Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường đại học của học sinh trên địa bàn thành phố tây ninh Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường đại học của học sinh trên địa bàn thành phố tây ninh Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường đại học của học sinh trên địa bàn thành phố tây ninh Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường đại học của học sinh trên địa bàn thành phố tây ninh
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nghiên cứu được thực hiện tại “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường
Đại học của học sinh THPT trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh” được thực hiện
tại các trường THPT trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh trong khoảng thời gian từtháng 06/2020 đến hết tháng 07/2020 Tác giả tiến hành khảo sát 275 học sinhTHPT đang theo học lớp 12 của năm học 2019 – 2020 theo phương pháp chọn mẫuthuận tiện, phi ngẫu nhiên Số lượng phiếu thu về hợp lệ là 250 phiếu, tỷ lệ phản hồiđạt 91% Các phương pháp phân tích: Kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tíchnhân tố khám phá, phân tích hồi quy được sử dụng trong luận văn
Kết quả phân tích hồi quy đã chỉ ra 6 nhân tố có tác động đến ý định chọn trườngĐại học của học sinh THPT trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh bao gồm: (1) Cảmnhận về chi phí (CP); (2) Cảm nhận về chương trình học (CT); (3) Cảm nhận về cơ
sở vật chất, nguồn nhân lực (VCNL); (4) Cảm nhận về danh tiếng (DT); (5) Chuẩnmực chủ quan (CM); (6) Cơ hội làm việc (CHLV) Từ kết quả phân tích, tác giả đã
đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm giúp trường Đại học thu hút được các học sinhTHPT trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh
Trang 2The research “Factors influencing university choosing decision of high schoolstudents in Tay Ninh city province" was conducted at high schools in Tay Ninh cityprovince in the period from June 2020 to the end of July 2020 The author
interviewed 275 high school students attending grade 12 of the 2019-2020 schoolyear according to non-probability sampling method The number of valid votescollected was 250; the response rate was 91% Analysis method: validity and
reliability of scales, exploratory factor of analysis, linear regression analysis used inthe thesis
The results of linear regression analysis showed that 6 factors affecting the decision
on choosing University by high school students in Tay Ninh city province include:(1) Cost; (2) study program; (3) there are chatroom, human resources; (4)
Reputation ; (5) standard (5) ; (6) Future employment opportunities The proportion
of choosing University of high school students in urban areas was higher than
students in rural areas The group of students with good academic performance hadthe highest agreement Next to the group of students quite, average, weak However,there was no difference in the choice of university between male and female
students From the analysis results, the author has proposed 5 groups of solutions tohelp University attract high school students in in Tay Ninh province
Trang 3MỤC LỤC
Tờ bìa phụ
Quyết định giao đề tài
Xác nhận của GVHD
Biên bản chấm của hội đồng
Nhận xét của 2 phản biện
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
Trang 41.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
1.7 Cấu trúc của luận văn 5
Tóm tắt chương 1 6
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1 Cơ sở lý thuyết 7
2.1.1 Khái niệm , đặc điểm của GDĐH và lợi ích của việc học ĐH 7
2.1.1.1 Khái niệm 7
2.1.1.2 Đặc điểm 8
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm học sinh THPT 9
2.1.2.1 Khái niệm 9
2.1.2.2 Đặc điểm 9
2.1.3 Ý định chọn trường của học sinh THPT 11
2.1.4 Lý thuyết liên quan 11
2.1.4.1 Lý thuyết về hành vi dự định (TPB) 11
2.1.4.2 Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) 13
2.2 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu liên quan 14
2.2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 14
2.2.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài 14
2.2.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước 18
2.2.2 Tổng kết tài liệu nghiên cứu có liên quan và hướng đi trong luận văn 20
2.2.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 22
2.2.4 Mô hình lý thuyết đề xuất 23
Trang 5Tóm tắt chương 2 30
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Quy trình nghiên cứu 31
3.2 Xây dựng thang đo 32
3.3 Thiết kế mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu 36
3.4 Thiết kế bảng câu hỏi 37
3.5 Các phương pháp phân tích số liệu 41
3.5.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo (Hệ số cronbach’s alpha) 41
3.5.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 41
3.5.3 Phân tích hệ số tương quan 42
3.5.4 Phân tích hồi quy 42
Tóm tắt chương 3 44
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Tổng quan về xu hướng chọn trường ĐH cùa học sinh THPT 45
4.1.1 Xu hướng thay đồi GDĐH trên Thế Giới và Việt Nam 45
4.1.2 Bối cảnh về tuyển sinh ĐH 46
4.1.3 Xu hướng chọn trường ĐH của học sinh THPT 48
4.1.3.1 Xu hướng lựa chọn trường ĐH theo kết quà điểm 48
4.1.3.2 Xu hướng lựa chọn trường ĐH theo nguồn nhân lực 49
4.2 Thực trạng chọn trường ĐH của học sinh THPT trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh 50
4.2.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 50
Trang 64.3 Thực trạng xu hướng chọn trường ĐH của học sinh THPT trên địa bàn Thành
Phố Tây Ninh 52
4.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường 53
4.4.1 Phân tích độ tin cậy của thang đo 53
4.4.2 Phân tích nhân tố khám phá 58
4.4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá biến độc lập 58
4.4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc 60
4.5 Phân tích ma trận tương quan 61
4.6 Phân tích hồi quy 63
4.6.1 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 64
4.6.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 64
4.7 Kết quả phân tích hồi quy và mức độ tác động của từng nhân tố 65
4.8 Kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ số ước lượng 66
4.9 Thảo luận kết quả nghiên cứu 67
4.9.1 Thảo luận cảm nhận về chi phí 67
4.9.2 Thảo luận cảm nhận về chương trình học 68
4.9.3 Thảo luận cảm nhận về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực 68
4.9.4 Thảo luận về chuẩn mực chủ quan 68
4.9.5 Thảo luận về cơ hội làm việc 69
Tóm tắt chương 4 70
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 71
5.1 Kết luận 71
Trang 75.2 Một số hàm ý quản trị và cách đề xuất cải thiện 71
5.2.1 Đối với nhân tố chi phí 71
5.2.2 Đối với nhân tố chương trình học 73
5.2.3 Đối với nhân tố cơ sở vật chất, nguồn nhân lực 73
5.2.4 Đối với nhân tố chuẩn mực chủ quan 74
5.2.5 Đối với nhân tố cơ hội làm việc 75
5.3 Hạn chế của đề tài 75
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 1: BẢNG KHẢO SÁT 78
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 81
NỘI DUNG BÀI BÁO 99
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Cụm từ đầy đủ Tiếng Anh Tên đầy đủ tiếng việt
ANOVA Analysis of Variance Phân tích phương saiEFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
Sig Observed significance level Mức ý nghĩa quan sátSPSS Statistical Package for Social
Sciences
Phần mềm xử lý số liệu thống
kê dùng trong các ngành khoa
học xã hộiOLS Ordinay Least Squares Phương pháp bình phương cực
tiểuPCA Principal Components Analysis Phân tích nhân tố chínhVIF Variance inflation factor Hệ số phóng đại phương sai
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường ĐH 21
Bảng 3.1 Bảng thang đo các nhân tố 33
Bảng 3.2 Bảng câu hỏi khảo sát 37
Bảng 4.1.Thống kê số liệu trường, Sinh Viên đang theo học và Sinh Viên tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ Việt Nam giai đoạn (2013-2017) 47
Bảng 4.2 Thống kê các trường ĐH, CD ở từng khu vực 48
Bảng 4.3 Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo trường học 51
Bảng 4.4 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 52
Bảng 4.5 Kết quả phân tích cronbach’s alpha 54
Bảng 4.6 Kết quả phân tích cronbach’s alpha đối với nhóm sau khi loại các thang đo 56
Bảng 4.7 Kiểm định KMO biến độc lập 58
Bảng 4.8 Kết quả phân tích EFA biến độc lập 59
Bảng 4.9 Kiểm định KMO biến phụ thuộc 60
Bảng 4.10 Nhóm các nhân tố sau khi thực hiện nhân tố khám phá 61
Bảng 4.11 Hệ số tương quan thang đo ý định chọn trường ĐH 62
Bảng 4.12 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 64
Bảng 4.13 Kiểm định đa cộng tuyến 65
Bảng 4.14 Kết quả phân tích hồi quy 66
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình lý thuyết hành vi dự định 11
Hình 2.2 Mô hình lý thuyết hành vi hợp lý 13
Hình 2.3 Mô hình lý thuyết đề xuất 25
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 31
Hình 4.1 Phân tích phổ điểm theo từng khối thi từ dữ liệu chính thức của Bộ GD&ĐT 49
Trang 11CHƯƠNG 1TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ 4 là xu hướng tự động hóa và traođổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nềntảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quytrình, phương thức sản xuất Đây còn được gọi là cuộc cách mạng số, vì chúng ta sẽđược chứng kiến công cuộc "số hóa" thế giới thực thành thế giới ảo Cách mạng 4.0
