1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình Việt Nam hiện nay qua nghiên cứu ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

114 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 13,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình Việt Nam hiện nay qua nghiên cứu ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình Việt Nam hiện nay qua nghiên cứu ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình Việt Nam hiện nay qua nghiên cứu ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình Việt Nam hiện nay qua nghiên cứu ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình Việt Nam hiện nay qua nghiên cứu ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Trang 1

Hà Nội - 2020

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

QUAN NIỆM VỀ HẠNH PHÚC TRONG GIA

ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY QUA NGHIÊN CỨU TẠI HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

QUAN NIỆM VỀ HẠNH PHÚC TRONG GIA

ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY QUA NGHIÊN CỨU TẠI HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 8229001.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Thị Bắc

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoản đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảtrình bày trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất có thể,được các tác giả cho phép sử dụng Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ

rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình củanhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Hà Thị Bắc, đã luôn ủng

hộ, động viên và tận tụy hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôixin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong khoa Triết học, trườngĐại học Khoa học Xã hội & Nhân văn đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện chotôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND huyện GiaLâm, các ban ngành đoàn thể trong huyện đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôitrong quá trình triển khai và thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các bạn trong lớp Cao học khóa

2018 và gia đình đã quan tâm, tạo điều kiện, luôn bên cạnh động viên, đóng gópnhững ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn

Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

CEP: Tổ chức tài chính vi mô

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

GNP: Tổng sản lượng quốc gia

GNH: Tổng hạnh phúc quốc gia

HPI: Chỉ số hành tinh hạnh phúc

HDI: Chỉ số phát triển con người

NEF: Quỹ kinh tế mới

OECD: Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tếTCN: Trước công nguyên

WHR: Báo cáo hạnh phúc thế giới

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Quan niệm về nhóm yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và gìn giữ hạnh phúc trong gia đình 44Bảng 2.2: Mối quan hệ giữa thu nhập và xây dựng, gìn giữ hạnh phúc trong gia đình 49Bảng 2.3: Mức độ hài lòng với các điều kiện nhà ở, bữa ăn, mặc của gia đình

50 Bảng 2.4: Sự ảnh hưởng của hạnh phúc trong gia đình bởi sự thay đổi của điều kiện kinh tế - vật chất 51Bảng 2.5: Ảnh hưởng của nghề nghiệp và sự ổn định nghề nghiệp với hạnh phúctrong gia đình 54Bảng 2.6 Nguyên nhân hiện tượng li thân, li hôn của các cặp vợ chồng 56Bảng 2.7: Sự hài lòng của người dân với các yếu tố môi trường, an toàn thực phẩm, dịch vụ công và các dịch vụ tiện ích 57Bảng 2.8: Vai trò của sự quan tâm, chia sẻ giữa vợ và chồng và mức độ hài lòng với sự quan tâm của vợ/ chồng 61Bảng 2.9: Trách nhiệm dạy dỗ con cái trong gia đình và sự hài lòng của cha mẹ với con cái 66Bảng 2.10: Sự hài lòng trong các mối quan hệ của gia đình với gia đình lớn và

họ tộc 68Bảng 2.11: Mức độ hài lòng với sự lựa chọn hôn nhân của cá nhân 72Bảng 2.12: Mức độ ảnh hưởng của trình độ học vấn, địa vị và sở thích cá nhân tới hạnh phúc gia đình 73Bảng 2.13: Sự ảnh hưởng và mức độ hài lòng của cá nhân với nghề nghiệp 76Bảng 2.14: Mức độ hài lòng địa vị gia đình và thời gian dành cho gia đình, dành cho bản thân 77

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Sự ưu tiên lựa chọn mức độ quan trọng của các yếu tố kinh tế - vật chất, môi trường trong việc xây dựng và gìn giữ hạnh phúc trong gia đình 46Biểu đồ 2.2: Vai trò kinh tế giữa vợ và chồng trong gia đình 53Biểu đồ 2.3 Sự ưu tiên các ưu tiên các yếu tố quan hệ gia đình – xã hội 58Biểu đồ 2.4: Thứ tự ưu tiên các yếu tố về đời sống cá nhân trong xây dựng và giữ gìn hạnh phúc trong gia đình 70Biểu đồ 2.5: Mức độ hài lòng với sức khỏe bản thân 75

Trang 7

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 QUAN NIỆM VỀ HẠNH PHÚC VÀ HẠNH PHÚC TRONG GIA ĐÌNH: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 15

1.1. Quan niệm về hạnh phúc 15

1.1.1. Quan niệm về hạnh phúc trong lịch sử 15

1.1.2. Quan điểm và cách đo lường, tính toán chỉ số hạnh phúc trên thế giới và Việt Nam hiện nay 18

1.2. Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình và một số yếu tố tác động đến quan niệm về hạnh phúc trong gia đình 27

1.2.1 Khái quát về gia đình 27

1.2.2 Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình của người Việt Nam hiện nay29 Chương 2 NỘI DUNG QUAN NIỆM VỀ HẠNH PHÚC TRONG GIA ĐÌNH Ở HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN 40

2.1. Khái quát về huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 40

2.1.1. Về vị trí địa lý và cơ cấu tổ chức hành chính của huyện Gia Lâm 40

2.1.2. Về tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện Gia Lâm 40

2.2. Một số nội dung quan niệm về hạnh phúc trong gia đình ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội hiện nay 43

2.2.1. Hạnh phúc trong gia đình là sự hài lòng với các điều kiện kinh tế - vật chất, môi trường của các thành viên trong gia đình 46

2.2.2. Hạnh phúc là sự hài lòng với các quan hệ gia đình – xã hội của các thành viên trong gia đình 58

Trang 8

2.2.3. Hạnh phúc trong gia đình là sự hài lòng trong đời sống cá nhân của các thành viên trong gia đình 692.3. Một số vấn đề đặt ra và các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những quan niệm tích cực và hạn chế quan niệm tiêu cực về hạnh phúc trong gia đình ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 782.3.1. Một số vấn đề đặt ra trong quan niệm về hạnh phúc trong gia đình ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 782.3.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những quan niệm tích cực và hạn chế những quan niệm tiêu cực về hạnh phúc trong gia đình ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 82

KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hạnh phúc là động lực, là mục đích cuối cùng của con người ở mọi thờiđại lịch sử Chính vì vậy, quan điểm về hạnh phúc, bàn về vấn đề hạnh phúc thuhút được sự quan tâm của rất nhiều nhà triết học, các tôn giáo ngay từ thời cổđại như: Phật giáo, Ki – tô giáo, Sô- crat, Arixtot, Êpiquya… Hạnh phúc – với tưcách là mục đích cuối cùng của con người một lần nữa được khẳng định lại

trong bản tuyên ngôn Độc lập (1776) của Hoa Kỳ: “Tất cả mọi người đều sinh

ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [50] Khẳng định hạnh phúc là thước đo đúng đắn và tiến bộ của

nhân loại với cuộc sống của con người, trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nướcViệt Nam dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã mượn lời của bản tuyên ngôn củaHoa Kỳ để khẳng định quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúckhông chỉ là quyền riêng biệt của người Mỹ, người Pháp… mà là của tất cả các

dân tộc trên thế giới Người viết “… Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc

lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [26].

Gia đình là “tế bào” của xã hội, của dân tộc Một dân tộc chỉ có được

hạnh phúc khi mỗi cá nhân, mỗi gia đình của dân tộc đó hạnh phúc Vì vậy,trong chiến lược phát triển các quốc gia đều đặt mục tiêu: Xây dựng cuộc sốngcủa các cá nhân, gia đình ngày càng hạnh phúc hơn Vậy làm sao để xây dựngcuộc sống gia đình của con người ngày càng hạnh phúc? Đó là mục tiêu và trăntrở của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Để kỉ niệm và hướngtới xây dựng một dân tộc hạnh phúc với những “tế bào” hạnh phúc, Đảng vàNhà nước đã chọn ngày 20/03 (hưởng ứng ngày hạnh phúc thế giới) [29] và28/06 hằng năm để kỉ niệm, tôn vinh giá trị hạnh phúc đối với cuộc sống conngười, giá trị của gia đình và lấy đó làm động lực để toàn dân xây dựng hạnh

Trang 10

phúc trong gia đình Trong bối cảnh chung của xu thế hội nhập toàn cầu, về cơbản khiến đời sống vật chất, tinh thần của các gia đình Việt Nam không ngừngđược nâng cao (thu nhập trung bình trên/ người năm 2019 ở Việt Nam là 2.560USD/ năm), các quyền cá nhân của mỗi thành viên trong gia đình – xã hội ngàycàng được quan tâm, chú trọng Vậy trong điều kiện vật chất ngày càng cao ấy,người dân Việt Nam nói chung, các gia đình Việt Nam nói riêng, họ có hài lòngcao hơn với cuộc sống? Họ có cảm thấy hạnh phúc hơn? Trong hoàn cảnh mới,quan niệm của các gia đình, các thành viên trong gia đình về hạnh phúc gia đìnhnhư thế nào?

Trong điều kiện có hạn, để tìm hiểu quan niệm về hạnh phúc trong giađình Việt Nam hiện nay, tôi đã lựa chọn một địa bàn cụ thể (huyện Gia Lâm,thành phố Hà Nội) để tiến hành khảo sát Gia Lâm là huyện ngoại thành phíađông thành phố Hà Nội Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ sớm huyện GiaLâm đã là vùng phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng bản sắc văn hóanông nghiệp lâu đời Trước những biến đổi kinh tế quốc gia, huyện Gia Lâmnằm trong quy hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa, nắm vai trò là đầu cầu kết nối vùng kinh tế phía đông, các tỉnh HảiPhòng, Hài Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên với thành phố Hà Nội Vậy quan niệm

về hạnh phúc trong gia đình của người dân huyện Gia Lâm như thế nào trongbối cảnh kinh tế mới? Họ có hài lòng hơn với cuộc sống của gia đình mìnhkhông?

Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề vấn đề: Quan niệm về

hạnh phúc trong gia đình Việt Nam hiện nay qua nghiên cứu ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về “hạnh phúc” và “hạnh phúc gia đình” là một lĩnh vựcnghiên cứu còn mới tại Việt Nam Trong vài năm trở lại đây, các tác giả đã đặtvấn đề và nghiên cứu hạnh phúc với tư cách là một đối tượng độc lập và nghiêncứu về hạnh phúc là một ngành khoa học Luận bàn về “hạnh phúc” thu hút

Trang 11

được không ít tác giả xem xét, nghiên cứu ở các lĩnh vực khoa học, dưới nhiềucấp độ khác nhau Cụ thể:

Các công trình chuyên khảo:

Trong cuốn sách viết dưới nhan đề "Happier: Learn the Secrets of DailyJoy and Lasting Fulfillment” ("Để hạnh phúc hơn: Hãy học những bí mật niềmvui hàng ngày và hiện thực hóa lâu dài") của tác giá Tal Ben-shahar xuất bảnnăm (2007) Hạnh phúc được nhìn nhận và đánh giá với tư cách là một đốitượng của cảm xúc và được miêu tả hạnh phúc như sự cảm nhận những điềusung sướng và cảm nhận ý nghĩa cuộc đời

Trong cuốn “Hạnh phúc trong tầm tay” của tác giả Thích Nhật Từ, NXB

Phương Đông (2010), tác giả đã bàn về hạnh phúc dưới góc độ Phật giáo Ở góc

độ này, hạnh phúc được hiểu đó là sự nhận thức về hạnh phúc của chính chủ thể,

là mưu cầu tất yếu của con người Khi có được nhận thức về điều này chủ thể sẽbiết bỏ qua những bực dọc, nhận thức sự đau khổ, biết mơ ước và theo đuổinhững mơ ước của bản thân, biết chấp nhận và dung hòa với sự khác biệt Đếnnội dung chương 2 tác giả đi sâu bàn về hạnh phúc với những biểu hiện cụ thể:

no đủ về vật chất, con cái hiếu thuận, có trí tuệ và biết hưởng phước đúngcách.Vận dụng quan điểm biện chứng vào xem xét vấn đề hạnh phúc, tác giảkhẳng định hạnh phúc và những biểu hiện của hạnh phúc có sự thay đổi theokhông gian và thời gian Dựa trên lí luận bàn về hạnh phúc, Thích Nhật Từ đãluận chứng về con đường giúp con người đi đến hạnh phúc và xây dựng cuộcsống hạnh phúc

Trong cuốn sách: “Hiểu về trái tim” của tác giả Minh Niệm (2010) NXBTrẻ, tác giả đi sâu vào luận bàn những cảm xúc của mỗi cá nhân theo logic củacác cung bậc cảm xúc và có sự đan xen giữa các cảm xúc tích cực và những cảmxúc tiêu cực: đau khổ, hạnh phúc, tình yêu, tình thương, tức giận, chịu đựng,ghen tuông, tha thứ…Cũng đồng quan điểm với tác giả Thích Nhật Từ, một lầnnữa tác giả Minh Niệm khẳng định lại luận đề hạnh phúc không phải thứ từ trêntrời rơi xuống, và cũng không có cái thiên đường nào chỉ toàn là hạnh phúc Vì

Trang 12

hạnh phúc chỉ có được khi con người biết cảm nhận sự đau khổ Bằng những líluận đanh thép tác giả đã chỉ ra rằng quan niệm về hạnh phúc ở mỗi cá nhân, vàomột giai đoạn khác nhau, một góc nhìn khác nhau thì luôn tạo ra những đáp sốkhác nhau Bản thân con người không thể cảm nhận hạnh phúc vì họ luôn đuổihình bắt bóng, đứng núi này trông núi kia Và bản thân con người quá tham lamkhông bao giờ biết điểm dừng cho sự thỏa mãn của những xúc cảm Từ đó, tácgiả đi đến kết luận không có thứ hạnh phúc bất biến, đặc biệt nào trong tương lai

cả nên con người đừng mất công kiếm tìm, có chăng nó chỉ là những cảm xúckhác nhau mà thôi “Mà cảm xúc thì chỉ có nghiện ngập chứ có bao giờ là đủ!”

Trong cuốn “The art of Happiness” (Nghệ thuật của hạnh phúc) của tác

giả Đức Đạt Lai Lạt Ma và Bác Sĩ Howard C Cutler lần đầu tiên năm 1988 sau

đó được tái bản lại (2012), nhà xuất bản Easton Press Bằng sự kết hợp tài tìnhgiữa đạo Phật phương Đông và khoa học tâm lý phương Tây, bác sĩ Howard C.Cutler đã chứng minh rằng hạnh phúc không từ trên trời rơi xuống Và ông cũng

có cái nhìn rất biện chứng của đạo Phật khi khẳng định rằng hạnh phúc và giankhổ là hai mặt của một vấn đề Cái ranh giới mong manh, hành vi tinh tế ấy quảthật không dễ phân biệt Nếu chúng ta không định nghĩa rạch ròi, làm sao chúng

ta biết làm gì để đạt được hạnh phúc Và trên cơ sở đó, tác giả bằng lập luận củamình đã chỉ ra rằng hạnh phúc có nguồn gốc từ chính bên trong bản thân sự vật,

đó là từ “tâm” Và để con người luôn có được hạnh phúc thì cần làm cho cái tâmluôn khỏe mạnh bằng cách “luyện tâm”

Trong cuốn “Alain nói về hạnh phúc”của Émile Chartlier, NXB Trẻ

(2013), những “trao đổi” về đề tài hạnh phúc và bất hạnh được Alain tập hợp lạithành quyển sách Propos sur le bonheur (dịch: Alain nói về hạnh phúc) Quanhững mẩu chuyện nhỏ có thể thấy Alain quan tâm nhiều đến thái độ của mỗingười đối với hạnh phúc và bất hạnh, phân tích tại sao người ta không biết hạnhphúc với hạnh phúc của mình và tự làm cho sự bất hạnh nhân lên nhiều lần nhờvào nó mà bạn có thể học được cách hạnh phúc thực sự với những hạnh phúc màcuộc đời đã mang đến, và không tự làm mình bất hạnh hơn những bất hạnh mà

Trang 13

cuộc đời đã bắt chúng ta phải chịu.

Đề tài cấp Nhà nước: “Hạnh phúc của người Việt Nam: Quan niệm, thực

trạng và chỉ số đánh giá” (2018) do tác giả Lê Ngọc Văn làm chủ nhiệm Đề tài

thực hiện với mục tiêu: Làm rõ quan niệm về hạnh phúc trong điều kiện của đấtnước và con người Việt nam hiện nay; Phân tích thực trạng về hạnh phúc củacon người Việt Nam hiện nay; Xác định chỉ số đánh giá hạnh phúc của conngười Việt Nam phù hợp với điều kiện Việt Nam và có khả năng so sánh quốc

tế, trước hết là so sánh với các quốc gia về trình độ phát triển gần với Việt Nam;Nghiên cứu tạo cơ sở cho việc định hướng chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Đề tài có nhiều đóng góp về mặt khoa học cụ thể là: Xây dựng khái niệm hạnhphúc; Đề xuất hệ thống chỉ báo đo lường hạnh phúc; Đề xuất phương pháp tínhtoán chỉ số hạnh phúc Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng chỉ ra các nhóm xãhội/ dân số có các mức độ hạnh phúc khác nhau; Xếp theo thứ tự từ cao xuốngthấp, 5 nhóm dân số có chỉ số hạnh phúc cao nhất lần lượt là: nhóm có mức sốngkhá giả, nhóm tôn giáo khác, nhóm nông thôn đồng bằng, nhóm Phật giáo vànhóm nội trợ/nghỉ hưu

Sự hài lòng với cuộc sống trên các khía cạnh khác nhau được coi như

thang đo đánh giá sự hạnh phúc của con người Đề tài “Sự hài lòng về cuộc

sống” do tác giả Hoàng Bá Thịnh làm chủ nhiệm, thuộc đề tài cấp Đại học Quốc

gia Hà Nội, thực hiện giữa năm 2011 tại 8 xã và 6 phường của 4 tỉnh/thành phố

là Hải Dương, Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh và Bình Dương Nghiên cứu này sửdụng câu hỏi Likert với thang đo 5 bậc (1= hoàn toàn không hài lòng; 5= rất hàilòng) với dung lượng mẫu 2400 Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy ngườidân Việt Nam có mức độ hài lòng cao nhất là ở các lĩnh vực: quan hệ cha mẹ -con cái; hôn nhân, gia đình, con cái Mức độ hài lòng thấp nhất thuộc các lĩnhvực chi tiêu, học vấn, thu nhập, cơ sở hạ tầng

Đề tài cấp bộ “Đánh giá việc thực hiện các tiêu chí gia đình văn hóa hiện

nay và xây dựng tiêu chí gia đình văn hóa trong giai đoạn mới” (2005) do tác

giả Lê Trung Trấn làm chủ nhiệm Trong công trình này, nhóm tác giả đã tiến

Trang 14

hành điều tra 1600 đối tượng đại diện cho hộ gia đình, các cấp lãnh đạo tại 6tỉnh thành Trên cơ sở kết quả điều tra, tác giả đã đề xuất thay thế việc xây dựnggia đình văn hóa bằng việc xây dựng gia đình hạnh phúc và đi xây dựng nhữngtiêu chí về gia đình hạnh phúc.

Các bài báo:

Trong bài viết “Vài nét bàn về quan niệm hạnh phúc gia đình ở Việt Nam”

của tác giả Lê Thi, Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới, số 2- 2012 Bài viết trình

bày một số nét về quan niệm hạnh phúc gia đình và các yếu tố để xây dựng giađình hạnh phúc Theo tác giả khi đề cập đến quan niệm hạnh phúc gia đình thì điềucần nhấn mạnh là giá trị của chữ tình và chữ nghĩa Nghĩa và tình có quan hệ chặtchẽ với nhau, tác động và củng cố lẫn nhau, giúp đôi vợ chồng chung sống êm đẹpsuốt đời Và điều cơ bản là hạnh phúc gia đình cần được xây dựng và củng cố trên

cơ sở tình và nghĩa giữa đôi vợ chồng trong suốt quá trình chung sống Đó là kếtnối bền chặt nhất trong mối quan hệ của gia đình Ngoài ra, tác giả còn đề xuất một

số giải pháp xây dựng hạnh phúc trong gia đình Việt Nam

Bài viết “Định hướng giá trị của sinh viên về gia đình hạnh phúc” của

hai tác giả Phùng Bích Thủy và Văn Thị Kim Cúc (2004), trên cơ sở điều tra xã

hội học đã đưa ra quan điểm về gia đình hạnh phúc gia đình hòa thuận và ổnđịnh kinh tế Tác giả cũng chỉ ra những yếu tố tác động tới hạnh phúc của mộtgia đình: mối quan hệ tình yêu giữa vợ và chồng, mối quan hệ cha mẹ và concái, yếu tố kinh tế, vật chất đầy đủ Tác giả chỉ ra rằng, quan niệm của giới trẻ có

sự thay đổi khi cho rằng yếu tố vật chất có vai trò này càng quan trọng đối vớihạnh phúc của gia đình Ngoài ra, trong bài viết tác giả còn đề cập tới vị trí, vaitrò của vợ và chồng đối với việc xây dựng và gìn giữ hạnh phúc trong gia đình

Bài viết “Quan niệm về hạnh phúc gia đình thời kỳ Đổi mới” (so sánh

giữa nông thôn và thành thị) của giả Phùng Thị Kim Anh trên Tạp chí Gia đình

và Giới, số 3 -2009 Trong bài viết của mình tác giả khẳng định gia đình là một

thiết chế xã hội với chức năng cơ bản nhất là đảm bảo sự thoả mãn nhu cầu chocác thành viên gia đình, đặc biệt là đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân Hạnh

