1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỌC PHẦN BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRUYỀN LÂY GIỮA NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT

23 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 468,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chó là vật nuôi mang lại nhiều lợi ích cho con người, song chúng lại là loài động vật rất mẫn cảm và mắc nhiều loại bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng, nội khoa, sản khoa…, hàng năm những bệnh này đã gây nhiều thiệt hại cho sức khỏe và sự phát triển của đàn chó. Cho tới nay các nhà khoa học đã xác định được rất nhiều loài ký sinh trùng ký sinh và gây bệnh cho chó với những đặc điểm âm ỉ, kéo dài, làm chó suy dinh dưỡng, dễ mắc các bệnh kế phát, trong đó đáng kể nhất là những ký sinh trùng ký sinh ở đường tiêu hóa như giun đũa, giun tóc, giun móc và sán dây, những ký sinh trùng này đã gây nhiều thiệt hại cho sức khoẻ và sự phát triển của đàn chó. Theo Nguyễn Văn Đề, Phạm Văn Khuê (2009) cho biết, một số ký sinh trùng như giun đũa (Toxocara canis), giun móc (Ancylostoma caninum) ở chó còn có khả năng truyền lây và gây bệnh cho người. Ở nước ta hiện nay, việc nuôi và phát triển đàn chó vẫn còn theo tập quán cũ, chó được nuôi thả tự do, thức ăn mang tính tận dụng nên tình trạng chó nhiễm các loài ký sinh trùng là rất phổ biến và tỷ lệ nhiễm khá cao, đặc biệt là A. caninum có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 75,87% (Đỗ Dương Thái và cs, 1978). Để tiến hành các nghiên cứu nhiều mặt về giun, sán ký sinh cũng như đề ra được những biện pháp phòng trừ có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế từng nơi, nhằm hạn chế tác hại do các bệnh giun, sán ký sinh ở chó thì nghiên cứu về thành phần loài, tình trạng nhiễm các loài giun, sán nói chung, các loài giun tròn đường tiêu hoá nói riêng ở chó là cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tiểu luận: “Một người nông dân phát hiện dưới da chân có 1 đường ngoằn ngoèo, mỗi ngày có thể di động từ 2-3 cm. Ông là người làm vườn và ở nhà có nuôi nhiều chó. Nguyên nhân có thể do ký sinh trùng gì? Hãy cho biết những đặc điểm sinh học của 2 loại ký sinh trùng này, phương pháp chẩn đoán và biện pháp phòng và trị bệnh trên người và vật nuôi”. 1.2 Mục đích và yêu cầu Mục đích Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học của Ancylostoma caninum, phương pháp chẩn đoán và biện pháp phòng và trị bệnh trên người và vật nuôi nhằm nâng cao sự hiểu biết về chẩn đoán, kết quả điều trị. Yêu cầu Nêu được đặc điểm sinh học của Ancylostoma caninum. Phương pháp chẩn đoán. Biện pháp phòng và trị bệnh trên người và vật nuôi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LƯƠNG THẾ VINH

KHOA XÂY DỰNG VÀ CÔNG NGHỆ

NGUYỄN TRẦN THANH TRUNG

HỌC PHẦN BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRUYỀN LÂY GIỮA

NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT

NAM ĐỊNH, THÁNG 10 NĂM 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LƯƠNG THẾ VINH

KHOA XÂY DỰNG VÀ CÔNG NGHỆ

TIỂU LUẬN THAY THẾ KHI KẾT THÚC HỌC PHẦN

MỘT NGƯỜI NÔNG DÂN PHÁT HIỆN DƯỚI DA CHÂN CÓ

1 ĐƯỜNG NGOẰN NGOÈO, MỖI NGÀY CÓ THỂ DI ĐỘNG

TỪ 2-3 CM ÔNG LÀ NGƯỜI LÀM VƯỜN VÀ Ở NHÀ CÓ NUÔI NHIỀU CHÓ NGUYÊN NHÂN CÓ THỂ DO KÝ SINH TRÙNG GÌ? HÃY CHO BIẾT NHỮNG ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOẠI KÝ SINH TRÙNG NÀY, PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH TRÊN

