Khi sáng kiến này được áp dụng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạyhọc sinh trong bộ môn hóa học, học sinh được tiến hành thí nghiệm nhiều hơn vàkết quả giờ dạy được sôi nổi, hà
Trang 1PHẦN 1 – TÓM TẮT SÁNG KIẾN 1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Môn hóa học giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trítuệ của học sinh Mục đích của môn Hóa học là giúp các em học sinh hiểu đúngđắn và hoàn chỉnh về các chất, sự biến đổi các chất, các sự vật hiện tượng trong tựnhiên, hiểu biết về thế giới về con người thông qua các giờ học lí thuyết, các bàithực hành, các buổi ngoại khóa Học Hóa để hiểu để giải thích các vấn đề thựctiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, sự chuyển hóa các chất bằng các phươngtrình hóa học Hóa học là khởi nguồn, là cơ sở để sáng tạo ra những ứng dụng phục
vụ trong đời sống con người Hóa học góp phần giải tỏa, xóa bỏ hiểu biết sai lệchlàm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người
Đối với bộ môn hóa học là bộ môn học sinh vừa học lí thuyết, vừa được thựchành nên thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng không thể tách rời của quá trìnhdạy- học Thí nghiệm giữ vai trò quan trọng trong nhận thức, phát triển giáo dụccủa quá trình dạy học Thông qua thí nghiệm học sinh nắm vững kiến thức mộtcách vững chắc và sâu sắc hơn Thí nghiệm hóa học được sử dụng với tư cách lànguồn gốc, là xuất xứ của kiến thức để dẫn lí thuyết, hoặc với tư cách kiểm tra líthuyết Thí nghiệm hóa học còn có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giớiquan duy vật biện chứng và củng cố niềm tin khoa học của học sinh, giúp hìnhthành cho học sinh những đức tính tốt: thận trọng, ngăn nắp, trật tự, gọn gàng Sửdụng thí nghiệm được coi là tích cực khi thí nghiệm là nguồn kiến thức để học sinhkhai thác
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến:
2.1 Điều kiện:
Trong điều kiện việc đổi mới phương pháp giáo dục, học lí thuyết gắn liền vớithực hành Việc thực hành thí nghiệm hóa học trong tiết học là điều vô cùng quantrọng và không được xem nhẹ Nhưng hiện nay vẫn còn tồn tại một số tiết học cóthí nghiệm chỉ làm qua loa, đối phó, không đi sâu vào mục đích thí nghiệm mang
Trang 2lại hoặc đối với những thí nghiệm khó thực hiện không tìm được giải pháp để làmthí nghiệm thành công Các trường học đựơc trang bị đủ điều kiện cơ sở vật chất,trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm, hóa chất thực hành nên việc tăng cường làm thínghiệm hóa học không còn là vấn đề khó khăn nữa.
2.2 Thời gian:
Sáng kiến được bản thân tôi đúc rút sau nhiều lần thử nghiệm, mày mò làm lạicác thí nghiệm không thành công hoặc học sinh sau khi xem thí nghiệm khó pháthiện được mục tiêu thí nghiệm
Thời gian áp dụng sáng kiến trong học kì I, II chương trình môn hóa học 8, hóahọc 9
2.3 Đối tượng áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến được áp dụng rộng rãi đối với tất các các em học sinh khối 8,9 trongcác tiết học chính khóa, trong hoạt động ngoại khóa, trong công tác bồi dưỡng họcsinh giỏi
Ngoài ra còn giúp các thầy cô, các nhà chuyên môn quan lí trong bộ môn hóahọc thêm tài liệu để tham khảo
3 Nội dung sáng kiến:
Trong sáng kiến này hoàn toàn khác so với các chuyên đề và các sáng kiến khác
