Trong Rừng khô, suối cạn, biển độc … và văn chương, Nguyễn Thị Tịnh Thy đã thể hiện ý thức sinh thái nhấn mạnh con người và tất cả các sinhmệnh khác đều là những thành viên bình đẳng tro
Trang 1Chương 1 VĂN XUÔI SINH THÁI SAU NĂM 1975 VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG
TẠO CỦA NHÀ VĂN SƯƠNG NGUYỆT MINH 1.1 Các khái niệm tiền đề
1.1.1 Sinh thái học – ý thức sinh thái
Thuật ngữ Sinh thái học (Ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, baogồm hai phần, là "Oikos" chỉ nơi sinh sống, và "Logos" là học thuyết Nhưvậy Sinh thái học là học thuyết về nơi sinh sống của sinh vật, là môn học vềquan hệ tương hỗ sinh vật và môi sinh Vào những năm cuối thế kỉ XX, cácnhà nghiên cứu đã chỉ ra đối tượng của Sinh thái học là tất cả các mối tươngtác giữa cơ thể sinh vật sống với môi trường Rồi từ đó có cách tiếp cận khác,như Sinh thái học là khoa học về môi sinh (Environmental Biology)
Những kiến thức của Sinh thái học đã và đang đóng góp to lớn cho nềnvăn minh của nhân loại trên cả hai khía cạnh, lí luận và thực tiễn Sinh tháihọc giúp chúng ta ngày càng hiểu biết sâu về bản chất của sự sống trong mốitương tác với các yếu tố của môi trường, cả hiện tại và quá khứ, trong đó baogồm cuộc sống và sự tiến hoá cua con người Sinh thái học còn tạo nên nhữngnguyên tắc và định hướng cho hoạt động của con người đối với tự nhiên đểphát triển nền văn minh ngày một hiện đại, không làm huỷ hoại đến đời sốngcủa sinh giới và chất lượng của môi trường
Con người là thành viên tích cực hay tiêu cực của mỗi hệ sinh thái nhấtđịnh Sự phồn vinh của loài người gắn liền với sự phồn vinh của các hệ sinhthái đó Con người cũng không thể tránh khỏi tai hoạ khi môi trường bị tànphá và suy kiệt, vì thế cần phải đấu tranh chống ô nhiễm môi trường và bảo vệsinh quyển Sinh thái học hiện đại không chỉ là cơ sở khoa học mà còn làphương thức tiếp cận chiến lược phát triển bền vững của xã hội con người vàcủa hệ thái dương bao la Sinh thái và môi trường còn là phương tiện giúp ta
Trang 2tối ưu hoá việc sử dụng các nguồn tài nguyên quy hoạch lãnh thổ tổng thểphát triển lâu bền Nó giúp ta dự đoán những biến đổi môi trường trong tươnglai, nhìn nhận lại những khả năng thực sự của con người, thấy được những tácđộng bất lợi của con người lên môi trường Từ đó tìm mọi biện pháp hữu hiệungăn chặn cuộc khủng hoảng môi trường, cứu lấy hành tinh của chúng ta.
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “sinh thái” là khái niệm dùng
để chỉ quan hệ giữa sinh vật và môi trường Con người, xét về mặt tiến hóa cónguồn gốc từ tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên - một sinh vật có tổ chức caonhất của vật chất Theo đó, khái niệm sinh thái không chỉ nói đến các đốitượng: sinh vật và môi trường tự nhiên, mà chủ yếu nhấn mạnh đến quan hệcủa các đối tượng ấy trong chỉnh thể sinh thái Quan hệ đó có tính chất haichiều, tác động qua lại với nhau, phụ thuộc chặt chẽ vào nhau và có tính bìnhđẳng giữa sinh vật và môi trường Các sinh vật tồn tại trong tự nhiên bao gồm
cả động thực vật và con người Vì thế, để hệ sinh thái phát triển một cáchhoàn chỉnh và bền vững cần có sự tác động tích cực của bàn tay con người bởicon người là động vật cao cấp nhất, có can thiệp sâu nhất vào môi trưởng tựnhiên Nếu con người can thiệp vào tự nhiên một cách thô bạo sẽ dẫn đếnnhững nguy cơ sinh thái tiêu cực Sự xuống cấp của hệ sinh thái sẽ tác độngngược trở lại vào đời sống con người, điều này cũng khiến cho hệ sinh tháimất ổn định, nói cách khác, nó sẽ khiến cho mối quan hệ giữa các sinh vật nóichung và con người nói riêng với môi trường mất cân bằng và bất ổn Khi mốiquan hệ giữa con người và môi trường không được điều hòa tất yếu sẽ xảy ranhững xung đột dẫn đến những hậu quả không mong muốn về mặt môi trườngsống, ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống của con người và các sinh vật kháctrong hệ sinh thái
Từ sinh thái và sinh thái học, các học giả đã triển khai thành một quanniệm giá trị mới, phản ánh sự phát triển hài hòa giữa con người với tự nhiên
Trang 3Đó là ý thức sinh thái (Ecological consciousness) Phạm Thị Ngọc Trầm đãchỉ ra ý thức sinh thái là “sự nhận thức một cách tự giác của con người về tựnhiên (các yếu tố của tự nhiên và quy luật hoạt động của chúng), về vị trí, vaitrò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và về trách nhiệm, nghĩa vụcủa con người trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ đóhướng đến mục tiêu phát triển bền vững của xã hội và sự đồng tiến hóa giữa
xã hội và tự nhiên” (Tạp chí Triết học, số 3, 2002).
Trong Rừng khô, suối cạn, biển độc … và văn chương, Nguyễn Thị
Tịnh Thy đã thể hiện ý thức sinh thái nhấn mạnh con người và tất cả các sinhmệnh khác đều là những thành viên bình đẳng trong hệ thống đại tự nhiên,nhân loại không phải là chủ nhân của tự nhiên, tự nhiên cũng không phải là nô
lệ hoặc đối tượng tiêu dùng của nhân loại Quan hệ giữa con người và tựnhiên là quan hệ phát triển hài hòa,cộng sinh, cùng có lợi
Trước thực trạng môi trường sinh thái đang bị khủng hoảng, việc nângcao ý thức sinh thái vô cùng cần thiết Con người cần chung sống hài hòa với
tự nhiên, đề xướng văn minh sinh thái, những nhà khoa học nhân văn đãnghiên cứu khoa học nhân văn từ góc nhìn sinh thái, trong đó bao gồm cảnhững người nghiên cứu văn học Những nhà nghiên cứu này sẽ nhìn nhận lại
ý thức sinh thái trong tác phẩm văn học, nghiên cứu sự phát triển của việcsáng tác lẫn nghiên cứu văn học dẫn đến sự ra đời của văn học sinh thái vàphê bình sinh thái
1.1.2 Sinh thái nhân văn
Viện trưởng Viện Tài nguyên và môi trường Hoàng Văn Thắng chobiết: Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu quan hệ giữa con người vàmôi trường thiên nhiên ở mức độ hệ thống Bao gồm hệ xã hội và hệ tự nhiên(hệ sinh thái) GS.TS Lê Trọng Cúc, người có đóng góp rất lớn và góp phầnđưa ngành khoa học sinh thái nhân văn vào Việt Nam giải thích “Sinh thái
Trang 4nhân văn là khoa học dựa trên nguyên tắc quan hệ có hệ thống giữa xã hội loàingười (hệ xã hội) và môi trường thiên nhiên (hệ sinh thái) làm thành hệ thốngsinh thái nhân văn Mục đích nghiên cứu của sinh thái nhân văn là tìm hiểu vànhận biết các đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống này vớinhau và sự hình thành những hình thái đặc trưng trong hệ xã hội và hệ sinhthái Hệ sinh thái nhân văn tập hợp sự tác động của các nhân tố bao gồm dân
số, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chính trị và các đối tượng xã hội khácnhư giá trị, nguyện vọng, đạo đức, với các điều kiện môi trường tự nhiên làmnảy sinh ra các quy luật động thái thống nhất tự nhiên – xã hội Tự nhiên và
xã hội liên kết chặt chẽ trong khuôn khổ của một hệ thống sinh thái nhân vănhoàn thiện, mà hệ thống đó đã trải qua quá trình lịch sử tiến hóa của tự nhiên
và sự phát triển của xã hội loài người Sinh thái nhân văn nghiên cứu ở mức
độ hệ thống toàn vẹn, trang bị cho nó vũ khí để có thể đương đầu với các vấn
đề môi trường ngày càng tăng lên và các hệ thống tự nhiên – xã hội luôn luôn
thay đổi” (theo Nguyễn Thanh Hóa, Khai mở ngành sinh thái nhân văn ở Việt Nam).
Sinh thái học nhân văn là bộ môn khoa học liên ngành, nghiên cứu vềmối quan hệ tương tác giữa con người với các hình thái xã hội của loài người,với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo khác docon người tạo ra Sinh thái học nhân văn khảo sát xem các hệ thống xã hội củaloài người có liên quan và tác động tương hỗ như thế nào với hệ thống các hệsinh thái mà chúng phụ thuộc vào
Xây dựng ý thức sinh thái là cách tiếp cận mới giúp giải quyết các vấn
đề thuộc lĩnh vực quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa xã hội và tựnhiên Việc tìm hiểu sinh thái học nhân văn sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ vềcác vấn đề môi trường và nguy cơ sinh thái Từ đó, con người cần phải thayđổi cách ứng xử với tự nhiên, phải lựa chọn cách ứng xử cho hợp lí để giải
Trang 5quyết xung đột giữa nhu cầu sống, nhu cầu môi trường trong sạch và cố gắngđạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Quan tâm đến môi trường thực chất là quan tâm đến các giá trị nhân văn
và sự phát triển bền vững Bảo vệ sinh thái chính là bảo vệ con người Chủnghĩa nhân văn sinh thái do phê bình sinh thái đề xuất không tách rời tự nhiênvới con người mà hòa hợp con người với tự nhiên, con người là một phầncộng sinh của tạo hóa
1.2 Khuynh hướng văn xuôi sinh thái sau năm 1975
1.2.1 Khái lược văn xuôi sau năm 1975
Văn học từ sau năm 1975 đã tồn tại và phát triển trong điều kiện hoàncảnh lịch sử và xã hội khác biệt so với thời chiến tranh Điều này đã phát huy
cá tính sáng tạo mạnh mẽ của các nhà văn, nhà thơ Có thể nói rằng, so vớithơ thì văn xuôi giai đoạn này chiếm vị trí ưu trội
Khoảng 5 năm đầu, dư âm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
và tác động của hai cuộc chiến tranh biên giới khiến cho văn xuôi cơ bản
“trượt theo quán tính cũ” (Nguyên Ngọc) Đề tài chiến tranh và những vấn đềthời sự - chính trị vẫn là mối quan tâm hàng đầu của văn học giai đoạn này:
Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Kí sự miền đất lửa (Nguyễn Sinh và Vũ Kì Lân), Đất trắng (Tập 1
– Nguyễn Trọng Oánh)… Một số tác phẩm dành sự quan tâm nhiều hơn chothời hậu chiến như quá trình hòa hợp dân tộc, những vấn đề đạo đức mới nảy
sinh trong quan hệ thường nhật… như: Tháng ba ở Tây Nguyên, Cha và con và… của Nguyễn Khải, Lửa từ những ngôi nhà của Nguyễn Minh Châu; Những khoảng cách còn lại của Nguyễn Mạnh Tuấn, Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi… Đến nửa đầu thập kỉ 80, nhu cầu đổi mới của văn
xuôi sau năm 1975 rõ dần Từ năm 1986, nhu cầu đổi mới bùng nổ trong văn
Trang 6xuôi thành cao trào sôi nổi với nhiều cây bút tiêu biểu như Nguyễn Khải,Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, các tác giả trẻ hơn như Nguyễn HuyThiệp, Phạm Thị Hoài, Phạm Hoa, Hòa Vang…
Văn xuôi sau năm 1975 nổi bật ba khuynh hướng chính: khuynh hướngnhận thức lại hiện thực, khuynh hướng đạo đức thế sự và khuynh hướng triếtluận Khuynh hướng nhận thức lại thường lấy quá khứ làm đối tượng phântích, không phải toàn bộ quá khứ mà là những phần khuất lấp, chưa được đềcập đến Theo tinh thần này, chiến tranh cũng được nhận thức lại Bên cạnhnhững chiến công vang dội thể hiện niềm kiêu hãnh và tự hào dân tộc, chiếntranh còn được đong đếm bằng những mất mát, hy sinh và những bi kịch của
người lính Đó chính là yếu tố làm nên chiều sâu cho những tác phẩm Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Bến trần gian của Lưu Sơn Minh, Cỏ Lau của Nguyễn Minh Châu…
Những tác phẩm thuộc khuynh hướng đạo đức thế sự thường lấy đề tàitrực tiếp từ đời sống hiện tại, những câu chuyện hằng ngày, những quan hệnhân sinh… Qua đó, nhà văn săn tìm ý thức về nhân cách Có thể kể đến
thành công của những tác phẩm Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi), Sống với thời gian hai chiều (Vũ Tú Nam), Trái cam trong lòng tay (Nguyễn Kiên), Bức tranh (Nguyễn Minh Châu), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Trương Chi (Nguyễn Huy Thiệp)… Khuynh hướng này đã thu hút nhiều
người viết và tạo nên những dấu ấn riêng của thế hệ nhà văn sau năm 1975
Văn xuôi sau năm 1975 với cảm hứng triết luận hướng mạnh vào các
vấn đề thế sự mong khám phá quy luật nhân sinh từ cái hằng ngày Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Một cõi nhân gian bé
tí của Nguyễn Khải, Kẻ sát nhân lương thiện của Lại Văn Long… Văn xuôi
sau năm 1975 đang cố gắng tiến về phía trước bằng khát vọng đổi mới, sángtạo của nhiều nhà văn, góp phần đưa văn học Việt Nam theo xu hướng toàncầu hóa
Trang 7Bên cạnh các khuynh hướng nhận thức lại hiện thực, khuynh hướng đạođức thế sự và khuynh hướng triết luận, văn học Việt Nam sau năm 1975 xuấthiện khuynh hướng văn xuôi sinh thái Khuynh hướng này thể hiện ở việcxuất hiện các chủ đề sinh thái, có lực lượng sáng tác riêng và có những thayđổi đáng kể trong những thể nghiệm nghệ thuật vận động về phía sinh thái.Những ý tưởng sinh thái của các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, NguyễnHuy Thiệp, Trần Duy Phiên, Nguyễn Khắc Phê, Sương Nguyệt Minh… đãrung lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ sinh thái và hiểm họa môi trườngtrên toàn cầu.
