lực học tập, sống và thích nghi; (5) Tiềm năngphát triển cá nhân (thể lực, trí tuệ).

1.2.2.3 Kiểm định chất lượng giáo dục

Kiểm định chất lượng là khái niệm dùng để chỉ cách đánh giá trong quátrình đánh giá chất lượng Nó chú trọng vào cơ chế đảm bảo chất lượng hơn

là chính bản thân chất lượng

Theo Phạm Xuân Thanh, “ĐBCLGD được hiểu là một cơ chế quản lýnhằm duy trì các chuẩn mực và không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượnggiáo dục Kiểm định chất lượng được hiểu là quá trình đánh giá từ bên ngoài

để công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt được sứ mạng

Đối với giáo dục đại học, kiểm định chất lượng được thực hiện đối với

cả hai yếu tố: cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo Đối với giáo dục phổthông, do đặc thù riêng gắn với đặc điểm bậc học, cấp học, yếu tố đánh giá,kiểm định chương trình giáo dục không thể hiện rõ, vì chương trình giáo dụcphổ thông do Bộ GD&ÐT ban hành khi được Hội đồng Quốc gia Thẩm địnhchương trình giáo dục phổ thông đánh giá, thông qua và được dùng chungcho các nhà trường, nên việc đánh giá chương trình là thuộc chức năng của

cơ quan có thẩm quyền khác

Trang 29

Như vậy, hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục phổ thông chủ yếu tậptrung vào cơ sở giáo dục với các lĩnh vực cơ bản của nhà trường Theo đó, cóthể hiểu kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học là hoạt động đánh giá(bao gồm tự đánh giá và đánh giá ngoài) để xác định mức độ cơ sở giáo dụctrung học đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và việc côngnhận cơ sở giáo dục trung học đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của cơ quanquản lý nhà nước Các lĩnh vực cơ bản của nhà trường trung học được tập trungđánh giá, kiểm định gồm: Tổ chức và quản lý nhà trường; CBQL, giáo viên,nhân viên và HS; Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; Quan hệ giữa nhà trường,gia đình và xã hội; Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục.

1.2.3 Biện pháp, biện pháp quản lý, biện pháp quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục

1.2.3.1 Biện pháp

Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), biện pháp là

“cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể” [56] Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học cũng giải thích: “Biện pháp là cách làm,

cách giải quyết một vấn đề cụ thể” Như vậy, biện pháp có thể được hiểu làcách làm, cách tiến hành một công việc hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể

1.2.1.3 Biện pháp quản lý

“Biện pháp quản lý” là thuật ngữ được tổ hợp từ hai khái niệm: biệnpháp và quản lý Khái niệm quản lý được hiểu là sự tác động có định hướngcủa chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành vàđạt được mục đích của tổ chức Như vậy, có thể hiểu, biện pháp quản lý là tổhợp nhiều cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằmgiải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hànhphù hợp với quy luật khách quan và sự tác động của môi trường để đạt đượccác mục tiêu đã đặt ra Hay nói một cách ngắn gọn, biện pháp quản lý là tổng

Trang 30

thể cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quátrình tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

1.2.3.3 Biện pháp quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục

Biện pháp quản lý hoạt động KĐCLGD được hiểu là cách tác động,điều khiển có hướng đích hoạt động đánh giá (bao gồm tự đánh giá và đánhgiá ngoài) để xác định mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giáchất lượng giáo dục; từ đó có kế hoạch cải tiến, nâng cao chất lượng các hoạtđộng của cơ sở giáo dục, mặt khác để cơ quan quản lý nhà nước công nhận cơ

sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục

1.3 Kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông

1.3.1 Mục đích, ý nghĩa của kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT

Mục đích của KĐCLGD trường THPT là nhằm xác định nhà trườngđạt mức đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn; lập kế hoạch cải tiếnchất lượng, duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường;thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thựctrạng chất lượng của trường THPT; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá,công nhận hoặc không công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục

KĐCLGD trường THPT có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho các nhàquản lý giáo dục nhìn lại toàn bộ hoạt động của nhà trường một cách có hệthống để từ đó điều chỉnh các hoạt động giáo dục của nhà trường theo nhữngtiêu chuẩn nhất định Thông qua hoạt động KĐCLGD, lãnh đạo trường THPT

sẽ xác định được mức độ đáp ứng các mục tiêu giáo dục theo các tiêu chuẩnđánh giá chất lượng giáo dục trong từng giai đoạn; nhờ đó lãnh đạo nhàtrường nắm được những điểm mạnh, điểm yếu, làm cơ sở để xây dựng kếhoạch cải tiến, nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục của nhà trường

KĐCLGD cũng giúp cho trường THPT định hướng và xác định tiêuchuẩn chất lượng nhất định Các tiêu chuẩn này là những quy định tối thiểu

Trang 31

mà nhà trường cần phải đạt được nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục, từ đómỗi nhà trường THPT sẽ từng bước xác định tiêu chuẩn cho từng hoạt độnggiáo dục nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra.

KĐCLGD còn tạo ra cơ chế đảm bảo chất lượng vừa linh hoạt vừa chặtchẽ giữa hoạt động tự đánh giá và đánh giá ngoài, giúp cho các trường THPTkịp thời cải tiến những điểm yếu và phát huy những điểm mạnh Kết quảKĐCLGD các trường THPT sẽ góp phần định hướng phát triển cho các trườngTHPT nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực về giáo dục;giúp HS và phụ huynh lựa chọn trường để dự tuyển vào lớp 10; đồng thời làm cơ

sở để các trường THPT kêu gọi đầu tư từ các tổ chức xã hội

1.3.2 Quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT

Quy trình KĐCLGD đối với trường trung học được thực hiện theo cácbước:

3) Công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục

Chu kỳ KĐCLGD đối với trường trung học là 05 năm Trường trunghọc được công nhận đạt KĐCLGD ở cấp độ thấp, sau ít nhất 02 năm kể từngày được công nhận, được đăng ký đánh giá ngoài và đề nghị công nhận đạtKĐCLGD ở cấp độ cao hơn

1.3.3 Tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo đánh giá trường THPT

- Tiêu chuẩn đánh giá trường trung học là các yêu cầu đối với trường

trung học nhằm đảm bảo chất lượng các hoạt động Mỗi tiêu chuẩn ứng với một

lĩnh vực hoạt động của trường trung học; trong mỗi tiêu chuẩn có các tiêu chí.Tiêu chuẩn đánh giá trường trung học có 4 mức (từ Mức 1 đến Mức 4) vớiyêu cầu tăng dần Trong đó, mức sau bao gồm tất cả các yêu cầu của mứctrước và bổ sung các yêu cầu nâng cao

Trang 32

Theo Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của

Bộ GD&ĐT ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông

và trường phổ thông có nhiều cấp học [12] thì có 05 tiêu chuẩn đánh giá trường

trung học; đó là: 1) Tổ chức và quản lý nhà trường; 2) CBQL, giáo viên, nhânviên và HS; 3) Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; 4) Quan hệ giữa nhà trường,gia đình và xã hội; 5) Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục

- Tiêu chí đánh giá trường trung học là yêu cầu đối với trường trung học

trong một nội dung cụ thể của mỗi tiêu chuẩn Mỗi tiêu chí có các chỉ báo

Theo Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học [12] thì có 28 tiêu chí đánh giá trường trung học.

Trong đó, tiêu chuẩn 1 có 10 tiêu chí; tiêu chuẩn 2 có 4 tiêu chí; tiêu chuẩn 3

có 6 tiêu chí; tiêu chuẩn 4 có 2 tiêu chí; tiêu chuẩn 5 có 6 tiêu chí

- Chỉ báo đánh giá trường trung học là yêu cầu đối với trường trung

học trong một nội dung cụ thể của mỗi tiêu chí

Theo Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông

và trường phổ thông có nhiều cấp học [12] thì có 84 chỉ báo đánh giá trường

trung học đạt KĐCLGD mức 1, gồm: tiêu chuẩn 1 có 10 tiêu chí, 30 chỉ báo;tiêu chuẩn 2 có 4 tiêu chí, 12 chỉ báo; tiêu chuẩn 3 có 6 tiêu chí, 18 chỉ báo;tiêu chuẩn 4 có 2 tiêu chí, 6 chỉ báo; tiêu chuẩn 5 có 6 tiêu chí, 18 chỉ báo

1.3.4 Tự đánh giá và đánh giá ngoài trường THPT

- Tự đánh giá là quá trình trường trung học dựa trên các tiêu chuẩn

đánh giá do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tự xem xét, đánh giá thực trạngchất lượng các hoạt động giáo dục cơ sở vật chất, các vấn đề liên quan

khác của nhà trường để điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm

Trang 33

đạt tiêu chuẩn đánh giá trường trung học.

