BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN PHẠM THỊ CẦM KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC, HÓA CHẤT VÀ TỒN DƯ KHÁNG SINH TRONG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG NUÔI Ở CÁC HUYỆN HOÀI NHƠN, PHÙ MỸ, PH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
PHẠM THỊ CẦM
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC, HÓA CHẤT VÀ TỒN DƯ KHÁNG SINH TRONG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG NUÔI Ở CÁC
HUYỆN HOÀI NHƠN, PHÙ MỸ, PHÙ CÁT
TỈNH BÌNH ĐỊNH
TỪ NĂM 2015 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Bình Định - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
PHẠM THỊ CẦM
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC, HÓA CHẤT VÀ TỒN DƯ KHÁNG SINH TRONG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG NUÔI Ở CÁC
HUYỆN HOÀI NHƠN, PHÙ MỸ, PHÙ CÁT
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS Phan Trọng Hổ
đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập vàđưa ra những ý kiến đóng góp hết sức quý báu cho luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn anh Ý, anh Cánh ở Chi cục Chăn nuôi thú yBình Định, chị Khánh ở Chi cục quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủysản Bình Định, anh Phải và chị My ở Chi cục nuôi trồng thủy sản Bình Định
đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp những thông tin, số liệu để tôi hoàn thànhluận văn của mình
Xin được cảm ơn Quý Thầy, Cô trong khoa Sinh – Kỹ thuật nôngnghiệp trường đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi được học vàhoàn thành khóa học
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình cùng toànthể bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt thời học tập và hoàn thànhluận án
Xin chân thành cảm ơn!
Người viết luận văn
Phạm Thị Cầm
Trang 4
nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc, hóa chất và tồn dư
kháng sinh trong tôm thẻ chân trắng nuôi ở các huyện Hoài Nhơn, Phù
Mỹ, Phù Cát tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến năm 2016”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát mức độ, hàm lượng sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tômthẻ chân trắng theo định hướng bảo vệ môi trường và sản xuất sản phẩm cóchất lượng an toàn, vệ sinh thực phẩm
Xác định loại kháng sinh và mức độ tồn dư trong nuôi tôm thẻ chântrắng
Trang 54 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
bố cục luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tài liệu
Chương 2 Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên
cứu Chương 3 Kết quả và bàn luận.
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan tình hình phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng
1.1.1 Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Tôm thẻ chân trắng là đối tượng có giá trị kinh tế cao thị trường tiêu thụrộng, thời gian sinh trưởng ngắn (3 – 3,5 tháng), nhu cầu protein trong khẩuphần ăn cho tôm TCT 20 - 30%, thấp hơn so với các loài tôm nuôi cùng họkhác Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm rất cao, trong điều kiện nuôithâm canh, hệ số chuyển hóa thức ăn dao động từ 1,1 – 1,3 Tôm TCT lột xácvào ban đêm, thời gian giữa hai lần lột xác khoảng 1 – 3 tuần, tôm nhỏ (<3g)trung bình một tuần lột xác 1 lần, thời gian giữa hai lần lột xác tăng dần theolứa tuổi tôm, đến giai đoạn lớn (15 - 20g), trung bình 2,5 tuần tôm lột xác mộtlần Tôm TCT có tốc độ sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi, với môitrường sinh thái phù hợp, tôm có khả năng đạt 8 -10g trong 60-80 ngày, hayđạt 35-40g trong khoảng thời gian 180 ngày Tôm tăng trưởng nhanh hơntrong 60 ngày nuôi đầu, sau đó tăng trọng giảm dần theo thời gian nuôi TômTCT cho năng suất cao (trên 4 tấn/ha), thâm canh có thể đạt đến 20 tấn/ha,đồng thời có giá trị dinh dưỡng cao nên hiện nay tôm TCT đang được ngườitiêu dùng ở các thị trường lớn ưa chuộng Mỹ là thị trường tiêu thụ tôm chântrắng lớn nhất sau đó là châu Âu và Nhật Bản[15]
Tôm thẻ chân trắng là loài tôm được nuôi phổ biển nhất ở Tây bán cầu.Sản lượng của loài tôm này chiếm hơn 70% (1992) và có thời kỳ chiếm tới90% (1998) các loài tôm he Nam Mỹ Các nước có sản lượng cao trên thế giớinhư là Equado, Mêhicô, Panama … Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở các nướcnày ngày càng phát triển, sản lượng cũng tăng lên nhanh chóng, chỉ tính riêngEquado, là nước đứng đầu về sản lượng trên thế giới thì từ năm 1991 đã đạt
103 nghìn tấn, năm 1998 là 120 nghìn tấn chiếm 70% sản lượng châu Mỹ,năm 1999 đạt 130 nghìn tấn[3]
Tuy nhiên, những thành công của các chương trình nghiên cứu tạo đàntôm giống sạch bệnh và cải thiện chất lượng di truyền ở châu Mỹ như Hawaii
Trang 7đã mở ra hy vọng cho việc duy trì và phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắngnói riêng và nghề nuôi tôm biển nói chung ở tất cả các vùng sinh thái trên thếgiới [3]
Ngoài các nước Nam Mỹ, tôm thẻ chân trắng cũng được nuôi ở Đông Á
và Đông Nam Á như Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Malayxia, TháiLan… và cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao Năm 2004, Trung Quốc đạt sảnlượng 700.000 tấn, Thái Lan 400.000 tấn và Indônêxia là 300.000 tấn[20]
1.1.2 Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam
Tôm thẻ chân trắng là một đối tượng nuôi rất mới ở Việt Nam Tôm thẻchân trắng nhập lần đầu tiên vào nước ta được nuôi thử ở công ty Duyên Hải– Bạc Liêu từ tháng 1 năm 2001 Tuy nhiên, do đây là đối tượng nuôi mới vàtrước những diễn biến dịch bệnh tôm thẻ chân trắng trên thế giới nên việcnuôi đối tượng này chỉ mang tính chất thử nghiệm ở một số địa phương nhưBạc Liêu (Công ty Duyên Hải – Bạc Liêu – 4/2001), Khánh Hòa (Công tytrách nhiệm hữu hạn Long Sinh – 3/2001), Phú Yên (Công ty TNHH quốc tếAsia Hawai )