1.2.2.Những tiền đề hình thành khuynh hướng văn xuôi sinh thái sau 1975
Hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ đã đi qua nhưng nhữnghậu quả của chiến tranh vẫn còn hằn sâu vết thương lên môi trường và cuộcsống con người Chiến tranh đã hủy diệt môi trường thiên nhiên: bom đạn,chất độc da cam… Những cánh rừng bị cháy trụi, những dòng sông mà đếnnay bom đạn vẫn còn, nhiều nơi trở thành những vùng đất chết, hoang vu…Không những vậy, chất độc da cam vẫn đang hoành hoành, hủy hoại biết baonhiêu hạnh phúc gia đình, hủy họa những thế hệ tương lai Nỗi đau do chiếntranh vẫn còn dai dẳng, bám riết cuộc đời con người
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra cũng góp phần thúc đẩy
sự gia tăng ô nhiễm môi trường Các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp vàphương tiện giao thông hàng năm đã thải vào không khí hàng trăm loại khíthải làm ô nhiễm không khí Không chỉ vậy, nguồn nước cũng bị ô nhiễmnghiêm trọng khi việc xử lí chất thải không đạt, nước thải, khí thải và các chấtrắn thải không qua xử lí trực tiếp đổ ra môi trường Diện tích rừng ngày càngthu hẹp kéo theo những hệ lụy nghiêm trọng như lũ quét, sạt lỡ đất Khôngchỉ vậy, việc lạm dụng và sử dụng không hợp lí các loại hóa chất trong sảnxuất nông nghiệp cũng dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất Ô nhiễm môi
Trang 8trường thật sự là một vấn nạn cần được khắc phục để có thể trả lại màu xanhvốn có cho trái đất Trách nhiệm ấy không thuộc về một ai mà thuộc về tất cảmọi người.
Biến đổi khí hậu mà biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mựcnước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loạitrong thế kỷ 21 Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang giatăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bìnhtoàn cầu tiếp tục tăng nhanh và đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thếgiới Nếu con người không nhận thức sâu sắc về biến đổi khí hậu và khắcphục hậu quả, trong tương lai chúng ta phải đối mặt với những thách thức lớn:mất đa dạng sinh học, chiến tranh lương thực và nước ngọt, dịch bệnh trànlan, hạn hán, bão lụt, những đợt nắng nóng gay gắt,… sẽ diễn ra thườngxuyên hơn
Trước những vấn đề mang tính toàn cầu và cấp thiết ấy, văn học khôngthể đứng ngoài cuộc Tác động đến con người dù chỉ là ý thức cũng góp phần
cải thiện tích cực những vấn đề môi trường hiện nay Trong Sáng tác và phê bình sinh thái – tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam, Nguyễn Thị
Tịnh Thy đã viết rằng: Một tác phẩm văn học sinh thái không chỉ đơn thuầnmiêu tả tự nhiên hoặc hệ sinh thái, mà quan trọng hơn là phải có đầy đủ tưtưởng sinh thái và góc nhìn sinh thái Văn học sinh thái đặc biệt chú trọng đếntrách nhiệm và nghĩa vụ của con người đối với tự nhiên, khẩn thiết kêu gọicon người bảo vệ vạn vật trong tự nhiên và duy trì cân bằng sinh thái, nhiệttình ca ngợi sự hy sinh của con người vì lợi ích của chỉnh thể sinh thái Rấtnhiều tác giả tuyên chiến với chủ nghĩa nhân loại trung tâm, nhị nguyên luận,các quan điểm chinh phục và thống trị tự nhiên, quan điểm sức mạnh của dụcvọng, phát triển là trên hết, chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa tiêu dùng, cải tạo tựnhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái… Ngoài ra, bằng sức tưởng tượng và sự
Trang 9nhạy cảm của nhà văn, những tác phẩm viễn tưởng còn có thể dự báo nhữngthảm họa sinh thái, cảnh báo nhân loại về các nguy cơ sinh thái [59].
Giai đoạn văn học 1945 – 1975 đã bắt đầu hình thành ý thức sinh tháitrong văn học Trong giai đoạn văn học này, biểu hiện của ý thức sinh thái rõnhất qua tình yêu quê hương, đất nước Rất nhiều tác phẩm đã ca ngợi vẻ đẹp của
thiên nhiên quê nhà (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân, Hương cỏ mật – Đỗ Chu, Mùa hoa doi – Xuân Quỳnh, Đồng chí
– Chính Hữu, Đất nước – Nguyễn Đình Thi, Mẹ vắng nhà – Nguyễn Thi, Hòn đất – Anh Đức, Vườn trong phố - Lưu Quang Vũ…) Văn xuôi giai đoạn này
cũng tập trung vào mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Tự nhiên vàcon người có cùng tiếng nói Thiên nhiên là nền cảnh, con người là trung tâm
(Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân, Mùa Lạc – Nguyễn Khải, Lặng lẽ Sa
Pa – Nguyễn Thành Long, Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi…).
Văn xuôi 1945 - 1975 cũng viết về chiến tranh, về sự tàn phá của bom đạn với
môi trường (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành, Cánh đồng hoang – Nguyễn Quang Sáng, Giấc mơ ông lão vườn chim – Anh Đức, Dấu chân người lính –
Nguyễn Minh Châu…) nhưng chủ yếu để tố cáo tội ác của kẻ thù
Sau 1975, theo quán tính cũ, rất nhiều tác phẩm viết về đề tài chiến
tranh như Miền cháy – Nguyễn Minh Châu, Lời hứa thời gian của Nguyễn Quang Thiều, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Năm 75 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Thập giá giữa rừng sâu của Trần Duy Phiên…
Có thể nhận thấy ở giai đoạn văn học sau 1975, rất nhiều tác phẩm văn học
viết về sức tàn phá của chất độc da cam Tiêu biểu như Người còn sót lại của rừng cười – Võ Thị Hảo, Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh, Ngọa Sinh – Võ Thị Xuân Hòa… Chiến tranh đã lùi xa nhưng con người ngày càng
nhận thức rõ chiến tranh đã hủy hoại môi trường nặng nề đến thế nào
Nhiều sáng tác của Nguyễn Quang Thiều, Duy Khán… xoay quanh
Trang 10biểu hiện hoài niệm về vẻ đẹp thôn quê Về sau, các tác phẩm quan tâm hơnđến các vấn đề xã hội, hướng về đô thị, những vấn đề nảy sinh trong quá trình
công nghiệp hóa (Kí sự làng, Phố làng – Đỗ Nhật Minh, Khách đến Nha Trang, Ngọc Đất – Hoàng Minh Tường, Sâm cầm Hồ Tây – Sương Nguyệt
Minh…); những bất công nảy sinh từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
(Bãi vàng, Tiền rừng, Chuyện cũ từ rừng, Màu của bóng tối, Trầm Nguyễn Trí, Biển và chim bói cá – Bùi Ngọc Tấn, Đá đỏ - Vũ Thi), sự liên hệ giữa bất công của phụ nữ và tự nhiên (Mùi cọp, Mùa săn – Qúy Thể, Trăm năm còn lại – Trần Duy Phiên, Lúa hát – Võ Thị Xuân Hà…) Bám sát hiện
hương…-thực, văn học đã thể hiện những vấn đề nổi cộm lúc bấy giờ như tàn phá thiênnhiên, đô thị hóa, các giá trị đạo đức truyền thống bị băng hoại, mặt trái củavăn minh tác động đến cuộc sống con người…
Văn xuôi sinh thái quy tụ nhiều cây bút tài năng, đi sâu khai thác hiệnthực ở góc nhìn mới phù hợp với xu thế toàn cầu hóa văn học của nhân loại
như: Nguyễn Minh Châu (Một lần đối chứng, Sống mãi với cây xanh),Trần Duy Phiên (Kiến và người, Mối và người, Nhện và người), Nguyễn Huy Thiệp (Sói trả thù, con sói lớn nhất, Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn…), Nguyễn Ngọc Tư (Cánh đồng bất tận, Sông)… Có thể kể đến sự đóng góp của nhiều cây bút nữ như: Hà Thị Cẩm Anh (Giải vía, Đối thoại với bất tử…); Đoàn Lê (A touris xóm chùa, Giường đôi xóm chùa…), Quế Hương (Tre hoa nở, Tí bụi, Cội mai lưu lạc, Những chiếc lá hình giọt lệ…); Dạ Ngân (Con chó và vụ li hôn); Võ Thị Xuân Hà (Lúa hát, Đàn sẻ ri bay ngang trời…), Đỗ Bích Thủy (tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, tiểu thuyết Bóng của cây sồi); Trần Thanh Hà (Miền cỏ hoang, Sông ơi…), Hồ Thị Ngọc Hoài (Thung Lam)… đã đi sâu hơn và đề cập đến nhiều vấn đề sinh
thái
Văn xuôi sinh thái từ chỗ có những nhà văn viết về nhiều chủ đề trong
Trang 11đó có chủ đề sinh thái thì hiện nay đã có nhiều nhà văn chuyên sâu hơn vềmảng này Về lực lượng sáng tác, từ chỗ chỉ có vài tác phẩm lẻ tẻ văn xuôi đã
có một loạt các tác giả chuyên sâu về vấn đề sinh thái Như vậy, sau 1975 đãhình thành khuynh hướng văn xuôi sinh thái, lúc đầu còn tản mác chìm lấptrong nhiều chủ đề khác nhưng càng về sau, các tác phẩm càng thể hiện cáctriết lí sâu sắc và đề cập đến nhiều khía cạnh của môi trường và con người.Sáng tác của các nhà văn đã đưa nền văn xuôi nước ta hòa nhập xu thế toàncầu hóa, phản ánh những vấn đề bức thiết của nhân loại và kêu gọi sự thay đổicủa con người trong cách đối xử với tự nhiên…
1.3 Phê bình sinh thái
1.3.1.Khái niệm phê bình sinh thái
Có nhiều thuật ngữ khác được dùng cùng với phê bình sinh thái(Ecocricism): Nghiên cứu văn học và môi trường (Studies of literature andenvironment), sinh thái học văn học (Literary ecology), Thi pháp sinh thái(Ecopoetics), phê bình văn học môi trường (Environmental litrerary critism),phê bình xanh (green studies) hay phê bình văn hóa xanh (Green culturalstudies) Hai thuật ngữ phê bình sinh thái (Ecocricism) và nghiên cứu văn học
và môi trường được sử dụng rộng rãi nhất (Studies of literature andenvironment)
Các học giả trên thế giới đã đưa ra khá nhiều khái niệm về phê bình
sinh thái Joseph Meeker định nghĩa thuật ngữ sinh thái học văn học như sau
“Sinh thái học văn học là nghiên cứu về chủ đề và mối quan hệ của sinh vật
học xuất hiện trong tác phẩm văn học” William Rueckert lại định nghĩa sinh thái học văn học là “kết hợp văn học và sinh thái học”, “cung cấp khái niệm
sinh thái và sinh thái học cho nghiên cứu văn học”, “cung cấp khái niệm sinhthái học cho việc đọc, giảng dạy và sáng tác văn học để từ đó phát triển thànhmôn thi pháp sinh thái” [63]
Trang 12Karl Kroeber nêu rõ hơn: “Phê bình sinh thái không lấy phương phápnghiên cứu của sinh thái học, sinh hóa học, toán học hay phương pháp nghiêncứu của bất kỳ môn khoa học tự nhiên nào để phân tích văn học Nó chỉ lấykhái niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái đưa vào phê bình văn học” [63,tr.140] Có nghĩa rằng, phê bình sinh thái không xuất phát từ sinh thái học màxuất phát từ triết học sinh thái, dưới sự dẫn dắt của tư tưởng triết học sinhthái.