Quy trình tự đánh giá của trường trung học gồm các bước sau:

1) Thành lập hội đồng tự đánh giá

2) Lập kế hoạch tự đánh giá

3) Thu thập, xử lý và phân tích các minh chứng

4) Đánh giá các mức đạt được theo từng tiêu chí

5) Viết báo cáo tự đánh giá

6) Công bố báo cáo tự đánh giá

7) Triển khai các hoạt động sau khi hoàn thành báo cáo tự đánh giá

- Đánh giá ngoài là quá trình khảo sát, đánh giá của cơ quan quản lý

nhà nước đối với trường trung học để xác định mức đạt được tiêu chuẩn đánh giátheo quy định của Bộ GD&ĐT

Quy trình đánh giá ngoài trường trung học gồm các bước sau;

1) Nghiên cứu hồ sơ đánh giá

2) Khảo sát sơ bộ tại trường trung học

3) Khảo sát chính thức tại trường trung học

4) Dự thảo báo cáo đánh giá ngoài

5) Lấy ý kiến phản hồi của trường trung học về dự thảo báo cáo đánhgiá ngoài

6) Hoàn thiện báo cáo đánh giá ngoài

1.3.5 Công nhận và cấp chứng nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT

- Công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục

+ Điều kiện công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục: a) Có ítnhất một khoá HS đã hoàn thành Chương trình trung học;

b) Có kết quả đánh giá ngoài đạt từ Mức 1 trở lên theo quy định tại

khoản 1 Điều 6 của Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận

Trang 34

đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (ban hành kèm theo Thông tư số

18/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ GD&ĐT)

+ Cấp độ công nhận:

a) Cấp độ 1: Trường được đánh giá đạt Mức 1 theo quy định tại khoản

1 Điều 6 của Quy định trên;

b) Cấp độ 2: Trường được đánh giá đạt Mức 2 theo quy định tại khoản

1 Điều 6 của Quy định trên;

c) Cấp độ 3: Trường được đánh giá đạt Mức 3 theo quy định tại khoản

1 Điều 6 của Quy định trên;

d) Cấp độ 4: Trường được đánh giá đạt Mức 4 theo quy định tại khoản

1 Điều 6 của Quy định trên

Cấp chứng nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT+ Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo củađoàn đánh giá ngoài, Giám đốc Sở GD&ĐT ra quyết định cấp Chứng nhậntrường đạt KĐCLGD theo cấp độ trường trung học đạt được

+ Chứng nhận trường đạt KĐCLGD có giá trị 05 năm Ít nhất 05 thángtrước thời hạn hết giá trị của Chứng nhận trường đạt KĐCLGD, trường trung họcphải thực hiện xong quy trình tự đánh giá theo quy định tại Điều 23 và đăng kýđánh giá ngoài theo quy định tại Điều 26 của Quy định trên để được công nhận lại.Việc công nhận lại thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Quy định trên

1.4 Quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT

1.4.1 Lập kế hoạch kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT

Lập kế hoạch là điểm khởi đầu cho một chu trình quản lý mà chủ thể quản lý phải thực hiện Đây là bước cơ sở cho việc thực hiện các chức năng

Trang 35

tiếp theo của quản lý Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề có thể xảy ra,những ý tưởng của chủ thể quản lý để đạt được mục đích và đi đến mục tiêu.Lập kế hoạch KĐCLGD trường trung học là xác định mục đích, lựa chọnmục tiêu, khái quát các công việc phải làm, xác định khối lượng công việc, đề

ra những quy định, xây dựng chương trình hành động, từ đó đề ra các biệnpháp phù hợp với các nguồn lực của nhà trường để tiến hành hoạt động tựđánh giá và đánh giá ngoài; qua đó xác định mức đạt được tiêu chuẩn đánhgiá theo quy định của Bộ GD&ĐT để nhà trường điều chỉnh các nguồn lực vàquá trình thực hiện nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục

Lập kế hoạch KĐCLGD trường THPT phải dựa trên hoạt động quyhoạch của Giám đốc Sở GD&ĐT về hoạt động KĐCLGD trên địa bàn tỉnh

Kế hoạch KĐCLGD trường THPT cần đảm bảo các yêu cầu sau: thể hiện rõ

số lượng các trường được tham gia kiểm định và mục tiêu, nội dung tiếnhành kiểm định; xác định rõ các nguồn lực tham gia kiểm định, quy trình vàcác bước tiến hành, vai trò của mỗi lực lượng tham gia, thời gian tiến hành vàsản phẩm cần đạt được; nêu rõ các tiêu chuẩn, tiêu chí cần đo, cần đánh giá;xác định rõ các công cụ để đo, phương pháp, hình thức đo và xác định kếtquả; mô tả rõ quy trình thực hiện, thời gian tiến hành và sản phẩm cần đạtđược Bên cạnh đó, kế hoạch KĐCLGD trường THPT cần xác định rõ mốiquan hệ giữa phòng chức năng của Sở GD&ĐT với đoàn chuyên gia đánh giángoài và Hiệu trưởng các trường THPT tham gia kiểm định

1.4.2 Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT

- Tổ chức thực hiện kế hoạch là khâu hiện thực hóa các mục tiêu được

đề ra theo kế hoạch đã xây dựng Việc tổ chức thực hiện kế hoạch có khả năng tạo

ra sức mạnh của cả hệ thống nhà trường, nếu việc phân phối, sắp xếp nguồn nhânlực được thực hiện một cách khoa học và hợp lý Trên cơ sở

Trang 36

kế hoạch KĐCLGD được phê duyệt, Sở GD&ĐT bố trí và sắp xếp nguồn lựctheo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt nhất các mục tiêu

Tổ chức thực hiện kế hoạch KĐCLGD trường THPT cần thành lập BanChỉ đạo đánh giá và kiểm định chất lượng trường THPT do Giám đốc SởGD&ĐT làm trường ban hoặc ủy quyền cho cán bộ dưới quyền; thành lập đoànđánh giá ngoài, gồm: trưởng đoàn, thư ký và các ủy viên là những thành viên cónăng lực và phẩm chất tốt, đã công tác trong ngành ít nhất là 5 năm và đã hoànthành chương trình đào tạo, tập huấn về đánh giá ngoài Bên cạnh đó, phải banhành hệ thống các văn bản hướng dẫn công tác KĐCLGD trường THPT Đồngthời, tổ chức hướng dẫn các trường THPT tự đánh giá theo các tiêu chuẩn, tiêuchí và chỉ báo đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT do Bộ GD&ĐT banhành Ngoài ra, cần phối hợp với các đơn vị liên đới, huy động nguồn lực đểthực hiện đánh giá, kiểm định chất lượng trường THPT

- Cùng với công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện có vai trò, chức nănghiện thực hóa các mục tiêu được đề ra trong kế hoạch KĐCLGD trường

THPT Công tác chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn cácnguồn lực và các hoạt động nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả trongchiến lược thực hiện các mục tiêu đề ra Công tác chỉ đạo có tác động ảnhhưởng tới hành vi, thái độ của những người tham gia và hiệu quả triển khaithực hiện kế hoạch để đạt mục tiêu chung Vì vậy, chủ thể quản lý cần chỉ đạo

Trang 37

các nguồn nhân lực thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt, đồng thời mọingười tham gia cần tích cực, chủ động để thực hiện kế hoạch đạt kết quả tốt.Trong quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch KĐCLGD trường THPT, các cấpquản lý cần huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch đã đượcphê duyệt và có thể điều chỉnh nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động kiểm địnhchất lượng nhà trường diễn ra trong kỷ cương, trật tự, đảm bảo tính trungthực, khách quan.