mà tôi được biết do sáng kiến này tính ứng dụng cao, áp dụng rộng rãi đại trà, rấtgần gũi thực tế trong quá trình dạy và học
Sáng kiến được triển khai thử nghiệm ban đầu ở từng lớp học, sau đó tổ chứcthực hiện thăm dò suy nghĩ của học sinh, của phụ huynh, của giáo viên cùng bộmôn các trường trung học cơ sở khác trong huyện
Khi sáng kiến này được áp dụng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạyhọc sinh trong bộ môn hóa học, học sinh được tiến hành thí nghiệm nhiều hơn vàkết quả giờ dạy được sôi nổi, hào hứng hơn
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Trang 3Bản thân tôi nhận thấy khi những cải tiến dụng cụ, thay đổi hóa chất tôi viếttrong sáng kiến sẽ góp phần rất lớn trong việc giảng dạy của các thầy cô giáo Họcsinh sẽ tích cực, chủ động hơn trong giờ dạy, hào hứng tham gia các hoạt động giáodục, yêu thích bộ môn hóa học hơn rất nhiều
5 Đề xuất, kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến:
Sáng kiến được triển khai thử nghiệm ban đầu ở từng lớp học do vậy kết quảcủa sáng kiến được công nhận thông qua học sinh, phụ huynh, các thầy cô giáocùng chuyên môn trong huyện, các cấp quản lí Nên tôi hi vọng với sự chuẩn bị kĩlưỡng về thời gian chất lượng sáng kiến sẽ mang lại hiệu quả cao và được áp dụngrộng rãi, phổ biến đến tất các các em học sinh và các thầy cô trong trường, tronghuyện cung chuyên môn
Trang 4PHẦN 2- MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Cơ sở lí luận:
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, vì vậy khi truyền thụ kiến thức hóa học
ở bậc học phổ thông thường xuyên gắn liền với các thí nghiệm hóa học (dùng cácthí nghiệm hóa học để dẫn dắt vấn đề, tạo niềm tin khoa học cho học sinh) và luônliên hệ với các sự vật, hiện tượng thực tế xảy ra xung quanh ta Trong bối cảnh hiệnnay ngành giáo dục đang trên đà phát triển để ngang tầm với thế giới, hàng loạt sựcải tiến về chương trình, phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm để đạt đến chuẩnkiến thức, kĩ năng Trong sự cải tiến ấy ngành giáo dục cũng đã chú trọng cải tiến
cả dụng cụ và hóa chất nhằm mục đích phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học
2 Cơ sở thực tiễn:
Thế nhưng thực tại ở các địa phương việc giảng dạy của giáo viên bộ môn hóahọc còn không ít những khó khăn, đặc biệt là các tiết dạy những bài thực hành bắtbuộc theo chương trình và các thí nghiệm có hóa chất độc hại Những khó khănthường gặp đó là:
1 Nhân viên làm công tác thiết bị: Là những người không được đào tạochuyên sâu về hóa học nên không thể đáp ứng hết được yêu cầu cho việc chuẩn bịdụng cụ và hóa chất trước các tiết thực hành, hay các tiết có nhiều thí nghiệm
2 Dụng cụ: chưa được đầu tư nhiều, chưa đủ cơ số dụng cụ nhiều dụng cụ đãhỏng, có dụng cụ không sử dụng được
Hóa chất để thực hiện các thí nghiệm: Chưa đầy đủ, nhiều hóa chất không cònnguyên chất vì thời gian để quá lâu nên dẫn đến nhiều thí nghiệm không thànhcông
3 Việc phân công giảng dạy của nhà trường cho giáo viên bộ môn hóa học ởmột số trường chưa hợp lí còn chồng lấn, xen kẽ nhiều tiết, nhiều môn trong mộtbuổi dạy, dạy trùng tiết dạy