Năm 1990, trong công trình (Những) giá trị của văn học (The Value(s)
of Literature), James S Hans đưa ra định nghĩa: “Phê bình sinh thái là nghiêncứu văn học (và các ngành nghệ thuật khác) từ bối cảnh xã hội và địa cầu.Văn học không phải là một lĩnh vực tồn tại riêng và cách biệt với thế giới bênngoài Vì vậy, nếu chúng ta nghiên cứu văn học giới hạn trong bản thân nó thì
sẽ làm cản trở mối liên hệ rất quan trọng của văn học với các hệ thống khác,
mà chính những mối liên hệ đó đã kết hợp sự biểu đạt quan niệm giá trị củachúng ta” [63, tr.140] Định nghĩa này xác định diện khảo sát của phê bìnhsinh thái không giới hạn ở lĩnh vực xã hội và mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên mà còn mở rộng ra mối quan hệ giữa sinh thái trên trái đất này vớicon người Định nghĩa thể hiện rõ sự nhận thức của James S.Hans về tínhquyết định của văn hóa xã hội đối với mối quan hệ giữa con người và tựnhiên
Năm 1994, tại hội thảo khoa học về phê bình sinh thái ở thành phố SaltLake (Mỹ), Scott Slovic đã đưa ra một định nghĩa về phê bình sinh thái vàđược đánh giá cao “Phê bình sinh thái là chỉ hai phương diện nghiên cứu:Vừa có thể sử dụng bất kỳ một phương pháp nghệ thuật nào để nghiên cứu lốiviết tự nhiên, vừa có thể khảo sát cặn kẽ hàm nghĩa sinh thái và mối quan hệgiữa con người với tự nhiên trong bất cứ văn bản văn học nào, cho dù nhữngvăn bản ấy thoạt nhìn có vẻ như rõ ràng miêu tả thế giới phi nhân loại Điểm
Trang 13nóng của nghiên cứu mới này phản ánh nhận thức ngày càng lớn của xã hộiđương đại về tầm quan trọng và tính dễ bị tổn thương của thế giới phi nhânloại” [63, tr142] Từ sự khởi xướng của Scott Slovic và những học giả khác,giữa thập niên 1990 đến nay, phê bình sinh thái đã gặt hái được nhiều thànhtựu trên phương diện nghiên cứu các tác phẩm kinh điển từ góc nhìn sinh thái.
Năm 1996, trong lời giới thiệu cho Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái học văn học (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology), giáo sư Cheryll Glotfelty – nhà phê bình
sinh thái đầu tiên của Mỹ đưa ra định nghĩa về phê bình sinh thái như sau:
“Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môitrường tự nhiên” [63, tr.142] Có thể nhận thấy, định nghĩa của giáo sư CheryllGlotfelty thể hiện rất rõ sứ mệnh của phê bình sinh thái là thông qua văn họcthẩm định lại văn hóa nhân loại và truy tìm nguy cơ sinh thái
Trong tiểu luận Một số nguyên tắc của phê bình sinh thái (Some
Principles of Ecocriticism), từ góc độ của từ nguyên, William Howarth đãđịnh nghĩa phê bình sinh thái thành “phán quyết việc nhà” “Eco (sinh thái) vàCritic (nhà phê bình) đều có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, xuất phát từ oikos vàkritis Ý nghĩa của hai từ này ghép lại chính là “phán quyết việc nhà” (housejudge) Điều này sẽ khiến rất nhiều người yêu thích lối viết xanh và đề tàihướng về thế giới bên ngoài lấy làm kinh ngạc Cụm từ “phán quyết việc nhà”
có thể được giải thích dài dòng và quanh co như sau: Nhà phê bình sinh thái là
“người đánh giá những ưu nhược tốt xấu trong các tác phẩm miêu tả ảnhhưởng của văn hóa đến tự nhiên, chủ trương ca ngợi tự nhiên, lên án kẻ tànphá tự nhiên và thông qua hành động chính trị để làm giảm bớt sự thương tổncủa tự nhiên” [63, tr.147] Định nghĩa của William Howarth nhấn mạnh mụcđích của phê bình sinh thái và nhấn mạnh việc tuân thủ theo các quy luật tựnhiên
Trang 14Giáo sư Lawrence Buell của đại học Harvard trong chuyên luận Tưởng tượng môi trường: Thoreau, sáng tác tự nhiên và sự hình thành văn hóa Mỹ (The Environmental Imagination: Thoreau, Nature Writing and the Formation
of American Culture) đã đưa ra định nghĩa sau: “Từ tinh thần thực tiễn của
chủ nghĩa bảo vệ môi trường, tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học
và môi trường” Theo ông, đây là “một lĩnh vực học thuật lớn và còn tiếp tụcphát triển”, “một nghiên cứu đa hình thức”, “lấy vấn đề môi trường làm tiêuđiểm” [63, tr.149]
Từ việc phân tích những định nghĩa của các học giả Âu Mỹ, VươngNặc cho rằng phê bình sinh thái cần có một định nghĩa mới, đó là “Phê bìnhsinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tựnhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩachỉnh thể sinh thái Nó phải phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơsinh thái được phản ánh trong tác phẩm văn học, đồng thời khám phá thẫm mĩsinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm”
Tổng hợp các định nghĩa nêu trên và trên cơ sở phân tích định nghĩa
của Vương Nặc, Nguyễn Thị Tịnh Thy, trong Rừng khô, suối cạn, biển độc…
và văn chương đã đề xuất định nghĩa phê bình sinh thái như sau: “Phê bình
sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tựnhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩachỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẫm mĩ sinh thái và biểu hiệnnghệ thuật của nó trong tác phẩm” [63, tr.153]
1.3.2 Những khởi đầu mới mẻ ở Việt Nam
Hiện nay, lý thuyết, khuynh hướng phê bình sinh thái đã bắt đầu đượcdịch thuật và giới thiệu ở Việt Nam Tháng 3 năm 2011, Karen Thronber sang
Việt Nam trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế 2011 Tiếp cận văn học châu Á từ
lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội.
Trang 15Bài giảng Ecocriticism của bà tại Viện Văn học giới thiệu một cách tổng quát
về bản chất, ý nghĩa và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường vàsau đó phân tích những điểm cơ bản mà phê bình sinh thái quan tâm
Bản dịch của Trần Ngọc Hiếu Những tương lai của phê bình sinh thái
và văn học của Karen Thornber trong tập Phê bình sinh thái Đông Á: Tuyển tập phê bình (Các nền văn học, văn hóa và môi trường (East Asian
Ecocriticisms A Critical Reader (Literatures, Cultures, and he Enviroment,2013) đã cung cấp cho chúng ta những triển vọng của phong trào này KarenThornber đã sáng tạo ra khái niệm – ecoambiguity (mơ hồ sinh thái) – nhưmột khái niệm phản ánh đặc trưng phổ biến của diễn ngôn về môi trường,thiên nhiên trong các nền văn hóa Đông Á, không phải Đông Á có một truyềnthống gắn bó với tự nhiên, chỉ đến thế kỉ XIX bắt đầu xảy ra tình trạng suythoái mà “thực chất, các xã hội Đông Á đã kế thừa cả hàng ngàn năm môitrường bị thoái hóa nghiêm trọng” từ đó dẫn đến những ngộ nhận không nhỏtrong ý thức và cách ứng xử đối với môi trường của con người trong khu vực[45, trang 173]
Bản dịch của Trần Thị Ánh Nguyệt lấy từ lời giới thiệu của Cheryll
Glotfelty trong Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái học văn học do Cheryll Glotfelty và Harold Fronm chủ biên giúp chúng
ta hiểu hơn về nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường.Cheryll Glotfelty đã chỉ ra “chúng ta chỉ có duy nhất một trái đất mà thôi” Và
“bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rằng chủng tộc, giai cấp, và giới tính trở thànhnhững vấn đề nóng bỏng vào những năm cuối thế kỷ XX Thế nhưng, bạn sẽkhông bao giờ biết được rằng sự sống của trái đất – cái nền tảng đang làmnhiệm vụ chống đỡ tất cả những hệ thống ấy – là cái đang nằm sâu bên dướitất cả những giao tranh căng thẳng đó” Cheryll Glotfelty cho rằng “Phê bìnhsinh thái đặt ra vấn đề quan hệ nối kết giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là sự
Trang 16tạo tác văn hóa của ngôn ngữ và văn học Như là một quan điểm phê bình,phê bình sinh thái đặt một chân ở văn học và chân kia trên mặt đất; như là mộtdiễn ngôn lý thuyết, phê bình sinh thái dàn xếp giữa con người và thế giới phinhân” Bà cũng kêu gọi hành động vì môi trường, bởi chúng ta “đã đi tới thờiđại môi trường cạn kiệt, một thời đại mà hậu quả hành động của con ngườiđang tàn phá hành tinh Chúng ta đã tới thời đại đó Hoặc là chúng ta phảithay đổi chính mình hoặc sẽ phải đối mặt với thảm họa toàn cầu”.
Bài Phê bình sinh thái – cội nguồn của sự phát triển (2012) của Đỗ Văn Hiểu đã tổng hợp phong trào phê bình sinh thái trên thế giới Bài Phê bình sinh thái – Khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân (2012)
cũng của Đỗ Văn Hiểu chỉ ra một số cách tân bản chất của phê bình sinh tháitrên phương diện tư tưởng nòng cốt, sứ mệnh, nguyên tắc thẫm mĩ, đối tượng,phạm vi nghiên cứu Theo Đỗ Văn Hiểu, “phê bình sinh thái đề xuất lấy trungtâm luận làm nền tảng tư tưởng” Và “tư tưởng hạt nhân của chủ nghĩa chỉnhthể sinh thái là coi lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái là giá trị cao nhất;lấy sự có ích hay không có ích đối với việc bảo vệ, duy trì hoàn chỉnh, hàihòa, ổn định, cân bằng hệ thống sinh thái làm thước đo, tiêu chuẩn cao nhất đểđánh giá sự phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kĩ thuậtcũng như phương thức sống của nhân loại” Phê bình sinh thái mang một sứmệnh mới là nhìn nhận lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa, chỉ
ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái Phê bình sinh tháixây dựng trên nguyên tắc mĩ học riêng Thẩm mĩ sinh thái mang tính tự nhiên.Trong thẩm mĩ sinh thái, không tồn tại quan hệ chủ thể - khách thể, con ngườicảm nhận tự nhiên, thiết lập quan hệ chủ thể tương giao với đối tượng thẫm
mĩ Thẩm mĩ sinh thái đề cao tính chỉnh thể “cái gì có lợi cho sự ổn định, hàihòa của hệ thống sinh thái mới là đẹp; phá hoại chỉnh thể, phá hoại sự ổn địnhsinh thái sẽ bị coi là xấu” Thẩm mỹ sinh thái “còn đề cao
Trang 17nguyên tắc dung nhập” Thẩm mỹ sinh thái yêu cầu tinh thần và thể xác thấunhập vào tự nhiên, hòa với tự nhiên làm một Theo Đỗ Văn Hiểu, phê bìnhsinh thái ra đời đã mang đến cho nghiên cứu văn học, mỹ học một góc nhìnmới, khai mở một không gian mới, mang đến một động lực phát triển mới, bổsung cho những khoảng trống trong nghiên cứu văn học từ trước đến nay.