NGƯỜI VÀ VẬT NUÔI

Khóa học: 2019 - 2022 Mã số sinh viên: 3307022

Giảng viên hướng dẫn: THẠC SĨ DƯƠNG TIỂU MAI

NAM ĐỊNH, THÁNG 10 NĂM 2021

Trang 3

i

MỤC LỤC

TRANG

Trang phụ bìa

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC HÌNH ii

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2.1 Căn bệnh 4

2.2 Hình thái 5

2.3 Vòng đời 5

2.4 Triệu chứng và tác hại 7

2.5 Sự lây nhiễm trên người 9

2.5 Chẩn đoán 12

2.6 Phòng trị 13

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 17

3.1 Kết luận 17

3.2 Đề nghị 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC HÌNH

TRANG

Hình 1.1 Đầu và trứng các giun móc 5

Hình 1.2 Vòng đời A caninum 6

Hình 1.3 Chó gầy, lông xù khi mắc bệnh do giun móc 7

Hình 1.4 Hình mổ khám chó bệnh do giun móc 8

Hình 1.5 Chẩn đoán phân biệt trứng loài A caninum với các loài khác 13

Hình 1.6 Trứng A caninum phát triển tới ấu trùng trong môi trường pH = 9, (x150) 13

Trang 5

sự phát triển của đàn chó Cho tới nay các nhà khoa học đã xác định được rất nhiều loài ký sinh trùng ký sinh và gây bệnh cho chó với những đặc điểm âm ỉ, kéo dài, làm chó suy dinh dưỡng, dễ mắc các bệnh kế phát, trong đó đáng kể nhất là những

ký sinh trùng ký sinh ở đường tiêu hóa như giun đũa, giun tóc, giun móc và sán dây, những ký sinh trùng này đã gây nhiều thiệt hại cho sức khoẻ và sự phát triển của đàn chó Theo Nguyễn Văn Đề, Phạm Văn Khuê (2009) cho biết, một số ký sinh

trùng như giun đũa (Toxocara canis), giun móc (Ancylostoma caninum) ở chó còn

có khả năng truyền lây và gây bệnh cho người

Ở nước ta hiện nay, việc nuôi và phát triển đàn chó vẫn còn theo tập quán cũ, chó được nuôi thả tự do, thức ăn mang tính tận dụng nên tình trạng chó nhiễm các

loài ký sinh trùng là rất phổ biến và tỷ lệ nhiễm khá cao, đặc biệt là A caninum có

tỷ lệ nhiễm cao nhất là 75,87% (Đỗ Dương Thái và cs, 1978)

Để tiến hành các nghiên cứu nhiều mặt về giun, sán ký sinh cũng như đề ra được những biện pháp phòng trừ có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế từng nơi, nhằm hạn chế tác hại do các bệnh giun, sán ký sinh ở chó thì nghiên cứu về thành phần loài, tình trạng nhiễm các loài giun, sán nói chung, các loài giun tròn đường tiêu hoá nói riêng ở chó là cần thiết

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tiểu luận:

“Một người nông dân phát hiện dưới da chân có 1 đường ngoằn ngoèo, mỗi ngày có thể di động từ 2-3 cm Ông là người làm vườn và ở nhà có nuôi nhiều chó Nguyên nhân có thể do ký sinh trùng gì? Hãy cho biết những đặc điểm sinh học của

Trang 6

Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học của Ancylostoma caninum, phương pháp

chẩn đoán và biện pháp phòng và trị bệnh trên người và vật nuôi nhằm nâng cao sự hiểu biết về chẩn đoán, kết quả điều trị

Trang 7

3

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trong phạm vi của tiểu luận, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu nội dung:

“Một người nông dân phát hiện dưới da chân có 1 đường ngoằn ngoèo, mỗi ngày có thể di động từ 2-3 cm Ông là người làm vườn và ở nhà có nuôi nhiều chó Nguyên nhân có thể do ký sinh trùng gì? Hãy cho biết những đặc điểm sinh học của loại ký sinh trùng này, phương pháp chẩn đoán và biện pháp phòng và trị bệnh trên người

và vật nuôi”