Năm 2006 do lo ngại về dịch bệnh của tôm thẻ chân trắng như hội chứngtaura có thể lây nhiễm sang tôm sú và các loài tôm khác, ảnh hưởng tới nghềnuôi tôm sú như ở các nước Thái Lan, Trung Quốc đã gặp phải nên để đảmbảo tính phát triển bền vững của nghề nuôi tôm sú, Bộ Thuỷ sản đã ra côngvăn số 475/TS-NTTS ngày 6/3/2006 không cho các tỉnh ở Đồng bằng sôngCửu Long, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh được sản xuất
và nuôi tôm thẻ chân trắng nhưng để sử dụng hợp lý và có hiệu quả môitrường vùng nước nuôi tôm, góp phần đa dạng hoá tôm nuôi nước lợ đồngthời đảm bảo an ninh sinh thái, bền vững môi trường nên các tỉnh từ QuảngNinh đến Bình Thuận có thể đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi bổ sung dưới sựquản lý chặt chẽ
Năm 2008, trước tình hình tôm thẻ chân trắng đã và đang phát triểntheo hướng tốt, nhu cầu thị trường tăng cao đồng thời do tôm sú đang gặp khókhăn về vấn đề dịch bệnh và xuất khẩu, ngày 25/01/2008 Bộ Thủy sản đã ra
Trang 8chỉ thị cho phép các tỉnh Nam Bộ được nuôi tôm thẻ chân trắng theo hìnhthức thâm canh và theo quy hoạch Theo thống kê của Tổng cục thủy sản thìsản lượng tôm thẻ chân trắng cũng tăng nhanh qua các năm: năm 2002 là10.000 tấn; năm 2003 là 30.000 tấn, năm 2004 đạt sản lượng 50.000 tấn, năm
2011 sản lượng 139.400 tấn
1.1.3 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bình Định
Tại Bình Định tôm TCT được đưa vào nuôi đầu tiên vào năm 2003
ởvùng nuôi trên cát xã Mỹ An, Mỹ Thắng huyện Phù Mỹ với diện tích 30 ha.Vào những năm sau đó diện tích và sản lượng nuôi đối tượng này tăng nhanhchóng Tính đến nay người dân đã chuyển đổi hoàn toàn diện tích nuôi tômthâm canh, bán thâm canh của tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng Vào năm
2006 diện tích tôm chân trắng là 134 ha (chiếm 5,4% tổng diện tích) , năm2010: 489 ha (19,8 %) đến năm 2011 là 561 ha chiếm 23% diện tích nuôitrồng thủy sản nước lợ toàn tỉnh[22]
Năng suất trung bình 5-10 tấn/ha/vụ của tôm thẻ chân trắng cao hơnnhiều so với tôm sú, cá biệt có ao lên đến 18-20 tấn/ha/vụ Sản lượng tômnuôi cũng tăng nhanh qua các năm, năm 2006: 1.203 tấn; năm 2010: 5.617tấn; năm 2011: 5.829,5 tấn, sản lượng chủ yếu tập trung vào vụ chính từ tháng
2 đến tháng 5 dương lịch Sản lượng tôm sú nuôi ngày càng giảm dần, nhưngngược lại sản lượng tôm thẻ chân trắng ngày càng tăng cao và là nguồn chủlực của sản lượng tôm nuôi trong tỉnh
Vào năm 2007 diện tích tôm chân trắng là 287,4 ha chiếm 11,60%,nhưng đến năm 2011 là 984,3 ha chiếm 39,98% diện tích nuôi trồng thủy sảnnước lợ toàn tỉnh Hiện nay người nuôi tự lấn chiếm đất xây dựng ao nuôi ồ
ạt, không theo quy hoạch, thải vô tội vạ làm ô nhiễm môi trường vùng nuôi.Tuy nhiên có một số bộ phận người nuôi vẫn chưa tuân thủ Một số hộ vìmuốn có tôm thu hoạch sớm, bán giá cao mà chấp nhận rủi ro, thả giống nuôisớm trước khung thời gian của LTV khi điều kiện thời tiết chưa phù hợp Việcnày gây mối nguy hiểm tiềm tàng cho cả vùng nuôi, vì một khi có dịch bệnhbùng phát thì dễ lây lan nhanh ra cả vùng Thời gian thả sớm hơn lịch
Trang 9và vùng nuôi tôm trên cát với diện tích 43,32/212,2 ha, chiếm 20,42% diệntích cả vùng.
Từ năm 2003, ngành Thủy sản đã chỉ đạo Trung tâm Khuyến ngư vàNghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thủy sản Bình Định phối hợp với địa phươngcủa các huyện, thành phố ven biển tiến hành khảo sát, xác định địa điểm, qui
mô diện tích, tổng số hộ tham gia theo từng chi hội, tổ dựa trên đặc thù từngkhu vực cụ thể Đồng thời tổ chức họp các hộ nuôi, tuyên truyền, tổ chức cáclớp tập huấn hội thảo, vận động các hộ nuôi tham gia thành lập các Chi hội, tổnuôi tôm theo hình thức quản lý cộng đồng Kết quả đã hình thành được 30Chi hội, tổ cộng đồng, với số hộ tham gia 844, diện tích 654,6 ha Sau mộtthời gian hoạt động do nhiều nguyên nhân khác nhau, đến nay chỉ còn 20 Chihội, tổ hoạt động, trong đó có 07/20 chi hội, tổ cộng đồng còn duy trì họatđộng nhưng ít hiệu quả, chủ yếu là giải quyết các bức xúc về đất đai, điện,đường, 13 chi hội hoạt động không hiệu quả Còn 10 Chi hội, tổ đã tự giảithể[21]
1.2 Ðặc điểm sinh học tôm thẻ chân trắng
1.2.1 Hệ thống phân loại
Ngành: Arthropoda
Lớp: CrustaceaBộ: Decapoda
Họ: Penaeidea
Giống: Penaeus
Trang 10Loài: Penaeus vannamei Boone, 1931.
Hình 1 Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)
Tên tiếng Anh: White Leg shrimp
Tên tiếng việt: Tôm thẻ chân trắng, tôm chân trắng
1.2.2 Đặc điểm của tôm thẻ chân trắng
1.2.2.5 Hình thái
Tôm TCT vỏ mỏng có màu trắng đục nên có tên là tôm Bạc, bình thường
có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi tôm chân trắng Chùytôm gồm có 2 - 4 răng cưa ở dưới, 8 - 9 răng cưa ở phía trên Vỏ đầu ngực cónhững gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi (gai telssm),không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chuỳ khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầungực Gờ bên chùy ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng vị
Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có.Telson (gai đuôi) không phân nhánh Râu không có gai phụ và chiều dài râungắn hơn nhiều so với vỏ giáp Xúc biện của hàm dưới thứ nhất thon dài vàthường có 3 - 4 hàng, phần cuối của xúc biện có hình roi Gai gốc (basial) vàgai ischial nằm ở đốt thứ nhất chân ngực 5
1.2.2.6 Sinh sản
Tôm TCT thành thục sớm, con cái có khối lượng từ 30 - 45 g/con là cóthể tham gia sinh sản Ở khu vực tự nhiên có tôm TCT phân bố thì quanh nămđều bắt được tôm chân trắng Song mùa sinh sản của tôm chân trắng ở vùng
Trang 11biển lại có sự khác nhau ví dụ: ở ven biển phía Bắc Equađo tôm đẻ từ tháng