Nguyễn Thị Tịnh Thy trong bài Phê bình sinh thái – nhìn từ lý thuyết giải cấu trúc (2013) đã chỉ ra phê bình sinh thái mang cảm quan hậu hiện đại.
Nội hàm căn bản của phê bình sinh thái là tính giải cấu trúc mạnh mẽ, biểuhiện ở các đặc điểm lệch tâm, tản quyền, cái chết của chủ thể, lật đổ và táithiết, tính đối thoại… Từ sự hoài nghi và phản đối “chủ nghĩa nhân loại trungtâm”, các nhà phê bình sinh thái đã dịch chuyển trung tâm bằng sự đề cao
“sinh vật trung tâm”, “trái đất trung tâm”, “sinh thái trung tâm” Sinh thái họchiện đại xem thế giới là một hệ thống sinh thái phức hợp của con người – xãhội – tự nhiên Ngoài việc chỉ ra những hậu quả của văn minh công nghiệp,của chủ nghĩa nhân loại trung tâm cực đoan, chủ nghĩa chinh phục tự nhiên,chủ nghĩa bá quyền, hưởng lạc… là tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị pháhoại, giàu nghèo cách biệt…, phê bình sinh thái còn chủ trương tái thiết môitrường Phê bình sinh thái cũng phản đối tính độc đoán, nhấn mạnh tính chất
đa điểm nhìn, đa chủ thể, đa thanh Trong phê bình sinh thái, tự nhiên khôngchỉ là đối tượng thể hiện của văn học mà còn là chủ thể sáng tạo nguyên thủycủa văn học Vì vậy, vận dụng lý luận đối thoại vào văn học sinh thái nóiriêng và sáng tác nghệ thuật nói chung sẽ giúp chúng ta tìm hiểu mối quan hệgiữa con người với tự nhiên Giải cấu trúc trong phê bình sinh thái là nhữngtín hiệu nhận biết sự cách tân, sự phản tư của một trào lưu văn học gắn vớinhững vấn đề thiết thực trong đời sống nhân loại mang tính toàn cầu
Việc ứng dụng phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học ở Việt Namthể hiện sự khởi đầu mới mẻ của khuynh hướng văn học này Có thể kể đến
Trang 18những bài viết như sau: Mùa xuân, sinh thái và văn chương (Huỳnh Như Phương); Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa (Nguyễn Đăng Điệp); Nghiên cứu phê bình sinh thái hiện đại và di sản văn hóa: nhìn từ cách Sinh thái học tìm về Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) của Trần Hải Yến; Sáng tác và phê bình sinh thái – tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam (Nguyễn Thị Tịnh Thy); Cái tự nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn phê bình sinh thái (Đặng Thị Thái Hà); Hình tượng loài vật trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái (Trần Thị Ánh Nguyệt); Luận văn thạc sĩ Cái tự nhiên từ điểm nhìn phê bình sinh thái (Qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư) của Đặng Thị Thái Hà; Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái (Vũ Minh Đức); Tôtem sói của Khương Nhung nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái (Nguyễn Thị Tịnh Thy)…
1.4 Văn xuôi Sương Nguyệt Minh
ấy tồn tại đến bây giờ
Ông là nhà văn quân đội, đến với nghiệp văn chương khá muộn màng,
năm 1992, lần đầu tiên có truyện ngắn (Nỗi đau dòng họ) đăng trên Tạp chí
văn nghệ quân đội Nhưng Sương Nguyệt Minh đã chứng tỏ khả năng củamình sau đó, góp mặt vào đội ngũ những nhà văn tiêu biểu sau năm 1975 vớinhững đổi mới, sáng tạo
Trang 19Các nhà phê bình văn học tìm ra con đường vận động trong văn chươngcủa Sương Nguyệt Minh đi từ “hiện thực – lãng mạn” đến “hiện thực – lãngmạn và kỳ ảo” gắn với nhiều mảng đề tài sinh động: chiến tranh, lịch sử, thiênnhiên, thế sự… Ở mảng đề tài nào, chúng ta cũng nhận thấy sự lao động côngphu của một nhà văn luôn trăn trở với những vấn đề của xã hội, con người.Những trang văn chính là sự trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời, về những gì mànhà văn đã chứng kiến Khuất Quang Thụy trong lời mở đầu tập truyện ngắn
Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh đã viết rằng “Vì có may mắn
được cùng làm việc với anh nhiều năm nên tôi cũng được chứng kiến và can
dự vào những trăn trở, những cuộc vật lộn chống chọi để thoát ra khỏi nhữngcái thông thường mòn nhẵn trong quá trình sáng tác của Sương NguyệtMinh”
Đó là khi nhà văn viết và cho in truyện ngắn Người ở bến sông Châu.
Ông cứ trăn trở bởi đây là một hiện thực rất lạ ở chiến tranh Việt Nam mà ítngười chú ý đến: người trở về từ chiến trường lại là một người con gái chứkhông phải một anh lính, và người kết hôn không phải là một người phụ nữchờ đợi quá lâu mà không thấy người ra đi trở về Người kết hôn lại là ngườiđàn ông – “chú San”: đi lấy vợ vào “Ngày dì Mây khoác ba lô trở về làng…”
Đó là trăn trở khi in truyện ngắn Mười ba bến nước Không phải là mười hai
bến nước thông thường trong cách nói dân gian Cái đau khổ của con người làkhi cứ lênh đênh mãi, không biết đâu là bờ bến, không biết đâu là điểm dừng.Điều ấy mới thật là bất hạnh
Nhiều truyện ngắn của ông đã được dựng thành phim như: Người ở bến
sông Châu, Mười ba bến nước… và đã tạo được tiếng vang lớn Có thể nói rằng, truyện ngắn là bước khởi đầu đầy thành công của nhà văn Sương Nguyệt Minh.
Để sau đó, tiểu thuyết Miền hoang như một bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác
của ông, dẫn dắt người đọc vào thế giới nghệ thuật phong phú
Trang 20Trong giai đoạn đầu sáng tác, nhà văn Sương Nguyệt Minh hay viết vềkhông gian làng quê yên bình, mộc mạc với những con người giàu tình nghĩa.
Ở đó, cuộc sống còn nghèo khó, con người phải lam lũ một nắng hai sương
mà vẫn không đủ ăn Đó còn là cuộc sống thăng trầm với những biến độngtrong thời buổi kinh tế thị trường Những câu chuyện về cuộc sống nông thôncủa nhà văn Sương Nguyệt Minh vì vậy rất cuốn hút người đọc Dường như tanhận ra chính mình hay cảm thấy thật thân quen, gần gũi với các nhân vật bởi
những nỗi niềm lắng đọng (Mây bay cuối đường, Hoàng hôn màu cỏ biếc, Ngày về…).
Ta cũng nhận thấy tấm lòng yêu thương trân trọng của Sương NguyệtMinh dành cho các nhân vật nữ Họ là hiện thân của những người mẹ, ngườichị tảo tần, chịu thương, chịu khó, sẵn sàng nhận phần thiệt thòi về mình Đó
là bi kịch không được làm mẹ của cô Sao trong truyện ngắn Mười ba bến nước, bởi chồng cô bị nhiễm chất độc da cam Bi kịch bị lãng quên của cô gái Mây vốn dĩ là người đẹp nhất làng trong Người ở bến sông Châu khiến người
đọc cứ xót xa, tiếc nuối… Khi miêu tả bi kịch của họ, nhà văn đã đi sâu vàonội tâm phong phú từ những rung động, bồng bột tuổi trẻ đến những trảinghiệm sâu sắc đến rơi nước mắt Có thể là nhân vật chính hay nhân vật phụthoáng qua trong tác phẩm, nhưng tất cả họ đều mang vẻ đẹp của những bônghoa cỏ đồng nội: dịu dàng, giản dị mà vô cùng quyến rũ
Bên cạnh những câu chuyện về cuộc đời, nhà văn Sương Nguyệt Minhdành nhiều trang viết về thiên nhiên Khung cảnh thiên nhiên của quê hương
là bối cảnh cho những sáng tác của ông Thiên nhiên hiện lên thật nhẹ nhàng,giản dị, đậm đà phong vị quê hương trên khắp mọi miền quê của đất nước Tabắt gặp sự đồng cảm của nhà văn với thiên nhiên trong nhiều tác phẩm:
Hoàng hôn màu cỏ biếc, Đi qua đồng chiều, Chợ tình, Ngày xưa nơi đây là cửa rừng… Có lẽ vì vậy, Sương Nguyệt Minh được nhà phê bình văn học
Trang 21Nguyễn Hoàng Đức mệnh danh là “nhà văn của những cảnh sắc đồng quêlung linh”.
Với những tập truyện đầu tay, nhà văn Sương Nguyệt Minh được đánhgiá là “mang đến cho người đọc một khuôn mặt văn chương theo lối truyềnthống, nhuần nhụy từ giọng văn cho đến tên nhân vật trong tác phẩm” Đếngiai đoạn sau, truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh đã bắt đầu xuất hiện yếu
tố kì ảo và tính dục gắn liền với đề tài lịch sử dân tộc Tâp truyện ngắn Dị Hương của nhà văn ngay từ khi phát hành đã tạo được sự chú ý đối với bạn
đọc Một cuộc tranh luận sôi nổi trên các tờ báo, các website với các ý kiếnkhen, chê khác nhau Điều ấy chứng tỏ tác phẩm được sự quan tâm của dư
luận Đến với Dị Hương, nhà phê bình Ngô Văn Gía đã tặng cho nhà văn ba
chữ “Hoạt – Phiêu – Thõa” (Hoạt là sự linh hoạt trong trần thuật, Phiêu là sựchuyển đổi bút pháp từ tâm linh đến siêu thực, Thõa là “chất liệu sex đượcviết một cách rất cao tay”)
Là một nhà văn quân đội, Sương Nguyệt Minh đặc biệt dành sự quantâm của mình cho đề tài chiến tranh và hình tượng người lính Bởi SươngNguyệt Minh từng là người lính cầm súng chiến đấu trên chiến trườngCampuchia từ năm 1975 Bởi vậy, những tác phẩm về chiến tranh, về ngườilính như một tất yếu, một nhu cầu tự thân trong sự nghiệp văn chương củaSương Nguyệt Minh Với quan niệm “nhà văn ngừng sáng tạo là nhà văn rơivào lãng quên trong lòng bạn đọc”, Sương Nguyệt Minh luôn tìm tòi, đổi mới
để xóa bỏ cái nhìn đơn giản, một chiều về chiến tranh Tính chất khốc liệt củachiến tranh được tái hiện và tạo sự ám ảnh mạnh đến người đọc trong các tác
phẩm như: Mười ba bến nước, Đêm làng Hạ, Nanh sấu, Người ở bến sông Châu…Đặc biệt, tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh đã đạt giải Sách hay năm 2015 Với tiểu thuyết Miền hoang, Sương Nguyệt Minh đã thể
hiện sự đổi mới chính mình trong việc tái tạo lại một đề tài đã qua nhưng tính
Trang 22thời sự của nó không bao giờ xưa cũ.