sẽ tiến tới loại bỏ những công việc phổ thông hoặc mang tính chất lặp đi lặp lại,thay thế toàn bộ bằng máy móc Nhưng đồng thời, nhu cầu về nguồn lao động cótay nghề cao, tư duy sáng tạo, thực hiện những công việc phức tạp, làm chủ máymóc lại tăng lên Theo đó, việc lựa chọn trường Đại học, lựa chọn ngành nghề họchọc sinh ngay từ khi còn học THPT là hết sức quan trọng không những đảm bảocho học sinh lựa chọn trường đúng với sở thích mà còn phải đảm bảo đúng với nhucầu của xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, giáo dục đào tạonói chung và giáo dục đại học Việt Nam nói riêng phải đổi mới toàn diện Điểmthay đổi rõ rệt nhất đó là GDĐH chuyển sang hướng đại chúng hóa, tự chủ toàndiện Các trường Đại học được giao quyền tự chủ mạnh mẽ, nhiều trường đã chủđộng, sáng tạo trong việc lựa chọn thu hút thí sinh có năng lực và nguyện vọng vàohọc tập và nghiên cứu Đồng thời thực hiện công khai, minh bạch các điều kiện đảmbảo chất lượng và thực hiện trách nhiệm giải trình trước xã hội
Thực tế tuyển sinh những năm gần đây, các trường Đại học phải đối mặt vớihàng loạt những khó khăn như: Lượng cung tăng do nhiều trường Đại học thành lập
ồ ạt, trong khi đó lượng cầu có sự sụt giảm do học sinh THPT có nhiều sự lựa chọnhấp dẫn khác như du học, đi làm, học nghề Mặt khác, các trường Đại học luônmong muốn thu hút những học sinh THPT có đủ năng lực, yêu thích ngành nghề lựachọn, trong khi nhiều học sinh THPT lựa chọn trường Đại học còn cảm tính, thiếuhiểu biết về ngành nghề lựa chọn dẫn đến sự chán nản, lãng phí trong suốt quá trình
Trang 12đào tạo Không những vậy, các trường Đại học đã tập trung nguồn nhân lực nhiềuhơn vào các chiến dịch truyền thông nhằm cung cấp cho sinh viên tiềm năng nhữngthông tin cần thiết và nâng cao vị thế của trường trong xã hội Nhưng không phải tất
cả nỗ lực truyền thông điệp nhằm thu hút sinh viên của các trường đã được triểnkhai đúng hướng, hiệu quả
Muốn giải quyết được những khó khăn này, mỗi trường Đại học cần xác định
rõ vai trò, sứ mệnh, có những giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược tuyển sinh Mộttrường Đại học nếu không có sinh viên sẽ khó tồn tại, thu hút được những sinh viêntốt sẽ là nền tảng để phát triển lâu dài Như vậy, vấn đề then chốt cần phải xác định
là phải xác định rõ sinh viên tiềm năng của trường là ai? Họ mong muốn gì? Cónhững nhân tố nào thực sự ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học củahọ? Trong những nhân tố đó nhân tố nào đóng vai trò quan trọng nhất? Chiềuhướng tác động của những nhân tố đó như thế nào? Cạnh tranh tuyển sinh là câuchuyện của tất cả các trường, do vậy khám phá được những vấn đề này sẽ là cơ sở
để các trường Đại học điều chỉnh, bổ sung các giải pháp hợp lý, tập trung nguồn lựcvào triển khai các giải pháp tuyển sinh tác động trực tiếp, hiệu quả, chủ động và cácnhân tố chính ảnh hưởng tích cực đến quyết định lựa chọn trường của học sinh vàthu hút họ ghi danh theo học tại trường
Năm 2015 có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tuyển sinh của các trườngĐại học cũng như đối với bản thân học sinh PTTH và gia đình của họ, vì đây là nămđầu tiên Bộ GD & ĐT thực hiện kỳ thi “2 trong 1”, phương thức tuyển sinh này chohọc sinh PTTH có thể thực hiện ước mơ được học Đại học Học sinh được chủ động,
tự nguyện lựa chọn trường Đại học dựa trên năng lực, trình độ, nguyện vọng và khảnăng chi trả của gia đình họ Do vậy, trong bối cảnh hiện tại, ở Việt Nam rất cần cómột mô hình phù hợp và kết quả nghiên cứu này sẽ rất hữu ích cho cả các trườngĐại học và bản thân học sinh THPT, phụ huynh tham khảo khi ra các ý định lựachọn
Vì vậy, việc chọn trường đại học và ngành học phù hợp đối với một học sinhtrung học phổ thông (THPT) có thể nói là rất quan trọng cho con đường nghề
Trang 13nghiệp tương lai của họ khi tốt nghiệp đại học Nếu chọn không đúng thì sẽ dẫnđến kết quả học tập không tốt hay những hậu quả khác trong quá trình học và cóthể sẽ không tìm được việc làm sau khi ra trường Hiện nay, đa phần học sinhTHPT chọn trường dựa trên những kênh truyền thống: theo lời khuyên của bố mẹ,theo xu hướng bạn bè, theo gợi ý của người quen sau khi ra trường sẽ có chỗ làm,ngoài ra số ít chọn trường để có trường đại học mà theo học cho giống bạn bè củahọ.
Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu“ Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường Đại học của học sinh trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng chọn trường Đại học của học sinh trên địa bàn Thành Phố Tây Ninhhiện nay như thế nào?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến ý`định chọn trường đại học của học sinh trên địabàn Thành Phố Tây Ninh? Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ra sao?
- Để thu hút được các học sinh lựa chọn trường Đại học cần phải thực hiện các giảipháp nào?
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài : Học sinh lớp 12 đang theo học tại các
trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh
Trang 14- Mẫu nghiên cứu: 250 học sinh
- Nguồn số liệu sử dụng: Dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại các trường THPT trênđịa bàn Thành Phố Tây Ninh
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến hành khảo sát các học sinh THPT dựkiến từ tháng 06 đến tháng 07 năm 2020 Đây là giai đoạn học sinh THPT đã bắtđầu xem xét mong muốn thi vào trường nào, ngành nghề nào phù hợp với mình.Học sinh có ý định chọn trường đại học
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu định tính sơ bộ: Phỏng vấn và phỏng vấn nhóm sẽ được sử
dụng để khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn trường Đại học củahọc sinh, đồng thời hiệu chỉnh bảng câu hỏi khảo sát Bên cạnh đó, phỏng vấn sâuđược sử dụng để phân tích cũng như giải thích thêm cho kết quả nghiên cứu
- Nghiên cứu định lượng: Trước tiên, thống kê mô tả được sử dụng để đánh
giá tổng quan về mẫu khảo sát Sau đó, phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xácđịnh các nhóm nhân tố Cuối cùng, mô hình hồi quy sẽ được sử dụng để xác địnhcác nhóm yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố này đến việc chọntrường Đại học của học sinh trung học phổ thông
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.6.1 Về mặt lý thuyết: Nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hành vi
chọn trường thi Đại học của học sinh THPT, các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi ýđịnh chọn trường đại học của học sinh THPT Đồng thời, luận văn kiểm định sựkhác biệt về ý định chọn trường đại học của học sinh THPT theo các đặc điểm cánhân của học sinh THPT
1.6.2 Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất các
giải pháp dành để giúp cho các trường Đại học thu hút được học sinh tham gia đăng
ký và chọn học tại trường
1.7 Cấu trúc của luận văn
Trang 15Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, các danh mục phụ lục, đề tài bao gồm 5chương với kết cấu và nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu: Giới thiệu lý do chọn đề tài; mục tiêu
nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng; phạm vi nghiên cứu; phương phápnghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày cơ sở lý thuyết
hành vi chọn trường Đại học công lập của học sinh THPT Trên cơ sở lý thuyết vàcác mô hình nghiên cứu có liên quan từ đó xây dựng mô hình lý thuyết cho nghiêncứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình nghiên cứu, phương
pháp nghiên cứu, cách thức thực hiện và thiết kế thang đo
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Trình bày thực trạng về hành vi
chọn trường Đại học công lập Thực hiện các bước phân tích và đưa ra kết quả:Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; Phân tíchnhân tố khám phá (EFA); Phân tích hồi quy đa biến; Phân tích ANOVA các đặcđiểm cá nhân đến ý định chọn trường Đại học của học sinh
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị: Những kiến nghị nhằm thu hút thí sinh
chọn học tại trường công lập và hạn chế của đề tài
Trang 16Tóm tắt chương 1:
Chương 1 trình bày khái quát về đề tài bao gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêunghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu Cấu trúccủa luận văn gồm 5 chương: Chương 1 tổng quan nghiên cứu, chương 2 cơ sở lýthuyết và mô hình nghiên cứu, chương 3 phương pháp nghiên cứu, chương 4 kếtquả nghiên cứu và thảo luận, chương 5 kết luận và hàm ý quản trị Trên cơ sở đó đểthực hiện các bước tiếp theo
Trang 17Theo Ronald Barnett (1992) có 4 khái niệm thông dụng nhất về GDĐH:
GDĐH là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nhân lực đạt chuẩn: Với quanđiểm này, GDĐH là một quá trình trong đó người học được quan niệm như nhữngsản phẩm được cung ứng ra thị trường lao động Như vậy, GDĐH trở thành “đầuvào” tạo nên sự phát triển và tăng trường của thương mại và công nghiệp
GDĐH là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứú Với quan điểm này GDĐH làthời gian chuẩn bị để hình thành nên những nhà khoa học và nghiên cứu thực sự.GDĐH là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả Hoạt động giảng dạy làcốt lõi của một trường Đại học do vậy các trường phải quản lý việc giảng dạy đểnâng cao chất lượng
GDĐH là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học Như vậy, GDĐHxem như là một cơ hội tốt để học viên nâng cao, phát triển, hình thành thêm nhậnthức bản thân
Đại học có vai trò đào tạo những thế hệ tương lai biết suy nghĩ và năng lực suynghĩ, tức là những người đi trên hai chân, một chân làm ra vốn liếng, một chân bảo
Trang 18tồn đạo đức Một mặt lo kinh tế, mặt kia lo xã hội Vừa thấy hiện tại lại để ý lo chotương lai Biết từ đâu đến và biết sẽ đi về hướng nào.