12 đến tháng 4 Lượng trứng của mỗi vụ đẻ phụ thuộc vào cỡ tôm mẹ: Nếutôm mẹ từ 30 - 45 g thì lượng trứng từ 100.000 - 250.000 trứng, đường kínhtrứng 0.22 mm Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng tôm lại phát triển tiếp.Thời gian giữa 2 lần đẻ cách nhau 2 - 3 ngày Con đẻ nhiều nhất tới 10lần/năm Thường sau 3 - 4 lần đẻ liên tục thì có lần lột vỏ[15]
1.2.2.7 Sinh thái
Tôm TCT là loài tôm nhiệt đới, có khả năng thích nghi với giới hạn rộng
về độ mặn và nhiệt độ Tôm có khả năng sinh trưởng ở độ mặn thích hợp: 27
- 340/00 và tăng trưởng tốt ở độ mặn: 10-250/00; nhiệt độ thích hợp 25 - 32oCtuy nhiên chúng có thể sống được ở nhiệt độ 12 - 28oC.; pH thích hợp là 7,5 –8,5; Oxy hòa tan lớn hơn 4mg/l; COD nhỏ hơn hoặc bằng 6,8mg/l; hàm lượngkhí độc NH3 nhỏ hơn 0,1mg/l; H2S nhỏ hơn 0,03mg/l
Mặc dù tôm có khả năng thích nghi với giới hạn rộng về nhiệt độ
(15-330C), nhưng nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm là 23-300C.Tuy nhiên, trong điều kiện nhiệt độ thấp tôm mẫn cảm hơn với các bệnh dovirus như bệnh đốm trắng và hội chứng Taura
Trong vùng biển tự nhiên, tôm TCT ở nơi có đáy cát bùn, độ sâu củanước khoảng <72 m, tôm trưởng thành phần lớn sinh sống ở ven biển gần bờ,tôm con phân bố nhiều ở vùng cửa sông – nơi giàu chất dinh dưỡng[15]
1.2.2.8 Sinh trưởng
Tôm TCT là loài ăn tạp có phổ thức ăn rộng, cường độ bắt mồi khỏe, tôm
sử dụng được nhiều loại thức ăn tự nhiên có kích cỡ phù hợp từ mùn bã hữu
cơ đến các động vật thủy sinh
Nhờ đặc tính ăn tạp, bắt mồi khỏe, linh hoạt, nên tôm TCT trong quầnđàn có khả năng bắt mồi như nhau, vì thế tôm tăng trưởng khá đồng đều, ít bịphân đàn[15]
Trang 121.2.3.2 Tính bắt mồi
Tôm thẻ chân trắng là loài ưa hoạt động mạnh về đêm, ban ngàythường vùi mình dưới đáy, không chủ động ra ngoài kiếm ăn, nhưng trongmôi trường nuôi trồng nhân tạo, nếu ban ngày ta cho ăn tôm sẽ vẫn bắt mồibình thường, nguyên nhân là do bị kích thích bởi thức ăn ở cự li gần Khi cho
ăn, hợp lý nhất là ban ngày cho ăn khoảng 25~35~ và ban đêm cho ăn khoảng65~75~
Trong ao nuôi, tốc độ sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng
tỷ lệ thuận với số lần cho ăn, cho ăn nhiều thì tôm sẽ phát triển nhanh[14]
1.2.4 Lột vỏ
Tốc độ sinh trưởng của tôm có liên quan đến 2 nhân tố lớn sau :
+ Tần số lột xác, tức là khoảng thời gian của mỗi lần lột vỏ
+ Mức độ tăng trưởng sinh sản, tức là mức tăng thể trọng sau mỗilần lột
vỏ tính đến trước khi lột vỏ đợt sau
Mỗi khi sinh trưởng đến một giai đoạn nhất định, vỏ của tôm thẻ chântrắng bị lão hóa, vỏ mới được hình thành từ bên trong, và xuất hiện vết nứtgiữa vỏ mới và vỏ cũ Khi đến thời gian lột vỏ, các cơ thịt của tôm bật mạnh,lớp vỏ giáp đầu ngực và các vết nứt trên cơ thể bật tách ra sau, lần lượt bonghết ra Những con tôm khỏe mạnh, chỉ cần 3 ~ 5 phút là có thể lột xác xong
Cơ thể tôm khi mới lột xác có màu trong, yếu, bơi lờ đờ trên mặt nước, hoặcvùi dưới đáy ao Tôm non khoảng 1 ~ 3 gram, vài tiếng sau vỏ mới mới có thểcứng trở lại, còn tôm lớn thì 1 - 2 ngày sau vỏ mới cứng lại được[13]
Trang 13Độ mặn thấp hoặc nhiệt độ cao sẽ tăng số lần lột vỏ của tôm Môi trườngnuôi thay đổi, hoặc sử dụng các chất hóa học cũng ép buộc kích thích tôm lột
vỏ Mỗi lần lột vỏ của tôm đều là một thử nghiệm quan trọng cho sự sinhtrưởng
Có hai vấn đề thường xuất hiện nhất:
+ Khi cơ thể tôm còn yếu dễ bị các con tôm khác ăn thịt;
+ Khi lột vỏ, tỉ lệ hô hấp khí ôxy tương đối thấp, nếu như lột vỏ không thuận lợi thì có thể gây ra hiện tượng thiếu ôxy, dẫn đến phát bệnh mà chết
1.3 Tổng quan về thuốc và hóa chất
1.3.1 Thuốc (kháng sinh)
1.3.1.1 Khái niệm
Kháng sinh[23] còn được gọi là trụ sinh là những chất có khả năng tiêudiệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu Nó
có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng của
vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn
Từ "antibiotics" (kháng sinh) có nguồn gốc từ chữ "antibiosis" ;"anti" có nghĩa là "chống lại" và "biosis" có nghĩa là "cuộc sống" Chất kháng sinh tác
động, chống lại một số loại vi khuẩn Thật vậy, chất kháng sinh là chất hoáhọc lấy từ cơ thể các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm mốc, hoặc một vài thựcvật
1.3.1.2 Các loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất trong nuôi trồng thuỷ sản[17]
(1) Nhóm Sulfamid: bao gồm các tác nhân kháng khuẩn có tác dụng kìmhãm hoạt động của axit folic và có thể hình thành tác dụng hiệp đồng(synergism) Các kháng sinh nhóm Sulfamid kết hợp trimethoprim được sử
Trang 14(3) Nhóm Quinolone: Chúng có tác dụng mạnh đối với các vi khuẩnGram (+) và được sử dụng nhiều tại Nhật Bản Tác dụng kháng khuẩn baogồm cả tác dụng kìm hãm và tiêu diệt vi khuẩn do chúng có thể gây ảnhhưởng đến cấu trúc xoắn của ADN trong vi khuẩn.
1.3.2 Hóa chất
1.3.2.1 Khái niệm
Hóa chất: Là sản phẩm hoá học được dùng để xử lý, cải tạo môi trường,phòng và trị bệnh cho nuôi trồng thủy sản
1.3.2.2 Một số loại khoáng và hóa chất thường dùng
Theo GESAMP (1997)[19], hóa chất sử dụng trong NTTS với nhiều mụcđích khác nhau như: xử lý nước, chất lắng đọng, tăng năng suất thủy vực, thức
ăn bổ sung, kích thích sinh trưởng
(1) Vôi được dùng rộng rãi để trung hòa axit, tăng độ kiềm, phổ biến làvôi nông nghiệp CaCO3, Dolomite MgCa(CO3)2 Trong chuẩn bị ao, bón vớiliều lượng 10 -15 kg/100m2, dùng ổn định môi trường 20 – 25 kg/1.000m2.Việc bón vôi có tác dụng để trung hòa axit sunfuric sinh ra từ quá trình oxyhóa tầng phèn trong các ao được xây dựng từ vùng rừng ngập mặn
(2) Zeolite có thành phần là SiO2, Al2O3 dùng để hấp thu khí độc như
NH3, NO2 với liều lượng 10-50 kg/1.000m2, giảm tác dụng khi sử dụng trongnước lợ do bị kiềm chế bởi nồng độ cation
(3) Phèn (Sunfat nhôm ˗Kali) được sử dụng với nồng độ 10–20 ppm, làm giảm độ đục ở các ao nuôi tôm.