Trang 5Ở một số trường chưa có phòng bộ môn đầy đủ trang thiết bị ( vòi nước, bồn rửahóa chất, dụng cụ tẩy rửa, dụng cụ thu gom hóa chất thừa sau khi làm thí nghiệm),nhiều hóa chất độc hại không có dụng cụ để thục hiện thí nghiệm
Trong thực tế tâm lí của một số giáo viên không muốn làm thí nghiệm vì mấtthời gian công sức có nhiều thí nghiệm với hóa chất độc hại, thậm chí sợ làm thínghiệm hoặc cố gắng tiến hành được như sách giáo khoa đã nêu là tốt lắm rồi Điềunày lại hoàn toàn trái ngược với tâm lí của học sinh rất thích được xem các thínghiệm hóa học Dẫn đến ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học bộ môn
Qua thực tế bản thân có trao đổi với một số đồng nghiệp thấy rằng Lí do cơ sởvật chất thiếu thốn, không có phòng học bộ môn, thiết bị thí nghiệm cũ, tình trạngchất lượng hóa chất chưa thực sự đảm bảo, một số thí nghiệm khó tiến hành khi chohọc sinh tự tiến hành, đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên
Ít thấy giáo viên mày mò cải tiến dụng cụ, thay thế hóa chất … Nhằm tạo tính đadạng trong bài dạy, tăng tính tò mò, say mê, hứng thú cho học sinh Đây chính làmột trong những mục tiêu chính của ngành giáo dục nước nhà
Chương trình hóa học bậc trung học cơ sở đa số các thí nghiệm đều dễ thựchiện trên tiết dạy Nhưng qua thời gian lâu dài một số hóa chất chất lượng sẽ giảm
đi, khi tiến hành rất khó để thành công Đặc biệt khó khăn khi giáo viên cho họcsinh tự làm thí nghiệm phần vì sợ hết thời gian, phần vì sợ học sinh khó tiến hành,không an toàn…
Chính vì những khó khăn trên, nên để thực hiện được tiết dạy bài thực hành
và tiết dạy có thí thí nghiệm có hóa chất độc hại đòi hỏi người giáo viên phải mấtrất nhiều thời gian để chuẩn bị từ dụng cụ cho tới hóa chất Từ thực trạng đó đòihỏi phải có giải pháp mới để giải quyết những tiết dạy của bài thực hành bắt buộc
và những thí nghiệm có hóa chất độc hại…
Để góp phần nhỏ vào việc khắc phục những khó khăn mà giáo viên bộ mônhóa học gặp phải trong các tiết thực hành hóa học và đảm bảo dạy đủ số tiết thựchành của từng chương, thực hiện được các thí nghiệm có hóa chất độc hại, chúng
Trang 6tôi đã nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp Chúng tôi xin được giới thiệu sáng
kiến “Một số cải tiến dụng cụ, thay đổi hóa chất nhằm nâng cao chất lượng tiết dạy có thí nghiệm hóa học”.
3- Thực trạng của vấn đề:
Hiện nay trong thực tế việc thực hành thí nghiệm ở một số trường học còn chưađược xem trọng, phòng thực hành chưa đáp ứng được nhu cầu của tiết dạy chưa códụng cụ đồ dùng cho những thí nghiệm độc hại Qua khảo sát chất lượng của hailớp môn hóa học 8 ( lớp 8A: 27 học sinh), hóa học 9 ( lớp 9B: 28 học sinh) cho kếtquả như sau:
4- Các giải pháp biện pháp thực hiện:
4.1 Một số yêu cầu về sư phạm khi tiến hành các thí nghiệm cải tiến.
- Các thí nghiệm phải đơn giản thể hiện rõ hiện tượng hóa học cần quan sát, họcsinh tiến hành dễ thành công
- Dụng cụ, hóa chất thay thế phải dễ tìm kiếm, rẻ, thường được tận dụng các sản
phẩm thừa trong cuộc sống
Trang 7- Kết quả đảm bảo không sai lệch về kiến thức khoa học, đảm bảo chuẩn kiến thức
kĩ năng
- Đảm bảo an toàn cho học sinh
4.2 Thay thế một số hóa chất để làm thí nghiệm thay thế trong dạy học 4.2.1 Thí nghiệm thứ nhất:
Bài : Không khí – Sự cháy ( Bài 28 - Hóa học 8 ): Phần thí nghiệm xác định
thành phần của không khí.