Theo Nguyễn Văn Đề, Phạm Văn Khuê (2009) cho biết, một số ký sinh trùng

như giun đũa (Toxocara canis), giun móc (Ancylostoma caninum) ở chó còn có khả

năng truyền lây và gây bệnh cho người Từ căn cứ người nông dân làm vườn và có nuôi nhiều chó chúng ta có thể nghi ngờ người nông dân này đã bị nhiễm giun

(Toxocara canis), giun móc (Ancylostoma caninum)

Theo cơ sở người nông dân phát hiện dưới da chân có 1 đường ngoằn ngoèo, mỗi ngày có thể di động từ 2-3 cm, chúng ta có thể nghi ngờ đây là triệu chứng của

ký sinh hoặc ấu trùng gây ra trên da Căn cứ theo Lê Hữu Khương (2015), triệu

chứng Ancylostoma caninum gây ra khi có sự lây nhiễm trên người là ấu trùng chui

qua da người làm nổi những mụn đỏ trên da và gây ngứa kéo dài 2 - 3 ngày, sau đó kéo dài thành những đường ngoằn ngoèo trong da đo ấu trùng di chuyển; mỗi ngày

ấu trùng đi được một đoạn 2-3 cm; vị trí thường thấy là ở chân, tay, đùi có khi cả

lưng, ngực và bên hông và tình hình nhiễm A caninum có tỷ lệ nhiễm cao nhất

75,87% (Đỗ Dương Thái và cs, 1978), tỷ lệ nhiễm chung ở chó của các tỉnh phía

Nam lên đến 88,5% và cao nhất là Ancylostoma caninum 80% (Lê Hữu Khương, 1999; 2005) Chúng ta có thể nghi ngờ người nông dân này nhiễm ấu trùng A

caninum

Trang 8

4

Sau đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu một số đặc điểm sinh học của

Ancylostoma caninum, phương pháp chẩn đoán và biện pháp phòng và trị bệnh trên

người và vật nuôi nhằm nâng cao sự hiểu biết về chẩn đoán, kết quả điều trị

2.1 Căn bệnh

Phát hiện lần đầu tiên bởi Froelich khi nghiên cứu giống Uncinaria ở ruột non

của cáo và tác giả đặt tên là “giun móc” do đặc điểm của nó Sau đó, năm 1838,

bác sĩ Angelo Dubini người Ý, đã phát hiện loài Ancylostoma duodenale (A duodenale) thuộc họ Ancylostomidae ở ruột non của một tử thi là phụ nữ

Năm 1884, Railliet đã tiến hành phân loại và tìm thấy loài giun tròn Uncinaria

stenocephala (U stenocephala) gây bệnh Ancylostomiosis

Năm 1948, Petrov xác định được vòng phát triển và đường xâm nhập của ấu trùng vào cơ thể vật chủ là xuyên qua da ký chủ, hoặc qua đường tiêu hóa (dẫn theo Phan Thế Việt và cs, 1977)

Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Houdemer (1938), Đỗ Dương Thái

(1975), Phan Thế Việt và cs, (1977) thì Ancylostomiosis là một bệnh phức hợp, có

sự tham gia tấn công của nhiều loài giun tròn khác nhau, bao gồm cả Ancylostoma

caninum, Ancylostoma braziliense và Uncinaria stenocephala

Vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật

Theo khoá phân loại động vật của Phan Thế Việt và cs (1977); Nguyễn Thị Lê (1996) thì vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật như sau:

Lớp giun tròn Nematoda

Phân lớp Secernentea Linstow, 1905 Bộ Rabditida Chitwood, 1933

Phân bộ Strongylata Railliet et Henry

Trang 9

5

2.2 Hình thái

Ancylostoma caninum: Bao miệng mỗi bên có 3 đôi răng Con đực dài 9-12

mm Túi đuôi phát triển Gai giao hợp dài bằng nhau dài 0,74-0,87 mm Con cái dài 10-21 mm Âm hộ nằm 1/3 phía sau thân Trứng hình bầu dục, hai đầu tròn đều

Hình 1.1 Đầu và trứng các giun móc

(1,4 Ancylostoma caninum; 2,6-Uncinaria stenocephala; 3- Ancyclostoma

tubaeforme; 5-Ancylostoma braziliense)

(Nguyễn Thị Kim Lan., 2012)