Trong các văn kiện của UNESCO đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục cũng nhưtriết lý của Đại học: Không những đào tạo cho sinh viên có kiến thức vững chắc vàbiết vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh hiện thời và cho cả tương lai Hơn nữa, cònđào tạo những công dân có ý thức trách nhiệm, sẵn sàng bảo vệ hòa bình, nhânquyền và những giá trị dân chủ
Như vậy, các khái niệm này đã thể hiện tính liên hoàn và làm rõ GDĐH là cơhội cho người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng cách họctập thường xuyên và linh hoạt
2.1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ GDĐH
Theo cách tiếp cận của WTO, giáo dục nói chung, GDĐH nói riêng là một loạihình cung cấp dịch vụ mà ở đó khách hàng là người học, người sử dụng lao động,phụ huynh với những nhu cầu rất đa dạng và phong phú Với góc nhìn của dịch vụchuyên môn, trường Đại học là tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục có trình độ caotrong đó trực tiếp là đội ngũ “nhân viên học thuật” gồm các chuyên gia, giảng viên
Vì vậy, hoạt động của các tổ chức này mang đầy đủ tính chất đặc thù của dịch vụ là:Tính vô hình, tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, tính khôngđồng đều về chất lượng và tính không dự trữ được (Zeithaml và cộng sự, 1985)
+ Tính vô hình: Các chương trình đào tạo, giáo dục mang tính vô hình, người
học không thể nhận biết, hình dung, dùng thử trước khi học, không đánh giá đượcchất lượng sau khi học
+ Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng: Quá trình dạy học và học
xảy ra đồng thời, tại một địa điểm và thời gian nhất định
+ Tính không đồng đều về chất lượng: Chương trình học không thể được cung
cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá Các trường khó kiểm tra chất lượngtheo một tiêu chuẩ̉n thống nhất Mặt khác, sự cảm nhận của người học về chấtlượng chương trình học lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của giảng viên.Sức khoẻ, sự nhiệt tình của giảng viên có thể thay đổi vào các thời điểm giảng dạykhác nhau (buổi sáng và buổi chiều), cũng có thể chịu ảnh hưởng của bối cảnh
Trang 19giảng dạy như bầu không khí phòng học, đối tượng nghe giảng (tích cực hay thụđộng) Do vậy, rất khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng giảng dạy ngaytrong một ngày Có nhiều giảng viên dạy cùng một môn thì càng khó đảm bảo tínhđồng đều về chất lượng của môn học.
+ Tính không dự trữ được: Chương trình học chỉ tồn tại vào thời gian mà nó
được cung cấp cho người học, không thể dự trữ được
+ Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi quyết định tham gia chương trình
đào tạo nào thì người học chỉ được quyền tham gia học, được hưởng lợi ích màchương trình mang lại trong một thời gian nhất định mà không thể chuyển cho aiđược
Trong nghiên cứu này, tác giả đồng thuận rằng các trường Đại học là các tổchức cung ứng dịch vụ GDĐH, với tư cách này các trường Đại học sẽ hoàn thiệncác tiêu chí chất lượng, quản lý và có chiến lược marketing hiệu quả nhằm thu hút
và cung ứng đến “khách hàng” của họ những dịch vụ GDĐH chất lượng tốt nhất
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm học sinh trung học phổ thông
2.1.2.1 Khái niệm
Theo Luật giáo dục Việt Nam sửa đổi năm 2019, học sinh THPT là người đãvượt qua kỳ thi tốt nghiệp THCS và tiếp tục học ở bậc THPT thông qua kỳ thi tuyểnsinh vào lớp 10 Học sinh THPT thường có độ tuổi từ 15 - 18 tuổi và trải qua 3 lớp10,11, 12 Ở độ tuổi này họ có các đặc điểm tâm sinh lý riêng và tác động đến ýđịnh và quyết định lựa chọn nghề nghiệp, chọn trường Đại học
2.1.2.2 Đặc điểm
- Sự phát triển của tự ý thức: Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ của tự ý thức.
Học sinh ý thức về “Cái Tôi” và ý thức về những đặc điểm và phẩm chất tâm lí củabản thân Chính vì điều này, họ thường rất thuận lợi và trưởng thành khi đưa ra cácquyết định trong cuộc sống Ở giai đoạn này họ nhận thức rõ được giá trị nghềnghiệp và sự phù hợp của nghề nghiệp với khả năng, tính cách, hứng thúcủa từng cánhân Muller (2003) cũng cho rằng ở lứa tuổi này, học sinh THPT có phát triển trítuệ, tư duy cao Họ có khả năng suy nghĩ, so sánh, cân nhắc, giả định, đối chiếu vàrút ra những nhận định của bản thân về nghề nghiệp và lựa chọn trường dưa trên cơ
Trang 20sở những thông tin có được từ truyền thông đại chúng, dư luận xã hội, bạn bè, giađình Do vậy, học sinh cũng có khả năng tự lựa chọn ngành nghề chính xác (Lê VănHồng, 2002) và đưa ra các quyết định quan trọng như lựa chọn trường Đại học rấtđáng tin cậy.