Trong quá trình nhiều năm cho học sinh làm thí nghiệm này theo nhóm tôi nhậnthấy thí nghiệm này khi đốt photpho đỏ khó thành công, ngoài ra khó quan sát đượcmực nước trong ống hình trụ dâng lên vạch số 2 Khói P2O5 bay ra khi đốt photpho
đỏ nhiều dễ gây ô nhiễm, học sinh có thể bị ho, sặc Khói P2O5 có màu trắng dễ gây
mờ ống thủy tinh dẫn đến học sinh khó quan sát mức nước dâng lên đúng vạch Dothí nghiệm khó thực hiện nên phải tiến hành nhiều lần gây lãng phí photpho đỏ nêntôi mạnh dạn đưa ra một số cải tiến hóa chất sau:
Tiến hành theo SGK Tiến hành theo thí nghiệm cải tiến
Trang 8c Tiến hành thí nghiệm
- Đặt ống thủy tinh không đáy vào
chậu thủy tinh Trên thành ống nghiệm
có 6 vạch bằng nhau, rót nước vào
chậu cho tới khi mực nước dâng tới
vạch thứ nhất
- Đốt photpho đỏ trong muỗng sắt rồi
đưa photpho đỏ đang cháy vào ống
hình trụ và đậy kín miệng bằng nút cao
su Nước trong ống dần cao dần cho tới
+ Ngọn nến cháy yếu dần rồi tắt hẳn.+ Mực nước trong ống thủy tinh dânglên đến vạch số 2 thì dừng lại
Oxi chiếm 1/5 về thể tích trong khôngkhí
Tiến hành thí nghiệm cải tiến trên lớp: Chia học sinh thành các nhóm nhỏ (4 em một
? Trong ống thủy tinh còn lại mấy
- Đặt ống thủy tinh vào trong chậu nước
- Cho nước vôi trong từ từ vào chậu vàống thủy tinh sao cho đến vạch mức số 1thì dừng lại, nhỏ vài giọt dung dịchphenolphtalein vào trong chậu
+ Trong ống thủy tinh chỉ còn 5 phầnbằng nhau
Trang 9phần bằng nhau ?
- Gv lưu ý Hs phải đậy thật chặt miệng
ống thủy tinh bằng nút cao su
- Hướng dẫn HS quan sát hiện tượng
trong ống thủy tinh
- Gắn mẩu nến nhỏ vào muôi sắt( lưu ýmẩu nến đủ nhỏ để có thể đưa vào ốngthủy tinh, tận dụng các mẩu nến thừa)
- Châm lửa cho nến đỏ, đưa vào ốngthủy tinh và đậy kín miệng bằng nút caosu
- Quan sát hiện tượng xảy ra trong ốngthủy tinh
- Hướng dẫn HS quan sát hiện tượng
trong ống thủy tinh
? Nến có tiếp tục cháy và cháy mãi
không ?
? Mức nước trong ống thủy tinh thay
đổi như thế nào? (khi nhiệt độ trong
ống thủy tinh bằng nhiệt độ bên
ngoài)
? Vì sao mức nước dâng lên và dâng
đến vạch số 2 thì dừng lại ?
+ HS tiến hành thí nghiệm
+ Ngọn nến cháy yếu dần rồi tắt hẳn
+ Mực nước trong ống thủy tinh dânglên đến vạch số 2 thì dừng lại
+ Mực nước dâng lên để chiếm chổphần thể tích khí oxi mất đi do nến đốtcháy ?
1 2
3 4 5 6
1
3 2
4 5 6
Dung dịch nước vôi trong+
phenolphatalein
Trang 10? Vậy oxi chiếm bao nhiêu phần về
thể tích không khí trong ống thủy
tinh?