Trang 15(4) Phân bón được sử dụng nhằm làm tăng nguồn thức ăn tự nhiên trong
ao, phân hữu cơ dùng phổ biến là phân gà, phân bò, phân lợn, với liều lượng100-200 kg/1.000m2 Phân vô cơ được dùng chủ yếu dùng là NPK (16-20-0),DAP (18-46-0), URE (46-0-0) với liều lượng 2-3 kg/1.000m2
(5) Thạch cao (Canxi sunfat) được sử dụng rộng rãi ở nồng độ 1.000 ppm làm giảm độ đục ở các ao nuôi tôm
250-(6) Potassium permanganat (Thuốc tím) cấu tạo hóa học là KMnO4,dạng hạt mịn màu tím đen dễ tan trong nước dùng để lắng phù sa, diệt khuẩn,nấm và ký sinh trùng, nồng độ sử dụng 4-5 ppm (ngâm) Ngoài ra thuốc tím làchất oxy hóa mạnh, nên khi sử dụng thuốc tím cần chú ý đến liều lượng sửdụng Đối với nước có nhiều tảo, hợp chất hữu cơ lơ lửng, sau thời gian xử lý,nước trở nên rất trong, do tảo và các hợp chất hữu cơ lắng xuống đáy
(7) Chlorine (Ca(OCl)2) dùng để khử trùng bể ương, các dụng cụ, xử lýbệnh vi khuẩn,…với nồng độ từ 25-250 ppm, chlorine cũng có hiệu quả đốivới các chất hữu cơ, có tác dụng làm giảm lượng hữu cơ, độ đục trong nước,tính oxy hóa mạnh, phản ứng hầu hết với các chất như Fe, Mn, H2S, NH3…(8) Rotenon (dây thuốc cá) dùng để diệt tạp, trong ao trước khi thả tôm,
cá giống, hợp chất này có thể làm tê liệt đường hô hấp với liều lượng 1kg/100m3
(9) Chloramin T có tác dụng diệt khuẩn phổ rộng được sử dụng trị cácbệnh như trùng mặt trời, trùng quả dưa… nhưng không có khả năng tẩy mạnh.Không dùng Chloramin T ở nồng độ cao bằng phương pháp nhúng bởi vì chấtnày sẽ gây hủy hoại tổ chức mang của động vật thủy sản[17]
(10) Benzalkonium chlorin BKC 80% được khuyến cáo sử dụng trongNTTS diệt khuẩn phổ rộng, tảo, nấm, protozoa, trị và phòng bệnh phát sáng,khống chế sự phát triển của phiêu sinh thực vật, trị bệnh đống rong, đenmang, khử mùi hôi đáy ao nuôi, thường sử dụng khi thời tiết thay đổi độtngột, tảo trong ao có biểu hiện tàn, hay tôm yếu với liều lượng 0,5 - 1 ppm
Trang 16(11) Iodine sản phẩm được dùng phổ biến để diệt khuẩn rất hiệu quả,dùng để sát trùng nguồn nước 2 - 3 ppm, dùng để trị bệnh 0,5 - 1 ppm, iodinegiảm tác dụng trong môi trường có độ kiềm cao do phản ứng tự khử
(12) Ethylenediaminetetraacetic acid (EDTA) có công thức hóa học là (C 10 H 16 N 2 O 8 ) dùng để kết tủa kim loại nặng, như đồng, sắt, cadium,… có trong nước ảnh hưởng đến tôm dùng để xử lý nước trước khi nuôi với liều lượng 10 - 15 ppm và phòng trị bệnh do vi khuẩn từ 2 ˗ 3 ppm.
(13) Vitamin C (Axit ascorbic) dùng tăng cường sức đề kháng và hộichứng suy giảm miễn dịch ở cá, vẹo cột sống, xuất huyết toàn thân Tôm súthiếu axit sẽ không có khả năng lột xác, khuyết tật ở vỏ giáp, rối loạn trao đổikhí ở mang và tỷ lệ chết cao
(14) Vitamin E (Tocoferol) giúp tăng cường sức đề kháng, ngăn ngừahội chứng suy giảm, suy dinh dưỡng thiếu máu và tác hại đối với màng tế bào,thoái hóa bắp thịt, gan ,não, mỡ
(15) Vitamin B1 (Thyamin) có tác dụng giúp ngăn ngừa viêm thần kinh,
tê phù, nếu thiếu vitamin B1 tuyến sinh dục kém phát triển, trứng dễ thối hóa,kém ăn và sinh trưởng chậm
1.3.3 Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất ở nước ta
Hiện nay nghề nuôi tôm không ngừng phát triển cả về diện tích cũng như
mô hình nuôi, trong đó mô hình công nghiệp đã thay thế cho mô hình quảngcanh và bán thâm canh Việc sử dụng thuốc, hóa chất từ cải tạo ao cho đếnquản lý môi trường ao nuôi từ mô hình nuôi công nghiệp, gây nên hiện tượng
ô nhiễm đã xuất hiện trên nhiều vùng nuôi tôm trọng điểm, do người nuôingày càng sử dụng nhiều thức ăn, thuốc, hóa chất xuyên suốt trong quá trìnhnuôi Nhưng các sản phẩm này được sử dụng theo thói quen của người nuôi
và hàm lượng thường vượt mức cho phép Việc dùng kháng sinh để trị bệnhcho tôm cũng làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, bên cạnh đó các chất thảiluôn tồn đọng trong ao nuôi mà chưa có biện pháp xử lý hiệu quả, khi cho ramôi trường ngoài sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh thái ngoài tự nhiên, trong khi đó
hệ thống thủy lợi trong tình trạng yếu kém) Với mức độ sử dụng thuốc trừ
Trang 17sâu ngày càng tăng, chắc chắn sẽ tác động xấu đến nguồn lợi thuỷ sản tựnhiên và sử dụng các loại phân hoá học cũng có ảnh hưởng đến nguồn lợithuỷ sản
Theo Nguyễn Văn Năm và Phạm Văn Ty ( 2007)[16], việc hình thànhlớp bùn đáy là do tích lũy dần các chất hữu cơ đây là nơi sinh sống của sinhvật thối rửa, vi sinh vật sinh khí độc, vi sinh vật gây bệnh và các loại nấmnguyên sinh động vật Thông thường các vi sinh vật này hiện diện trong môitrường, nhưng khi có sự mất thăng bằng các yếu tố trong ao nuôi thì chúng sẽgây hại đến vật chủ, ngoài ra môi trường bị ô nhiễm, tôm bị tress cũng ảnhhưởng đến sức khỏe và khi có cơ hội sẽ bộc phát thành bệnh Khi đó để trịbệnh cho động vật thủy sản người nuôi dùng kháng sinh và các loại hóa chất,tuy nhiên các loại hóa chất và kháng sinh thường có tác dụng phụ, nếu sửdụng đúng quy định có thể sử dụng một cách an toàn Theo (Nafiquved, 2006)[4], danh mục thuốc thú y thủy sản (TYTS) sản phẩm xử lý, cải tạo môitrường trong nuôi tôm, được cấp giấy chứng nhận đăng ký sản xuất là 1.939sản phẩm, trong đó bao gồm 99 sản phẩm để phòng bệnh, 756 dùng để bổsung dinh dưỡng và 1.084 sản phẩm dùng để xử lý và cải tạo môi trường.Theo (GESAMP, 1997)[19], trong mô hình nuôi quảng canh thì nhu cầu