- Lí tưởng sống của thanh niên: Điểm đặc trưng trong lí tưởng của thanh niên là
lí tưởng nghề và lí tưởng đạo đức cao cả Lí tưởng này được thể hiện qua mục đíchsống, qua sự say mê với việc học tập, nghiên cứu và lao động nghề nghiệp (LêHương, 2000) Học sinh PTTH có nhiều hoài bão, lí tưởng sống tích cực và nỗ lực
để đạt được những hoài bão tốt đẹp trong tương lai
- Tính tích cực xã hội của thanh niên: Học sinh PTTH thường quan tâm nhiều
đến các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội diễn ra trong nước và nước ngoài Nhữngkiến thức, kinh nghiệm mà học sinh được ghi nhận tích lũy trong học tập và cuộcsống hàng ngày đã giúp họ đưa ra các nhận định riêng trong các vấn đề xảy ra Tuynhiên, thế giới quan này chưa đạt được mức độ sâu sắc và bền vững (Kôn.I.X, 1987).Thực tế là, các nhận định của họ đưa ra thường rất cứng nhắc, chủ quan nhưng khákiên định
- Hoạt động học tập của học sinh THPT: Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là
học tập – hướng nghiệp vì vậy ý thức về nghề và sự chuẩn bị cho cuộc sống tươnglai là một nhu cầu cấp bách Việc học tập có tính lựa chọn rõ ràng, họ thường tậptrung học nhiều hơn đối với các môn học liên quan đến nghề và trường chọn để thi,hoặc các môn gây hứng thú đặc biệt Động cơ học tập của học sinh có tính hiện thực,gắn liền với nhu cầu và xu hướng nghề nghiệp đang diễn ra Thái độ học tập của các
em cũng thay đổi theo hướng tích cực như tự giác, hứng thú và chăm tìm tòi kiếnthức thực tế vận dụng vào bài học hơn
Học sinh THPT có khả năng nhận thức được rõ rệt về lợi ích của các quyết định, họhoàn toàn có thể nhận biết rõ được cái họ muốn, nhu cầu mà họ cần và biết lựa chọn
so sánh nhằm hướng đến sự phù hợp và tận dụng được các lợi thế (kỹ năng củachính mình (Ginzberg, Ginzburg, Axelrad, và Herme,1951) Điều này hoàn toànđúng với quyết định lựa chọn trường Đại học, nghĩa là học sinh THPT có thể ý thứcđược tầm quan trọng và những mong đợi lợi ích của quyết định này
Trang 212.1.3 Ý định chọn trường của học sinh THPT
Ý định chọn trường Đại học của học sinh THPT trong luận văn này được xácđịnh là khi đăng ký xét tuyển chọn trường đại học thì học sinh THPT chọn nguyện
1 vào trường đại học và muốn theo đuổi việc học tại trường Đại học
2.1.4 Lý thuyết liên quan
2.1.4.1 Lý thuyết về hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behavior)
Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) là sự phát triển từ thuyết hành động hợp
lý Ajzen đã bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi vào lý thuyết hành động hợp lýTRA để xây dựng thuyết hành vi dự định TPB Thuyết này phát biểu rằng có banhân tố ảnh hưởng đến ý định dẫn đến hành vi của con người: Thái độ đối với hành
vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi Các ý định đó và nhận thứckiểm soát hành vi đã giải thích đáng kể các hành vi khác nhau trong thực tế Thái
độ, chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi có liên quan chủ yếu đến tậphợp các niềm tin về hành vi, chuẩn mực và sự kiểm soát đến hành vi Bên cạnh đó,theo Ajzen, tập hợp này lại bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhân khẩu xã hội học như
xã hội, văn hóa, cá tính và các nhân tố ngoại cảnh
Hình 2.1 Mô hình lý thuyết hành vi dự định
( Nguồn Ajzen, 1991)
Thái độ (Attitude): Thái độ là niềm tin của một cá nhân về việc thực hiện
một hành vi cụ thể Những niềm tin này được gọi là niềm tin hành vi Một cá nhân
Trang 22dự định thực hiện một hành vi nào đó khi người đó đánh giá nó một cách tíchcực Thái độ được xác định bởi niềm tin của cá nhân về những kết quả của việcthực hiện hành vi (niềm tin hành vi), được đánh giá bởi đánh giá của họ về nhữngkết quả đó (đánh giá kết quả) Thái độ này được cho là có ảnh hưởng trực tiếp tớihành vi dự định và liên quan đến chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi.
Chuẩn chủ quan (Subject norm): Chuẩn chủ quan cũng được giả định là một
chức năng của niềm tin mà một cá nhân cụ thể đồng ý hay không đồng ý về việcthực hiện hành vi Niềm tin làm cơ sở cho chuẩn chủ quan được đặt tên là niềm tinchuẩn Một cá nhân dự định thực hiện một hành vi nào đó khi người đó nhận thứcrằng những người quan trọng khác nghĩ rằng họ nên làm Những người quan trọngkhác có thể là một người nào đó, vợ hoặc chồng, bạn thân, bác sĩ Điều nàyđược đánh giá bằng việc yêu cầu những người được hỏi đánh giá rằng có khảnăng hầu hết những người quan trọng đối với họ sẽ đồng ý hay không đồng ý việc
họ thực hiện hành vi nhất định
Kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control): Kiểm soát hành vi dựa
vào mức độ mà một cá nhân cảm thấy rằng việc thực hiện hay không thực hiệnhành vi được đề cập dưới sự kiểm soát của ý chí Con người có thể không hìnhthành một ý định mạnh mẽ để thực hiện một hành vi nếu họ tin rằng họ không cóbất kỳ nguồn lực hay cơ hội nào để thực hiện ngay cả khi họ có thái độ tích cựcđối với hành vi và tin rằng những người quan trọng khác sẽ đồng ý hành vi đó(chuẩn chủ quan) Kiểm soát hành vi có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếpđến hành vi thông quan hành vi dự định Một đường dẫn trực tiếp từ kiểm soáthành vi đến hành vi được kỳ vọng xuất hiện khi có một số thoả thuận giữa nhậnthức về kiểm soát và kiểm soát thực tế của người đó với hành vi
Trên cơ sở lý thuyết về hành vi dự định (TPB), luận văn cũng đã xác định cácnhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường đại học công lập của học sinh THPT baogồm: Chi phí, chương trình học, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực, danh tiếng,chuẩn mực, cơ hội làm việc
Trang 232.1.4.2 Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA)
Mô hình này được Fishbein và Ajzen đề xuất năm 1975 Các tác giả lập luậnrằng ý định hành vi dẫn đến hành vi và ý định được quyết định bởi thái độ của cánhân đối với hành vi và sự ảnh hưởng của chuẩn mực chủ quan việc thực hiện cáchành vi đó Fishbein và Ajzen (1975) đã dẫn giải các thành phần trong mô hình TRAgồm:
Hành vi: Là những hành động quan sát được của đối tượng/ khách hàng.
Ý định hành vi: Đo lường khả năng chủ quan của đối tượng/ khách hàng sẽ
thực hiện một hành vi và có thể được xem như một trường hợp đặc biệt của niềm tin
Thái độ đối với một hành động hoặc hành vi, thể hiện những nhận thức tích cực
hay tiêu cực của cá nhân về việc thực hiện một hành vi, có thể được đo lường bằngtổng hợp của sức mạnh niềm tin và đánh giá niềm tin này (Hale, 2003) Thái độ củamỗi cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả hành vi.Ajzen và Fishbein (1975) nhận định: “Lòng tin của khách hàng là tiền đề để kháchhàng có thái độ tốt thúc đẩy hành vi và ý định sử dụng sản phẩm” Do đó, kết quả màtạo ra lợi ích cho cá nhân nào đó thì họ sẽ có ý định tham gia vào hành vi
Chuẩn mực chủ quan là nhận thức của một cá nhân, với những người tham
khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện.Chuẩn mực chủ quan được đánh giá thông qua hai nhân tố cơ bản là: Mức độ ảnhhưởng từ thái độ của những người liên quan đối với việc mua sản phẩm/dịch vụ vàđộng cơ của khách hàng làm theo mong muốn của những người liên quan Thái độcủa những người liên quan càng mạnh và mối quan hệ với những người liên quan ấycàng gần gũi thì xu hướng mua của khách hàng càng bị ảnh hưởng nhiều