Trang 15

phúc gia đình là mục tiêu mà mỗi cá nhân luôn luôn hướng đến Trong thời kỳđổi mới, những biến động của nền kinh tế thị trường đã tạo nên những cái nhìnmới, lối sống mới Cách nhìn mới đó đã làm thay đổi quan niệm về hạnh phúcgia đình như thế nào? Để trả lời câu hỏi đó, trong bài viết tác giả đi tìm các yếu

tố tạo nên hạnh phúc gia đình, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình.Kết quả phân tích cho thấy, mối quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng là yếu tốquan trọng nhất đảm bảo hạnh phúc gia đình, bất kể gia đình nông thôn haythành phố Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp xây dựng hạnh phúc giađình thời kỳ đổi mới

Bài viết: “Quan niệm của các thế hệ Việt Nam về hạnh phúc gia đình và

giải pháp xây dựng”, Tạp chí Nghiên cứu con người số 1 năm 2010, tác giả Lê

Thi đã đề cập tới bối cảnh mới: xu hướng toàn cầu hóa, quá trình hội nhập quốc

tế khiến gia đình Việt Nam có nhiều biến động mạnh mẽ Tác giả đã tiến hànhđiều tra ở 4 điểm thuộc đồng bằng sông Hồng Trên cơ sở kết quả thu được, tácgiả khẳng định, quan niệm về hạnh phúc gia đình của các thế hệ khác nhau cũngkhác nhau và hết sức đa dạng, phong phú trên cơ sở các chỉ số đánh giá: gia đìnhhạnh phúc từ kinh tế, gia đình hạnh phúc từ mối quan hệ giữa vợ và chồng, giađình hạnh phúc từ con cái, gia đình hạnh phúc từ các mối quan hệ nội – ngoại,

họ hàng…Kết quả khảo sát cho thấy, dù thế hệ giới tính và tuổi tác khác nhausong đều khảng định yếu tố tôn trọng vợ chồng, cư xử bình đẳng, yêu thươnglẫn nhau là quan trọng nhất để xây dựng gia đình hạnh phúc Còn các yếu tố:kinh tế xếp thứ hai, con cái ngoan ngoãn thành đạt xếp thứ 3, các mối quan hệxếp vị trí thứ 4 Từ kết quả khảo sát và một số phỏng vấn sâu, tác giả đề xuấtmột số biện pháp xây dựng hạnh phúc gia đình trong bối cảnh mới

Bài viết: “Các yếu tố tác động đến hạnh phúc vợ chồng, mức độ hài lòngvới hôn nhân và cuộc sống gia đình của người dân” (nghiên cứu trường hợp tại

tỉnh Quảng Ngãi), Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 5 năm 2014, của tác

giả Lê Việt Nga, tác giả đã bản đến khái niệm hạnh phúc trong hôn nhân và cácyếu tố tác động tới hạnh phúc trong gia đình từ đó tác giả đi khảo cứu tại khu

Trang 16

vực tỉnh Quảng Ngãi.

Bài viết “Suy ngẫm về hạnh phúc và cách đạt được hạnh phúc” của TS.

Trần Việt Dũng đăng trên báo điện tử Chungta.com đã bàn về khái niệm hạnhphúc Sau những phân tích quan điểm của các nhà tư tưởng, tác giả cho rằnghạnh phúc là trạng thái tinh thần tốt đẹp nhất, cao quí nhất, xứng đáng là nhucầu, khát vọng của tất cả chúng ta Bằng những con đường và mức độ khácnhau, hạnh phúc đã, đang là mục đích và lẽ sống chung cho tất cả mọi tầng lớptrong xã hội Trong bài viết này tác giả đề cập đến 6 yếu tố tác động đến hạnhphúc của con người: đối tượng tinh thần tác động lên con người (môi trường,điều kiện vật chất, sức khỏe), nhu cầu cá nhân, quan điểm của cá nhân, mức độxâm nhập của tinh thần vào đối tượng, cảm nhận của chủ thế với đối tượng tácđộng và tính cách cá nhân

Bài viết: “Cảm giác hạnh phúc dưới góc nhìn của khoa học” trên trang

báo điện tử khoahoc.tv cho rằng cảm giác hạnh phúc của con người và những kí

ức tươi đẹp của họ chịu sự kiểm soát của não bộ (vùng hồi hải mã), được sảnsinh ra từ chất dẫn truyền thần kinh serotonin được tổng hợp từ amino acidtrytophan Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng con người sẽ cảm thấy hạnhphúc khi mỗi ngày họ dành ít nhất 20 phút để suy nghĩ về những điều tích cực,

mở rộng tư duy và tăng cường trí nhớ làm việc Trong nghiên cứu này cũng chỉ

ra nhiều điểm thú vị: Một là, những người đã kết hôn thường cảm thấy hạnhphúc hơn 10% so với những người độc thân Hai là, những nghề nghiệp đem lạicảm giác hạnh phúc nhất trên hành tinh: mục sư, diễn viên, kiến trúc sư, cứuhỏa Ba là, những bài tập rèn luyện cơ thể, giúp giải phóng protein và endophinkhiến não bộ cảm thấy hạnh phúc hơn, và những người được ngủ đủ giấc sẽ cảmthấy hạnh phúc hơn những người thiếu ngủ Bốn là, những người theo tôn giáothường cảm thấy hạnh phúc hơn so với những người không theo bất kỳ tôn giáonào Năm là, khi con người được đáp ứng những nhu cầu cơ bản (tháp nhu cầuMaslow) và họ dành được 2h/ tuần làm việc từ thiện, giúp đỡ cộng đồng họ sẽcảm thấy hạnh phúc hơn so với những người khác

Trang 17

Luận văn, luận án:

Trong luận án tiến sĩ “Hạnh phúc của con người được quyết định bởi điều

gì?” của Howard Dickinson, Colombia, Mỹ (1988) ông đã tiến hành điều tra

trên 121 người với công việc và mức độ thành đạt khác nhau Sau các cuộc điềutra xã hội học ông đi đến kết luận: Trên thế giới này có 2 loại người hạnh phúc:

1, Những người bình thường sống thanh bạch, an nhiên tự tại; 2, Những ngườinổi danh thành công kiệt xuất Trên cơ sở đó, ông đi tìm phương pháp để đạt đếnhạnh phúc ở mỗi nhóm người Sau 20 năm khi luận án được công bố, ông tiếptục liên lạc lại và làm cuộc điều tra với 121 nười này Kết quả thu được có sựchênh lệch quan điểm rất lớn trong nhóm người thứ 2, ông đi đến kết luận: Hạnhphúc có được nhờ vào địa vị và vật chất là thứ hạnh phúc mong manh không có

sự bền vững Khi địa vị và vật chất không còn thì hạnh phúc cũng ra đi cùng với

nó Chỉ có những người có được hạnh phúc nhờ vào sự tu dưỡng của bản thân,buông bỏ dục vọng khiến cho tâm hồn trở nên thăng hoa, đó mới là thứ hạnhphúc lâu bền Cho nên, tu dưỡng tâm hồn mới là khởi nguồn của hạnh phúc

Luận án tiến sĩ Tâm lý học của Đặng Hoàng Ngân (2018) bàn về “Ảnh

hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên” Trong

luận án, tác giả đã bàn tới khái niệm cảm nhận hạnh phúc được nhìn nhận khôngchỉ là sự hài lòng với cuộc sống, có nhiều cảm xúc tích cực, ít cảm xúc tiêu cực

mà còn là sự trải nghiệm sự hiện thực hóa cá nhân thông qua tăng cường tính tựchủ, làm chủ hoàn cảnh, phát triển cá nhân, có các mối quan hệ tích cực, có mụctiêu sống, tự chấp nhận bản thân Cùng với lí thuyết tiêu điểm kiểm soát trongluận án tác giả đã đề cập tới một số cơ chế đo lường cảm nhận hạnh phúc dướigóc độ tâm lý học

Luận án tiến sĩ Xã hội học của Phạm Thị Pha Lê (2019) bàn về “Hạnh

phúc của người dân theo Thiên Chúa Giáo (nghiên cứu trường hợp tại thành phố

Hồ Chí Minh)”đã làm rõ một số khái niệm cơ bản: hạnh phúc, công giáo, hạnh

phúc của người công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở các lý thuyết xãhội học, tác giả đã đi sâu làm rõ hạnh phúc của nguời công giáo trên 3 phương

Trang 18

diện: vật chất – kinh tế, môi trường; các quan hệ gia đình – xã hội và hạnh phúc

cá nhân của người công giáo trên cơ sở có sự so sánh với hạnh phúc của ngườitheo các tôn giáo khác: Phật giáo và các tín ngưỡng khác tại Việt Nam

Qua khảo sát các công trình nghiên cứu về hạnh phúc, hạnh phúc gia đìnhtrên nhiều lĩnh vực, dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, cho thấy vấn đềhạnh phúc trong gia đình chủ yếu được nghiên cứu dưới những góc độ lí luậnchung nên rất cần những công trình nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể về vấn

đề hạnh phúc trong gia đình Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lí luận về hạnh

phúc, hạnh phúc trong gia đình, các yếu tố tác động tới quan niệm về hạnh phúctrong gia đình luận văn đi sâu làm rõ nội dung quan niệm về hạnh phúc trong giađình ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằmphát huy những quan niệm tích cực và hạn chế quan niệm tiêu cực trong quanniệm về hạnh phúc trong gia đình tại địa bàn nghiên cứu

- Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được những mục đích trên, luận văn thực

hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:

+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về hạnh phúc, quan niệm về hạnh phúctrong gia đình

+ Chỉ ra một số yếu tố tác động tới quan niệm về hạnh phúc trong giađình Việt Nam hiện nay

+ Phân tích nội dung quan niệm về hạnh phúc và một số vấn đề đặt ratrong quan niệm về hạnh phúc của gia đình qua khảo cứu ở huyện Gia Lâm,thành phố Hà Nội

+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những quan niệm tíchcực và hạn chế những quan niệm tiêu cực về hạnh phúc trong gia đình ở huyệnGia Lâm, thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quan niệm về

Trang 19

hạnh phúc trong gia đình Việt Nam qua khảo cứu ở huyện Gia Lâm, thành phố

Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Quan niệm về hạnh phúc trong giađình ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Với cách tiếp cận đó, luận văn sẽ tậptrung làm rõ quan niệm về hạnh phúc trong gia đình tại huyện Gia Lâm, thànhphố Hà Nội (chủ yếu là gia đình hạt nhân gồm có cha mẹ và con cái) ở hai nhómnghề nghiệp khác nhau (công nhân và viên chức)

+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.+ Phạm vi thời gian: 5 năm trở lại đây (2015 – 2020)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của luận văn: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận

của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về gia đình

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thểnhư: logic – lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hộihọc… để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

+ Trên cơ sở lý thuyết đã xây dựng đề tài tiến hành điều tra xã hội học với

60 người đã kết hôn trên 5 năm thuộc hai nhóm nghề nghiệp: viên chức (30người) và công nhân (30 người) ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội về hạnhphúc trong gia đình Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâunhằm làm rõ hơn những quan điểm mà điều tra chưa đủ làm sáng tỏ

6 Đóng góp của đề tài

Những đóng góp mới của đề tài được thể hiện trên một số điểm như sau:

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về hạnh phúc trong gia đình và những nhân tố tác động tới quan niệm về hạnh phúc trong gia đình Việt Nam hiện nay

- Một số nội dung quan niệm về hạnh phúc trong gia đình, những vấn đề

Trang 20

đặt ra và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những quan niệm tíchcực và hạn chế những quan niệm tiêu cực về hạnh phúc trong gia đình ở huyệnGia Lâm, thành phố Hà Nội.