2.3 Vòng đời

Vòng đời phát triển trực tiếp, không cần có sự tham gia của vật chủ trung gian Trứng theo phân thải ra ngoài gặp điều kiện ngoại cảnh thích hợp sau 20 giờ tới một ngày hình thành ấu trùng trong trứng Ấu trùng chui ra khỏi trứng qua 6-7 ngày, lột xác 2 -lần để tạo thành ấu trùng gây nhiễm (L3) Ấu trùng gây nhiễm dài 0,59-0,69

mm, có thể bò ở nền chuồng hay cây cỏ quanh chuồng Nếu gia súc ăn phải ấu trùng gây nhiễm vào đường phổi, lột xác lần 3 tạo L4, về ruột lột xác thành L5 sau 14-20 ngày trở thành dạng trưởng thành

Đường gây nhiễm chủ yếu cho chó, mèo và gia súc, là đường chui qua da Gia súc non dễ bị ấu trùng xâm nhập qua da hơn là gia súc trưởng thành Khi xâm nhập qua da chỉ 40 phút tất cả các ấu trùng chuyển vào hệ thống tuần hoàn của chó Trong hai ngày đầu ấu trùng xâm nhập vào phổi nhiều nhất sau đó về ruột và phát triển thành trường thành Trong khi cho con bú, L3 theo đường máu sẽ truyền qua sữa và

Trang 10

(Nguyễn Thị Kim Lan., 2012)

Ở Uncinaria tương tự như Ancylostoma Khi nhiễm qua đường miệng không có quá trình di hành Mỗi giun cái A caninum có thể đẻ 10.000 đến 30.000 trứng/ngày

Trứng nở ra L2 sau 2 -3 ngày, sau 5 - 7 ngày đạt đến giai đoạn L3 Ấu trùng thường

bò lên các ngọn cỏ hoặc phân tán chung quanh đổng phân, ừong khoảng 10 cm, vì thế đối với chó nuôi nhốt trong chuồng có sân chơi hẹp thường hay bị tái nhiễm Ấu trùng gây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể chó qua 2 đường: Qua đường tiêu hóa

và qua da Sau khi xâm nhập qua da, ấu trùng A caninum theo máu về phổi, chui qua

phế nang, ra phế quản và khí quản Ở đây chúng lột xác thành ấu trùng 4 Khi đến hầu, sự di động của ấu trùng sẽ kích thích làm cho chó ho và chúng được nuốt trở lại Lần lột xác cuối cùng xảy ra tại ruột và phát triển thành giun trưởng thành mất khoảng 1 4 - 2 1 ngây kể từ khi thú bị nhiễm

Ẩu trùng chui được qua da là do chúng có men phân giải mô và thành mạch

Trang 11

7

máu Đường gây nhiễm chủ yếu cho chó là đường chui qua đa Chó non dễ bị ấu trùng xâm nhập qua da hơn chó trưởng thành Nếu chó ăn hoặc uống phải ấu trùng gây nhiễm thì chúng sẽ chui qua niêm mạc đường tiêu hóa và thực hiện quá trình di hành như trên Tuy nhiên nhiễm qua da thì thời gian hoàn thành chu trình của giun sẽ chậm hơn vì chúng phải mất một thời gian nằm lại ở dưới da

Ở chó cái, sau khi di hành lên phổi, một số ấu trùng 3 sẽ trở về cơ vân và nằm yên ở đó cho đến khi chó mang thai và sinh con, chúng sẽ hoạt động trở lại, theo máu vào sữa truyền cho chó con trong vòng 3 tuần lễ đầu sau khi sinh Chó nhiễm một lần duy nhất có thể truyền ấu trùng qua sữa ở 3 lứa đẻ liên tiếp Đây chính là nguyên nhân làm cho chó con trong 2-3 tuần đầu sau khi sinh bị thiếu máu cấp và thường

chết A canỉnum có thể sống trong cơ thể chó được 7 năm

2.4 Triệu chứng và tác hại

A caninum được xếp vào nhóm giun hút máu để sống, tuy nhiên chúng cũng ăn

cả những dịch chất trên màng nhầy ruột non A caninum có thể hút 0,1 ml máu/ngày

Ở hầu và thực quản của giun có chứa chất kháng đông, vì vậy khi giun thay đổi vị trí, ngoài lượng máu được giun hấp thu, máu còn bị thất thoát liên tục trong lòng ruột Đặc tính quan trọng của giun móc là gây thiếu máu nhược sắc