- Đưa qua đóm còn tàn đỏ vào ống
thủy tinh, nhận xét hiện tượng
- Khí còn không duy trì sự cháy, sự
sống, không làm đục nước vôi đó là
Như vậy ở đây tôi đã có một số thay đổi và ưu điểm
- Photpho đỏ thay thế bằng nến ( đỡ tốn kém hơn, dễ tiến hành hơn) và khí sinh ra
là CO2 bị hấp thụ hết bằng nước vôi trong không gây độc so với P2O5
- Nước được thay thế bằng nước vôi trong ( để hấp thụ khí CO2 sinh ra khi nếncháy) Nếu dùng nước thì CO2 sinh ra sẽ khó tan hết và chiếm một thể tích trongống thủy tinh dẫn tới mực nước dâng lên sẽ không được chính xác Nước vôi trong
có thêm dung dịch phenolphtalein có màu hồng giúp học sinh dễ quan sát sự thayđổi mực nước
- Cho tàn đóm đỏ vào ống thủy tinh giúp học sinh quan sát trực tiếp khí còn lại lànitơ không duy tì sự cháy
Kết quả: Khi tôi tiến hành sự thay đổi hóa chất như vậy nhiều học sinh cảm thấy
rất tò mò đặt ra câu hỏi không biết như vậy có thành công không, những em họcsinh chậm tiến cũng tích cực vào bài vì được làm thí nghiệm với hóa chất thôngdụng (nến) Học sinh tập trung vào hoàn thành thí nghiệm hơn do không biết kếtquả như thế nào.Nghiêm túc chấp hành nội quy làm thí nghiệm
Sau khi thí nghiệm thành công nhiều học sinh cảm thấy rất phấn khởi, hứng thútrong việc thưc hành, tin tưởng vào sự thay đổi hóa chất của giáo viên đưa ra là
Trang 11đúng với nội dung bài học Những em học sinh chậm tiến cũng thấy rất hứng thúvào làm thí nghiệm mà trong các tiết trước các em này hoàn toàn không hay thamgia vào các thí nghiệm.
Nhiều học sinh còn có ý kiến về nhà tự mình làm thí nghiệm hóa học kiểm chứnglại
4.2.2 Thí nghiệm thứ 2:
Bài “ Một số axit quan trọng” ( Bài 4- Hóa học 9)
Phần II- 2:Axit sunfuric đặc có những tính chất hóa học riêng, mục Tính háo nước Một số khó khăn gặp phải: H 2 SO 4 đặc là một axit nguy hiểm có thể chuyển hóa bông, sợi, tinh bột, da thịt thành cacbon Do vậy giáo viên phải có biện pháp bảo đảm an toàn cho học sinh trong quá trình thí nghiệm Do đó để đi đến kết luận là
H 2 SO 4 đặc có tính háo nước và thêm sinh động cho bài học tôi xin đưa ra giải pháp cải tiến sau:
Tiến hành theo SGK Tiến hành theo thí nghiệm cải tiến
a Chuẩn bị
+ 1 ít đường hoặc bông, vải
+ cốc thủy tinh hoặc ống nghiệm
+ H2SO4 đặc
+ Công tơ hút
b Tiến hành thí nghiệm
Cho 1 ít đường (hoặc bông, vải) vào
đáy cốc (hoặc ống nghiệm), rồi thêm từ
từ 1 – 2ml H2SO4 đặc vào
Hiện tượng: Màu trắng của đường
chuyển sang màu vàng, sau đó chuyển
sang nâu và cuối cùng thành khối xốp
Hiện tượng: Trên tờ giấy dòng chữ
dần dần xuất hiện từ màu trắng chuyểnsang màu vàng, sau đó là màu nâu và
Trang 12bị bọt khí đẩy lên khỏi miệng cốc.
Phản ứng tỏa nhiều nhiệt
C12H22O11����H SO dac2 4 � 12C + 11H2O
cuối cùng là màu đen
Nhận xét: Khi hơ nhiệt độ làm nước ở
nét chữ bay hơi, axit sunfuric đặc dần
Nó sẽ chiếm hai nguyên tố (thành phầncủa nước) là H và O ra khỏi chấtxenlulozơ là thành phần chính của tờgiấy Người ta nói H2SO4 đặc có tínhháo nước Chất còn lại là C có màu đen.(C6H10O5)n ����H SO dac2 4 � 6n C + 5nH2O
Tiến hành thí nghiệm cải tiến trên lớp
GV có thể giới thiệu: “Ta đặt tên cho thí nghiệm này là lọ mực thần kì ” Mực là axit sunfuric rất loãng, bút là đũa thủy tinh.