7 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về hạnh phúc tronggia đình Việt Nam hiện nay

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy các vấn đề liên quan đến gia đình, hạnh phúc, hạnh phúc trong gia đình

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 21

Chương 1 QUAN NIỆM VỀ HẠNH PHÚC VÀ HẠNH PHÚC TRONG GIA ĐÌNH:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 1.1 Quan niệm về hạnh phúc

1.1.1 Quan niệm về hạnh phúc trong lịch sử

Đồng hành cùng quá trình sống là hành trình tìm kiếm hạnh phúc của conngười Từ xưa tới nay, điều kiện kinh tế, môi trường sống xã hội có thay đổi tớiđâu chăng nữa thì thứ cuối cùng con người kiếm tìm vẫn là “hạnh phúc” Phạmtrù “hạnh phúc” được luận bàn trong rất nhiều tác phẩm ở các lĩnh vực khácnhau từ xưa tới nay

Thời kỳ cổ đại, quan niệm về hạnh phúc của con người được thể hiện rõnét trong quan điểm của các trường phái triết học và tôn giáo lớn trên thế giới:Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo…

Trong hệ thống học thuyết Nho giáo, phạm trù “hạnh phúc” không đượcbàn nhiều và bàn với tư cách là một phạm trù độc lập Ở góc nhìn nhất định, vớiNho gia hạnh phúc được thể hiện qua 3 chữ: “Phúc”, “Hỷ” và “Lạc” Về cơ bản,

cả ba chứ này đều được hiểu là may mắn, thuận lợi, tốt lành… được mang tớicho con người Tuy nhiên “hạnh phúc” không phải là cái đồng đẳng trong xã hội

mà có sự phân biệt hạnh phúc của người “quân tử” và kẻ “tiểu nhân” Ông nói:

“Quân tử nghĩ đến đức, tiểu nhân nghĩ đến đất” Cũng theo quan điểm của Nhogia, người quân tử chỉ có được hạnh phúc thực sự khi hạnh phúc của họ gắn liềnvới việc giúp đời Là một học thuyết chính trị - xã hội, nên chúng ta không khóhiểu khi quan niệm Nho gia hoàn toàn vắng bóng “hạnh phúc cá nhân”

Trái lại với quan điểm của Nho gia, Đạo gia (do Lão Tử sáng lập, Trang

Tử phát triển) lại chú trọng và bàn nhiều tới hạnh phúc cá nhân “Hạnh phúc”trong quan điểm của Đạo gia là trạng thái cân bằng âm dương, ở đó con ngườisống vô vi, nhàn hạ và hòa hợp với tự nhiên Hạnh phúc chỉ có được khi conngười sống thanh đạm, biết đủ, biết dừng, không tham lam, không bon chen,không cạnh tranh Quan điểm này ăn sâu vào tư tưởng và trở thành lối sống của

Trang 22

một bộ phận trí thức không gặp thời hoặc hoặc đã hoàn thành nghĩa vụ đối với

xã hội Mặc dù, quan điểm của Đạo gia có những nét tiến bộ rõ nét khi bàn vềhạnh phúc song những quan điểm đó lại hướng con người tới cuộc sống tiêucực, xa lánh xã hội

Hai quan niệm về hạnh phúc của Nho gia và Đạo gia, tuy đối lập nhau về

cơ bản, nhưng cũng có những khía cạnh tương đồng, như coi khinh và phản đốilối sống chạy theo lợi ích vật chất tầm thường, ích kỷ của cá nhân, gắn hạnhphúc với đạo đức, phản đối việc mưu cầu hạnh phúc bằng con đường bấtchính…nên cả hai quan niệm đều được những người trí thức phương Đông,trong đó có trí thức Việt Nam, vận dụng trong những điều kiện, hoàn cảnh khácnhau của cuộc sống

Cũng tương tự như trong quan niệm của nhiều lý thuyết khác, hạnh phúctheo quan điểm của Phật giáo về cơ bản có nguồn gốc cảm tính, xuất hiện từcảm giác và từ niềm vui về mặt tinh thần Phật giáo coi sứ mệnh của mình làgiúp cho con người tìm thấy hạnh phúc Toàn bộ quan điểm, quan niệm và hành

vi, thái độ kiếm tìm hạnh phúc của con người đều tương ứng với lý thuyết trong

“Tứ diệu đế” của Phật giáo Ngoài lý thuyết trình bày trong tứ diệu đế, để cóđược hạnh phúc thực sự, Phật giáo còn yêu cầu tín đồ và khuyên nhủ con ngườithực hiện “ngũ giới” Như vậy, theo quan niệm của Phật giáo hạnh phúc thực sựcủa con người chỉ có thể đạt được qua thực hành Bát chính đạo và Ngũ giới

Bàn về hạnh phúc, trong lịch sử triết học phương Tây cũng thu hút được

sự quan tâm của nhiều trường phái triết học và các triết gia Cụ thể:

Epicurus: “Hạnh phúc là mục đích tối hậu của đời sống loài người Sự yênbình và hợp lẽ phải là nền tảng của hạnh phúc”

Aristote: “Hạnh phúc là ý nghĩa và mục đích của cuộc đời, là mục tiêu vàcũng là giới hạn tận cùng của sự tồn tại người” [9]

Phái Xirenait (Cyrenaics) do Arixtíp (Aristippus, khoảng 430-350 TCN),một môn đồ của Xôcrát, sáng lập, là một thứ chủ nghĩa khoái lạc tầm thường, vị

kỷ, đưa ra một học thuyết mà theo đó, sự thỏa mãn những dục vọng trực tiếp của

Trang 23

cá nhân, không cần quan tâm đến người khác, được coi là mục đích tối cao.Những khoái cảm xác thịt, theo phái này, còn đáng giá hơn những niềm vui trítuệ hư ảo và phức tạp Thực tế lịch sử đã cho thấy sai lầm cơ bản trong quanđiểm của phái này, vì khi cá nhân con người chạy theo những khoái cảm xác thịttầm thường thì không thể có được hạnh phúc toàn diện, lâu dài được.

Trái với chủ nghĩa khoái lạc vị kỷ, chủ nghĩa khoái lạc Êpiquya, gắn vớitrường phái triết học do Êpiquya (Epicurus, 341 - 271 TCN) sáng lập, là một thứchủ nghĩa khoái lạc lý tính Phái Êpiquya cho rằng, khoái lạc chân chính chỉ cóthể đạt được bằng lý trí Họ đề cao những phẩm hạnh như tính tự chủ và sự cẩntrọng Khoái lạc lớn nhất là ở cuộc sống bình dị và điều độ, tiêu dao với bè bạn

và cùng đàm luận triết học với họ Họ lập luận rằng, sẽ là không tốt nếu làmđiều gì đó để có được khoái cảm nhất thời nhưng lại gây ra hậu quả xấu chotương lai, chẳng hạn, sự hoang dâm quá độ sẽ có hậu quả bất hạnh về sau

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các quan điểm của các nhà triết học trongcác giai đoạn trước, đạo đức học Mác – Lênin đưa ra quan điểm về phạm trù

hạnh phúc: “Hạnh phúc là trạng thái tâm lý đạo đức biểu hiện sự thỏa mãn

những nhu cầu vật chất và tinh thần, có tính lịch sử cụ thể, là những nghĩa vụ đạo đức được hoàn thành” [8].

Từ quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về hạnh phúc, chúng ta có thểhiểu hạnh phúc với những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, là cảm giác vui sướng, thanh thản, phấn chấn của con ngườitrong cuộc sống khi được thỏa mãn những nhu cầu chân chính cả về vật chất lẫntinh thần trong những điều kiện lịch sử cụ thể

Thứ hai, là những nghĩa vụ đạo đức được hoàn thành Trong cuộc sống cónhiều mối quan hệ Mỗi quan hệ lại có một nghĩa vụ đạo đức Mỗi khi một nghĩa

vụ đạo đức được hoàn thành con người cảm thấy hạnh phúc

Thứ ba, hạnh phúc gồm cả hai yếu tố khách quan và chủ quan Trong mỗiquan điểm lịch sử cụ thể quan niệm về hạnh phúc có sự thay đổi Tuy nhiên, dù cóthay đổi nhưng hạnh phúc cá nhân không tách rời hạnh phúc chung của xã hội

Trang 24

Thứ tư, hạnh phúc có nguồn gốc từ lao động và đấu tranh, vì vậy nênhạnh phúc mang tính giai cấp Trong xã hội có đối kháng giai cấp, hạnh phúccủa người này là bất hạnh ở người khác.