Hình 2.2 Mô hình lý thuyết hành vi hợp lý (TRA)
Trang 24Nguồn (Fishbein và Ajzen, 1975)
Lý thuyết hành động hợp lý được sử dụng rộng rãi để giải thích nhiều cácloại hành vi ở các lĩnh vực, bối cảnh nghiên cứu khác nhau bằng cách bổ sungthêm các nhân tố mới Ajzen (1991) gợi ý, các mô hình này có thể được bổsung hay điều chỉnh bằng cách đưa thêm các nhân tố mới, miễn là các nhân tốmới đóng góp và giải thích ý định hành vi
2.2 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
2.2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2.2.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài
Joshep và Joshep (1998) nhằm xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến ý địnhlựa chọn trường đại học để theo học của học sinh quốc tế có ý định lựa chọntrường đại học ở New Zealand Mẫu nghiên cứu là 300 học sinh cuối cấp THPT
và cho rằng đây là những sinh viên tiềm năng nhất vì họ đã có ý định chắc chắn
để trở thành những sinh viên tại một trường nào đó Tác giả đã xây dựng 17 thang
đo dựa trên cảm nhận của học sinh gồm: cảm nhận về chi phí, cảm nhận vềchương trình học, cảm nhận về cơ sở vật chất và nguồn lực, danh tiếng, Chung.Kết quả nghiên cứu có 216 bảng trả lời hợp lệ, chiếm 72% trong đó có 61 học sinhnam và 149 học sinh nữ Nhìn chung, giữa học sinh nam và học sinh nữ không cónhiều khác biệt khi đánh giá về mức độ quan trọng của các nhân tố tác động đến ýđịnh lựa chọn trường đại học của họ Năm 2000, tác giả đã kế thừa công trìnhnghiên cứu ở New Zealand và phát triển tiếp nghiên cứu tại Indonesia Đối tượngnghiên cứu là 200 học sinh THPT ở khu vực trung tâm của Indonesia Có 17thang đo và đo lường 5 biến số, tuy nhiên các biến độc lập có sự điều chỉnh để
phù hợp với bối cảnh nghiên cứu ở Indonesia Cụ thể: Biến độc lập Chung được
thay đổi là thông tin học sinh nhận được về chương trình học và nghề nghiệp, 4biến còn lại gồm: danh tiếng của trường, cảm nhận về cơ sở vật chất và nguồn lực,cảm nhận về chi phí, cảm nhận về chương trình học được giữ nguyên Kết quả thuđược gồm 110 bảng hỏi hợp lệ (chiếm tỷ lệ 55%) có 80 nam và 30 nữ Kết quảnghiên cứu cho thấy, các nhân tố trên có tác động đến ý định chọn trường Đại họccủa học sinh THPT
Trang 25Cabrera và La Nasa (2001) nghiên cứu mô hình chọn trường Đại học theo 3giai đoạn dựa trên nền tảng của mô hình David.W.Chapman (1981) và Freeman K(1999) Trong nghiên cứu của mình, Cabrera và La Nasa đã nhấn mạnh 3 giai đoạntrong quá trình học của học sinh như sau: Giai đoạn 1 từ lớp 7 đến lớp 9: đây là giaiđoạn hình thành thiên hướng, rèn luyện những kỹ năng trong quá trình học tập củahọc sinh; Giai đoạn 2: Từ lớp 10 đến lớp 12, đây là giai đoạn học sinh tìm kiếmnhững thông tin định hướng cho tương lai của mình; giai đoạn 3: Từ lớp 11 đến lớp
12, đây là giai đoạn học sinh bắt đầu lựa chọn một trường học để tiếp tục việc họccủa mình Mỗi một giai đoạn tích lũy nhận thức và tình cảm để đi đến lựa chọn mộttrường học cho riêng mình Từ kết quả nghiên cứu, Cabrera và La Nasa nhấn mạnhrằng những mong đợi về công việc tương lai của học sinh cũng là một nhóm nhân tốquan trọng tác động đến quyết định lựa chọn trường học của học sinh
Marvin J Burns (2006) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọntrường cao đẳng nông nghiệp, thực phẩm và tài nguyên của học sinh Mỹ gốc Phi.Trong nghiên cứu này tác giả tập trung vào những đặc điểm cố định của học sinh,những nổ lực giao tiếp của nhà trường, những rào cản tâm lý xã hội và những kỳvọng về nghề nghiệp của học sinh Nghiên cứu này tác giả chủ yếu dựa vào mô hìnhcủa D.W Chapman (1981), Freeman K (1999) và Cabera và La Nasaa (2001) làm
cơ sở cho nghiên cứu của mình
Joseph Sia Kee Ming (2010) nghiên cứu ý định chọn trường đại học tạiMalaysia Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra 4 nhân tố ảnh hưởng đến ýđịnh chọn trường đại học của sinh viên ở Malaysia như sau: Thứ nhất: là đặc điểm của sinh viên bao gồm khát vọng, năng khiếu, kết quả học tập Thứ hai: là ảnh
hưởng của các nhân tố bên ngoài bao gồm bạn bè theo học tại các trường, ảnhhưởng của cha mẹ, ảnh hưởng của bạn bè, ảnh hưởng của các cá nhân khác như các
thành viên trong gia đình, giáo viên, nhân viên tư vấn tuyển sinh, nhân tố Thứ ba:
là các đặc điểm của trường, bao gồm: địa điểm, chương trình đào tạo, uy tín củatrường, cơ sở vật chất, học phí, sự hỗ trợ từ phía nhà trường, cơ hội việc làm, quảngcáo, đại diện của trường học làm công tác tuyển sinh, tham quan trường và cuốicùng là thông tin hài lòng Nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định
Trang 26chọn trường của học sinh THPT từ nhiều góc độ khác nhau Từ phía học sinh, từphía nhà trường và từ phía những người liên quan Đây là một trong những tài liệutham khảo có giá trị đối với luận văn.
Norbahiah Misran và cộng sự (2012) cũng đã bổ sung thêm hai yếu tố ảnhhưởng đến quyết định chọn trường đại học của sinh viên trong nghiên cứu củanhóm Theo kết quả nghiên cứu của Norbahiah Misran và cộng sự (2012), sự phùhợp của chương trình học với tính cách của học sinh cộng với cơ hội nghề nghiệp
và sở thích có ảnh hưởngđáng kể đến việc quyết định chọn trường đại học của họ.Kết quả nghiên cứu đến từ việc khảo sát 496 sinh viên vừa trúng tuyển trong kỳ thituyển sinh đại học đến từhai trường cao đẳng tại miền nam Malaysia: Negeri
Sembilan Matriculation College (NSMC) và Malacca Matriculation College
(MMC) Những sinh viên này đang trong quá trình ra quyết định theo đuổi việc họccủa họ tại bậc đại học khi trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh đại học Ngoài ra, trongnghiên cứu này, số lượng sinh viên trúng tuyển trong kỳ thi tuyển sinh đại học theođuổi việc học đại học tại Malaysia Higher Learning Institutions (HLIs) tương đốicao hơn số lượng sinh viên14 chọn đại học tại Malaysia Certificate of Higher
Education (MCHE)
Mặt khác, tại Malaysia, giáo dục đại học đang trải qua cuộc cạnh tranh gay gắt Cáccơsở giáo dục đại học (HEIs) công lập và tư thục được yêu cầu giảng dạy, giáo dụccũng như để tồn tại về kinh tế Vì vậy, khả năng thu hút sinh viên, kể cả sinh viênbản địa hay du học sinh, đã trở thành lợi thế quan trọng Tuy nhiên, nghiên cứu củaWei-Loon Koe và Siti Noraisah Saring (2012) chỉ nhìn vào nhận thức của các duhọc sinh trong việc lựa chọn trường đại học đang vẫn còn rất thiếu trong bối cảnhđịa phương Vì vậy, nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ýđịnh học đại học của du học sinh và để kiểm chứng mối quan hệ của các yếu tố Kếtquả từ nghiên cứu này cho thấy rằng vị trí, mối quan hệ của các yếu tố như: vị trí,danh tiếng của trường đại học, chi phí thấp, hình ảnh đất nước, các cơ sở học tập, vàcác chương trình học tập với ý định học đại học của du học sinh có ý nghĩa Tuy
Trang 27nhiên, điều đáng ngạc nhiên là mối quan hệ của yếu tố ảnh hưởng của cha mẹ/ cácbạn cùng trang lứa với ý học đại học của du học sinh không có ý nghĩa.