Hình 1.3 Chó gầy, lông xù khi mắc bệnh do giun móc

(Nguồn Võ Thị Hải Lê, 2012)

Chó lớn có sức chịu đựng tốt hơn, nếu khẩu phần giàu chất dinh dưỡng và lượng sắt dự trữ dồi dào thi hiện tượng thiếu máu sẽ không thể hiện rõ Ngoài ra giun bám chặt vào thành ruột làm hư hại lớp nhung mao, ảnh hưởng đến khả năng hấp thu

Trang 12

8

sắt, vitamine B1, B12 và C Giai đoạn ấu trùng xâm nhập qua da thường tạo phản

ứng cục bộ để lại những nốt xuất huyết hoặc gây viêm da Chó con nhiễm khoảng 8.000 giun qua sữa mẹ sẽ chết nhanh, biểu hiện tiêu chảy ra máu nhung xét nghiệm

có thể không phát hiện trứng giun trong phân Biểu hiện của bệnh giun móc chia ra 4 thể bệnh

Thể quá cấp: thường xuất hiện trên chó con vài tuần (ngày thứ 15) sau khi sinh Tuần đầu thấy chó vẫn khoẻ, nhưng tuần thứ 2 chó đặt ngột bệnh, thiếu máu nặng và chết nhanh Xét nghiệm phân không có trứng

Hình 1.4 Hình mổ khám chó bệnh do giun móc

(Nguồn Võ Thị Hải Lê, 2012)

Thể cấp: Biểu hiện thiếu máu, gầy yếu, chết kéo dài, xét nghiệm thấy trứng giun trong phân

Thể mãn: Chó có khả năng tái tạo bù đắp lượng máu bị mất, thể trạng chung

Trang 13

9

bình thường, xét nghiệm phân có trứng giun

Thể thứ phát: Xuất hiện dấu hiệu của bệnh tim mạch do tình trạng thiếu máu kéo dài, lâu dần khả năng tái tạo máu không bù đắp nổi lượng máu bị thất thoát

2.5 Sự lây nhiễm trên người

Ấu trùng chui qua da người làm nổi những mụn đỏ trên da và gây ngứa kéo dài

2 - 3 ngày, sau đó kéo dài thành những đường ngoằn ngoèo trong da do ấu trùng di chuyển Mỗi ngày ấu trùng đi được một đoạn 2-3 cm Vị trí thường thấy là ở chân, tay, đùi có khi cả lưng, ngực và bên hông Ngứa nhiều vào ban đêm và triệu chứng viêm dạ thứ phát thường xảy ra do gãi Ấu trùng có thể tồn tại dưới da hàng tuần

hoặc kéo dài cả năm Nếu người nuốt phải một lượng lớn L3 của A caninum sẽ bị

viêm ruột cấp tính

2.6 Dịch tễ

Nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới, nhiều tác giả đã cho biết: A caninum

và U stenocephala phân bố ở nhiều nơi trên thế giới Trong đó A caninum phổ biến

ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới như: Anh, Mỹ, Hungary, Tây Ban Nha, Mexico, Iran, Neiria, Việt Nam (Lapage, 1968); Fok và cs, (1988), Phan Thế Việt và

cs, (1977), OIE (2005),

Jurgen và cs (2003), Nguyễn Phước Tương, (2000) Loài A braziliese cũng

được phát hiện thấy ở khắp nơi trên thế giới, như: Trung Mỹ, Nam Mỹ, một số vùng đông Nam Á như Malayxia, Philipin, Nhật Bản, Ấn độ, Tây Phi Loài U stenocephala thích hợp với vùng khí hậu lạnh hơn, như Canada, Bắc Mỹ và ở Châu

Âu Vùng ôn đới chó cũng có thể mắc bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm thấp hơn Nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, bệnh giun móc của chó phân bố ở hầu hết các tỉnh, thành

trong cả nước, tác giả người Pháp Houdemer (1938) đã phát hiện loài A braziliense,