sử dụng thuốc, hóa chất là tối thiểu, chỉ giới hạn trong việc bón phân, xử lýnước, diệt tạp, nhưng trong mô hình nuôi thâm canh thì nhu cầu sử dụngthuốc và hóa chất nhiều hơn, về chủng loại thuốc cũng như mức độ đầu tư.Hiện nay, người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu sản phẩm thuỷ sản ngàycàng quan tâm đến chất lượng sản phẩm hơn, nhiều rào cản kỹ thuật đã dựnglên như tiêu chuẩn về dư lượng hay độ tồn lưu thuốc kháng sinh, hóa chấttrong sản phẩm Do đó các nước sản xuất cũng có những chiến lược kịp thời,nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng duy trì thị trường Đặc biệt, người nuôiphải sử dụng hợp lý thuốc, hóa chất trong sản xuất, góp phần tạo ra những sảnphẩm an toàn, tạo lòng tin ở những thị trường xuất khẩu Nhưng trong thờigian qua, tình hình sử dụng thuốc kháng sinh nhiều trong nuôi tôm, nên thủysản Việt Nam đã mất thị trường Cannada
Trang 181.3.4 Dư lượng kháng sinh
Dư lượng kháng sinh (DLKS)[18] là tình trạng kháng sinh vẫn còn trongthực phẩm ở dạng nguyên chất hay đã chuyển hóa, vì thế có thể gây tác hạiđối với người sử dụng Vì thiếu hiểu biết và vì tin tưởng sai lầm, nên ở khắpnơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển, người ta đã dùng khángsinh quá nhiều, cả khi không cần thiết, không đúng chỉ định và không đúngcách Lạm dụng hoặc chưa hợp lý, dẫn đến những hậu quả khôn lường.Không những chi phí tiền thuốc tăng do sử dụng nhiều loại kháng sinh đắttiền mà còn làm nhiều loại kháng sinh mới
Các loại kháng sinh này thường không bị phân huỷ và tồn lưu trongmôi trường nuôi trồng thuỷ sản trong thời gian dài, khiến các loại vi khuẩnthích nghi với môi trường có kháng sinh Kết quả là các loại vi khuẩn gâybệnh trong thuỷ sản lại có khả năng kháng thuốc kháng sinh Nếu kháng sinhđược trộn lẫn vào thức ăn nuôi thuỷ sản, có thể tìm thấy dư lượng kháng sinhtrong thịt thuỷ sản và các sản phẩm chế biến Những người ăn thuỷ sản chứa
dư lượng kháng sinh sẽ vô tình hấp thụ kháng sinh vào cơ thể, dẫn đến nhữngthay đổi trong môi trường vi khuẩn bình thường, khiến họ trở nên dễ bị nhiễmkhuẩn hơn
Đặc biệt việc lạm dụng chất kháng sinh sẽ gây lờn thuốc, dẫn đến sựphát triển của các loại vi khuẩn có khả năng kháng thuốc trong cơ thể độngvật cũng như trong thủy sản
Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cộngđồng và môi trường, là một trong những nguyên nhân gây những bệnh hiểmnghèo như ung thư, đột biến gen, quái thai, dị ứng và tăng nguy cơ xuất hiệnnguồn gen kháng thuốc ở các chủng vi sinh vật, đặc biệt
vi sinh vật gây bệnh Do đó cần phải biết được phương pháp xác định dưlượng thuốc trong thực phẩm để hạn chế được những tác dụng nguy hại từnhững thực phẩm chứa dư lượng thuốc kháng sinh quá tiêu chuẩn cho phép(phụ lục 1 và phụ lục 2 kèm theo)
Trang 192.2 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
2.2.1.Thời gian nghiên cứu
Từ tháng: 8/2016 – 5/2017
2.2.2.Địa điểm nghiên cứu
9 xã nuôi tôm TCT thương phẩm tại Bình Định (được thực hiện tại 02 vùng đặc trưng là vùng nuôi trên cát và vùng đầm), cụ thể như sau:
- Huyện Hoài Nhơn: xã Hoài Mỹ (vùng Đầm Công Lương), xã Hoài Hải (vùng Kim Giao Nam), xã Tam Quan Nam (vùng Cửu Lợi Tây, Nam, Bắc)
- Huyện Phù Mỹ: xã Mỹ Thắng (thôn 8 và 9), xã Mỹ Đức (xóm mới), xã
Mỹ chánh (Cao Triều, Thượng An, Trung Xuân, An Hoan)
- Huyện Phù Cát: xã Cát Hải (thôn Chánh Oai, Tân Thắng), xã Cát Khánh (An Quang Đông), xã Cát Minh (Đức Phổ 1,2)
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng nuôi tôm trên địa bàn 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ,Phù Cát của tỉnh Bình Định
-Khảo sát các loại thuốc, hóa chất và tình hình sử dụng thuốc, hóa chấttrong nuôi tôm
- Kiểm tra tồn dư kháng sinh trong tôm nuôi
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
- Số liệu thu đuợc từ các báo cáo hàng năm của Chi cục Chăn nuôi - Thú
y, Chi cục Nuôi trồng thủy sản, Chi cục Quản lý Nông, Lâm sản và Thủy sản,
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định, và các thông tin cập
Trang 20- Điều tra phỏng vấn trực cán bộ kỹ thuật, người nuôi theo nguyên tắc
từ trên xuống, nếu đến hộ nuôi nào vắng thì bỏ qua và sang điều tra ở hộ nuôitiếp theo, nhưng vẫn đảm bảo đúng số lượng điều tra
Trang 21+ Mẫu thủy sản nuôi chỉ định phân tích các chỉ tiêu nhóm A, B2a vàB3e (các hoạt chất cấm sử dụng): Lựa chọn các đầm, bè nuôi có hình thứcnuôi có cho ăn hoặc (và) có phòng trị bệnh, có thời gian nuôi phù hợp với kếhoạch thu mẫu Cần tập trung vào các đối tượng có nghi ngờ sử dụng các hoạtchất cấm, có tiền sử sử dụng hoạt chất cấm Trong trường hợp không có nghingờ, cần thu mẫu ngẫu nhiên và tránh thu mẫu lặp lại nhiều lần tại một hộnuôi Riêng đối với mẫu phân tích chỉ tiêu dipterex (nhóm B2a), ngoài các nộidung trên cần lưu ý các khu vực nuôi chịu nhiều ảnh hưởng bởi canh tác nôngnghiệp Đối với mẫu thủy sản thương phẩm, cần thu mẫu từ 20 – 30 ngàytrước thời điểm dự kiến thu hoạch.
+ Mẫu thủy sản nuôi chỉ định phân tích các chỉ tiêu nhóm B1 (khángsinh hạn chế sử dụng): mẫu được thu tại đầm, bè nuôi thương phẩm có cho ănhoặc (và) có trị bệnh Cần tập trung vào các đối tượng có nguy cơ tồn lưu dư lượng do sử dụng kháng sinh Thời điểm thu mẫu là trước khi thu hoạch 10 -
15 ngày
+ Mẫu thủy sản nuôi chỉ định phân tích chỉ tiêu thuốc trừ sâu gốc chlorhữu cơ (nhóm B3a): đối tượng thu mẫu vào thời điểm có khả năng tồn dư caonhất các thuốc trừ sâu phải kiểm soát Cần chú ý các nguồn nước, nguồn xảthải có ảnh hưởng cao nhất về dư lượng thuốc trừ sâu trong thủy sản Thờiđiểm thu mẫu là trước khi thu hoạch 20 - 30 ngày
+ Mẫu thủy sản nuôi chỉ định phân tích chỉ tiêu kim loại nặng (nhómB3c): đối tượng thu mẫu có thời gian sống lâu nhất tại vùng nuôi đó Cần chú
ýcác nguồn nước, nguồn xả thải có ảnh hưởng cao nhất về dư lượng kim loại nặng trong thủy sản Thời điểm thu mẫu là trước khi thu hoạch 20 - 30 ngày
Trang 22- Thời điểm thu mẫu: Thu mẫu vào buổi sáng lúc 7 - 10 giờ sáng.