Trên cơ sở phân tích các quan điểm, quan niệm của các nhà triết học vàcác trường phái triết học về hạnh phúc, tôi chọn quan niệm hạnh phúc của chủnghĩa Mác – Lênin làm khung lý thuyết nghiên cứu

1.1.2 Quan điểm và cách đo lường, tính toán chỉ số hạnh phúc trên thế

giới và Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, quan điểm và các tính toán chỉ số hạnh phúc của một số tổ chức, quốc gia trên thế giới

Hiện nay, bên cạnh việc khảo sát, đo lường các chỉ số: HDI, GDP, GNP…nhiều quốc gia đã tiến hành khảo sát và đo lường chỉ số hạnh phúc của ngườidân nhằm điều chỉnh các chính sách của chính phủ cho phù hợp và tìm ra nhữnggiải pháp mới giúp người dân hài lòng hơn với cuộc sống và ngày càng hạnhphúc hơn Trên cơ sở kế thừa các quan niệm về hạnh phúc trong lịch sử, các nhàkhoa học đã tìm phương pháp mới nhằm cụ thể hóa chỉ số hạnh phúc của conngười, biến chỉ số hạnh phúc từ một khái niệm “mờ” sang chỉ số hoàn toàn cóthể định lượng được Dưới đây, luận văn lược qua một vài quan niệm tiêu biểu

và cách tính toán chỉ số hạnh phúc của các tổ chức quốc tế và một số quốc giatrên thế giới

* Chỉ số hạnh phúc hành tinh (Happiness Plant Index - HPI)

Thước đo đánh giá về hạnh phúc được nhiều quốc gia trên thế giới tintưởng là chỉ số HPI Bộ máy lý thuyết định hướng thiết kế chỉ số HPI trong “Báo

cáo chỉ số hạnh phúc hành tinh” (Happiness Plant Index - HPI) được tính toán

bởi Quỹ Kinh tế mới (New Economics Foundation – NEF) thì chỉ số hạnh phúcđược đo lường bằng mức độ hài lòng với đời sống của con người, được cụ thểhóa với 3 thành tố cơ bản: mức độ sống, tuổi thọ trung bình và dấu chân sinhthái theo công thức:

HPI = Life Satisfaction x Life Expectancy/Ecological Footprint

Trang 25

Ecological Footprint (dấu chân sinh thái) dấu vết của toàn bộ hệ sinh tháixung quanh con người, không chỉ môi trường - Con người tiêu dùng tài nguyên

tự nhiên đến mức nào, có vượt quá mức độ cho phép mà tự nhiên đã “ban” chocon người tại mỗi quốc gia hay không, có làm tổn hại đến hệ sinh thái mà trong

đó con người chỉ là một thực thể sinh học hay không)

Theo công thức này, người ta sẽ tính được chỉ số hạnh phúc của mỗi quốcgia hoặc của mỗi cộng đồng Ý nghĩa của công thức này là: Hạnh phúc của mỗiquốc gia/cộng đồng là số năm trong vốn tuổi thọ mà con người cảm thấy hàilòng (Well-being) với cuộc sống của mình nếu điều này phù hợp với điều kiệntài nguyên tự nhiên được phép tiêu dùng (chỉ số hài lòng với cuộc sống nhân vớichỉ số tuổi thọ chia cho chỉ số thực trạng tiêu dùng tài nguyên tự nhiên và mức

độ làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái xung quanh) Thang HPI được thiết kế từ 0

-100 Theo NEF, thang lý tưởng (Reasonable Ideal) trong điều kiện hiện nay là83,5; trong đó, chỉ số hài lòng với cuộc sống là 8,2; chỉ số tuổi thọ là 82,0 và chỉ

số môi sinh là 1,5

* Báo cáo hạnh phúc thế giới (Word Happiness Report- WHR)

Báo cáo hạnh phúc thế giới (Word Happiness Report- WHR) được công

bố bởi Mạng lưới các giải pháp phát triển bền vững (SDSN) thuộc Liên HợpQuốc phối hợp với viện nghiên cứu Trái đất cùng sự phối hợp của Trung tâmnghiên cứu hiệu suất kinh tế - CEP Báo cáo hạnh phúc thế giới được công bốlần đầu tiên vào tháng 4 /2012 theo đề nghị của ông Ban Ki Moon – tổng thư kí

Liên Hợp Quốc Tại Hội nghị The UN High Level Meeting on Happiness and

Well- being vào ngày 02/04/2012, trong hội nghị này các quốc gia tham dự đã

Trang 26

quyết định chọn ngày 20/03 hàng năm là ngày Quốc tế Hạnh phúc.

Theo báo cáo, đại lượng cơ bản sử dụng để đánh giá hạnh phúc của con

người chính là mức độ hài lòng với đời sống được đo bằng thang điểm 10 từ

“cực kì không hài lòng” đến “cực kỳ hài lòng” với 8 tiêu chí cơ bản: GDP/ đầungười tính theo sức mua ngang giá; số năm sống khỏe mạnh so với tuổi thọtrung bình; Hỗ trợ xã hội; Tự do lựa chọn cuộc sống; sự rộng lượng; cảm nhận

về tham nhũng; phản ứng tích cực và phản ứng tiêu cực Cả tám têu chí trên đều

là các biến độc lập được tính toán để đo đạc thái độ chủ quan của người dân ởhơn 150 quốc gia (với hơn 1.000 mẫu ở mỗi quốc gia) và chỉ số hạnh phúc là kếtquả tích hợp của các chỉ số đó

* Tính toán chỉ số hạnh phúc của Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)

Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) gồm 34 nước thành viên –

là một tổ chức có uy tín trong nghiên cứu và liên kết nghiên cứu hạnh phúc trênthế giới cả trên phương diện học thuật và thực hành thực địa Trong “Tài liệuhướng dẫn về đo lường hạnh phúc” (2013) nhằm mục đích thiết lập một hệthống phương pháp luận thống nhất hướng đến việc chuẩn hóa trong đo lườngchỉ số hạnh phúc Trong tài liệu, hạnh phúc được đo lường chủ yếu dưới góc độchủ quan mà theo OECD nó là phần cơ bản và cốt lõi nhất trong đo lường hạnhphúc OECD khuyến nghị rằng các không thể đánh giá hạnh phúc con ngườithuần túy theo chỉ số GDP và họ đưa ra chỉ số mới “Chỉ số cuộc sống tốt đẹphơn” (Your better life Index – BLI) gồm 11 yếu tố thành phần: Nhà ở; thu nhập;việc làm; cộng đồng; giáo dục; môi trường; sự tham gia; sức khỏe; gia đình; sự

an toàn; sự cân bằng công việc – cuộc sống

Chỉ số đo lường không chỉ được nghiên cứu và đánh giá bởi các tổ chức

uy tín trên thế giới, dựa trên những cách thức tính toán chung về chỉ số hạnhphúc và điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở mỗi quốc gia mà có những tính toán chophù hợp điều kiện thực tế Vì vậy, nhiều quốc gia đã tiến hành xây dựng chomình bộ cung cụ thu thập dữ liệu và đánh giá về hạnh phúc riêng như: vương

Trang 27

quốc Bhutan, Hà Lan, Vương quốc Anh, Úc, vương quốc Bỉ, Đức, Canada, Ý.

Vương quốc Bhutan: Tổng hạnh phúc quốc gia (GNH- Gross National

Happiness) được đánh giá khá sớm ở quốc gia này (1972) thay cho khái niệmTổng sản phẩm quốc nội Cách tính GNH khá phức tạp gồm 4 nền tảng căn bản:kinh tế - văn hóa – môi trường và sự quản lý Các câu hỏi để đánh giá 4 nền tảngcủa hạnh phúc được cụ thể hóa trong 9 lĩnh vực với 33 chỉ báo gồm: Tiêu chuẩnsống (3 chỉ báo: tài sản, nhà ở, thu nhập theo đầu người của hộ gia đình); Đờisống tâm lý (4 chỉ báo: sự hài lòng cuộc sống, cảm xúc tích cực, cảm xúc tiêucực, tâm linh); sức mạnh cộng đồng (4 tiêu chí: những tặng vật, quan hệ cộngđồng, quan hệ gia đình, sự an toàn); tính đa dạng và sự cởi mở văn hóa (4 tiêuchí: tiếng mẹ đẻ, tham gia văn hóa, những kỹ năng về nghề thủ công, đạo đức);

Sử dụng thời gian (2 tiêu chí: thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi); Quản trịtốt (4 tiêu chí: sự thực hiện của chính phủ, các quyền cơ bản, các dịch vụ, sựtham gia chính trị); Sự đa dạng và biến đổi của môi trường sinh thái (4 tiêu chí:những vấn đề sinh thái, trách nhiệm đối với môi trường, sự thiệt hại về động vậthoang dã, các vấn đề đô thị hóa); Sức khỏe (3 tiêu chí: sức khỏe tinh thần, sứckhỏe bản thân, ngày khỏe mạnh, ngày ốm yếu); Giáo dục (4 tiêu chí: biết đọcbiết viết, trình độ học vấn, sự hiểu biết, các giá trị)

Tại Hà Lan: Chỉ số hạnh phúc ở Hà Lan gồm các chỉ số đa chiều về chất

lượng cuộc sống nói chung của cá nhân một cách tổng hợp Chỉ số hạnh phúc ở

Hà Lan được công bố bởi Viện nghiên cứu Xã hội Hà Lan từ 1974 nhằm đưa racái nhìn toàn cảnh về cuộc sống của người dân Hà Lan và trên cơ sở đó đề xuấtcác chính sách xã hội Chỉ số hạnh phúc ở quốc gia này được đo lường trên 8lĩnh vực: nhà ở, y tế, tập luyện thể thao, tham gia các hoạt động xã hội, các hoạyđộng giải trí văn hóa, sở hữu các vật dụng lâu bền, các kỳ nghỉ và di chuyển.Trong mỗi lĩnh vực đo lường, các nhà nghiên cứu sẽ đề xuất các chỉ số liên quanđến các hoạt động thực tiễn của các cá nhân bở họ cho rằng tình hình cuộc sốnggắn liền với một tình huống cụ thể với tất cả các khía cạnh vật chất và phi vậtchất xét theo khía cạnh chủ quan của chủ thể Ngoài ra, hạnh phúc còn được đo

Trang 28

lường ở mức độ hài lòng với cuộc sống nói chung và các khía cạnh trong cuộcsống cũng góp phần vào chất lượng cuộc sống của họ Trên cơ sở thực tế điềutra tại quốc gia này, các nhà nghiên cứu khẳng định không phải khi nào tình hìnhkhách quan và quan niệm chủ quan cũng tỉ lệ thuận với nhau mà nhiều trườnghợp chúng chạy song song với nhau Nhờ chỉ số này, các nhà nghiên cứu khôngchỉ có cái nhìn tổng thể về cuộc sống của người dân Hà Lan mà họ còn có thể dễdàng nhận ra sự tiến bộ hay lạc hậu trong những chính sách của chính phủ đốivới những nhóm xã hội khác nhau và có những điều chỉnh cho phù hợp tình hìnhthực tế.

Tại vương quốc Anh: Các chương trình quốc gia về đo lường hạnh phúc

tại Anh bắt đầu được triển khai từ tháng 11/2010, tại quốc gia này hạnh phúcđược biểu thị qua khái niệm “National well- being” và các nhà nghiên cứu chorằng hạnh phúc của người dân tại Anh luôn bị chi phối bởi các yếu tố: kinh tế,

sự bền vững của môi trường, sự bình đẳng, chất lượng cuộc sống cũng như hạnhphúc cá nhân Hạnh phúc cá nhân miêu tả cách cá nhân đang thực hiện về mặtsuy nghĩ và cảm giác về cuộc sống của họ nói chung, dược xác định thông quacác câu hỏi làm thế nào để thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của bạn nói chung.Hạnh phúc bao gồm cách chúng ta đang hành động và cách chúng ta cảm nhận

về các chiều cạnh của cuộc sống của chúng ta như sức khỏe, các mối quan hệ,giáo dục và kỹ năng, chúng ta làm cái gì, chúng ta sống ở đâu, vị hôn thê củachúng ta, nền kinh tế, quản lý nhà nước và môi trường

Hạnh phúc cộng đồng bao gồm hạnh phúc cá nhân nhưng đồng thời phảnánh sự phân bố hạnh phúc cá nhân trong cộng đồng cũng như nhân tố địaphương có thể ảnh hưởng tới hạnh phúc như khả năng tiếp cận không gian xanh

và sức mạnh, cơ hội cho sự tham gia của cộng đồng Theo cách tiếp cận này,hạnh phúc quốc gia bao gồm hạnh phúc cá nhân trên cả nước như các nhân tố ởcấp quốc gia như các quyết định về nền kinh tế, môi trường hay quản lý nhànước có ảnh hưởng trực tiếp đến hạn phúc cá nhân Hạnh phúc quốc gia cũngliên quan đến mức độ duy trì hạnh phúc hiện tại và trong tương lai giữa các thế

Trang 29

hệ Như vậy, hạnh phúc quốc gia không đơn thuần là tình trạng của tất cả hạnhphúc cá nhân.

