Căn cứ theo Điều 574 BLDS 2015: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyên thực hiện công việc đó vì lợi ích của ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
MÔN HỌC: HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
GIẢNG VIÊN: NGÔ THỊ ANH VÂN BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT: NGHĨA VỤ
DANH SÁCH NHÓM
4 Đặng Hoàng Tuấn Kiệt ( Nhóm trưởng ) 2053801012122
Năm học 2020 - 2021
Trang 2VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN
1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền? 4
2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 4
3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công
quyền"……….5
4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện………6
5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp
lời……….7
VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)
1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua
gì? 9
2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền
cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời………10
3 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao? 10
4 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là
sao? 11
5 Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu
Trang 3VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN
1 Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao
thuận? 13
2 Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú? 15
3 Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang
Thạnh? 15
4 Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án? 15
5 Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người
có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao?
lời……….16
6 Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết……… 16
7 Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không
quyền? 17
8 Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban
quyền……… 18
9 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án……… 18
10 Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời……… 19
Trang 4VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN
1.1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền.
Căn cứ theo Điều 574 BLDS 2015: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyên thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
Thực hiện công việc không có ủy quyền là người thực hiện công việc không có nghĩa
vụ phải thực hiện công việc đó và người thực hiện cũng không có quyền và lợi ích phát sinh gì từ hành động thực hiện công việc đó
1.2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
Khái niệm: Căn cứ phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự là những sự kiện xảy ra trong
thực tế, được pháp luật dân sự dự liệu, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh quan
hệ nghĩa vụ dân sự
Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 275, Điều 574 đến Điều 578 BLDS 2015.
Giải thích: Không phải trường hợp nào một người thực hiện một công việc có lợi cho
người khác đều dựa vào hợp đồng hoặc theo quy định pháp luật Trên tinh thần giúp đỡ vì cộng đồng, nhiều trường hợp cá nhân đã tự nguyện thực hiện công việc của người khác,
vì lợi ích cho người khác mà không do bất cứ hợp đồng hoặc quy định pháp luật nào cả
Đó chính là các trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền Các trường hợp đó
đã được pháp luật dân sự dự liệu, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự
Trong thực tế có các trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền tạo nên sự ràng buộc pháp lý giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện, nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi của người thực hiện công việc
Ví dụ: Bà A là F0 phải đi cách ly tập trung Trong lúc bà không có ở nhà thì lúa của bà đã đến mùa gặt Bà B là hàng xóm đã thuê người gặt giúp bà A và đã thanh toán tiền thuê Việc bà B làm là thực hiện công việc không có ủy quyền để rồi từ đó phát sinh nghĩa vụ dân sự giữ bà A và bà B
Trang 51.3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện
công việc không có ủy quyền”.
Cơ sở pháp lý Điều 594 BLDS 2005
Điều 598 BLDS 2005
Điều 574 BLDS 2015 Điều 578 BLDS 2015
Mục đích thực hiện
“ hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
=>Hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, không có mục đích khác
“ thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
=> Vì lợi ích của người có công việc được thực hiện nhưng cũng có thể vì mục đích khác tuy nhiên không được làm trái với lợi ích của người có công việc được thực hiện và các chủ thể khác
Chấm dứt thực
hiện công việc
không có ủy quyền
Chỉ đề cập chấm dứt khi người thực hiện công việc không có ủy quyền là cá
nhân: “Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết.”
Làm rõ trường hợp chấm dứt thực hiện công việc không có
ủy quyền: “Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết.nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân.”
Chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” tại BLDS 2015 được quy định tại Điều 574 đã gần như kế thừa toàn bộ quy định từ Điều 594 BLDS 2005 Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt về mục đích “thực hiện công việc không có ủy quyền” giữa hai bộ luật trên Trong khi yếu tố “hoàn toàn” tại BLDS 2005 mang ý nghĩa người thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, mà không có mục đích nào
Trang 6khác Ở BLDS 2015 đã bỏ đi yếu tố “hoàn toàn” trong vấn đề thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc Từ đó người thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc được thực hiện nhưng pháp luật cho phép người này thực hiện vì mục đích khác tuy nhiên không được làm trái với lợi ích của người có công việc được thực hiện và các chủ thể khác Nguyên nhân có sự khác biệt trên là do xuất phát từ thực tiễn xét xử áp dụng quy định này trong những lĩnh vực mang yếu tố tìm kiếm lợi nhuận
Ví dụ: Anh A (20 tuổi) vay của B 200 triệu với thời hạn vay là 6 tháng Tuy nhiên,
khi đến thời hạn trả nợ anh A không đủ tiền để trả vì vậy B muốn khởi kiện A ra tòa C (mẹ của A) nhằm bảo vệ uy tín cho gia đình và công ty của mình nên đã đứng ra trả tiền thay cho A
1.4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”
theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.
Có 5 điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trên cơ
sở Điều 574, 576, 578 BLDS 2015, đó là:
- Có một người có nhu cầu thực hiện công việc Cần phải có một người có công việc cần thực hiện thì mới có xuất hiện người có nhu cầu thay thế thực hiện công việc
đó (điều kiện quan trọng để áp dụng chế định này) Đồng thời, Điều 576 cũng có thuật ngữ “người có công việc được thực hiện” để làm rõ hơn về điều kiện áp dụng chế định
- Có người khác thực hiện công việc Để thực hiện công việc không có ủy quyền, phải có người khác, vì lợi ích của người có công việc cần thực hiện, đứng ra thực hiện công việc này
- Người thực hiện công việc không có nghĩa vụ Điều kiện trên có thể hiểu rằng, người thực hiện hiện công việc không có ủy quyền này hoàn toàn không có nghĩa
vụ phải thực hiện nhưng do ý chí cá nhân mà người này quyết định thực hiện công việc đó
- Phải vì lợi ích của người có công việc cần thực hiện Có thể hiểu điều kiện này theo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất, người thực hiện công việc hoàn toàn không có lợi ích trong công việc mà người đó thực hiện, tất cả đều vì lợi ích của người có công việc cần thực hiện Nghĩa thứ hai, việc thực hiện công việc này tất cả là vì lợi ích của người có công việc cần thực hiện nhưng đồng thời, người thực hiện công việc cũng có thể có lợi ích trong việc thực hiện
Trang 7- Các điều kiện khác Việc áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” còn phải đáp ứng các điều kiện khác tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể
1.5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể
yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không?
Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C hoàn toàn có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện nghĩa vụ dựa trên cở sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”
Cơ sở pháp lý:
- Điều 143 BLDS 2015 quy định về “Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện, xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện”
- Điều 574 BLDS 2015 quy định về “Thực hiện công việc không có ủy quyền”
- Điều 576 BLDS 2015 quy định về “Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện”
Giải thích:
- Về phía nhà thầu C:
+ Do nhà thầu C không biết rằng Ban quản lý dự án B không có chức năng ký kết hợp đồng và cũng không biết B là đại diện của chủ đầu tư A nên giao dịch dân sự giữa B và C sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán cho A Tuy nhiên, trong trường hợp nhà thầu C xây dựng công trình, chủ đầu tư A biết nhưng không phản đối thì nhà thầu C có quyền yêu cầu thanh toán vì việc hoàn thành công trình đã làm phát sinh nghĩa vụ đối với chủ đầu tư A và C trở thành người thực hiện công việc không có ủy quyền là xây dựng công trình cho A Căn cứ theo Điểm b Khoản
1 Điều 143 BLDS 2015:
“1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đồng ý;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
…”
Trang 8Và căn cứ theo Điều 575 BLDS 2015: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
- Về phía chủ đầu tư A:
+ Chủ đầu tư A có thể không biết về hợp đồng giữa B và C nhưng khi C đã xây dựng công trình thì A vẫn phải có thông tin về dự án và nếu biết thông tin về hợp đồng được thực hiện vượt quá phạm vi người đại diện, A có quyền yêu cầu hủy hợp đồng vì hợp đồng có hiệu lực sẽ làm phát sinh nghĩa vụ của chủ đầu tư A Tuy nhiên, A vẫn không yêu cầu hủy hợp đồng, rơi vào trường hợp được quy định ở Điểm b Khoản 1 Điều 143 BLDS 2015 Như vậy việc A không phản đối hợp đồng đồng nghĩa với việc A chấp nhận việc phát sinh nghĩa vụ đối với C, trong đó có nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện và C là người thực hiện công việc không có ủy quyền, ở đây là xây dựng công trình cho A Căn cứ theo Khoản 1 Điều 576 BLDS 2015:
“1 Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán chi phí hợp lý
mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc,
kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.”