- Vị trí thu mẫu: Mẫu thu cách tầng mặt khoảng 0,5m và cách đáy ao0,5m Tùy diện tích từng ao, ao nhỏ thu mẫu từ 1 - 3 điểm, ao lớn thu 3 - 5 điểm như hình vẽ sau mô tả:
+ Sau khi tiếp nhận, mẫu phải được bảo quản ngay ở nhiệt độ ≤ -16oC
và chuyển mẫu đến các phòng kiểm nghiệm trong vòng 02 ngày làm việc kể
từ khi tiếp nhận mẫu
+ Sau khi tiếp nhận mẫu từ cơ quan giám sát, cơ quan kiểm tra tiếnhành mã hóa và phân mẫu Mỗi mẫu kiểm soát cần được phân thành 3 phầntương đương (mỗi phần đủ để phân tích các chỉ tiêu đã được chỉ định) Một phần lưu tại cơ quan kiểm tra (thời gian lưu mẫu tối thiểu 30 ngày ở nhiệt độ
≤ -16oC) và 2 phần được gửi đến các phòng kiểm nghiệm Sau thời hạn lưu
mẫu, cơ quan kiểm tra tiến hành huỷ mẫu lưu Việc huỷ mẫu phải được ghi vào sổ theo dõi hoặc lập thành biên bản
Trang 23+ Mẫu được gửi đến phòng kiểm nghiệm phải được bao gói trong PEsạch có nhãn ghi tối thiểu các thông tin: tên mẫu, số mã hóa, chỉ tiêu phântích; đồng thời kèm theo phiếu gửi mẫu ghi đủ các thông như trên và khốilượng tương ứng với từng mẫu Mẫu cần được bảo quản ở nhiệt độ ≤ -4oCtrong suốt quá trình vận chuyển để đảm bảo không bị hư hỏng
2.4.2.2 Phương pháp ELISA
ELISA (Enzyme-Linked Immuno Sorbent Assay)[24] là một kỹ thuậtsinh hóa để phát hiện kháng thể hay kháng nguyên trong mẫu cần phân tích.Hiện nay ELISA được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như yhọc, nông nghiệp và đặc biệt là trong quy trình kiểm tra an toàn chất lượngcác sản phẩm thực phẩm
Nguyên tắc: Phương pháp ELISA (Enzyme Linked ImmunosorbentAssay- xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme) có rất nhiều dạng
mà đặc điểm chung là đều dựa trên sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên vàkháng thể, trong đó kháng thể được gắn với một enzyme Khi cho thêm cơchất thích hợp (thường là nitrophenol phosphate) vào phản ứng, enzyme sẽthủy phân cơ chất thành một chất có màu Sự xuất hiện màu chứng tỏ đã xảy
ra phản ứng đặc hiệu giữa kháng thể với kháng nguyên và thông qua cường
độ màu mà biết được nồng độ kháng nguyên hay kháng thể cần phát hiện.Phương pháp này được thiết kế cho việc phát hiện và định lượng vật chất nhưpeptides, protein, antibodies, hormone,… Đôi khi nó còn được gọi bởi mộttên gọi khác là EIA (Enzyme Immuno Assay)
Kỹ thuật này khá nhạy và đơn giản, cho phép xác định kháng nguyênhoặc kháng thể ở một nồng độ rất thấp (khoảng 0,1 ng/ml) So với kĩ thuậtmiễn dịch phóng xạ (RIA- Radio Immuno Assay) thì kĩ thuật này rẻ tiền và antoàn hơn mà vẫn đảm bảo độ chính xác như nhau ELISA được dùng để xácđịnh nhiều tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, nấm, kí sinh
Kĩ thuật ELISA gồm ba thành phần tham gia phản ứng là: kháng nguyên,kháng thể và chất tạo màu; thực hiện qua hai bước:
Trang 25Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Hiện trạng nuôi tôm tại 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát của
tỉnh Bình Định
3.1.1 Năng suất tôm TCT :
Khảo sát diện tích, sản lượng và năng suất tôm nuôi của 3 huyện Hoài
Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát được trình bày qua bảng sau:
Bảng 3.1 Năng suất tôm TCT của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát
Năm Các
Chỉ tiêu Huyện
Phù Cát Phù Mỹ Hoài Nhơn
Qua bảng 3.1 chúng tôi nhận thấy, diện tích nuôi tôm năm 2016 giảm
so với năm 2015 Trong đó, diện tích nuôi tôm lớn nhất năm 2016 ở huyện
Hoài Nhơn là 107,1 ha, thấp nhất ở huyện Phù Cát với diện tích là 66,8 ha
Nguyên nhân, là do năm 2015, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó
kiểm soát, dẫn đến sản lượng nuôi không đạt, nhiều hộ nuôi đã ngừng nuôi
tôm vào năm 2016 (xem phụ lục 4, 5 kèm theo)
Rút kinh nghiệm từ năm 2015, năm 2016 người nuôi tôm đã rút kinh
nghiệm được và thực hiện tốt các quy trình kỹ thuật trong nuôi tôm TCT, nên
sản lượng tôm cũng như năng suất tôm thu được năm 2016 tăng đáng kể so
với năm 2015.(Kết quả điều tra thể hiện ở bảng 3.1 và đồ thị 3.1).