Thứ hai, chỉ số hạnh phúc trong nghiên cứu của một số nhà khoa học

Trên thế giới, các nghiên cứu về hạnh phúc xuất hiện khá sớm, nhiều nhàkhoa học đã tiến hành nghiên cứu cảm nhận hạnh phúc của con người dướinhiều góc độ và trong các mối quan hệ của nó với các yếu tố: kinh tế, tinh thần

và cảm nhận về sự hài lòng…

Năm 2003, Carol Rothwell và Pete Cohen, hai nhà nghiên cứu người Anh,

lần đầu tiên (theo lời tự nhận xét của bà Carol Rothwell) trong đề tài “Công thức

của Hạnh phúc”, đã đưa ra công thức để tính hạnh phúc Dựa trên kết quả khảo

sát xã hội học ở 1000 nghiệm thể là người Anh, công thức được đưa ra dướidạng [Hạnh phúc = P + (5xE) + (3xH)] Trong đó, P là chỉ số cá tính (PersonalCharacterisrics) bao gồm quan niệm sống, khả năng thích nghi, và sự bền bỉ dẻodai trước thử thách E là chỉ số hiện hữu (Existence) phản ánh tình trạng sứckhỏe, khả năng tài chính và các mối quan hệ thân hữu H là chỉ số thể hiện nhucầu cấp cao (Higher Oder) bao gồm lòng tự tôn, niềm mơ ước, hoài bão và cả óchài hước Dĩ nhiên không nhiều người kỳ vọng ở công thức này, song ở mộtphạm vi nào đấy, người ta cũng thấy công thức này có giá trị gợi mở nhất định

Từ cách tính chỉ số hạnh phúc, trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra các nhân

tố ảnh hưởng tới sự hạnh phúc của con người: mức thu nhập, giáo dục, tìnhtrạng hôn nhân và vấn đề việc làm [3]

Đi trả lời câu hỏi: Tiền bạc có làm nên hạnh phúc? nhà xã hội học Glenn

Firebaugh, đại học Pennsylvania và Laura Tach, đại học Harvard (Mỹ) đã bỏcông nghiên cứu vấn đề và rút ra kết luận: tiền bạc có tạo ra hạnh phúc, tuynhiên, với một điều kiện là người làm ra tiền bạc phải cảm thấy họ kiếm đượcnhiều tiền hơn những người quanh họ Cũng cho kết quả tương tự là nghiên cứucủa Edward Diener, nhà tâm lý học đại học Illinois (Mỹ) Diener kết luận, sẽ làkhông đúng nếu nói tiền bạc không liên quan tới hạnh phúc; mối quan hệ giữachúng rất phức tạp, song tỷ lệ hài lòng với cuộc sống của người giàu thường cao

Trang 30

hơn nhiều so với người nghèo Hiện tượng này đúng cho cả những nước giàu vànhững người nghèo Chuyên gia kinh tế Andrew Oswald của Đại học Warwick(Anh) cũng đồng ý với Edward Diener khi nghiên cứu một nhóm người trúng xổ

số từ 2.000 đến 250.000 USD Kết quả chỉ ra là mức độ hài lòng với cuộc sốngcủa nhóm người này tăng so với hai năm trước khi họ trúng số Và mức độ hàilòng tăng tỷ lệ thuận với mức thưởng: trúng thưởng càng lớn người trúng thưởngcàng hài lòng hơn với cuộc sống của mình

Trong nghiên cứu kéo dài 80 năm của các giáo sư trường Đại học Harvard

về hạnh phúc (The study of Adult Development) với 3 nhóm đối tượng, các nhànghiên cứu khẳng định: "Chăm sóc cơ thể rất quan trọng nhưng vun đắp cho mốiquan hệ cũng là một cách tự chăm sóc mình Tôi nghĩ, đó chính là bí mật củahạnh phúc", Robert Waldinger, nhà tâm thần học và giảng viên tại trường Y

Harvard viết trên The Harvard Gazette Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra 6 yếu

tố cơ bản giúp con người có cuộc sống hạnh phúc và khỏe mạnh: không sử dụngchất kích thích, số năm đi học (nói tới yếu tố giáo dục), tuổi thơ hạnh phúc, giátrị và vị trí của các mối quan hệ, kỹ năng đối phó với các thất bại, luôn chia sẻ

Qua một số công trình nghiên cứu của các tổ chức uy tín trên thế giới,quốc gia và một số chuyên gia nước ngoài, tác giả nhận thấy có một số điểmchung trong nghiên cứu về hạnh phúc được rút ra:

Một là, hạnh phúc dưới góc độ đời sống cá nhân về cơ bản là sự thỏa mãn

(sự hài lòng) những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người trong nhữngđiều kiện nhất định

Hai là, hạnh phúc không phải là khái niệm “mờ” không thể nắm bắt mà

hoàn toàn có thể định lượng nó bằng các thang đo khác nhau Sự khác nhautrong các thang đo bị quyết định bởi các yếu tố thực tế của cư dân ở từng quốcgia, khu vực với những nét đặc trưng riêng của cộng đồng

Ba là, hạnh phúc chủ quan là hạt nhân cho bất kỳ khái niệm hạnh phúc

mở rộng nào Hạnh phúc của mỗi chủ thể chịu sự chi phối của nhiều nhóm điềukiện khách quan và chủ quan

Trang 31

Thứ ba, quan niệm về hạnh phúc của một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam

Quan điểm của Hồ Chí Minh về hạnh phúc: Trong thư “Gửi các Ủy bannhân dân các bộ, tỉnh, huyện, và làng” tháng 10 năm 1945, Bác viết: “Nếu nướcđộc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ýnghĩa gì” Như vậy, Bác hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện

tự do, hạnh phúc cho nhân dân Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đíchcủa nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước

Trên cơ sở nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định mục tiêu lớn nhất của Đảng và Nhà nước “Độclập, tự do, hạnh phúc” Trong mục tiêu chung của Đảng và Nhà nước, “hạnhphúc” được xếp ngang hàng với “độc lập, tự do” và đứng ở vị trí trí cuối cùngnhư một sự khẳng định chắc chắn của Đảng và Nhà nước với toàn dân Việt Nam

“hạnh phúc” là một trong mục tiêu quan trọng của quốc gia, đồng thời cũng làmục tiêu cuối cùng của mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách Nhànước Song để đảm bảo được quyền “hạnh phúc” của nhân dân toàn Đảng, toàndân phải có được những điều kiện tiên quyết là sự độc lập, tự quyết của mộtquốc gia và sự tự do của con người và chỉ có trên cơ sở nền tảng đó Đảng vàNhà nước mới có khả năng mang lại “hạnh phúc” cho người dân

Đề tài cấp Nhà nước "Hạnh phúc của người Việt Nam: Quan niệm, thực

trạng và chỉ số đánh giá" (2018) do tác giả Lê Ngọc Văn chủ trì [58] Đây là đề

tài đầu tiên và toàn diện nhất cho đến thời điểm hiện nay đánh giá về hạnh phúccon người Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu về quan điểm về hạnh phúc của cáctrường phái triết học, tư tưởng, qua ca dao tục ngữ của người Việt Nam, nhómtác giả khẳng định hạnh phúc là một phạm trù vừa mang giá trị khách quan vừamang giá trị chủ quan Trong định nghĩa hạnh phúc, nhóm tác giả theo cách tiếpcận từ lý thuyết về sự hài lòng Sự hài lòng ở đây được hiểu là những trạng tháicảm xúc tích cực, vững chắc với ưu thế vượt trội của những cảm xúc tích cựcđối với những cảm xúc tiêu cực được kết tinh thành những trải nghiệm nhậnthức và có thể được đánh giá bằng lí trí Hiểu đơn giản thì ở đây hạnh phúc được

Trang 32

hiểu là sự đánh giá của một người về mức độ hài lòng của họ về cuộc sống củamình xét trên tổng thể và như vậy hạnh phúc được đề cập ở đây chính là hạnhphúc chủ quan – nội hàm cơ bản của bất kỳ khái niệm hạnh phúc mở rộng nào.Trên cơ sở đó, nhóm tác giả phân chia hạnh phúc thành: Hạnh phúc chủ quan(gắn liền với hạnh phúc cá nhân, biểu thị bằng thị bằng thuật ngữ well – being)

và hạnh phúc khách quan (gắn với hạnh phúc của một cộng đồng người nào đó,được biểu thị bằng thuật ngữ Happiess index) đồng thời khẳng định hạnh phúcchủ quan là cơ sở cốt lõi để đánh giá hạnh phúc khách quan

Trên nền lý thuyết, nhóm tác giả đã đề xuất 2 công thức riêng biệt để tínhtoán về chỉ số hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội Tuy nhiên, dù tính toánchỉ số hạnh phúc chủ quan hay hạnh phúc khách quan thì công thức tính đềuđược tính toán thông qua 3 chỉ báo trung gian với những câu hỏi định lượng vàđịnh tính về sự hài lòng về điều kiện kinh tế - vật chất, môi trường tự nhiên; sựhài lòng về quan hệ gia đình – xã hội; sự hài lòng về bản thân và triển khai cụthể 3 chỉ báo trung gian thành 33 chỉ báo đo lường về mức độ hạnh phúc (mỗichỉ báo trung gian được cụ thể bằng 11 chỉ báo nhỏ) với 5 thang điểm từ 0-5biểu thị mức độ hài lòng (hoàn toàn không hài lòng - 0; chưa hài lòng – 1; tươngđối hài lòng – 2; hài lòng – 3; rất hài lòng – 4) Trên cơ sở quan niệm hạnh phúc

cá nhân, nhóm tác giả tiến hành tính toán chỉ số hạnh phúc của một cộng đồngngười nào đó thông qua công thức tính:

HI = β1 Ieco + β2.I sr + β3.I per

Trong đó; HI: là chỉ số hạnh phúc của cộng đồng

Ieco: chỉ số hài lòng về kinh tế vật chất

I sr: chỉ số hài lòng về quan hệ gia đình – cộng đồng

I per: chỉ số hài lòng về đời sống cá nhân

Β: bình quân gia quyền đối với từng chỉ số hài lòng

Như đã trình bày, chúng ta thấy rằng chỉ số hạnh phúc của người ViệtNam (HI) được tính toán qua 3 chỉ báo gộp trung gian Ieco, I sr , I per Vậy làmthế nào tính toán và định lượng các chỉ số trung gian này Nhóm tác giả đã tiến