Joseph Kee Ming Sia (2013) nghiên cứu ở Sarawark, Malaysia với 512 phiếuđiều tra hợp lệ được phản hồi trong đó 39,6 % nam, 60,4% nữ Đối tượng củanghiên cứu này là học sinh đã tốt nghiệp THPT đang học các chương trình dự bịtại các trường ở Malaysia, những học sinh đã có chứng chỉ từ kỳ thi tốt nghiệpquốc gia (SPM/MCE), hoặc chứng chỉ từ chương trình dự bị đại học (có 2 nhómcấp độ A và nhóm thi tuyển đại học) nghĩa là những học sinh này thực sự có đủcác điều kiện để theo học tại một trường đại học cụ thể nào đó tại thời điểmkhảo sát Những học sinh này có ý định chắc chắn muốn lựa chọn trường đại họcnào đó nhưng họ chưa chính thức được các trường đại học chấp nhận Sau khithu thập dữ liệu tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS để phân tích mô tả, phântích nhân tố Kết quả về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định lựachọn trường được sắp xếp theo mức độ quan trọng từ cao tới thấp như sau: cảmnhận về chương trình học, cảm nhận về chi phí, địa điểm, ban tư vấn tuyển sinh
ở THPT, bạn bè và bạn cùng lớp, các chuyến thăm quan trường đại học Có 4/6giả thuyết được chấp nhận gồm: cảm nhận chương trình học, cảm nhận chi phí, địađiểm, ban tư vấn THPT có ảnh hưởng tích cực đến quyết định lựa chọn trườngđại học của học sinh THPT
Agrey, L và Lampadan, N (2014) đã xem xét lại rất nhiều yếu tố khác nhautrong quá trình ra quyết định liên quan đến việc chọn trường đại học Vì vậy, 261bạn học sinh đến từ miền Trung của Thái Lan đã được lựa chọn để thực hiện khảosát Trong nghiên cứu này, ban đầu, nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứuđịnh tính thông qua việc khảo sát một nhóm nhỏ các bạn học sinh để thảo luận yếu
tố nào là quan trọng trong việc quyết định chọn trường đại học Từ những thông tinnày, một bản khảo sát với 45 biến đã được phát triển và sau đó, một cuộc khảo sát
đã được hoàn thành Đối tượng nghiên cứu là học sinh cuối cấp của hệ trung họcphổ thông và sinh viên năm nhất mới vừa trúng tuyển vào các trường đại học Từnghiên cứu này, Agrey, L và Lampadan, N (2014) đã xác định có 5 yếu tố ảnh
Trang 28hưởng đáng kể đến việc chọn trường đại học Những yếu tố này bao gồm: hệ thống
hỗ trợ gồm cả yếu tố vật chất (nhà sách, văn phòng hướng dẫn/ tư vấn) và yếu tố phivật chất (học bổng, khả năng chuyển tiền, chương trình tôn giáo); môi trường họctập (môi trường học tập và có sở vật chất hiện đại, khuôn viên đẹp, thư viện và
phòng máy vi tính) và triển vọng nghề nghiệp như tỷ lệ sinh viên có việc làm saukhi tốt nghiệp cao; có cơ sở vật chất thể thao tốt; cuộc sống sinh viên (dịch vụ chămsóc sức
Yusuf và Abdullah (2017) sử dụng lý thuyết hành vi cụ thể là mô hình TRA đểkhám phá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục học chương trình sau đại học ởmột trường đại học công lập của sinh viên quốc tế Mô hình gồm 7 biến độc lập vàchia thành 2 nhóm Nhóm các nhân tố thuộc trường đại học (nhân tố marketing)gồm: địa điểm, chi phí thấp, danh tiếng của trường, cảm nhận về chương trình học,cảm nhận về cơ sở vật chất; nhóm nhân tố bên ngoài là ảnh hưởng của cha mẹ, bạn
bè và hình ảnh đất nước Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng địa điểm, danh tiếng,chi phí thấp, hình ảnh quốc gia, cảm nhận về cơ sở vật chất, cảm nhận về chươngtrình học là những nhân tố ảnh hưởng đến ý định theo học chương trình sau đại họccủa sinh viên Giả thuyết về ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, ảnh hưởng tích cựcđến ý định lựa chọn trường đại học của sinh viên bị từ chối
2.2.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước
Trần Văn Quý và Cao Hào Thi (2008) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đếnquyết định chọn trường đại học của của học sinh trung học Bài nghiên cứu này đãxác định, đánh giá tác động của các nhân tố then chốt ảnh hưởng đến quyết địnhchọn trường đại học của của học sinh trung học phổ thông qua việc phân tích 227bảng câu trả lời của của học sinh lớp 12 năm học 2008-2009 của 5 trường trung họcphổ thông ở Quảng Ngãi Kết quả nghiên cứu cho thấy 5 nhân tố tác động bao gồm:
cơ hội việc làm trong tương lai, đặc điểm của trường dạy học, năng lực của học sinh,ảnh hưởng của đối tượng tham chiếu và cơ hội học tập cao hơn Kết quả phân tíchhồi quy đa biến đã khẳng định mối quan hệ giữa 5 nhân tố trên với quyết định chọntrường đại học của học sinh phổ thông với các giả thiết ủng hộ với mức ý nghĩa 5%
Trang 29Nguyễn Phương Toàn (2011) tiến hành khảo sát các nhân tố tác động đến việcchọn trường đại học của học sinh lớp 12 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Trong đề tàinày tác giả đã đưa ra 8 giả thiết để kiểm định kết quả 8 giả thiết này bao gồm:nhóm nhân tố về đặc điểm của trường đại học, nhóm nhân tố về sự đa dạng và hấpdẫn của ngành đào tạo, nhóm nhân tố về cơ hội làm việc trong tương lai, nhân tố về
nỗ lực giao tiếp của học sinh với trường, nhân tố về danh tiếng của trường đại học,nhân tố về cơ hội trúng tuyển, nhân tố về sự định hướng của cá nhân, nhân tố tươngthích với đặc điểm cá nhân Các nhân tố trên được giả thiết từ H1 đến H8 là các biếnđộc lập định lượng tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc là quyết định chọn trườngđại học của học sinh Qua kết quả kiểm định mô hình lý thuyết cho thấy có 5 nhân
tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh như sau: nhân tố vềmức độ đa dạng và hấp dẫn của ngành đào tạo, nhân tố về đặc điểm của trường đạihọc, nhân tố về khả năng đáp ứng sự mong đợi sau khi ra trường, nhân tố về sự nổlực giao tiếp của trường đại học, và nhân tố về danh tiếng của trường đại học
Nghiên cứu của Mai Thị Ngọc Đào và Anthony Thorpe (2014) đã tiếnhành nghiên cứu 1.124 học sinh ở Việt Nam (gồm đã, đang học đại học) Vớicách tiếp cận từ lý thuyết marketing tác giả đã chia các nhân tố ảnh hưởng thành
9 nhóm nhân tố Qua phân tích dữ liệu thu thập được bằng phương pháp địnhlượng, kết luận mức ảnh hưởng từ cao xuống thấp lần lượt như sau: trang thiết
bị và dịch vụ, chương trình đào tạo, học phí, thông tin offline, lời khuyên củanhững người xung quanh, thông tin online, các cách tiếp cận tuyển sinh, điềukiện chương trình học, quảng cáo Bên cạnh đó nhóm tác giả cũng nghiên cứuthêm sự khác biệt về giới và các đối tượng học sinh khác nhau ảnh hưởng đếnquyết định lựa chọn trường đại học Điểm hạn chế của nghiên cứu này là chưachỉ rõ được mức độ ảnh cùng chiều hay nghịch chiều của các nhân tố ảnh hưởngđến biến phụ thuộc (quyết định lựa chọn trường đại học)
Đỗ Thị Hồng Liên và cộng sự (2015) đã sử dụng mô hình gốc Chapman(1981) để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn trường đại học của sinhviên thuộc khoa quốc tế trường đại học quốc gia Hà Nội Mẫu nghiên cứu là 200sinh viên mới thuộc 3 ngành chính theo chương trình hợp tác quốc tế (ngôn ngữ
Trang 30tiếng Anh) Dựa vào tổng quan nghiên cứu và phỏng vấn sâu tác giả đã liệt kê 14nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn trường Kết quả được sắp xếp theo thứ tự từ ảnhhưởng mạnh đến yếu như sau: Danh tiếng, ngôn ngữ quốc tế, uy tín về các khóahọc, sở thích, năng lực, các chương trình giảng có ngôn ngữ quốc tế, danh tiếng vềcác trường liên kết/ hợp tác, thông tin từ truyền thông, cựu sinh viên, thông tin trựctiếp từ tư vấn tuyển sinh, học phí, ảnh hưởng của giáo viên cấp THPT, ảnh hưởng từbạn bè.
Lưu Thị Thái Tâm, Châu Sôryaly, Chau Khon (2019) nghiên cứu các nhân tốảnh hưởng đến quyết định chọn trường Đại học của học sinh lớp 12 tại thành phốLong Xuyên, An Giang Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định và đánh giámức độ tác động của các nhân tố then chốt đến quyết định chọn trường đại học của
330 học sinh lớp 12 tại các trường phổ thông trung học tại địa bàn thành phố LongXuyên, tỉnh An Giang Dữ liệu được thu thập từ bảng hỏi phỏng vấn định lượng.Kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy rằng mô hình nghiên cứu giải thích được48.8% cho tổng thể về mối liên hệ tồn tại giữa các nhân tố - cơ hội việc làm trongtương lai và tương thích với đặc điểm cá nhân, sự định hướng của các cá nhân cóảnh hưởng, cơ hội trúng tuyển, đặc điểm cá nhân của học sinh và đặc điểm trườngđại học - ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học Trong các nhân tố đượcnghiên cứu thì nhân tố tác động mạnh nhất đến việc chọn trường đại học là nhân tố
cơ hội việc làm trong tương lai và tương thích với đặc điểm cá nhân, kế đến là nhân
tố cơ hội trúng tuyển và cuối cùng là nhân tố cá nhân học sinh Thêm vào đó, kếtquả phân tích độc lập cho thấy rằng có sự khác biệt trong việc quyết định chọntrường của học sinh nữ và học sinh nam
2.2.2 Tổng kết tài liệu nghiên cứu có liên quan và hướng đi trong Luận văn
- Phần lớn các công trình nghiên cứu có liên quan sử dụng lý thuyết hành vilàm lý thuyết nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
ý định chọn trường của học sinh THPT
- Phương pháp phân tích nhân tố được sử dụng phổ biến trong các công trìnhnghiên cứu
Trang 31- Các công trình nghiên cứu đã tổng hợp được các nhân tố tác động đến ý địnhlựa chọn trường Đại học được thể hiện qua Bảng 2.1.
Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường Đại học
Joseph Sia Kee
Yusuf và
Abdullah (2017)
(1) Nhóm các nhân tố thuộc trường Đại học (nhân tốmarketing) gồm: địa điểm, chi phí thấp, danh tiếng củatrường, cảm nhận về chương trình học, cảm nhận về cơ sở vậtchất; (2) Nhóm nhân tố bên ngoài là ảnh hưởng của cha mẹ,bạn bè và hình ảnh đất nước
Nguyễn Phương
Toàn (2011)
(1) Mức độ đa dạng và hấp dẫn của ngành đào tạo; (2)Đặc điểm của trường Đại học; (3) Khả năng đáp ứng sự mongđợi sau khi ra trường; (4) Nỗ lực giao tiếp của trường Đạihọc; (5) Danh tiếng của trường Đại học
Mai Thị Ngọc
Đào và Anthony
(1) Trang thiết bị và dịch vụ; (2) Chương trình đàotạo; (3) Học phí; (4) Thông tin offline; (5) Lời khuyên của
Trang 32Thorpe (2014) những người xung quanh (6) Thông tin online; (7) Các cách
tiếp cận tuyển sinh; (8) Điều kiện chương trình học; (9)Quảng cáo
có ngôn ngữ quốc tế; (6) Danh tiếng về các trường liên kết/
hợp tác; (7) Thông tin từ truyền thông, cựu sinh viên, thôngtin trực tiếp từ tư vấn tuyển sinh; (8) Học phí; (9) Ảnh hưởngcủa giáo viên cấp THPT; (10) Ảnh hưởng từ bạn bè
Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2020
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu theogóc nhìn của học sinh THPT Trong các nghiên cứu của Josheph và Joshep(1998, 2000), Karl Wagner và cộng sự (2009), Joshep Kee Ming Sia (2013) đềcập đền các nhân tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn trường Đại học của học sinh
THPT Đây là hướng nghiên cứu dựa trên lý thuyết ý định hành vi (mô hình TRA), nhưng phân tách nhân tố thái độ thành những nhân tố thứ nguyên (cảm nhận về
chi phí, cảm nhận về chương trình học, cảm nhận về cơ sở vật chất và nguồn lực),lời khuyên từ người khác, danh tiếng trường Đại học, thông tin học sinh nhậnđược từ trường Đại học Điểm hạn chế là, nhiều nghiên cứu thực chất được xâydựng trên mô hình TRA nhưng các nhân tố cơ bản của khung lý thuyết đượcthay thế bằng các nhân tố thứ nguyên khác, song những lập luận chưa thực rõ ràng
Chuẩn mực chủ quan của cá nhân là một nhân tố quan trọng của mô h ình gốc
(TRA), tuy nhiên trong các các nghiên cứu về chủ đề này chưa làm rõ được ảnhhưởng của nhân tố này đến quyết định lựa chọn trường Đại học của học sinh THPT
2.2.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Tình trạng bỏ học ở bậc học THPT trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh vẫn còndiễn ra khá phổ biến Theo báo cáo tổng kết năm học 2019– 2020 của Sở giáo dục
và đào tạo Thành Phố Tây Ninh, tỷ lệ duy trì sĩ số đối với giáo dục THPT là 90%,
Trang 33nguyên nhân chính và cốt lõi dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học nhiều là do nhiều
em có hoàn cảnh kinh tế gia đình quá khó khăn, nên nhiều em phải theo bố mẹ đilàm ăn xa, hay phụ giúp những công việc hàng ngày trong gia đình Sự phối hợpgiữa nhà trường, chính quyền địa phương và phụ huynh học sinh chưa đồng bộ vàcòn nhiều lúng túng, dẫn đến việc huy động học sinh ra lớp còn gặp nhiều khó khăn.Công tác chủ nhiệm lớp của một số giáo viên còn hạn chế, không quan tâm tìm hiểuhoàn cảnh của học sinh, đặc biệt chưa hiểu hết về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh
2.2.4 Mô hình lý thuyết đề xuất
Mô hình lý thuyết được xây dựng dựa trên các cơ sở như sau:
Tác giả cho rằng việc lựa chọn trường Đại học của học sinh là lựa chọnhợp lý (Rational Action) dựa trên đánh giá và so sánh từ tập hợp các trườngĐại học khác nhau Trường Đại học được lựa chọn là trường là phù hợp nhất, hợp
lý nhất với các tiêu chí họ đề ra Trong nghiên cứu này, tác giả mong muốn sửdụng lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) làm cơ sở lý thuyết và kiểm định một phầnkhung lý thuyết trong bối cảnh GDĐH ở Việt Nam Tác giả cũng mong muốnđưa các nhân tố mới phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay để xác địnhnhân tố ảnh hưởng, đo lường mức độ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trườngĐại học của học sinh THPT
Thứ nhất, tác giả vận dụng lý thuyết hành vi hợp lý (mô hình TRA) vào xây
dựng mô hình nghiên cứu Cụ thể:
Thái độ hướng đến hành vi :Là cảm nhận của học sinh THPT về các đặc
điểm của trường Đại học Đối tượng nghiên cứu là những sinh viên tiềm năng do vậy
họ chủ yếu cảm nhận về các đặc điểm của trường Đại học dựa trên lượng thông tin
mà họ có được thông qua các hoạt động truyền thông của trường Đại học Nhân tốThái độ hướng đến hành vi được phân tách thành nhân tố thứ nguyên gồm: Cảmnhận về chi phí, cảm nhận về chương trình học, cảm nhận về cơ sở vật chất và nguồnlực, cảm nhận về danh tiếng của trường Đại học
Chuẩn mực chủ quan : Là nhận thức của con người về việc phải ứng xử như
thế nào cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, chuẩn mực chủ quan là áp lực mà xã hội
áp đặt lên mỗi cá nhân khi quyết định một hành vi (O’Neal, 2007) Trong trường hợp
Trang 34này, chuẩn mực chủ quan được hiểu là học sinh cảm nhận về người khác (cha mẹ,bạn bè, người xung quanh ) sẽ như thế nào (ủng hộ, không ủng hộ, tán dương ) khi
họ lựa chọn trường Đại học nào đó Mặc dù chưa có nghiên cứu nào trên thế giới vàViệt Nam đề cập đến vai trò của chuẩn mực chủ quan tác động đến quyết định lựachọn trường Đại học của học sinh Nhưng, tác giả cho rằng, với nền văn hóa PhươngĐông, trọng bằng cấp Mối quan hệ và sự ảnh hưởng về mặt tư tưởng giữa các thànhviên trong gia đình, hoặc xung quanh khá gắn kết Do vậy, mỗi quyết định trongcuộc sống đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của chuẩn mực chủ quan Vì thế, quyết địnhlựa chọn trường Đại học của mỗi học sinh THPT cũng không ngoại lệ
Thứ hai: Mô hình TRA nguyên thủy được áp dụng thành công ở những thị
trường đã ổn định, mang tính chuẩn mực, tuy vậy vẫn còn nhiều thiếu sót trong việckhái niệm hóa và thực hiện trong một số môi trường nghiên cứu Điều này dẫn đếnnhững bổ sung và mở rộng nhân tố mới Không nằm ngoài lý do đó, dựa trên tổngquan nghiên cứu và bối cảnh của GDĐH ở Việt Nam, tác giả đã bổ sung và mở rộngthêm mô hình với 02 biến độc lập gồm: Thông tin học sinh nhận được từ trường Đạihọc, cơ hội việc làm Với các lập luận như sau:
Các trường Đại học không thể bỏ qua vai trò của truyền thông trong việctruyền tin đến học sinh nhằm thúc đẩy ý định chọn và dẫn đến hành vi lựa chọntrường Sự nỗ lực truyền thông tin của nhà trường đến học sinh đã hiệu quả hay chưađược đánh giá bằng lượng thông tin học sinh có đầy đủ thông tin chưa Quyết địnhcuối cùng của học sinh dựa vào lượng thông tin đầy đủ mà học sinh nhận được từtrường Đại học Tuy nhiên những nghiên cứu trước đây của Việt Nam thường khảosát, đề cập đến các phương tiện truyền thông hoặc cách thức/ kênh thông tin mà học
sinh thu thập (qua báo đài, website ) mà chưa đề cập đến khía cạnh xem xét Thông tin học sinh nhận được từ trường Đại học.