+ Trong trường hợp công trình do C xây dựng là “chu đáo”, chủ đầu tư A thậm chí phải trả thù lao cho C, căn cứ theo Khoản 2 Điều 576 BLDS 2015:
“2 Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoảng thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo,
có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.”
Trang 9VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)
Tình huống:
Ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền thế chân của bà Cô 50.000đ Nay, ông Quới yêu cầu bà Cô trả nhà Bà Cô đồng ý trả nhà và yêu cầu ông
Quới hoàn trả tiền thế chân (Lưu ý: giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính Tp HCM là 15.000đ/kg)
Tóm tắt Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ việc “tranh chấp nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất”
Nguyên đơn là cụ Ngô Quang Bảng yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất đối với bị đơn là bà Mai Hương Cụ Bảng đã chuyển nhượng căn nhà cấp bốn hai gian cho bà Hương với giá là 5 triệu đồng, bà Hương đã trả cho cụ 4 triệu, còn nợ 1 triệu tương đương với 1/5 giá trị đất chưa thanh toán Cụ Bảng yêu cầu bà Hương trả số tiền là 1.697.760.000 đồng (tương đương 1/5 giá trị đất chưa thanh toán) Nếu bà Hương không thanh toán số tiền đó thì phải trả cho cụ Bảng 1/5 diện tích đất chưa thanh toán đó
Hướng giải quyết của Tòa: Tại quyết định giám đốc thẩm, Tòa án quyết định bà
Hương phải trả cho cụ Bảng 1/5 giá trị nhà, đất tại thời điểm xét xử
2.1 Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao cho phép việc tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán trong 2 trường hợp: sự việc xảy ra trước ngày 01/7/1996 và sự việc xảy ra sau ngày 01/7/1996, thông qua trung gian là giá gạo trung bình ở địa phương (gọi tắt là “giá gạo”) Căn cứ theo Khoản 1 Phần I của Thông tư:
“1- Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:
a) Nếu sự việc xảy ra trước ngày 01/7/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành
Trang 10tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó.
b) Nếu sự việc xảy ra sau ngày 01/7/1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 01/7/1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét
xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 BLDS, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
2.2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền
cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Ở tình huống thứ nhất, sự việc xảy ra vào năm 1973 (trước ngày 01/7/1996) và khi
đó, giá gạo trung bình là 137đ/kg Tại thời điểm xét xử, giá gạo trung bình là 15.000đ/kg, tăng hơn 20% Do đó phải quy đổi tiền ra gạo theo giá gạo trung bình và tính lại số lượng gạo thành tiền tại thời điểm xét xử, căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Phần 1 Thông tư 01/TTLT của Tòa án nhân dân tối cao Như vậy, số tiền thực tế ông Quới phải trả cho bà
Cô là:
Số ký gạo quy đổi: (50.000 / 137) = 364,963504 (kg)
Số tiền ông Quới phải trả: (15.000 x 364,963504) = 5.474.452đ
2.3 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?
Thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT vì số tiền bị đơn phải thanh toán trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản không thuộc các đối tượng được liệt kê trong mục 1 Chương I quy định tại Thông tư liên tịch 01
Mặc dù giá đất và giá gạo đều chịu sự chi phối từ thị trường Tuy nhiên, đất thuộc
sở hữu toàn dân, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Giá đất biến chuyển