1.4.2 Những trang viết thể hiện ý thức trách nhiệm về các vấn đề sinh thái
Trong bài báo Mùa xuân sinh thái và văn chương, tác giả Huỳnh Như
Phương đã thể hiện ý thức trách nhiệm của nhà văn đối với các vấn đề sinhthái: “Trong cuộc đấu tranh vì một môi trường sống hòa hợp với con người,văn học đã làm được gì? Phải chăng văn học vẫn còn bàng quan với chuyệnsống còn này? Hình như văn học cho đây là một đề tài tầm thường hay ít rachưa phải là ưu tiên số một so với những vấn đề cao siêu đáng để tâm hơnnhiều?” [64, tr.318] Có một khoảng cách khá lớn giữa văn học và thực tiễntrong bối cảnh khủng hoảng môi trường hiện nay Dòng văn học sinh tháicũng đang còn những khoảng trống, cần sự có mặt của nhiều cây bút về cácvấn đề và nguy cơ sinh thái Trong bối cảnh đó, bên cạnh Trần Duy Phiên,Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, NguyễnKhắc Phê… Sương Nguyệt Minh cũng đã có sự chuyển hướng đề tài để thểhiện ý thức trách nhiệm của nhà văn đối với môi trường Điều này được thểhiện trong sáng tác của nhà văn
Nỗi đau da cam dai dẳng được thể hiện trong nhiều tác phẩm của nhà
văn Sương Nguyệt Minh (Tiếng lục lạc trong đêm, Mười ba bến nước…).
Chiến tranh không chỉ hủy diệt sự sống của con người, phá hủy môi trườnglúc đang diễn ra mà theo bước chân những người lính ngay cả ở thời bình.Cuộc kháng chiến của dân tộc ngày hôm qua không chỉ được nhìn ở góc độngợi ca lãng mạn, mà cả những mất mát đau thương của hiện thực chiến tranhcũng được phơi bày lên những trang giấy Nhiều tác phẩm của nhà văn thể
hiện bi kịch của người lính khi trở về từ chiến trường (Người ở bến sông Châu, Đêm làng Trọng Nhân, Cha tôi, Tháng ngày đã qua…) Dưới góc nhìn
sinh thái, nhà văn Sương Nguyệt Minh giúp người đọc nhận ra rằng, chínhchiến tranh đã làm ô nhiễm nguồn nước, đất đai khi kẻ thù gieo rắc chất độc
Trang 23hóa học lên những dòng sông, con suối, làm những cánh rừng trụi lá Bommìn – nỗi ám ảnh của những người lính vẫn còn nằm sâu trong lòng đất có thểphát nổ bất cứ lúc nào, cướp đi sinh mệnh con người ngay cả trong thời bình.
Vì vậy, vấn đề sinh thái trong tác phẩm của nhà văn Sương Nguyệt Minhmang tính hiện thực và thời sự sâu sắc
Bằng dự cảm của một nghệ sĩ tài hoa, Sương Nguyệt Minh còn thể hiệnnhững trăn trở trước hiện thực: con người chạy theo sự xa hoa của vật chất, bỏ
lại những tình nghĩa sâu nặng truyền thống (Chuyến đi săn cuối cùng, Giếng cạn, Sao băng lúc mờ tối…) Đó còn là tình cảnh dở dang của nhiều cô gái trẻ khi người yêu phụ tình (Mây bay cuối đường, Động làng…) Những bi kịch
về cuộc đời vẫn ẩn hiện trên những trang văn của nhà văn Sương NguyệtMinh mà càng đọc ta càng thấy nhói buốt trong lòng Không có nỗi đau nàogiống nỗi đau nào, chỉ có những dư vị đắng chát, những đổ vỡ trong hànhtrình đi tìm hạnh phúc là giống nhau
Trong tác phẩm của Sương Nguyệt Minh còn có những con người chạytrốn khỏi nông thôn để thoát khỏi nghèo đói, cơ cực Mỗi người với hoàn cảnhkhác nhau đều gặp nhau ở ước mơ về cuộc sống hào nhoáng chốn thành thị
(Mây bay cuối đường, Cái nón mê thủng chóp, Giếng cạn…) Trên hành trình
chạy trốn khỏi nông thôn, có người phủ nhận hết gốc tích của mình, hòa nhậpđến hòa tan vào những lối sống ở thành thị Có người ra đi không hẹn ngày vềhay có về cũng chỉ thoáng qua rồi lại cuốn vào nhịp sống hối hả ấy Có người
lại quay về trong tình huống dở khóc dở cười như vợ anh Sang trong Mây bay cuối đường… Đọc những tác phẩm này, người đọc thường có nỗi niềm xót xa
đến cay đắng, và nhận ra tấm lòng của nhà văn Đó là nỗi niềm trăn trở trướcnhững vấn đề xã hội và ý thức về trách nhiệm nghề văn của mình Bởi vậy,những thông điệp mà nhà văn gửi gắm qua tác phẩm đi vào lòng độc giả mộtcách tự nhiên không gượng ép Đây cũng là một nội dung quan trọng của văn
Trang 24học sinh thái, cái nhìn phản lãng mạn về nông thôn Nông thôn không còn yênbình mà chứa đựng nhiều điều bất ổn: nghèo đói, thất học, còn nhiều hủ tụclạc hậu, những tư tưởng bảo thủ chưa vượt thoát ra được.
Những thảm họa thiên nhiên khiến cuộc sống con người điêu linh, khốn
khổ trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn (Khi chúng tôi là lính,
Chuyến tàu đêm, Khi cơn lũ đi qua, Người trong mưa lũ…) Nguyên nhân của
những thảm họa này chính là những hành vi phá hoại môi trường của con người.Những trang viết về cơn đại hồng thủy này đã chuyển tải vấn đề liên quan đếnthời sự về môi trường đang diễn ra hằng ngày ở nước ta Biến đổi khí hậu, lũ lụt,hạn hán, động đất… đang diễn ra khắp nơi trên trái đất Sáng tác của SươngNguyệt Minh truyền tải những thông điệp ý nghĩa: Hãy giữ lấy màu xanh của tráiđất, hãy cứu những cánh rừng xanh đang ngày càng bị thu hẹp!
Sương Nguyệt Minh cũng chú trọng đến ứng xử với tự nhiên và đạođức con người Khi nói đến đạo đức, chúng ta thường chỉ chú trọng quan hệgiữa con người với con người mà ít chú trọng mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên Con người cần phải giao tiếp với cái phi nhân (nonhuman) để làmphong phú và tươi mát tâm hồn mình Nếu con người chỉ coi tự nhiên là giới
vô tri, bóc lột tự nhiên phục vụ cho lợi ích thực dụng của mình thì tâm hồncon người sẽ trở nên khô cằn, con người sẽ cảm thấy cô đơn Nhìn từ góc độ
lý luận, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra quan niệm về đạo đức môitrường như sau: “Đạo đức môi trường là một phương diện đạo đức nói chung,
là sự thể hiện và thực hiện đạo đức xã hội trong lĩnh vực mối quan hệ giữacon người với tự nhiên” Trong sáng tác của Sương Nguyệt Minh, có nhữngnhân vật sẵn sàng lợi dụng, giết chết, hủy hoại tự nhiên như ông chủ lò mổ
heo trong Ánh trăng trong lò mổ, bố Chương trong Chim sâm cầm lại về, Hoan trong Một trò đời… Những nhân vật tàn phá tự nhiên đều nhận lấy
những “quả báo” nhất định Khi đối xử với tự nhiên, con người đã giữ địa vịthống trị, tự coi mình là chúa tể nên khai thác tự nhiên một cách ồ ạt, đối xử
Trang 25bất công đối với tự nhiên Khi con người phá hủy tự nhiên cũng có nghĩa làcon người phá hoại chính ngôi nhà chung của mình Điều đó trước hết thểhiện qua các thảm họa của tự nhiên Chỉ cần cái lắc đầu nhẹ của bà mẹ thiênnhiên, con người cũng trở nên nhỏ bé, mong manh Vì vậy, con người cần ýthức về thân phận “con người nạn nhân” trong mối quan hệ với tự nhiên.
Trước áp lực của toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, văn xuôi sinh thái cầnnhận thức sâu sắc về sự tổn thương của tự nhiên mà nguyện nhân chính là docon người gây ra Do vậy, cảm quan đạo đức sinh thái mới của thế kỉ XXIhình thành những mẫu nhân cách mới, những người biết cúi xuống những sốphận tự nhiên bị thương tổn, biết chia sẻ cảm giác bị đau của muôn loài, biếtlắng nghe tiếng nói từ vạn vật, biết chia sẻ và tôn trọng thế giới tự nhiên [44,trang 237] Trong sáng tác của nhà văn Sương Nguyệt Minh, ta có thể bắt gặp
nhiều nhân vật biết yêu quý, bảo vệ tự nhiên như người cha trong Chim sâm cầm lại về, Lài trong Nơi hoang dã đồng vọng, cô bé Sẻ Núi trong Hoàng hôn màu cỏ biếc, Trang trong Một trò đời… Chủ nghĩa nhân văn sinh thái đề xuất
không phải là ca ngợi con người như chúa tể chinh phục tự nhiên, như những
“kiểu mẫu của muôn loài” mà là một thái độ sống mà con người biết tự thunhỏ mình lại… Do vậy, trở về với tự nhiên là học cách tôn trọng vạn vật, tôntrọng tự nhiên, điều chỉnh chính thái độ, hành vi của con người để hướng tớimột cuộc sống bền vững, yên ổn, hạnh phúc [44, trang 237] Những thay đổi
về tư tưởng, hành vi của con người đối với tự nhiên là vô cùng cần thiết và có
ý nghĩa trong thời đại con người đang đối mặt với các vấn đề về cạn kiệt tựnhiên, mất cân bằng sinh thái Đó là nguyên tắc đạo đức tất nhiên, phổ biến,tuyệt đối Sáng tác của nhà văn Sương Nguyệt Minh không chỉ gióng lênnhững hồi chuông cảnh báo mà còn chứa đựng những thông điệp sinh thái đầy
ý nghĩa Đó cũng chính là ý thức trách nhiệm của nhà văn trước những vấn đềdiễn ra hằng ngày và mang tính toàn cầu
Trang 26Tiểu kết chương 1
Phê bình sinh thái với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn họcmới, ra đời trong bối cảnh giới học thuật phản ứng trước nguy cơ môi sinh bịhủy hoại do chính con người, với mục đích thông qua văn học để thẩm địnhlại toàn bộ văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán tư tưởng, chính sách, môhình xã hội… đã ảnh hưởng như thế nào đến thái độ đối với tự nhiên, khiếncho môi trường lâm vào tình trạng suy thoái như hiện nay [44, trang 26] ỞViệt Nam, hoạt động nghiên cứu văn học theo khuynh hướng phê bình sinhthái cũng đang đi vào chiều sâu với nhiều công trình nghiên cứu có nhiềuđóng góp Điều này thể hiện sự phát triển, vận động của văn học trong xu thếtoàn cầu hóa Đặc biệt, sau 1975 đã hình thành khuynh hướng văn xuôi sinhthái, lúc đầu còn tản mác chìm lấp trong nhiều chủ đề khác nhưng càng vềsau, các tác phẩm càng thể hiện các triết lí sâu sắc và đề cập đến nhiều khíacạnh của môi trường và con người