GV chia nhóm (gồm 2HS) cho HS
tiến hành thí nghiệm
- Hướng dẫn HS dùng đũa thủy tinh
nhúng vào lọ axit sunfuric loãng viết
một chữ tùy ý lên tờ giấy Hơ nóng tờ
giấy cẩn thận trên đèn cồn
- Nhận xét hiện tượng
- Yêu cầu các nhóm giải thích các
hiện tượng xảy ra
- Khi hơ nhiệt độ làm nước ở nét chữ
bay hơi, axit sunfuric đặc dần Nó sẽ
chiếm hai nguyên tố (thành phần của
+ HS giải thích
Trang 13xenlulozơ là thành phần chính của tờ
giấy Người ta nói H2SO4 đặc có tính
háo nước Chất còn lại là C có màu
đen
- Công thức phân tử xenluloxơ là
(C6H10O5)n hãy viết PTHH của phản
ứng ?
- GV yêu cầu HS viết các PTHH xảy
ra khi cho H2SO4 đặc vào đường
saccarozơ C12H22O11 và glucozơ
Một số lưu ý khi làm thí nghiệm
+ Trong quá trình hơ nóng phải cẩn thận, từ từ để không làm tờ giấy bị cháy
+ Có thể cuộn tròn tờ giấy cho vào một ống nghiệm, rồi hơ qua ngọn lửa khi đốtgiấy sẽ không bị cháy
Kết quả: Thí nghiệm diễn ra thành công, an toàn, không có sự cố về bỏng axit
H2SO4 đặc Học sinh được củng cố khắc sâu về tính háo nước của H2SO4 đặc
Ưu điểm: Đối với những năm học trước khi tiến hành thí nghiệm này tôi chỉ làm
thí nghiệm minh họa cho học sinh, một số học sinh có ý thức tốt và lực học tốt tôicho các em tự làm nhưng phải có dụng cụ bảo vệ an toàn Nhưng năm học này saukhi áp dụng tiến hành thí nghiệm trên học sinh rất tích cực, chủ động hoạt độnghơn trong thí nghiệm, không còn e ngại dụt dè sợ làm thí nghiệm không an toàn vàthành công Hầu hết mỗi em đều tự tay làm thí nghiệm, điều này sẽ tránh được mộtthực trạng khi cho các nhóm thí nghiệm thì chỉ một vài em khá hơn làm còn các emkhác không hề tham gia Khi đó những học sinh này tiếp thu kiến thức sẽ thụ động,
dễ dẫn đến tự ti trong học tập Đặc biệt các em sẽ thấy được tính háo nước chỉ thểhiện khi H2SO4 đặc còn loãng thì không có
4.2.3 Thí nghiệm thứ 3:
Trang 14Khi dạy bài Tính chất hóa học của kim loại ( Bài 16- Hóa học 9) Phần phản
ứng của kẽm với dung dịch đồng (II) sunfat.