Trang 33

hành cụ thể hóa các chỉ báo cụ thể thuộc từng nhóm yếu tố sau:

Nhóm yếu tố đời sống kinh tế - vật chất, môi trường được cụ thể hóathông qua 11 chỉ báo về ăn, mặc, ở, việc làm, thu nhập, tiện nghi sinh hoạt, tàisản, dịch vụ xã hội, môi trường sống, vệ sinh an toàn thực phẩm…

Nhóm yếu tố các quan hệ gia đình – xã hội được cụ thể hóa qua 11 chỉbáo: quan hệ gia đình, con cái, họ hàng, láng giềng, bạn bè, nơi làm việc, vị thế,địa vị xã hội, an ninh, an toàn xã hội, chính quyền, môi trường xã hội…

Nhóm yếu tố về đời sống cá nhân bao gồm các chỉ báo: sức khỏe, họcvấn, năng lực, đời sống tinh thần, tâm linh, thích ứng với cuộc sống của cánhân

Có thể nói, đây là công thức tính toán đầu tiên, nhưng đã khái quát đượcmột cách toàn diện các lĩnh vực của đời sống cá nhân và xã hội khi đánh giáquan niệm về hạnh phúc của người Việt Nam Công thức tính toán này được đưa

ra trên cơ sở lý thuyết về sự hài lòng, lý thuyết về hiện đại hóa và hậu hiện đạihóa và nguyên tắc lịch sử - cụ thể, vì vậy kết quả nó thu được đảm bảo tính phùhợp và sự tin tưởng

1.2 Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình và một số yếu

tố tác động đến quan niệm về hạnh phúc trong gia đình

1.2.1 Khái quát về gia đình

Trong lịch sử nghiên cứu về gia đình có rất nhiều khái niệm khác nhau vềgia đình Mỗi lĩnh vực khoa học lại có cách nhìn nhận và định nghĩa khác nhau

về gia đình

Trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2010, phần những quy định chung

có ghi rõ: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan

hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụgiữa họ với nhau theo quy định của Luật này [22]

Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội Vì vậy,

có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế

xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người

Trang 34

Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viêncủa nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệcon nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằmđáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tấtyếu của xã hội về tái sản xuất con người [27].

Trong cuốn “Gia đình học” xuất bản năm 2009, tác giả Đặng Cảnh

Khanh, Lê Thị Quý đã đưa ra định nghĩa gia đình như sau: “Gia đình là mộtthiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duytrì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái Các mối quan hệ gia đình được gọi

là quan hệ họ hàng Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựatrên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi Những người này cóthể sống cùng hoặc khác mái nhà với nhau” [18, tr 54]

Mặc dù, các tác giả, các lĩnh vực khoa học có thể đưa ra nhiều định nghĩakhác nhau về gia đình nhưng cơ bản gia đình có những đặc điểm như sau:

Một là, gia đình là một nhóm người (từ hai người trở lên)

Hai là, gia đình là những người có quan hệ với nhau bởi hôn nhân (quan

hệ giữa vợ - chồng), huyết thống (cha mẹ đẻ - con cái) hoặc quan hệ nuôi dưỡng,giáo dục (cha mẹ - con hoặc cha mẹ nuôi – con nuôi)…

Ba là, gia đình gồm những cá nhân cùng chung sống, có ngân sách chung,

họ gắn bó với nhau bởi quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ Tất cả các quan hệcủa họ được Nhà nước và cộng đồng thừa nhận và bảo vệ

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, cuộc cách mạng khoa học – công nghệlàm bộ mặt kinh tế biến đổi nhanh chóng Sự biến đổi này kéo theo hàng loạtnhững thay đổi trên tất cả các lĩnh vực khác: chính trị, văn hóa, y tế, giáo dục, anninh – quốc phòng và trong cả gia đình Dưới tác động của kinh tế, đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gia đình Việt Nam đã có nhiềubiến đổi lớn: Sự thay đổi cấu trúc, chức năng, các quan hệ trong gia đình Trongbối cảnh đó, tất cả các gia đình nói chung và gia đình của nguời Việt Nam nóiriêng buộc phải thực hiện song song hai nhiệm vụ: Một mặt bảo toàn những giá

Trang 35

trị truyền thống của gia đình Việt Nam, mặt khác là thay đổi những giá trị đã cũ,

đã lạc hậu bằng những truyền thống mới phù hợp với bối cảnh xã hội mới Nhưvậy, trong thời đại hiện nay, văn hóa gia đình Việt Nam vừa mang tính kế thừa

và vừa liên tục phát triển Những biến đổi của gia đình Việt Nam trong bối cảnhmới khiến quan điểm, quan niệm của con người về hạnh phúc nói chung và hạnhphúc trong gia đình nói riêng cũng có những biến đổi nhất định

1.2.2 Quan niệm về hạnh phúc trong gia đình của người Việt Nam hiện nay

Hạnh phúc trong gia đình (family happiness) là khái niệm cụ thể hơn, làmột khía cạnh biểu hiện của khái niệm hạnh phúc Tương tự như khái niệm hạnhphúc, khái niệm hạnh phúc trong gia đình cũng gặp nhiều khó khăn trong việcđịnh nghĩa nó, bởi trên thực tế gia đình là một tập hợp cá nhân; tồn tại nhiềuhình thái gia đình và cảm nhận hạnh phúc của cá nhân có liên hệ chặt chẽ vớihạnh phúc trong gia đình và ngược lại hạnh phúc trong gia đình có những tácđộng và chi phối nhất định tới hạnh phúc cá nhân Trong một nghiên cứu ở Mỹ

về chất lượng cuộc sống đã phát hiện ra điều này: “hầu hết các tài liệu đềukhông định nghĩa cụ thể hạnh phúc trong gia đình là gì, nhưng những đặc trưngcủa nó đã được chỉ ra trong kết quả, chí số, giá trị và ý tưởng”

Trên thực tế nghiên cứu về hạnh phúc trong gia đình, cho đến nay chưa cómột nghiên cứu rộng rãi mang tầm quốc tế nào về hạnh phúc trong gia đình Tuynhiên khi xem xét về hạnh phúc trong gia đình, người ta thường đề cập tới kháiniệm cuộc sống tốt trong gia đình (family welfare), thuật ngữ này xuất hiệnnhiều trong các nghiên cứu về chính sách đối với gia đình Về mặt học thuật,chúng ta hoàn toàn có thể dịch và hiểu nó là hạnh phúc trong gia đình Thuậtngữ này xuất hiện nhiều trong các nghiên cứu về gia đình vì “rất nhiều khía cạnhtrong cuộc sống của con người có tác động đến chất lượng cuộc sống tốt của họ

và gia đình họ” [74, tr 39] Trong một số nghiên cứu khác, các nhà nghiên cứuđưa ra các quan điểm khác nhau “hạnh phúc của con cái và cha mẹ trong cáclĩnh vực tình cảm, kinh tế và xã hội” [68, tr 1]; “hạnh phúc về cả thể chất và

Trang 36

tâm lý của (các thành viên trong gia đình) cũng như chất lượng mối quan hệgiữa cha mẹ, cha mẹ và con cái” [67, tr 5]; “sức khỏe, hạnh phúc và sự thịnhvượng của một gia đình như một tổng thể cũng của các thành viên trong giađình” [63, tr 4].

Như vậy, tổng hợp một số nghiên cứu về hạnh phúc trong gia đình, chúng

ta có thể nhận thấy hạnh phúc trong gia đình mặc dù chưa có khái niệm chungđược sử dụng một cách phổ biến và rộng rãi, và có nhiều khái niệm tương đồng:phúc lợi gia đình, hạnh phúc gia đình, song các nghiên cứu đều đã chỉ ra đượcnhững dấu hiệu cơ bản nhận diện hạnh phúc trong gia đình và xác định trong cácmối quan hệ của gia đình: cha - mẹ; cha mẹ và con cái; và mối quan hệ của cánhân với gia đình

Ở Việt Nam, các công trình bàn về gia đình khá nhiều song bàn về khíacạnh “hạnh phúc trong gia đình” của người Việt Nam thì chưa thực sự có nhiềucông trình nghiên cứu độc lập mà chủ yếu những nghiên cứu được lồng ghéptrong những nghiên cứu về “hạnh phúc” và “gia đình”

Trong bài “Bàn về quan niệm hạnh phúc trong gia đình ở Việt Nam”, của

tác giả Lê Thi, đăng trên Tạp chí Gia đình và Giới, số 2 – 2012, tác giả cho rằng

hạnh phúc trong gia đình phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm gắn bó bềnchặt giữa vợ và chồng Biểu hiện đầu tiên đánh dấu cho sự gắn kết của họ chính

là “hôn nhân” theo tác giả đây là dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự gắn kết gắnkết giữa hai con người xa lạ trên cơ sở của tình yêu Song để xây dựng gia đìnhhạnh phúc không chỉ cần tình yêu mà cần sự hội tụ của nhiều điều kiện khác.Trước khi đi làm rõ những biểu hiện của gia đình hạnh phúc, tác giả Lê Thi đãtập trung làm rõ sự khác biệt trong quan niệm hạnh phúc gia đình trong truyềnthống và xã hội hiện đại Nếu như trong xã hội truyền thống, hạnh phúc tronggia đình là khi: gia đình, vợ chồng hòa thuận, yêu thương lẫn nhau, con cái hiếuthảo, anh chị em yêu thương lẫn nhau, con cái lo phụng dưỡng cha mẹ tuổi già

và thờ cúng tổ tiên, sống có trách nhiệm Những giá trị đó có phần nào đã bịthay đổi trong xã hội hiện đại, khi họ quan niệm hạnh phúc gia đình là: vợ chồng

Trang 37

yêu thương, chung thủy, quan tâm, tin tưởng lẫn nhau, các thành viên trong giađình đặc biệt là vợ chồng cùng chia sẻ các công việc của gia đình từ trách nhiệmvới gia đình hai bên, dạy dỗ con cái đến công việc nhà, đó là sự bình đẳng giữacác thành viên trong gia đình Cuối cùng là sự ổn định trong công việc của vợ vàchồng Trên cơ sở đó, tác giả tập trung đi nghiên cứu các khía cạnh của hạnhphúc gia đình: vợ chồng sống trọn tình, vẹn nghĩa với nhau; vợ chồng bình đẳng

về quyền và nghĩa vụ trong gia đình; cách ứng xử trong sinh hoạt hàng ngàygiữa vợ và chồng Sau khi phân tích các khía cạnh của hạnh phúc gia đình tácgiả đề xuất một số giải pháp xây dựng và gìn giữ hạnh phúc trong gia đình vềphía ba nhóm đối tượng: nhà nước, gia đình và các tổ chức đoàn thể [36]