Sương Nguyệt Minh là một nhà văn quân đội Với quan niệm “nhà vănngừng sáng tạo là nhà văn rơi vào lãng quên trong lòng bạn đọc”, SươngNguyệt Minh không ngừng đổi mới chính mình Đề tài sáng tác của nhà vănkhá phong phú Đặc biệt, văn xuôi Sương Nguyệt Minh thể hiện ý thức tráchnhiệm về các vấn đề sinh thái Trong thời đại môi trường sống của nhân loạingày càng ô nhiễm, sáng tác của nhà văn đã rung lên những hồi chuông cảnhbáo về hành vi của con người với tự nhiên Quan trọng hơn, nhà văn đã đemđến một quan niệm sống hài hòa với tự nhiên, biết lắng nghe tiếng nói của tựnhiên, tôn trọng sinh mệnh Sáng tác của nhà văn góp phần khỏa lấp nhữngkhoảng trống của văn học sinh thái, tạo nên diện mạo mới của văn xuôi ViệtNam sau năm 1975
Trang 27Chương 2
TƯ TƯỞNG SINH THÁI TRONG VĂN XUÔI
SƯƠNG NGUYỆT MINH 2.1 Mối quan hệ giữa tự nhiên và con người
2.1.1 Sự hủy diệt tự nhiên của con người
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, sự bùng nổ dân số… thìcác nhu cầu của cuộc sống phàm tục ở con người càng gia tăng Con ngườivừa cải tạo tự nhiên theo hướng tích cực vừa tàn phá tự nhiên một cách vô tội
vạ Hẳn mỗi người chúng ta phải giật mình trước những con số thống kê vềdiện tích đất rừng bị phá, lũ lụt, sạt lỡ, hạn hán… hằng năm? Phải chăng mẹthiên nhiên cũng đang phẫn nộ với những hành vi ngang ngược, cố chấp củacon người? Thế nhưng con người dường như vẫn chưa nhận thức hết hành vihủy hoại môi trường sống của mình Đây đó trong cuộc sống vẫn có nhữngngười bất chấp tất cả vì lợi ích riêng của cá nhân Cùng với các ngành khoahọc khác, văn học cũng góp phần thay đổi nhận thức của con người về cáchứng xử đối với thiên nhiên – người bạn đồng hành không thể thiếu cho sự tồntại và phát triển của con người Văn xuôi Sương Nguyệt Minh, bên cạnhnhững bức tranh cuộc sống với muôn nẻo số phận con người còn thể hiện nỗiniềm của thiên nhiên bị tàn phá và những bi kịch phía sau ấy
Có thể thấy rất rõ hành động săn bắn theo kiểu tận diệt được đề cập đếntrong rất nhiều tác phẩm của Sương Nguyệt Minh Tiêu biểu là truyện ngắn
Chim sâm cầm lại về Chim sâm cầm vốn rất quen thuộc với cuộc sống của
những người dân làng Cứ đến mùa chim sâm cầm lại bay về đậu trên cànhcây, ngọn tre, mặt hồ Chim sâm cầm chắc khỏe, bơi lội, kiếm ăn, ngụp lặnkhông biết mệt, người và chim sống thân tình, gần gũi Nhưng rồi làng mọclên nhiều nhà hàng đặc sản, người trong làng đổ xô tìm chim sâm cầm để bánlấy tiền, người nơi khác tập trung về để thưởng thức đặc sản “Người giàu
Trang 28thường hay sợ chết Người giàu tuổi còn trẻ chết thì tiếc lắm, chết để vợ đẹpcho ai, tiền bạc của nả cho ai và chơi bời chưa được là bao Người giàu càngnhiều tuổi chết lại càng tiếc hơn, tiếc vì thời gian hưởng thụ quá ngắn Vậynên bồi bổ và kéo dài tuổi thọ là mục tiêu hàng đầu của các ông chủ mớiphất… Chim sâm cầm quý nhất ở đôi chân, đôi chân màu lục ánh chì Chânsâm cầm cắt rời ra rửa sạch, sấy khô rồi ngâm rượu đủ một trăm ngày hoặc
càng lâu càng tốt” (tập Đi qua đồng chiều, tr.142) Ta có thể nhận thấy giọng
triết lí của nhà văn Sương Nguyệt Minh trong đoạn văn trên, đời sống càngkhá giả, nhu cầu con người càng tăng cao, con người càng sợ chết và tìm mọicách để kéo dài tuổi thọ của mình Vậy là người dân làng đổ xô đi bắt sâmcầm Bản thân nhân vật chính đã có sự thay đổi lớn, từ những cuộc đi săn chỉ
để giải trí trở thành những cuộc đi săn để kiếm tiền với quan niệm “Con người
là chúa tể của muôn loài Voi, báo, hổ gấu, trăn rắn … rồi chim chóc đến cỏcây cũng chỉ để phục vụ con người Với lại mình không bắn, người khác cũng
bắn” (tập Đi qua đồng chiều, tr.140) Con người càng săn bắt, chim sâm cầm
càng sợ hãi không quay về, các nhà hàng đặc sản thì sốt ruột nên tăng giámạnh khi thu mua vào Nhân vật chính bất chấp tất cả, hắn xách súng săn đitìm chim sâm cầm, quyết tâm truy đuổi, bắt sống để có giá cao Dường nhưlúc này, đồng tiền có giá trị hơn cả tình cảm gắn bó giữa con vật hiền lành vớicon người, hơn cả môi trường sinh thái đang ngày càng xuống cấp Việc mọingười kéo đến bắt chim sâm cầm đã phá hủy môi trường sống, tận diệt loàivật này
Nơi hoang dã đồng vọng cũng lên án hành vi săn bắn dã man, tách
động vật khỏi môi trường sống của chúng Cuộc sống càng hiện đại, conngười càng có cách tận hưởng cuộc sống về đủ mọi mặt Đôi khi, chính cáchtận hưởng của họ khiến ta nghi ngờ về lối sống hiện đại ấy “Chát Dùi đụcphang mạnh Miếng chỏm đầu con mèo trắng bay khỏi lưỡi tràng bạt sáng
Trang 29loáng Eo Mèo trắng vẫn kịp gào lên một tiếng Rồi nước đái nó tức thì bắnvọt vào mặt ông chủ Thân mèo co rút, giật giật… Bốn vị cầm bốn thìa múc.
Mỗi lần thìa thọc vào óc con mèo, chân nó lại co lên” (tập Mười ba bến nước,
tr.196) Dường như việc hưởng thụ miếng ăn đặc sản có sức hấp dẫn đến nỗi
họ xem hành vi ấy là bình thường mà không có chút ghê tay Và chính conMiêu cũng cảm thấy ghê rợn với hành vi con người đối xử với đồng loại
“Dường như nó sợ quá vãi đái hoặc phản ứng bản năng tức thì với sự dã man
của con người với đồng loại nó” (tập Mười ba bến nước, tr.196) Họ săn bắt
mèo và chế biến đủ mọi kiểu để phục vụ nhu cầu của con người Đặc biệttrong truyện có chi tiết khi nhân vật Lài cầu xin tha cho con Miêu “Miêu vàcon mèo hoang quay đầu lại nhìn hai người ở trong lều Mắt chúng rực lênnhư có lửa rồi lại dịu dần, trong veo Ánh mắt như mách bảo: Dù đồng loại
hay khác loại, đừng làm ác với nhau thì sẽ chung sống được” (tập Mười ba bến nước, tr.210) Theo bản năng, những con vật ấy đã nhận rõ những hành vi
xâm hại đến sự sống của chúng Rõ ràng ánh mắt rực lửa là ánh mắt phản ứnglại hành vi của con người Thế giới của chúng là thế giới hoang dã, con ngườicần phải tôn trọng điều đó
Nhà văn còn đem đến một khía cạnh rất nhân văn khi lên án hành vitách động vật khỏi cuộc sống hoang dã và kiếm lợi nhuận từ chúng Trong
truyện ngắn Một trò đời, Trang gặp lại người yêu cũ, bây giờ đã là một nghệ
sĩ xiếc thú Anh dẫn ra sân khấu một đàn khỉ mười con Những con khỉ vớitrang phục sặc sỡ trông rất ngộ Điều bất ngờ là con Lục Lạc, một con khỉ đựclông đen nhánh đeo lục lạc đã quá già rồi, khụ khị như một ông cụ vẫn cònbiểu diễn Nó bị tách khỏi môi trường hoang dã để làm nhiệm vụ xiếc khỉ Cáiroi mềm và những chiếc kẹo là vũ khí để sai khiến những chú khỉ ấy Hồi ứccủa Trang như một cuốn phim quay chậm Con Lục Lạc vốn có cuộc sốngriêng tư, nó đã từng phải lòng con khỉ cái của ông thầy mo Hôm nào nó cũng
Trang 30trốn thoát để đến với khỉ cái Hình phạt đối với nó là bị nhốt trong lồng sắt.Thế nhưng, động vật có tiếng nói rất riêng, khi Lục Lạc bị nhốt, con khỉ củathầy mo đến tìm bạn tình Trước tình cảnh đó, Lục Lạc chỉ biết phản ứng bằngcách đập đầu vào lồng sắt, đầu be bét máu, hai bàn tay xước sát Khỉ cái củathầy mo thì nhai lá đắp vào các vết thương của con Lục Lạc Cuối cùng, khiHoan ôm con Lục Lạc rời khỏi đảo khỉ, con khỉ cái của thầy mo mất bạn tình.Hằng ngày, chúng phải biểu diễn theo ý của người nghệ sĩ Sau khi biểu diễn,chúng cầm mũ đến từng người xem Để rồi cuối buổi, nghệ sĩ Hoan lại móctừng đồng tiền trong tay Lục Lạc, bực dọc, cáu kỉnh khi dân tỉnh lẻ nghèo, chỉcho những đồng tiền lẻ Chứng kiến cảnh đó, Trang ngậm ngùi, những hìnhảnh của Lục Lạc, của Hoan mờ nhòe trong mắt.
Trong hai truyện ngắn Mùa trâu ăn sương và Ánh trăng trong lò mổ, ta
cảm giác như con người đang trở thành những người hành quyết động vật.Người đọc không khỏi rùng mình khi đọc đến những dòng văn này: “Bốn contrâu đã ăn sương, vừa hạ thủ một con Đầu trâu cắt rời ra, mõm chổng lên trời,
hai mắt mở thao láo đầy uất ức Đám đồ tể đang phanh da róc thịt” (tập Dị Hương, tr.129) Bản thân chị chủ của lò mổ thích làm thơ, thích in thơ ở Tạp
chí văn nghệ tỉnh nhà nhưng thơ chị cũng đậm màu giết mổ súc vật Cái haytrong tác phẩm của nhà văn Sương Nguyệt Minh còn thể hiện ở sự cảnh báo:cảnh giết mổ ấy theo cả vào trong những sinh hoạt hằng ngày của nhân vật:
Chị chủ trong Mùa trâu ăn sương thích làm thơ nhưng thơ ngập mùi xẻ trâu; nhân vật ông chủ trong Ánh trăng trong lò mổ lại mang cả tiếng thở hô…
ộc… hô… ộc như trong lò mổ heo vào trong giường ngủ với vợ Đặc biệt, ôngchủ lò mổ đó muốn biến lò mổ heo thành một môi trường văn hóa nghệ thuật
“Sẽ có cả cải lương, bài chòi, chèo, quan họ, nhưng cũng có nhạc cổ điển.Tiếng nhạc sẽ đầy ắp từ trang trại nuôi heo vào trong phòng ngủ của tôi đến
tận lò sát sinh” (tập Dị hương, tr.228) Đó chính là bi kịch của những
Trang 31nhân vật này, họ cố chạy theo sự hào nhoáng, cố gắng đánh bóng mình nhưngcuối cùng cũng chỉ nhận lại những ê chề mà thôi.
Không chỉ vậy, sáng tác của nhà văn còn thể hiện thái độ đau xót trước
lễ hội đâm trâu của người đồng bào Tác giả miêu tả khung cảnh lễ hội đâmtrâu thật chi tiết Đó là cảnh những chàng trai lưng trần, đóng khố, buộc khănche trán, vai sát bên vai Tay họ cầm dùi đánh cồng, chiêng Các cô gái mặcsắc phục dân tộc thêu hình lá cây, nhà rông cách điệu Họ múa, hát, ngợi cacon người Cứ xong một điệu hát, lại thấy một mũi lao phóng vút vào contrâu “Nó lồng lên rồi lại đứng xuống, toãi chân ra Mình mẩy con trâu đẫmmáu Hai mắt đỏ đòng đọc và nước mắt nó cứ trào ra… Nó không biết nó
đang là vật tế hiến thần linh” (tập Người ở bến sông Châu, tr.211) Và có một
điều đáng lo ngại rằng, theo ông Trưởng bản, ngày xưa chỉ làm lễ khi mùa đisăn đã kết thúc mà phải bắn được nhiều thú hoặc khi lúa thóc đã vào níp lúc
ăn tết xong ra giêng, hai Còn bây giờ “những nhà khá giả ốm đau khỏi bệnhhay được mùa mía bán cho chính phủ cũng mời bản làm lễ đâm trâu” (tập
Người ở bến sông Châu, tr.212).