Trang 26Đồ thị 3.1 Năng suất tôm TCT của 3 huyện năm 2015-2016
Huyện Phù Cát năng suất tôm TCT thu được năm 2016 là 5,04 tấn/ha,tăng 22,63% so với năng suất tôm năm 2015
Huyện Phù Mỹ năng suất tôm TCT thu được năm 2016 là 8,40 tấn/ha,tăng 18,31% so với năm 2015
Huyện Hoài Nhơn, năng suất tôm TCT năm 2016 là 7,68 tấn/ha tăng4,77% so với năng suất năm 2015
Như vậy, mức tăng năng suất qua các năm ở các huyện là khác nhau.Theo đó, mức tăng năng suất ở Phù Mỹ là cao nhất, tiếp đến là Hoài Nhơn vàsau đó là Phù Cát
3.1.2 Trình độ văn hóa người nuôi tôm
Điều tra trình độ văn hóa của người nuôi tôm ở 90 hộ nuôi tôm (30 hộ/huyện) ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát Kết quả như sau:
Trang 27Bảng 3.2 Trình độ văn hóa và khả năng áp dụng kiến thức tập huấn chuyên
môn vào nghề nuôi tôm TCT tại 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát
Cấp Các
chỉ tiêu
Trình độ văn hóa
Trình độ chuyên môn
Áp dụng kiến thức tập huấn vào ao nuôi
Theo số liệu thống kê cho thấy việc người dân áp dụng kiến thức này vào
thực tế nuôi tôm là rất cao chiếm khoảng từ 80,00 % đến 96,67% (xem phụ lục 6
kèm theo)
Nhìn chung, trình độ văn hóa của người nuôi ở 3 huyện chủ yếu là tốt
nghiệp cấp II, có trình độ cấp III ở huyện Phù Mỹ là cao nhất, huyện Hoài Nhơn
Trang 28là thấp nhất Trình độ chuyên môn giữa các huyện là gần tương đương nhau,chủ yếu là chuyên môn được đào tạo từ các lớp tập huấn Song, việc áp dụngcác kiến thức chuyên môn tập huấn vào ao nuôi lại khác nhau ở các huyện, PhùCát đạt tỷ lệ thấp nhất và tỷ lệ cao nhất là Phù Mỹ, vì vậy mà sản lượng cũngnhư năng suất tôm thu được ở huyện Phù Cát là thấp nhất so với 2 huyện HoàiNhơn và Phù Mỹ
Qua điều tra cho thấy, người nuôi chính thường là nam giới có độ tuổi laođộng tương đối cao trung bình khoảng 42 – 45 tuổi, độ tuổi thấp nhất là 22 tuổi,cao nhất là 76 tuổi, những người có độ tuổi từ 28 – 42 nuôi thành công hơnnhững người có độ tuổi còn trẻ hoặc già hơn Ở độ tuổi này trẻ, có sức khỏe vàmạnh dạn đầu tư vốn, áp dụng khoa học kỹ thuật mới trong nuôi tôm nên thànhcông cao hơn, những người có độ tuổi trẻ hơn thì thiếu kinh nghiệm, còn nhữngngười có độ tuổi lớn hơn thì thường bảo thủ, khó thay đổi kỹ thuật, thường chỉ
áp dụng kinh nghiệm nuôi tôm sú vào nuôi tôm thẻ chân trắng nên khả năngthành công không cao
Do trình độ văn hóa không đồng đều nên việc tiếp thu và áp dụng nhữngkiến thức kỹ thuật vào thực tế còn có hạn chế nhất định
3.1.3 Hình thức nuôi
Theo số liệu điều tra, những năm đầu mới nuôi tôm TCT thì hình thứcnuôi là TC, BTC ở các vùng nuôi trên cát, và ở vùng đầm Sau đó, người dânbắt đầu nuôi tôm TCT theo hình thức QCCT, nuôi xen với đối tượng khác như
cá, cua… và có hiệu quả Tỷ lệ diện tích nuôi TC, BTC từ 35,9% giảm xuống
33,01%, tỷ lệ diện tích nuôi QCCT tăng chậm từ 64,10% đến 66,99% (Kết quả
điều tra thể hiện ở bảng 3.3 và đồ thị 3.2).
Riêng năm 2016, diện tích nuôi tôm QCCT thân thiện môi trường(TTMT) ở huyện Phù Mỹ tăng nhanh, hình thức nuôi này được thực hiện trêndiện tích rộng và mật độ tương đối, đã giúp tăng sản lượng tôm, năng suất thuhoạch cao Diện tích nuôi tôm QCCT TTMT ở huyện Hoài Nhơn cũng tăng,song mức độ tăng không bằng huyện Phù Mỹ, và huyện Phù Cát là thấp nhất(xem phụ lục 4, 5 kèm theo)
Trang 29Đồ thị 3.2 Các hình thức nuôi tôm TCT ở 3 huyện năm 2015-2016.
Đa số các ao nuôi tôm thẻ chân trắng ở Bình Định không có ao lắng và
xử lý nước thải (chiếm 91,67 %), số hộ có ao lắng và xử lý nước thải là rất thấp(chiếm 8,33%) với diện tích dành cho ao xử lý chiếm khoảng 1/5 đến 1/4 diệntích ao nuôi Đây là thực trạng rất khó khăn và không thuận tiện để quản lý aonuôi giảm thiểu bệnh dịch hàng năm
Trang 31Hiện nay người nuôi tự lấn chiếm đất xây dựng ao nuôi không theo quyhoạch, chất thải được thải trực tiếp vào nguồn nước nuôi làm môi trường ngàycàng ô nhiễm trầm trọng hơn Mặc dù một số nơi có hệ thống chứa, xử lý nướcthải nhưng qua thời gian sử dụng bị xuống cấp, diện tích không đủ chứa nướcthải của cả vùng nuôi
3.1.4 Mùa vụ thả nuôi
Điều tra khảo sát mùa vụ thả nuôi tôm của 90 hộ, ở 3 huyện Hoài Nhơn,Phù Mỹ, Phù Cát (30 hộ/huyện, vùng trên cát 30 hộ, vùng trên đầm 60 hộ) Kếtquả như sau:
Vùng
Chỉ Tiêu Vụ
1 Vụ
2 Vụ
>3 Vụ
Kết quả điều tra ở bảng 3.4 cho thấy mùa vụ thả nuôi tôm TCT khác nhau
ở từng vùng, cụ thể là có 17,78% hộ thả nuôi 01 vụ/năm (ở Cát Minh, Phù Cát),53,33% hộ thả nuôi 02 vụ/năm và 28,89% hộ thả nuôi 03 vụ/năm trở lên Cá biệt
có ao nuôi đến 4 - 5 vụ/năm (thời gian nuôi 2 - 2,5 tháng/vụ) thường là các aolót bạt ở vùng đầm và trên cát (huyện Phù Mỹ và Phù Cát) Thời gian cải tạo aorất ngắn từ 7 - 10 ngày là lấy nước thả tôm nuôi, tôm giống được ương trước ở
ao khác từ 20 đến 30 ngày tuổi Do chính thời gian cải tạo ngắn, công tác diệtkhuẩn chưa đạt hiệu quả cao, môi trường nước dễ bị ô nhiễm, nên tình hìnhdịch bệnh ở các vùng nuôi nhiều vụ/năm sẽ tăng lên, và khó kiểm soát
Trang 32và thời gian được rút ngắn, vì vậy mà số vụ nuôi/năm thường trên 3 vụ.