Trong một bài viết khác của mình với tựa đề “Giữ gìn và phát huy những

giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân dân Việt Nam để xây dựng gia đình bền vững

và hạnh phúc” sau khi đi khái quát vài nét về vị trí, vai trò của gia đình trong xã

hội Việt Nam tác giả Lê Thi đi trình bày về những thay đổi của gia đình Việttrong bối cảnh mới với sự thay đổi của cấu trúc ngành nghề, quy mô kinh tế, xuhướng di dân… cùng với đó là sự thay đổi một cách tất yếu, khách quan theo xuthế của gia đình Việt Nam về 5 chức năng cơ bản: kinh tế, tái sản xuất ra conngười, tiêu dùng xã hội, giáo dục và thỏa mãn các nhu cầu tâm lí, tình cảm củacác thành viên trong gia đình Tác giả tập trung phần nội dung làm rõ biến đổi 5chức năng cuả gia đình trên cơ sở làm rõ sự khác biệt về biểu hiện của nó trong

xã hội truyền thống và hiện đại Trên phương diện kinh tế: Đó là sự tham giatrong hoạt động kinh doanh, buôn bán và đứng tên kinh doanh của phụ nữ, trênphương diện tái sản xuất con người gia đình hiện đại chuyển theo hướng giảm

số lượng con và có xu hướng chọn giới tính khiến tỉ lệ tự nhiên của bé trai caohơn bé gái, còn trên phương diện tâm lý – tình cảm chuyển từ bỏ qua cảm xúc cánhân vì gia đình chung thì trong xã hội hiện đại bắt đầu đề cao sự tôn trọng, bìnhđẳng giữa các thành viên và coi trọng con người cá nhân và trên phương diệnchăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trách nhiệm đối với con cái được trao cho cảhai vợ chồng và nội dung, phương pháp giáo dục có sự thay đổi nhiều so với các

Trang 38

nội dung và phương pháp giáo dục truyền thống Trên cơ sở những phân tích,đánh giá về sự khác biệt tác giả đi đến bàn về vai trò của Nhà nước, các tổ chức

xã hội và từ phía chính bản thân gia đình trong việc gìn giữ và phát huy nhữnggiá trị truyền thống tốt đẹp, còn phù hợp của gia đình truyền thống trong bốicảnh hiện đại [37]

Đề tài cấp bộ “Đánh giá việc thực hiện các tiêu chí gia đình văn hóa hiện

nay và xây dựng tiêu chí gia đình văn hóa trong giai đoạn mới” (2005) do TS.

Lê Trung Trấn làm chủ nhiệm Trong công trình này, nhóm tác giả đã tiến hànhđiều tra 1600 đối tượng đại diện cho hộ gia đình, các cấp lãnh đạo tại 6 tỉnhthành: Hưng Yên, Sơn La, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum và SócTrăng Trên cơ sở kết quả điều tra, tác giả đã đề xuất thay thế việc xây dựng giađình văn hóa bằng việc xây dựng gia đình hạnh phúc Theo tác giả, gia đìnhhạnh phúc có những đặc trưng cơ bản như sau: Mối quan hệ ấm áp và yêuthương giữa vợ và chồng; lòng hiếu thảo và thành tâm với ông bà, cha mẹ; tính

kỉ luật, nền nếp; mối quan hệ gia đình lành mạnh, ấm áp và hạnh phúc; gia đìnhlành mạnh về vật chất, tinh thần, tình cảm và xã hội; có thể đáp ứng được cácnhu cầu kinh tế; các thành viên có vai trò rõ ràng Một khi xây dựng được cácmối quan hệ trong gia đình tốt đẹp, gia đình đó sẽ là gia đình hạnh phúc [47]

Bài viết “Quan niệm về hạnh phúc gia đình thời kỳ Đổi mới” (so sánh

giữa nông thôn và thành thị) của giả Phùng Thị Kim Anh trên Tạp chí Gia đình

và Giới, số 3 -2009 Trong bài viết của mình tác giả khẳng định gia đình là một

thiết chế xã hội với chức năng cơ bản nhất là đảm bảo sự thoả mãn nhu cầu chocác thành viên gia đình, đặc biệt là đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân Hạnhphúc gia đình là mục tiêu mà mỗi cá nhân luôn luôn hướng đến Trong thời kỳđổi mới, những biến động của nền kinh tế thị trường đã tạo nên những cái nhìnmới, lối sống mới Cách nhìn mới đó đã làm thay đổi quan niệm về hạnh phúcgia đình như thế nào? Để trả lời cầu hỏi đó, trong bài viết tác giả đi tìm các yếu

tố tạo nên hạnh phúc gia đình, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình.Kết quả phân tích cho thấy, mối quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng là yếu tố

Trang 39

quan trọng nhất đảm bảo hạnh phúc gia đình, bất kể gia đình nông thôn haythành phố Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp xây dựng hạnh phúc giađình thời kỳ đổi mới [1].

Để có một gia đình hạnh phúc cần có sự chung tay của tất cả các thànhviên trong gia đình, đặc biệt là người phụ nữ Như các cụ đã nói “đàn ông xâynhà, đàn bà xây tổ ấm” Trong bài viết “phụ nữ - người vợ hạt nhân cơ bản củahạnh phúc gia đình” của tác giả Hà Thị Mỹ Hiệp Tác giả một lần nữa khẳngđịnh mối quan hệ quan trọng nhất góp phần tạo dựng hạnh phúc trong gia đình

là mối quan hệ vợ chồng Mối quan hệ này chỉ thực sự bần chặt khi có sự yêuthương, chia sẻ, tôn trọng lẫn nhau giữa hai bên, đặc biệt từ phía người phụ nữvới những hành động cụ thể: yêu thương, chăm sóc chồng và các con, hi sinhcho hạnh phúc gia đình… [13]

Để xây dựng hạnh phúc trong gia đình, tác giả hoàn toàn đồng ý với ýkiến của tác giả Phạm Thị Kim Anh, mối quan hệ giữa vợ và chồng là nhân tốquyết định Bàn về vấn đề này Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành xã hội học về

“Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân: Khác biệt giữa Nông thôn và thành thịtrong quá trình đô thị hóa hiện nay” của tác giả Đỗ Thị Lan Trong công trìnhcủa mình tác giả đi so sánh sự hài lòng về: người bạn đời, về con cái, về đờisống vật chất, đời sống tinh thần trong gia đình và đi đến kết luận, khu vựcthành thị mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân cao hơn so với khu vực nôngthôn Đi tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt trên, tác giả đi sâu mổ sẻ cácyếu tố: trình độ học vấn, sự tác động của nghề nghiệp đến mức độ hài lòng tronghôn nhân, ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa [18]

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về hạnh phúc và hạnh phúc tronggia, quan niệm về hạnh phúc trong gia đình người Việt Nam còn được thể hiệntrong định nghĩa về gia đình văn hóa và các tiêu chí cụ thể để xây dựng gia đìnhvăn hóa trong bối cảnh mới

Xây dựng gia đình văn hóa cũng là việc phát huy tốt những giá trị đạo đứccủa gia đình truyền thống từ bao năm nay, đi đôi với việc tiếp thu có nhận thức

Trang 40

những phong trào, những xu hướng mới có chất lượng và có ảnh hưởng tích cựcđến cộng đồng xã hội.

Tiêu chuẩn gia đình văn hóa được thể hiện trên ba nội dung cơ bản:

Thứ nhất là gia đình ấm no, hòa thuận, tiến bộ và hạnh phúc gồm: Giađình có kinh tế ổn định, hoà thuận có kỷ cương nề nếp, không có người mắc các

tệ nạn xã hội; Thực hiện nếp sống văn minh, giữ gìn thuần phong mỹ tục, không

sử dụng văn hoá phẩm thuộc loại cấm lưu hành; Trẻ em đang độ tuổi đi học đềuđược đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học trở lên; Các thành viêntrong gia đình chăm lo rèn luyện sức khoẻ, giữ gìn vệ sinh và phòng bệnh

Thứ hai, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân gồm: Các thành viên trong giađình thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước; Giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường

và nếp sống văn hoá nơi công cộng; Tham gia bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử– văn hoá, danh lam thắng cảnh của địa phương

Thứ ba là thực hiện kế hoạch hoá gia đình gồm: Mỗi cặp vợ chồng sinhcon không vi phạm chính sách kế hoạch hoá gia đình; Có kế hoạch phát triểnkinh tế, làm giàu chính đáng; Có kế hoạch tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm

Thứ tư là đoàn kết tương trợ trong cộng đồng dân cư gồm: Đoàn kết vớicộng đồng dân cư, tương trợ giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, khi khókhăn, hoạn nạn; Tham gia hoà giải các mối quan hệ bất đồng trong địa bàn dâncư; Tham gia các hoạt động xã hội từ thiện nhằm xây dựng địa bàn dân cư ổnđịnh, vững mạnh; vận động các gia đình khác cùng tham gia [28]

Qua một số nghiên cứu về hạnh phúc và hạnh phúc đình của nhiều côngtrình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy một sốđiểm chung then chốt trong các công trình nghiên cứu:

Thứ nhất, hạnh phúc trong gia đình được nghiên cứu dưới góc độ chủquan là sự hài lòng của chủ thể với các khía cạnh biểu hiện của hạnh phúc như:

sự hài lòng với các điều kiện kinh tế - vật chất, môi trường, sự hài lòng với cácquan hệ gia đình – xã hội

Ngày đăng: 20/11/2021, 21:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phùng Thị Kim Anh (2009), “Quan niệm về hạnh phúc gia đình thời kỳ Đổi mới” (so sánh giữa nông thôn và thành thị), Tạp chí nghiên cứu gia đình và Giới, số 3 -2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về hạnh phúc gia đình thờikỳ Đổi mới” (so sánh giữa nông thôn và thành thị), "Tạp chí nghiên cứu giađình và Giới
Tác giả: Phùng Thị Kim Anh
Năm: 2009
4. Pete Cohen và Carol Rothwell (2003), đề tài “Công thức của Hạnh phúc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công thức của Hạnh phúc
Tác giả: Pete Cohen và Carol Rothwell
Năm: 2003
5. Émile Chartlier (2013), Alain nói về hạnh phúc, NXB Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alain nói về hạnh phúc
Tác giả: Émile Chartlier
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2013
6. Howard Dickinson (1988), “Hạnh phúc của con người được quyết định bởi điều gì?”, Colombia, Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hạnh phúc của con người được quyết định bởi điều gì?”
Tác giả: Howard Dickinson
Năm: 1988
7. Trần Việt Dũng (2015), “Suy ngẫm về hạnh phúc và cách đạt được hạnh phúc”, http:Chungta.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy ngẫm về hạnh phúc và cách đạt được hạnh phúc
Tác giả: Trần Việt Dũng
Năm: 2015
8. Dương Văn Duyên (2013), Giáo trình Đạo đức học đại cương, NXB Đại học Quốc gia Hà nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức học đại cương
Tác giả: Dương Văn Duyên
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà nội
Năm: 2013
3. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm năm 2019 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w