A caninum ký sinh trên chó ở Sài Gòn, Huế

Trần Xuân Mai (1992), Lê Hữu Khương và cs (1998) tìm thấy giun móc chó ở các tỉnh phía Nam và thành phố Hồ Chí Minh

* Tỷ lệ nhiễm

Ở Việt Nam, nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, loài A caninum

Trang 14

10

nhiễm với tỷ lệ cao nhất: 75,87% (trích theo Đỗ Dương Thái và cs (1978) Đỗ Hải

(1972), cho biết, tỷ lệ nhiễm A caninum ở chó một số khu vực phía Bắc là 83,3% Ở

chó mẹ nuôi con tỷ lệ nhiễm giun móc là 100%, chó mang giun móc suốt đời cho đến khi già và chết

Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) thông báo, tỷ lệ nhiễm A caninum ở chó săn dao

động từ 75% - 82% tuỳ theo lứa tuổi và giống chó

Theo nhiều nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng (1990), Phạm Sỹ Lăng và cs (1993), Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Thành (1996), thì chó cảnh và chó nghiệp vụ nuôi tại các hộ gia đình và các cơ sở chăn nuôi tập trung đều nhiễm giun móc tới 74,8% Trong 5 loài giun tròn đường tiêu hóa được phát hiện ở chó tại vườn thú Thủ Lệ, thì

A caninum nhiễm 72% Đặc biệt chó nuôi thả tự do trong điều kiện ẩm ướt và bẩn,

một số chó nghiệp vụ ở một số khu vực thuộc thành phố Hà Nội có tỷ lệ nhiễm rất cao từ 85% - 95%

Trần Xuân Mai (1992) thông báo, chó thả tự do ở một số tỉnh phía Nam nhiễm giun, sán là 67,11%, trong đó tỷ lệ nhiễm giun móc là 55,35%

Nhận xét về tình hình nhiễm giun, sán của chó cảnh nuôi ở Hà Nội, Phạm Văn

Khuê và cs, (1993) cho rằng, có 110/187 chó nhiễm Ancylostoma spp, chiếm tỷ lệ

Theo nghiên cứu của Ngô Huyền Thuý, (1996) những chó nuôi ở khu vực thành

phố Hà Nội thì tỷ lệ nhiễm A caninum là 81,65%, U stenocephala: 73,07%

Lê Hữu Khương và cs, (1998, 1999) nhận xét, chó ở thành phố Hồ Chí Minh

nhiễm 3 loài giun tròn là A caninum, A braziliense và U stenocephala Tỷ lệ nhiễm

A caninum cao nhất: 79,84% và có sự tương quan giữa số lượng giun móc với số

lượng trứng được thải ra trong một gam phân của chó

Lê Hữu Nghị và cs (2000) kiểm tra 130 chó ở thành phố Huế, cho thấy, tỷ lệ

Ngày đăng: 21/11/2021, 09:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2 Hình thái - HỌC PHẦN BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRUYỀN LÂY GIỮA NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT
2.2 Hình thái (Trang 9)
Hình 1.2. Vòng đời A.caninum - HỌC PHẦN BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRUYỀN LÂY GIỮA NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT
Hình 1.2. Vòng đời A.caninum (Trang 10)
Hình 1.3. Chó gầy, lông xù khi mắc bệnh do giun móc - HỌC PHẦN BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRUYỀN LÂY GIỮA NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT
Hình 1.3. Chó gầy, lông xù khi mắc bệnh do giun móc (Trang 11)
Hình 1.4. Hình mổ khám chó bệnh do giun móc - HỌC PHẦN BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRUYỀN LÂY GIỮA NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT
Hình 1.4. Hình mổ khám chó bệnh do giun móc (Trang 12)
Hình 1.5. Chẩn đoán phân biệt trứng loài A.caninum với các loài khác - HỌC PHẦN BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRUYỀN LÂY GIỮA NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT
Hình 1.5. Chẩn đoán phân biệt trứng loài A.caninum với các loài khác (Trang 17)
Hình 1.6. Trứng A.caninum phát triển tới ấu trùng trong môi trường pH = 9, (x150) - HỌC PHẦN BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRUYỀN LÂY GIỮA NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT
Hình 1.6. Trứng A.caninum phát triển tới ấu trùng trong môi trường pH = 9, (x150) (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w