Một thực tế thường gặp khi tiến hành thí nghiệm cho kẽm vào dung dịch đồng(II) sunfat lại có hiện tượng sau:
- Chất rắn màu đen bám lên dây Zn
+ Có bọt khí thoát ra ( H2) do hình thành thế điện hóa Khi đồng được sinh ra bámtrên lá kẽm tạo pin điện hóa
PTHH: Zn + CuSO4 ZnSO4 + Cu
Cu2+ + H2O CuOH+ + H+
Zn + H+ Zn + + H2
Vậy để khắc phục tôi sẽ dùng dung dịch CuCl2 thay cho dung dịch CuSO4
Một số đồng nghiệp thay kẽm bởi sắt hoặc nhôm nhưng theo tôi các thí nghiệmgiữa sắt, nhôm với đồng (II) sunfat sẽ được học ở các bài tiếp theo nên cố gắng giữnguyên kim loại kẽm chỉ nên thay dung dịch CuSO4 bằng dung dịch CuCl2 Tôi cho 2 nhóm làm thí nghiệm, một nhóm làm thí nghiệm theo sách giáo khoa,một nhóm làm thí nghiệm theo cải tiến:
Nhóm 1( theo SGK) Nhóm 2( theo cải tiến)
- Hóa chất+ Kẽm dây hoặc viên ( có thể lấy kẽm
Trang 15b Tiến hành thí nghiệm:
- Các nhóm tiến hành thí nghiệm
c Hiện tượng:
- Có chất rắn màu đỏ bám ngoài lákẽm
- Màu xanh của dung dịch nhạt dần,kẽm tan dần
Ưu điểm: Qua việc thực hành đối chứng của 2 nhóm nhận thấy thay dung dịch
CuSO4 bằng dung dịch CuCl2 đã tránh được hiện tượng khác với sách giáo khoa,ngoài ra các em sẽ thấy được hiện tượng môt cách rõ ràng Giáo viên không phảigiải thích thêm đối với trường hợp mà thí nghiệm không có hiện tượng giống sáchgiáo khoa Đảm bảo tính trực quan, khoa học, tính minh bạch, chính xác của kiếnthức Học sinh dễ dàng tiếp nhận kiến thức không có sự tiếp nhận thụ động đảmbảo chuẩn kiến thức, kĩ năng
Kết quả: Vẫn đảm bảo kiến thức là kim loại phản ứng được với dung dịch muối 4.2.4 Điều chế chất chỉ thị:
Điều chế dung dịch chất chỉ thị:
Trường hợp không có chất chỉ thị để thử môi trường axit, bazơ ta có thể tự chếlấy chất chỉ thị rất đơn giản và dễ dàng như sau: lấy cách hoa dâm bụt bỏ vào lọ cóchứa cồn, càng nhiều cách hoa thì chất chỉ thị càng đặc Đậy nút kín dần dần dungdịch có màu tím và sau hai giờ có thể làm chất chỉ thị axit và bazơ
Chất chỉ thị này trong môi trường axit có màu hồng bền, trong môi trường trungtính không có màu hay màu hồng tím, trong môi trường kiềm có màu xanh nhưngkhông bền
Điều chế giấy chỉ thị:
Trang 16Cắt giấy lọc theo hình dạng phù hợp, ngâm giấy lọc vào dung dịch chỉ thị mớiđiều chế, phơi khô khoảng 60 phút là dùng được.
Kết quả:
Chất chỉ thị tự làm này dùng để nhận biết các axit, bazơ một cách rất dễ dàng vàchính xác
Ưu điểm cải tiến:
Việc làm chất chỉ thị này rất đơn giản ( hoa dâm bụt đỏ có rất nhiều ở địa phương)
so với quỳ tím, dung dịch phenolphatalein là các hóa chất rất đắt tiền Ngoài ra chấtchỉ thị này rất dễ điều chế, học sinh có thể tự làm và kiểm chứng ở nhà đối với cácaxit và bazơ các em gặp ở địa phương Tăng cho học sinh tính chủ động nghiên cứutìm tòi các kiến thức thực tiễn áp dụng vào bài học Học đi liền với thực hành
3.3 Cải tiến dụng cụ để thực hiện thành công các thí nghiệm trong bài thực hành bắt buộc.
Với những thí nghiệm này giáo viên phải chuẩn bị cho mỗi nhóm nhiều ốngnghiệm, giá để ống nghiệm, công tơ hút nhỏ giọt Như vậy đồ dùng thí nghiệm sẽcồng kềnh, dễ vỡ khi chuyển dụng cụ và tiến hành thí nghiệm Học sinh rất lúngtúng không có sự chủ động để tiếp nhận kiến thức dẫn đến tâm lí ngại làm thínghiệm trong giờ thực hành Vậy để khắc phục khó khăn trên giáo viên bộ môn chỉcần tận dụng dụng cụ đơn giản sẵn có thì thực hiện thành công các thí nghiệm.Thay vì chuẩn bị cho mỗi nhóm học sinh nhiều ống nghiệm, giá để ống nghiệm,công hút nhỏ giọt thì giáo viên chỉ cần chuẩn bị cho mỗi nhóm 1 đế sứ hoặc các vỉthuốc đã dùng tận dụng các nguồn nguyên liệu các em có thể tự chuẩn bị ở nhà làđủ
4.3.1 Đối với loại bài tập thực hành về tính chất hóa học như bài 6, 14 trong SGK Hóa học 9.