Nhà văn cũng chỉ ra rằng, tách động vật ra khỏi môi trường hoang dã
bằng hành vi săn bắn chính là tội ác Trong truyện ngắn Chuyến đi săn cuối cùng, Mại là con của thợ săn chuyên nghiệp, tường nhà anh treo nhiều loại
móng vuốt, sừng, da thú… Mỗi lưu vật là cuộc đời một con thú Anh đượcthừa hưởng cái nỏ săn cha để lại và chỉ khi truy đuổi đến cùng những con khỉphá rẫy ngô của mình, Mại đã nhận ra hành vi ấy là vô nhân đạo Khi anh bắnvào khỉ đực, khỉ cái đã rút mũi tên và nhai lá thuốc đắp vào bả vai khỉ đực, nóbiết nặn sữa cho khỉ đực uống Khi nhìn thấy Mại cầm nỏ săn săm săm bướcđến, khỉ cái đứng hẳn lên che chắn cho khỉ đực bị thương và tay phải quơ vộikhỉ con quặt về phía sau Dù là động vật hoang dã, chúng vẫn có cuộc sốngcủa mình, có tình cảm, có tiếng nói riêng Đó cũng là một gia đình nhỏ trong
Trang 32bầy khỉ rừng Chúng biết tổ chức và bảo vệ cuộc sống của mình Đối với khỉcái, khỉ đực và khỉ con chính là sự sống Bởi vậy, nó sẵn sàng hy sinh mình đểbảo vệ chồng con Hành vi săn bắt của con người đã phá hủy cuộc sống củađộng vật Hành vi đó cần được lên án và con người cần thay đổi cách mìnhđối xử với thiên nhiên.
Ngoài săn bắn thì quá trình đô thị hóa kéo theo hệ quả đào núi, lấpsông… cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của các loài độngvật Điều này được thể hiện rất tinh tế trong sáng tác của nhà văn SươngNguyệt Minh Cách viết cuả Sương Nguyệt Minh độc đáo ở điểm: ta càng đọc
kĩ, càng nhận thấy nhiều lớp ý nghĩa ẩn giấu bên trong những trang chữ Sựtác động tiêu cực của con người được thể hiện khéo léo trong tâm trạng cácnhân vật Đó có thể là sự tiếc nuối vì làng quê không còn những cảnh yênbình, không còn những điều quen thuộc gần gũi với thiên nhiên, là nỗi bồi hồi
lẫn cả sự cô đơn của con người… Truyện ngắn Động làng đã miêu tả được
những tác động tiêu cực ấy Vốn lớn lên đã quen với đất làng nâu sậm, đồng
Cỏ lẫn đầm Vạc mênh mông, núi Tam Điệp im lìm mặc mây bay gió thổi ngànnăm… Vậy mà ngày trở về, Tâm ngỡ ngàng đến mức không nhận ra ngôi nhàcủa chính mình “ngỡ ngàng không nhận ra ngôi nhà của mình in đẫm kỉ niệmtuổi ấu thơ Đâu rồi cây sung nằm vươn mình che một góc ao sâu Đâu rồi bèlục bình nở hoa tím ngắt nhởn nhơ trên mặt nước in bóng trời xanh cùng vớicác tảng mây trôi Mãi mãi chẳng còn đêm đêm không ngủ ngồi trên bờ nhìn
cá mè ngóng trăng và giật mình nghe sung chín rụng dưới góc ao Người ta
lấp ao, nhà tôi ra mặt đường” (tập Đi qua đồng chiều, tr.89) Nếu ngày trước,
muôn thú còn đa dạng, con người dễ dàng bắt gặp những hình ảnh chúng băngqua đường hay xuất hiện trên những thân cây… thì bây giờ, hình ảnh ấy rấtkhó để tìm lại “Từ ngày bạt núi mở rộng dốc Sây, công trường nổ mìn xay đá,thú rừng lánh sang mạng tây nam dãy Tam Điệp hết…”
Trang 33(tập Đi qua đồng chiều, tr.7) Điều đó có nghĩa như con người đang đánh rơi
những kí ức tốt đẹp, những hình ảnh nên thơ và sẽ đối mặt với những khoảngtrống trong tâm hồn mình
Ta thường thấy, văn học truyền thống thường đề cao những con ngườivới khát vọng chinh phục, cải tạo tự nhiên Thế nhưng, nhà văn Sương NguyệtMinh đã chỉ ra rằng con người chính là những tội đồ hủy hoại, tàn phá tựnhiên, chỉ quan tâm đến lợi ích vật chất, con người tham vọng trở thành báchủ tự nhiên, kéo theo đó là những hệ lụy sinh thái kéo dài Trong bài viết
Ngày tháng tốt đẹp của nhân loại không còn nhiều nữa, nhà văn Mạc Ngôn đã
chỉ ra dục vọng của con người là cái động không đáy, không sao lấp đầy được,con người đang điên cuồng cướp đoạt mọi thứ từ trái đất “Nhưng đến tận hômnay, tôi cảm thấy nhân loại đang đứng trước nguy hiểm lớn nhất, bởi vì khoahọc kỹ thuật của nhân loại ngày càng tiên tiến thì dục vọng của con người tangày càng bành trướng thêm…” Sáng tác của Sương Nguyệt Minh vì vậymang tính cảnh báo về sự xâm lấn các bối cảnh cư ngụ mà con người làm nên;phá hủy sự cân bằng sinh thái đồng thời cảnh báo về những hiểm họa môitrường
2.1.2 Con người nạn nhân trong mối quan hệ với tự nhiên
Phê bình sinh thái đã thể hiện rằng tự nhiên cũng có địa vị của nó:
“Mặc dù con người đã bỏ ra bao nhiêu nỗ lực để giữ cho mình cái địa vị thốngtrị, thì có phải tự nhiên chỉ mang một thân phận lệ thuộc hay không khi thực
sự chúng ta đã và đang tiếp tục được nó nhắc nhở lại về một thứ địa vị thực sựthông qua mỗi trận động đất, mỗi lần núi lửa phun trào, những ngôi sao chổivụt qua, cũng như việc không ai có thể dự đoán được một cách chính xác sựthay đổi thất thường của thời tiết” [48]
Trong văn học thế giới, từng có rất nhiều nhà văn viết về những trảinghiệm trước sự khắc nghiệt của tự nhiên Có thể kể đến nhà văn tiêu biểu là
Trang 34Jack London với những tác phẩm như: Tiếng gọi nơi hoang dã, Tình yêu cuộc sống, Nhóm lửa… Văn học thời kì sau cũng thể hiện sự khắc nghiệt của tự
nhiên nhưng lại mang tính thời sự rất rõ khi vấn đề biến đổi khí hậu, hiệu ứngnhà kính, động đất, sóng thần… ngày một gia tăng Các nhà văn với tráchnhiệm nghề nghiệp và thiên chức của mình đã không rời xa các vấn đề mangtính toàn cầu này
Lũ lụt vẫn là thảm họa kinh hoàng của con người ở khắp nơi trên thếgiới Điều này đã được thể hiện trong các tác phẩm văn học từ xưa đến nay.Thần thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh trong kho tàng văn học dân tộc không chỉ làmột câu chuyện về tình yêu mà còn phản ánh quy luật dâng nước lũ hằngnăm Ngay từ thời xưa, con người đã ý thức được sức mạnh và nỗi vất vả củacon người khi đối mặt với sự khắc nghiệt của tự nhiên Về sau này, truyện
ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn cũng thể hiện nỗi khốn khổ của
con người trước hiện tượng lũ lụt, đê vỡ
Truyện ngắn Khi chúng tôi là lính của nhà văn Sương Nguyệt Minh
cũng thể hiện được sự khắc nghiệt của tự nhiên và những tổn thất đi kèm.Nước lũ dâng cao, bộ đội, dân quân đứng giăng hàng trên mặt đập chống lũ
“Vỡ đập… Có tiếng thét thất thanh Mọi người nhốn nháo Nước xoáy ùng ụcrít ghê người Chúng tôi theo trung đoàn phó rẽ người chạy lại chỗ đập vỡ.Dòng chảy xiết quá Nước vọt qua kẽ những bó tre bịt chỗ vỡ réo ồ ồ” (tập
Đêm làng Trọng Nhân, tr.132) Truyện ngắn Tiếng lục lạc trong đêm cũng vẽ
ra khung cảnh hỗn loạn của con người trong cơn lũ “Nước ngập mênh mông,củi khô, cành cây tươi, rều rác, gà chết trôi lều bều trên sông Đáy Rồi vỡ đê
nước tràn vào làng Yên Hạ, làng chìm sâu dưới nước” (tập Mười ba bến nước, tr.45) Sau khi cơn lũ đi qua, mọi người vẫn chưa thể khắc phục ngay hậu quả,
họ kể cho nhau nghe những câu chuyện kinh hoàng trong cơn lũ “Nhà nọ ởxóm trên, nước lụt mấp mép mái bằng, phải đưa cả người cả con
Trang 35trâu nái lên sân thượng Bây giờ, nước rút không tài nào đưa trâu xuống được,suốt ngày nó đóng móng cồng cộc, ỉa đái trên mái bằng… Người lại nói: Buổisáng hôm bão tan, ở xã dưới, ông lão kéo vó bè kéo phải một người đàn bà
chết ngồi” (tập Mười ba bến nước, tr.49).
Tự nhiên thể hiện sức mạnh của mình qua cơn lũ, lũ cuốn trôi tất cả,con người dường như bé nhỏ và bất lực trước sức mạnh của tự nhiên “Bãisông mênh mông nước phù sa, mọi ngày cói, lác mọc xanh rờn nay chỉ còn
biển nước đỏ đục, cuồn cuộn chảy” (tập Người ở bến sông Châu, tr.168) Tất
cả đang bị nước lũ cuốn băng đi, gặm dần, khoét mòn sự sống Con người thìđói khát trong lũ lụt, có nhiều nơi, con người phải trèo lên các nóc nhà, dùngnón mê ra hiệu để trực thăng thả thức ăn xuống, vì không có chỗ đậu nên việcbắt thức ăn từ trực thăng rất khó, bụng thì đói mà nhìn những gói mì tôm lập
lờ trôi đi chỗ khác Sau khi cơn lũ đi qua, ngôi làng chỉ còn trơ nền đất cũ
được phủ lớp đất đỏ mới (Khi cơn lũ đi qua) Ta có thể bắt gặp sự đồng điệu này trong tác phẩm Thập giá giữa rừng sâu của Nguyễn Khắc Phê, nước lũ
hung dữ nhấn chìm tất cả, gây ra bi kịch cho con người Có thể nói sáng táccủa Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Khắc Phê… đã cảnh tỉnh con người vềnhững thảm họa tự nhiên đang diễn ra ngày một hung bạo hơn
Những gì đang diễn ra khiến tự nhiên bị tổn thương và tự nhiên cũngđang phản ứng lại với những hành vi của con người Đó có thể là sự rời bỏnhững nơi quen thuộc, chứa chan tình cảm giữa tự nhiên và con người như
trong truyện ngắn Chim sâm cầm lại về Khi con người cố tình tận diệt, săn
bắt vô tội vạ chim sâm cầm để bán cho các nhà hàng đặc sản thì những mùađông sau đó, chim sâm cầm không về Động vật cũng có tình cảm, có cáchnghĩ của mình, nhận ra nơi nguy hiểm, chúng không về nữa là lẽ tất nhiên
Con người đã tự tay phá vỡ mối quan hệ gắn bó thân thiện với tự nhiên
để trở thành những kẻ hủy hoại môi trường sống của nhiều loại động thực vật
Trang 36Truyện ngắn Chuyến đi săn cuối cùng của nhà văn Sương Nguyệt Minh đã
phản ánh một hiện thực rằng con người đang đào núi, phá rừng kết hợp sănbắn theo kiểu tận diệt đã gieo rắc những nguy hiểm lên đời sống của động vật.Ngôi nhà xanh của chúng không còn, thức ăn ngày càng khan hiếm thì việcquay lại phá làng cũng là một hệ quả tất yếu kéo theo “Nương ngô xanh đang
độ bắp đọng sữa, có bắp trổ sớm, râu bắt đầu heo héo cũng bị vặt tóac bẹ, đạp
gẫy rạp cây, bắp non bị gặm nham nhở rơi lỏng chỏng” (tập Đi qua đồng chiều, tr.9).