Việc chỉ đạo triển khai kế hoạch kiểm định chất lượng trường THPTcần tuân thủ và hướng dẫn thực hiện đúng các nội dung, quy trình, nguyên tắcquy định thông qua các văn bản pháp quy, văn bản chỉ đạo, việc kiểm tra,giám sát quá trình triển khai thực hiện kế hoạch theo đúng tiến độ của cáctrường phổ thông; trong đó tập trung chỉ đạo cả hai khâu: tự đánh giá và đánhgiá ngoài

Trong quá trình chỉ đạo hoạt động tự đánh giá trường THPT, cần chỉđạo nhà trường lập kế hoạch tự đánh giá; thu thập, xử lý và phân tích cácminh chứng; viết báo cáo tự đánh giá; bổ sung, hoàn thiện báo cáo tự đánh giákhi cơ quan quản lý trực tiếp yêu cầu; công bố báo cáo tự đánh giá; lưu trữ cơ

sở dữ liệu về tự đánh giá của nhà trường Đồng thời chỉ đạo nhà trường cócác biện pháp duy trì, nâng cao chất lượng các hoạt động của cơ sở giáo dục;khuyến cáo nhà trường thuê chuyên gia tư vấn có hiểu biết sâu về đánh giáchất lượng và các kỹ thuật tự đánh giá để giúp hội đồng tự đánh giá của nhàtrường triển khai hoạt động đánh giá bên trong một cách có hiệu quả Ngoài

ra cũng cần chỉ đạo nhà trường làm tốt công tác tuyên truyền về ý nghĩa củacông tác KĐCLGD đối với nhà trường, về vai trò, trách nhiệm của CBQL,giáo viên và nhân viên nhà trường cũng như hội cha mẹ HS và HS trongcông tác KĐCLGD nhà trường

Trong quá trình chỉ đạo hoạt động đánh giá ngoài trường THPT, cần

Trang 38

chỉ đạo việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đăng ký đánh giá ngoài từ các trườngtrung học trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý; khuyến cáo đơn vị được đánhgiá hoàn thiện hồ sơ tự đánh giá và các minh chứng kèm theo; chỉ đạo thựchiện đúng quy trình đánh giá ngoài trường trung học gồm 06 bước theo quyđịnh Trong đó tập trung chỉ đạo việc khảo sát, đánh giá để xác định mức đạttiêu chuẩn đánh giá trường trung học theo quy định của Bộ GD&ĐT; tư vấn,khuyến nghị các biện pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục nhàtrường; đề nghị công nhận hoặc không công nhận nhà trường đạt KĐCLGD

và đạt chuẩn quốc gia; việc giữ bí mật các thông tin liên quan đến nội dungcông việc và kết quả đánh giá trước khi thông báo kết quả đánh giá ngoài chotrường trung học

1.4.3 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT

Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch KĐCLGD trường THPT làmột khâu không kém quan trọng trong công tác quản lý hoạt động KĐCLGDtrường trung học Kiểm tra, đánh giá nhằm xem xét, rà soát kết quả thực hiện

kế hoạch đạt được ở mức độ nào, phù hợp đến đâu so với mục tiêu dự kiếnban đầu và nội dung kế hoạch được phê duyệt Rà soát, kiểm tra việc đảm bảocác nguyên tắc trong đánh giá, kiểm định chất lượng, tính khách quan, chínhxác của các phương pháp thu thập thông tin, độ tin cậy của việc kiểm chứng

hồ sơ minh chứng của trường THPT Đồng thời phát hiện những sai lệch,thiếu sót trong thực hiện kế hoạch cũng như kết quả đánh giá để kịp thời điềuchỉnh, uốn nắn nhằm đảm bảo tính khách quan, chính xác, công bằng trongđánh giá, kiểm định chất lượng trường trung học

Qua kiểm tra, đánh giá các cấp quản lý nắm được thông tin cần thiết vềhoạt động đánh giá, kiểm định chất lượng; từ đó tăng cường công tác quản lýhoạt động cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường; phát huy ý

Trang 39

thức trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường, của đội ngũ giáo viên, nhân viêncũng như tăng cường các điều kiện hỗ trợ các hoạt động của nhà trườngnhằm thúc đẩy việc cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.Đồng thời, kiểm tra cũng giúp các cấp quản lý xem xét một cách toàn diện cáchoạt động để đưa ra các quyết định phù hợp với thực tiễn quản lý.