- Cụ thể:
3.3.1.1 Thí nghiệm 1 - Bài 6 Thực hành: Tính chất hóa học của oxit và axit.
Trang 17Thí nghiệm: Phản ứng của canxi oxit với nước Cho một mẩu nhỏ (bằng hạt ngô) CaO vào ống nghiệm, sau đó thêm dần 1-2 ml nước Quan sát các hiện tượng xảy ra Thử dung dịch bằng giấy quì tím hoặc dung dịch phenolphtalein, quan sát màu của thuốc thử thay đổi như thế nào.
Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 1)
( Hình 1)
Hình 2
- Cải tiến mới: Giáo viên cho các nhóm học sinh thực hiện trên lỗ đế sứ (hình 2).
Cho một mẫu nhỏ (bằng hạt ngô ) CaO vào lỗ đế sứ, dùng ống hút nhỏ giọt cho 1 –
2 ml H2O vào tiếp, dùng đũa thủy tinh khuấy đều, cho tiếp mẩu giấy qùi tím vào
- Ưu điểm của cải tiến: Học sinh khi làm thí nghiệm này rất phấn khởi, hứng thú,
tích cực Thí nghiệm không có nhiều dụng cụ, thí nghiệm nhanh gọn, chính xác,học sinh có thể tự mình làm, tư mình kiểm chứng không phải làm theo nhóm.Ngoài thí nghiệm này dễ làm, dễ quan sát còn khi rủa dụng cụ rất dễ dàng khắcphục việc học sinh khi bỏ giấy quì tím vào ống nghiệm thường bị dính trên thànhống nghiệm rồi dùng đũa thủy tinh đẩy xuống mất thời gian
- Kết quả về mặt kiến thức: CaO không làm thay đổi màu chất chỉ thị, khi tác dụng
với H2O tạo Ca(OH)2, Ca(OH)2 là chất ít tan (1 gam trong 100 gam H2O), phần tantạo dung dịch Ca(OH)2 trong làm quì tím hóa xanh, dung dịch phenolphtalein hóađỏ
CaO + H2O �� � Ca(OH)2
4.3.1.2 Bài 14 Thực hành: Tính chất hóa học của bazơ và muối.
… .
Trang 18* Thí nghiệm 1:Natri hiđroxit tác dụng với muối Nhỏ vài giọt dung dịch NaOH vào ống nghiệm có chứa 1 ml dung dịch FeCl3 Lắc nhẹ ống nghiệm Quan sát hiện tượng và giải thích.
* Thí nghiệm 2: Đồng (II) hiđroxit tác dụng với axit
Cho một ít Cu(OH)2 vào đáy ống nghiệm, nhỏ vài giọt dung dịch HCl Lắc nhẹ ốngnghiệm Quan sát hiện tượng và giải thích
* Thí nghiệm 3: Đồng (II) sunfat tác dụng với kim loại
Ngâm một đinh Fe nhỏ, sạch trong ống nghiệm có chứa 1 ml dung dịch CuSO4.Hiện tượng quan sát được sau 4 -5 phút là gì?
* Thí nghiệm 4: Bari clorua tác dụng với muối
Nhỏ vài giọt dung dịch BaCl2 vào ống nghiệm có chứa 1 ml dung dịch Na2SO4.quan sát hiện tượng và giải thích
* Thí nghiệm 5: Bari clorua tác dụng với axit
Nhỏ vài giọt dung dịch BaCl2 vào ống nghiệm có chứa 1 ml dung dịch H2SO4loãng Quan sát hiện tượng và giải thích
Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 6)
Dd NaOH dd HCl Đinh Fe dd BaCl2 dd BaCl2
FeCl3 Fe(OH)3 Cu(OH)2 dd CuCl2 dd CuSO4
Dd Na2SO4 dd H2SO4( Hình 6)