Đồ thị 3.3 Mùa vụ thả nuôi tôm TCT của 3 huyện
Trang 33Bảng 3.5 Tỷ lệ mật độ thả nuôi tôm TCT của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát
Vùng nuôi
(con/m 2 )
Đồ thị 3.4 Mật độ thả nuôi tôm TCT của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát
Vùng đầm có nguồn nước không tốt, dễ bị ô nhiễm, ao nuôi có nhiềuthành phần khó kiểm soát hơn vùng trên cát Do vậy, để kiểm soát các tác độngliên quan của môi trường cũng như hạn chế dịch bệnh, mà tại vùng đầm mật độnuôi tôm thưa hơn vùng trên cát, chủ yếu là mật độ thấp hơn 80 con/m2 (chiếm
Trang 3486,67%) Vùng trên cát, người dân nuôi với mật độ dày hơn từ 80 - 120 con/m2(chiếm 50%, thậm chí có nhiều hộ nuôi với mật độ trên 120 con/m2 (chiếm20%)
3.1.6 Nguồn gốc tôm thẻ thả nuôi
Khảo sát nguồn gốc tôm thẻ chân trắng thả nuôi của 90 hộ, ở 3 huyệnHoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát (30 hộ/huyện, vùng trên cát 30 hộ, vùng trên đầm
60 hộ) Kết quả như sau:
Bảng 3.6 Nguồn gốc tôm thẻ chân trắng thả nuôi ở 3 huyện Chỉ tiêu
CP Việt Nam - Chi nhánh Bình Định cung cấp Và có 13,33% hộ dân sử dụngnguồn giống Việt Úc, do Công ty TNHH Việt Úc cung cấp Còn lại một số
Trang 35Đồ thị 3.5 Nguồn gốc tôm thẻ chân trắng thả nuôi ở 3 huyện
Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam không chỉ cung cấp cho bà connông dân về mặt con giống chất lượng mà còn đầu tư cả về mặt thức ăn, phânbón, chế phẩm vi sinh cũng như thuốc và hóa chất giúp bà con có động lực hơntrong việc chăn nuôi mà không lo lắng về mặt kinh tế nên đa số người dân ởđây đều chọn nhập nguồn con giống từ công ty CP
Một số nguồn giống như Tuệ Tùng, Con Tôm Vàng…là nguồn giống ởngoài tỉnh, chất lượng tôm không đạt, tỷ lệ sống không cao, tôm yếu và mắcbệnh, nên rất ít người dân sử dụng
Trang 363.1.7 Các khoản chi phí
Khảo sát nguồn gốc tôm thẻ chân trắng thả nuôi của 90 hộ, ở 3 huyệnHoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát (30 hộ/huyện, vùng trên cát 30 hộ, vùng trên đầm
60 hộ) Kết quả như sau:
Qua bảng 3.7 chúng tôi nhận thấy giữa các hộ ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù
Mỹ, Phù Cát có sự chênh lệch nhiều về các khoản chi phí sản xuất trong quátrình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh Trong một vụ nuôi thì tổng chi phítrung bình cao nhất là 1229,62 triệu đồng/ha/vụ ở huyện Phù Mỹ, và thấp nhất
là 801,68 triệu đồng/ha/vụ ở huyện Hoài Nhơn.Chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ lớnnhất, sau đó là chi phí con giống và chi phí thuốc, hóa chất cải tạo, đây là cáckhoản chi phí mà chủ nông hộ quan tâm nhiều nhất Chi phí thức ăn chiếm gần50% tổng chi phí ở cả hai huyện Phù Mỹ và Phù Cát Ở huyện Phù Mỹ chi phíthức ăn trung bình 583,26 ± 33,46 triệu đồng/ha/vụ, chiếm 47,43% tổng chi phí
Ở huyện Phù Cát, chi phí thức ăn là 484,24 ± 42,41triệu đồng/ha/vụ, chiếm45,63% tổng chi phí, qua đó ta thấy những nông hộ sử dụng thức ăn ở Phù Mỹhiệu quả hơn (xem phụ lục 7, 8, 9 kèm theo)
Chi phí thuốc giữa 3 huyện có sự chênh lệch rất lớn, chi phí cao nhất là245,56 ± 16 ở huyện Phù Mỹ, tiếp đến là 202,12 ± 19,10 ở huyện Phù Cát, vàchi phí thấp nhất là 142,83 ± 9,50 ở huyện Hoài Nhơn Qua đó cho thấy, huyệnPhù Cát sử dụng thuốc có hiệu quả hơn huyện Phù Mỹ Riêng huyện HoàiNhơn, chủ yếu cải tạo ao để ngăn ngừa mầm bệnh, nên hạn chế sử dụng thuốctrong điều trị bệnh tôm, do đó chi phí cải tạo ao của huyện Hoài Nhơn cao nhấttrong 3 huyện ( đạt 60,72 triệu đồng/ha/vụ)
Trang 37Bảng 3.7 Các khoản chi phí trong nuôi tôm TCT của 3 huyện Huyện
Chỉ tiêu Loại chi phí
Trang 383.1.8 Hoạt động của cộng đồng nuôi tôm
Điều tra về ý thức tham gia hoạt động cộng đồng nuôi tôm của 90 hộ, ở 3
huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát (30 hộ/huyện, vùng trên cát 30 hộ, vùng
trên đầm 60 hộ) Kết quả như sau:
Bảng 3.8 Hoạt động cộng đồng nuôi tôm ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát
Vùng
Các
Chỉ tiêu Tham gia
hoạt động
cộng đồng
Có Không
Theo kết quả điều tra, ý thức cộng đồng vùng nuôi rất quan trọng đến
việc thành bại trong nuôi tôm, vì khi có ý thức cộng đồng thì quá trình thực
hiện lịch mùa vụ, giữ gìn môi trường chung sẽ được thực hiện tốt, hiệu quả hơn
cho công tác phòng chống dịch bệnh Ý thức tham gia tổ chức cộng đồng của
các hộ ở vùng nuôi trên cát là rất thấp chỉ chiếm 6,67%, số hộ tham gia tổ chức
cộng đồng của người nuôi tôm ở vùng đầm là cao hơn vùng nuôi trên cát rất
nhiều, số hộ tham gia chiếm 46,67%
Tại các vùng nuôi trên toàn tỉnh qua điều tra cho thấy từ trước năm 2015
các chi hội cộng đồng hoạt động tương đối hiệu quả: họp định kỳ hàng tháng,
đề ra quy chế và kế hoạch hoạt động cụ thể cho một vụ nuôi Nội dung chủ yếu
tập trung vào các khâu kỹ thuật cải tạo ao, chọn giống, thả đúng lịch mùa vụ,
gây quỹ hỗ trợ nhau về vốn, xử lý dịch bệnh, họp tổng kết rút kinh nghiệm…Từ
năm 2015 đến nay số lượng các chi hội ngày càng giảm, họat động ít hiệu quả,
Trang 39chủ yếu là giải quyết các bức xúc về đất đai, điện, đường…còn khâu kỹ thuậtthì mạnh ai nấy làm, khó quản lý
3.2 Hiện trạng sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm TCT ở 3 huyện
100% các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng đều sử dụng thuốc và hóa chấttrong cải tại ao và điều trị bệnh cho tôm
Trang 40Đồ thị 3.6 Sản phẩm cải tạo ao nuôi
Qua kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy có 75 hộ sử dụng vôi đá chiếm tỷ
lệ cao nhất (83,33%), Iodine và Zeolite có khoảng 35 hộ nuôi sử dụng với tỷ lệthấp nhất (khoảng 38,89%) Ngoài ra, còn một số sản phẩm khác như vôi nung,Dolomite, Chlorine cũng được người nuôi sử dụng rộng rãi, khoảng hơn nửa số
hộ sử dụng, chiếm từ 52,22% - 73,33% Đây là những loại hóa chất rẻ tiền, dễmua, có tính sát khuẩn cao đem lại hiệu quả tốt, nên thường được người nuôi sử
dụng trong quá trình cải tạo ao, phòng trị bệnh.
Chlorine có tác dụng xử lý đáy ao trước khi lấy nước vào (50 – 100 ppm)
và dùng để xử lý nước trong ao (20 – 30 ppm)
Khi dùng Chlorine sát trùng nước, dư lượng của khí Clo có thể gây độccho tôm, đặc biệt là ấu trùng tôm Người nuôi nên dùng Chlorine để khử trùngnguồn nước cấp vào đầu vụ nuôi, không xử lý Chlorine khi trong nước ao giàumuối dinh dưỡng và chất hữu cơ vào giữa và cuối vụ nuôi Người nuôi cần phải
sử dụng các loại men vi sinh để khôi phục lại hệ men của đáy ao, không bón vôitrước khi sử dụng Chlorine vì sẽ làm giảm tác dụng Trung hòa Chlorine dưtrong ao bằng Natri thiosulfate với tỷ lệ 1:7 (mg/l), và sử dụng chạy sục khí,máy quạt nước để loại bỏ tồn dư của Chlorine trong ao nuôi