Phật giáo quan niệm giết hại động vật là tạo nghiệp cho mình “Tất cảchúng sinh đều có ân với mình, làm sao có thể giết chúng để ăn? Giết hại sinhmệnh tức là tạo nghiệp ác, nhất định sẽ nhận lấy báo quả sinh tử” Truyệnngắn của nhà văn Sương Nguyệt Minh đã thể hiện những cảnh báo về hành vi
giết hại động vật Trong truyện ngắn Nơi hoang dã đồng vọng, con người trở
thành nạn nhân trước những hành động tàn sát, mua bán động vật hoang dã.Con người muốn ăn đặc sản, họ đổ xô tìm những món lạ như óc mèo, bao tửmèo, cáo, trăn… và chính họ phải đối mặt với những vấn đề sinh thái: chuộttràn lan, phá phách mọi thứ Bởi những chú mèo diệt chuột đang nằm trongcác cũi sắt chờ làm thức ăn cho con người Bà chủ nhà hàng đặc sản ấy cũngphải trả giá cho những hành vi mua bán, giết chóc động vật hoang dã Mộtđêm mưa gió, cây cối quật đổ bể nuôi rắn, rắn túa ra khắp vườn, cầu thang,giường ngủ, một con rắn răng còn sắc nhọn đã gặm vào bắp chân bà chủ Bàchủ không chết nhưng bắp chân cứ teo dần Có thể nói rằng “chi tiết nhỏ làmnên nhà văn lớn”, nhà văn Sương Nguyệt Minh đã xây dựng các chi tiết mangtính ám ảnh cao, nhất là chi tiết Lài mang cơm cho bà chủ bị liệt, lần nào Làicũng đầy ám ảnh với bầy chuột “Từng con, từng con chuột chùi chũi dướiống cống ngầm chui lên Con nọ nối đuôi con kia lốc nhốc Mũi đỏ, đít đỏ,lông xám, mốc thếch, lại có con cụt đuôi Chúng ghếch mõm Chúng thao láo
Trang 37mắt nhìn chị Chúng tản ra, dò dẫm trên nền cỏ đầy sương, bò trên bàn ăn, tìmnhững mẫu thịt, miếng xương còn sót lại… Lũ mèo trong chuồng ngơ ngẩn
như điếc, như mù, như câm, mặc sức cho lũ chuột hoành hoành” (tập Đi qua đồng chiều, tr.119) Quy luật sinh thái đang bị phá hủy bởi nhu cầu hưởng thụ
của con người Khi trăn, cáo, mèo… trở thành thức ăn của con người thì chuộtmặc sức tung hoành và dường như chúng không sợ cả con người, dám tấncông lại con người Chính mẹ của Lài cũng bị rắn cắn chết khi cha Lài làmthợ bắt rắn chuyên nghiệp Rắn xổng khỏi hom và cắn vào tay mẹ Lài khi bàvào bếp nấu ăn Suốt những năm tháng sau đó, cha Lài lúc nào cũng buồn bã,đứa con gái bé nhỏ thì không hiểu vì sao lại mất mẹ Ông không thể nào trảlời được câu hỏi của con: “Cha ơi Mẹ con đâu? Mẹ con đâu?” Con gái ôngquá bé bỏng, ông không thể nào trả lời tàn nhẫn về sự thật với con Đó là mấtmát mà ông không thể nào bù đắp cho con mình suốt những năm ấu thơ và cảcuộc đời Kết thúc tác phẩm, Lài mải miết vùng chạy cố vượt thoát khỏi nơikhủng khiếp như địa ngục ấy trong sự hoảng hốt, ám ảnh Đến khi về với chamình, Lại lại nhìn thấy đám mộng mạ mới gieo: Phân chuột,vỏ trấu, vết chânchuột chăm be bét mặt ruộng Con người càng săn bắt mèo, rắn… bán cho cácnhà hàng đặc sản thì hệ cân bằng sinh thái càng nhanh bị phá hủy
Ông chủ trong tác phẩm Mùa trâu ăn sương trong lúc làm trâu đã bị
trâu đá vào bộ phận sinh dục, chưa đã nó còn bổ móng lên sống lưng làm ông
bị liệt và cấm khẩu Từ đó, ông chủ sống như chiếc bóng mờ nhạt trong nhà,
lê lết với đôi chân liệt, câm lặng Chàng thạc sĩ tương lai cũng vì mưu sinh màvào lò mổ làm thêm Ngày gà gật, tối đến lại phụ mổ trâu, sáng hôm sau đếnlớp máu me vẫn còn dính đầy trên áo Kết cục chàng phải về quê trong đaubuồn, tổn thất về sức khỏe và tinh thần Vì có men rượu, không làm chủ đượchành động, anh xin dùng búa bổ vào đầu con trâu, nhưng búa bị trượt xuốngtrán, con trâu lồng lộn theo phản ứng tự vệ vặc đầu húc, cái sừng đánh đúng
Trang 38vào hạ bộ và bụng dưới của anh Bố Chương trong Chim sâm cầm lại về cũng
trả giá cho hành vi giết hại động vật hoang dã Mải bắt chim sâm cầm đầu đỏ
để bán cho nhà hàng đặc sản mà hắn đã bỏ thằng Cò, đứa con bị thọt chân từ
bé, lại không biết nói trên thuyền giữa sông nước Gần tối, hắn dạt vào bờ,trên tay vẫn cầm chim sâm cầm đầu đỏ Còn thằng Cò, đứa con trai của hắnthì biến mất hoàn toàn Bóng tối đã phủ lên cuộc đời hắn với những nỗi đauday dứt đến hết cả cuộc đời Làm thế nào để tìm lại đứa con tội nghiệp củahắn, làm thế nào để quên đi những nỗi đau này? Vì cái lợi trước mắt mà hắn
đã trả giá quá đắt
Những trang viết của Sương Nguyệt Minh đã khắc sâu những bi kịchcủa con người khi trực tiếp hủy hoại môi trường sinh thái Điều ấy cảnh báocon người về cách hành xử đối với tự nhiên Con người cần phải tôn trọng tựnhiên, hài hòa với tự nhiên Lão tử có lẽ là triết gia đầu tiên, cố gắng đi tìmnguyên nhân sâu xa sự sa đọa của con người Ông chủ trương vô vi Chữ vôkhông có nghĩa là hoàn toàn không, vô vi không phải là hoàn toàn không làm
gì cả mà là đừng làm gì trái với luật của tự nhiên và vũ trụ Ngày nay, đứngtrước những nguy cơ sinh thái, con người cần cảnh tỉnh và nâng cao ý thứcbảo vệ môi trường tự nhiên
2.2 Môi trường xã hội và sự cảnh báo nguy cơ sinh thái
2.2.1 Chiến tranh hủy hoại môi trường và cuộc sống của con người
Hơn ai hết, là người lính từng đi qua chiến tranh, Sương Nguyệt Minhluôn nặng lòng với đề tài này Sương Nguyệt Minh đã đưa ra nhiều vấn đề,khía cạnh rất mới, đặc biệt là khía cạnh về môi trường Dưới sự tàn phá củachiến tranh, môi trường cũng bị biến dạng, cũng gánh chịu những nỗi đau
Điều này thể hiện rất rõ trong một số tác phẩm: Tiếng lục lạc trong đêm, Bên dòng Tonle Sap, Người ở bến sông Châu, Mười ba bến nước, Tiếng bìm bịp
Trang 39đêm nước nổi, Hòn đá cháy màu lửa, Tiếng sét trên triền núi… Và đặc biệt là tiểu thuyết Miền hoang đạt giải sách hay năm 2015.
Có thể nhận thấy, để phục vụ cho những mục đích về chiến tranh, con
người không ngại ra tay với thiên nhiên Trong truyện ngắn Tiếng sét trên triền núi, bọn giặc sẵn sàng phóng hỏa, đốt rừng phục vụ cho mục đích xâm
lược của mình “Bọn Tây sau một hồi định thần bắt đầu phóng hỏa Thằng nàocũng cởi trần, da đỏ như gà chọi, khùng như trâu điên, huơ đuốc Lửa đỏ rực,
khói ngút trời xanh Bọn Pháp đốt rừng, đốt cả bản Phú Nhung” (tập Chợ Tình, tr.185 -186) Thông qua lời trần thuật của nhà văn, giọng điệu có vẻ rất
bình thản nhưng ta cảm nhận thái độ căm giận đối với hành động vô nhân đạocủa chúng Con người, những kẻ “cởi trần, da đỏ như gà chọi, khùng như trâuđiên” ấy đang ra sức hủy diệt môi trường Rừng núi là nơi cư trú của bản PhúNhung, là nơi làm nương rẫy của dân làng, là nơi hoạt động cách mạng của dukích Chúng đốt rừng, mục đích hướng tới là đe dọa con người nhưng thiênnhiên cũng đang oằn lưng gánh chịu thảm họa hủy diệt này Bản thân điều ấy
đã nói lên được tính chất tàn bạo của chiến tranh
Trong truyện ngắn Tiếng bìm bịp đêm nước nổi, chiến tranh đã đem đến
sự không bình yên cho cả thiên nhiên và con người “Một dạo, tàu lính đi lạitrên sông nhiều sục sóng xô tới tấp vào bờ trùm lên cả bụi trâm bầu Rồichúng xả súng bắn vào các lùm cây, bãi rậm hai bên bờ sông Tiếng bìm bịp
mất hẳn Chẳng biết nó bị bắn chết hay sợ bỏ đi nơi khác” (tập Mười ba bến nước, tr.177) Chiến tranh đã phá hủy sự yên bình của thiên nhiên Tiếng súng
đã xua đuổi và thậm chí là hủy diệt sự sống của giống loài bìm bịp Tiếng bìmbịp vốn là đặc trưng của vùng miền thì lại bị bom đạn giết chết và đuổi đi nơikhác
Hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ với mức độ tối tân của vũ khíhiện đại và chất độc hóa học đã gieo cái chết đến cho môi trường Đất, cây
Trang 40cối, nguồn nước… bị nhiễm độc và không biết đến khi nào mới có thể phục
hồi được và mất bao lâu để phục hồi? Trong tác phẩm Mười ba bến nước,
Sương Nguyệt Minh đã thể hiện điều ấy rất rõ “Lại có lần, đơn vị đóng quântrong rừng già, thấy những chiếc máy bay Mỹ bay rất chậm phun ra chất gì đónhư sương mù trắng đục Vài ngày lá ngả màu đồng loạt, gió rất nhẹ, lá cũngrụng lả tả Cây trụi lá, chỉ còn trơ thân cành Cả cánh rừng một màu chết
chóc” (tập Mười ba bến nước, tr.165-167) Sự tàn phá của chất độc xuống
cánh rừng thật ghê rợn, từng là màu xanh mơn mởn của biết bao loài thực vật,bao lớp cây từ cây non đến cây lâu năm thì bây giờ hiện lên màu của chếtchóc “những cánh rừng trụi lá” Hậu quả này không phải chỉ khắc phục trongvài giờ, vài năm mà có lẽ từ thế hệ này sang thế hệ khác không biết đến baogiờ Thật vậy, “Chiến tranh không được trả giá trong thời chiến, hóa đơn sẽđến sau đó” (Theo Benjamin Franklin)
Chiến tranh đi qua, nhưng vẫn còn những hiểm nguy đang rình rập.Biết bao bom đạn tối tân đã găm vào trong lòng đất mẹ, kể cả khi con người
cố quên đi để hòa nhập cuộc sống thời bình thì chiến tranh vẫn in hằn dấu vết
Trong truyện Người ở bến sông Châu, nhân vật Thím Ba đun te vướng bom bi
vì vậy mà “bom bi nổ găm đầy người lỗ chỗ Máu ở ngực thím vẫn còn rỉ ra
Duới sông te lưới nổi lập lờ, lập lờ” (tập Người ở bến sông Châu, tr.43) Điều
ấy có nghĩa rằng, bom đạn vẫn còn trong lòng đât, chiến tranh vẫn còn hủydiệt môi trường và con người ngay trong thời bình Chiến tranh đã qua đinhưng “cỗ máy hủy diệt của nó” vẫn còn “Chiến tranh là khoa học của sựhủy diệt” (John Abbott)
Trong tiểu thuyết Miền hoang, sự tàn phá của chiến tranh thật sự ghê
rợn, người ta tận dụng rừng làm căn cứ quân sự Rồi nhiều trận đánh đi qua,căn cứ đó trở nên hoang phế, cỗi cằn và chứa đầy hiểm nguy của bom mìn
“Những ụ lô cốt dã chiến tiền tiêu nhô ra cũng bị sập, vỏ bao đất đắp công sự