Trong quá trình kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch KĐCLGD, trên

cơ sở sự chỉ đạo và các văn bản pháp quy của Bộ GD&ĐT, các Sở GD&ĐThay đơn vị chức năng cần xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt độngKĐCLGD của các trường THPT và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các nhàtrường thực hiện trách nhiệm kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch đã đề

ra bằng cách xác định các mục tiêu cụ thể và nêu rõ các tiêu chí đánh giá.Đồng thời để đạt được kết quả trong công tác kiểm tra việc thực hiện kếhoạch KĐCLGD, cần xây dựng đội ngũ kiểm định viên và tổ chức tập huấn,bồi dưỡng năng lực chuyên môn đội ngũ làm công tác kiểm tra để đảm bảotính chính xác, khách quan và công bằng trong đánh giá kết quả kiểm địnhchất lượng, giúp các trường THPT chủ động xây dựng và triển khai kế hoạchhành động phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế hiện có

1.4.4 Quản lý hoạt động cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục trường THPT

Một khía cạnh quan trọng trong mục tiêu KĐCLGD là giúp cơ sở giáodục lập kế hoạch cải tiến chất lượng, duy trì và nâng cao chất lượng các hoạtđộng của nhà trường Vì vậy, quản lý hoạt động cải tiến nâng cao chất lượnggiáo dục trường THPT là một mặt quan trọng trong công tác quản lý hoạtđộng KĐCLGD trường trung học

Trên cơ sở kết quả đã đạt được sau đánh giá ngoài, đồng thời dựa trênnhững khuyến nghị của đoàn đánh giá ngoài, nhà trường cần xây dựng kếhoạch cải tiến nâng cao chất lượng Trong đó cần nêu rõ các biện pháp duytrì, phát huy những mặt mạnh, nhất là biện pháp khắc phục những tồn tại; chỉ

Trang 40

rõ thời gian và mức độ hoàn thành; việc huy động các nguồn lực để thực hiện

có hiệu quả kế hoạch cải tiến nâng cao chất lượng; đồng thời tổ chức, triểnkhai thực hiện các biện pháp theo kế hoạch đã để ra

Việc xây dựng kế hoạch, đưa ra các giải pháp nhằm từng bước cải tiến,nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường sau đánh giá ngoài cần nêu

rõ những ưu điểm cần phát huy, đặc biệt phải chỉ rõ những mặt còn hạn chế, tồntại chưa đáp ứng yêu cầu, nêu rõ nguyên nhân và biện pháp khắc phục để cán

bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường có ý thức trách nhiệm, chủ động tích cựcthực hiện các biện pháp nhằm cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục của nhàtrường Để hoạt động cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục trường THPT đạtđược kết quả, các cấp quản lý cần tăng cường công tác chỉ đạo, tổ chức, điềuhành thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng một cách có hiệu quả

1.4.5 Vai trò, trách nhiệm của các cấp quản lý trong hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục THPT

- Trách nhiệm của sở GD&ĐT

1 Tham mưu UBND cấp tỉnh lập kế hoạch KĐCLGD; hướng dẫn, chỉđạo, giám sát, kiểm tra các phòng GD&ĐT, các trường trung học trực thuộctriển khai công tác KĐCLGD và xây dựng trường trung học đạt chuẩn quốcgia theo quy định

2 Tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho các đơn vị, cá nhân thực hiện công tác KĐCLGD và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia

3 Giám sát, chỉ đạo các trường trung học trực thuộc thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng để không ngừng duy trì và nâng cao chất lượng

4 Hằng năm tổ chức sơ kết, tổng kết về công tác KĐCLGD và xâydựng trường đạt chuẩn quốc gia; báo cáo kết quả với UBND cấp tỉnh, Bộ GD&ĐT

để được hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra

- Trách nhiệm của phòng GD&ĐT

Ngày đăng: 21/11/2021, 12:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w