Hiện nay giáo dục Đại học tại Việt Nam đang gặp rất nhiều vấn đề, đặc biệttình trạng nhiều sinh viên ra trường nhưng không tìm được viêc làm Do đó, cơ hộinghề nghiệp là nhân tố rất quan trọng tác động trực tiếp đến quyết định chọn Đại học
cả học sinh THPT Theo Cabera và La Nasa (2001) ngoài cơ hội mong đợi về cơ hộihọc tập cao hơn trong tương lai thì mong đợi về công việc trong tương lai cũng là
Trang 35một trong những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh Kếtquả nghiên cứu của Marvin J Burns, 2006; Trần Văn Quý và Cao Hào Thi, 2008;Nguyễn Thị Lan Hương, 2012 cũng chỉ ra rằng, cơ hội mong đợi về công việc trongtương lai có tác động mạnh mẽ đến ý định chọn trường của học sinh Do đó, môhình nghiên cứu cụ thể như sau:
Hình 2.3 Mô hình lý thuyết đề xuất
cơ sở đào tạo Quigley, Bingham, Notarantonio và cộng sự (2000) nhận xét giảmhọc phí nhiều có lợi thế hơn giảm học phí ít, nghĩa là chi phí của việc học Đạihọc sẽ là yếu tố cạnh tranh và thúc đẩy hành vi lựa chọn trường Govan và cộng
sự (2006) và Hoyt và Brown (2003) đều nhận xét có mức độ ảnh hưởng khácnhau của các khoản gồm viện trợ tài chính, học bổng và trợ cấp đến quyết định
Cảm nhận về chi phí
Cảm nhận về chương
trình học Cảm nhận về cơ sở vật
chất, nguồn nhân lực
Cảm nhận về danh tiếng
trường Đại học Chuẩn mực chủ quan
Cơ hội làm việc trong
tươnglai
Ý định chọn trường Đại học của học sinh THPT trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh
H1 H2 H3 H4 H5 H6
Trang 36lựa chọn trường Đại học của học sinh THPT Beneke và Human(2010) lại nhậnthấy rằng viện trợ tài chính (học bổng, cho vay ưu đãi ) chỉ là yếu tố ảnh hưởngxếp thứ năm trong các nghiên cứu tại Nam Phi Fokskett và cộng sự (2006) nghiêncứu ở Anh lại cho rằng chi phí chính sách hỗ trợ tài chính (sự linh hoạt trongcách thức thanh toán tiền, sự sẵn có các khoản hỗ trợ tài chính và chi phí ăn ởhợp lý) có ảnh hưởng mạnh đến mức làm thay đổi hoàn toàn, đảo ngược ý định lựachọn trường Đại học của học sinh THPT Yusof và cộng sự (2008) nhận định sự
hỗ trợ tài chính là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyếtđịnh lựa chọn trường Đại học
Nghiên cứu gần đây nhất của Mai Thị Ngọc Đào và Anthony Thorpe(2015) cũng cho rằng chi phí là yếu tố mạnh thứ 3 tác động đến quyết định lựachọn trường Đại học của học sinh THPT ở Việt Nam Tác giả cho rằng, với xuhướng tăng học phí mạnh ở các trường Đại học sẽ có tác động trực tiếp đến quyếtđịnh lựa chọn trường Đại học của học sinh Trường Đại học nào có lợi thế về mứcchi phí thấp và có nhiều chính sách hỗ trợ tài chính tốt được dự đoán sẽ thu hútđược nhiều thí sinh đăng ký ghi danh Do đó, tác giả phát biểu giả thuyết H1 nhưsau:
Giả thuyết H1: Cảm nhận về chi phí có tác động tích cực đến ý định chọn trường đại học của học sinh trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh.
Chương trình học
Mỗi một trường Đại học luôn mong đợi, coi trọng có một chương trình họcchất lượng riêng dành cho học sinh của mình Do vậy, chương trình học là vấn đềsống còn của trường Đại học, cũng là vấn đề học sinh THPT quan tâm khi lựachọn trường Yusof (2008) cho rằng sự sẵn có của các chương trình học là yếu
tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh viên tiềm năng (học sinh THPT) khi lựachọn trường Karl Wagner và cộng sự (2009) cũng đồng thuận rằng cảm nhận vềchương trình học là yếu tố quan trọng xếp thứ 3 và tác động tích cực đến ý địnhlựa chọn trường Đại học của học sinh THPT ở Malaysia Năm 2011, Joseph KeeMing Sia cũng tiến hành nghiên cứu ở Malaysia và xếp hạng chương trình học là
Trang 37yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất (Mean = 3.79) và là yếu tố ảnh hưởng tích cựcđến ý định lựa chọn trường Đại học của học sinh THPT.
Nghiên cứu ở Việt Nam, Đào Thị Ngọc Mai và Anthony Thorpe (2015)cũng kết luận cảm nhận về chương trình học là yếu tố quan trọng thứ 2 (Mean =3.696) ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường Đại học của học sinh THPT.Đồng thuận với quan điểm của các tác giả đã kể trên, tác giả cho rằng cảm nhậncủa học sinh THPT về chương trình học có ý nghĩa quan trọng Trường Đại họcnào có chương trình học phù hợp, đáp ứng được đầy đủ nhất những nhu cầucủa họ thì học sinh THPT sẽ có xu hướng ưu tiên lựa chọn Do đó, tác giả phátbiểu giả thuyết H2 như sau:
Giả thuyết H2: Cảm nhận về chương trình học có tác động tích cực đến ý định chọn trường đại học của học sinh trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh
Cảm nhận về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực
Cơ sở vật chất và nguồn lực là bao gồm tất cả các yếu tố như trang thiết
bị, vị trí, các hoạt động ngoại khóa, môi trường và đội ngũ giảng viên có chấtlượng cao để phục vụ cho các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học cũng nhưhoạt động ngoại khóa của sinh viên Trong nghiên cứu tiến hành ở Malaysia, KarlWagner và cộng sự (2009) đã chỉ ra mối quan hệ tác động tíchcực giữa cảm nhận về
cơ sở vật chất và nguồn lực với ý định lựa chọn trường của học sinh THPT Năm
2012, Koe và Sarings cũng kết luận cảm nhận cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng vàảnh hưởng đến ý định lựa chọn trường Đại học của học sinh THPT Mai Thị NgọcĐào và Anthony Thorpe (2015) cho rằng cảm nhận về cơ sở vật chất và dịch vụ
là yếu tố quan trọng thứ nhất (Mean = 3.823) ảnh hưởng đến quyết định lựa chọntrường Đại học của học sinh/ sinh viên Từ những kết quả nghiên cứu trước, tácgiả cho rằng trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam, cơ sở vật chất và nguồn lựccủa trường Đại học thể hiện tiềm lực, sức mạnh và là yếu tố dễ nhận biết Khilựa chọn trường Đại học, học sinh mong muốn và coi trong việc được học tậptrong môi trường đầy đủ các trang thiết bị để học tập và rèn luyện, đội ngũgiảng viên có kinh nghiệm để truyền thụ kiến thức Do đó, tác giả phát biểu giảthuyết H3 như sau:
Trang 38Giả thuyết H3: Cảm nhận về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực có tác động tích cực đến ý định chọn trường đại học của học sinh trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh.
Cảm nhận về danh tiếng trường Đại học
Danh tiếng của trường Đại học có thể được hiểu theo các cách khácnhau, phụ thuộc vào những ngữ cảnh chẳng hạn như: Danh tiếng trường Đạihọc được định hình dựa trên quá trình tích lũy, sự đánh giá vượt thời gian củanhiều nhóm người có tác động qua lại với tổ chức Danh tiếng cũng được nhậndạng thông qua cách nhìn nhận của xã hội, của sinh viên đối với trường Đạihọc đó Trong nghiên cứu của Joshep và Joshep (2000), biến độc lập thôngtin học sinh nhận được từ trường Đại học là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đếnquyết định lựa chọn trường của học sinh THPT ở Indonesia Karl Wagner vàcộng sự (2009) cũng đồng tình kết luận yếu tố này ảnh hưởng tích cực đếnquyết định lựa chọn trường Đại học của học sinh THPT ở Malaysia, tuy nhiênđây là yếu tố kém quan trọng nhất trong số những yếu tố tác động
Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2011) đã kết luận nỗ lực của nhà trường đưathông tin đến học sinh tốt nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trườngĐại học của học sinh Mai Thị Ngọc Đào và Anthony Thorpe (2015) lại bổsung thêm thông tin online và thông tin offline do trường Đại học cung cấp lànhững nhân tố ảnh hưởng tích cực, trong khi đó Đỗ Thị Hồng Liên và cộng sự(2015) cho rằng thông tin từ truyền thông, thông tin trực tiếp từ tư vấn tuyển sinh
do trường cung cấp là những yếu tố quan trọng Như vậy, các nghiên cứu ở ViệtNam phần nào đã kết luận được ảnh hưởng của các phương tiện truyền thôngcủa trường Đại học đến sinh viên tiềm năng Do đó, tác giả phát biểu giả thuyếtH4 như sau:
Giả thuyết H4: Cảm nhận về danh tiếng trường Đại học có tác động tích cực đến ý định chọn trường đại học của học sinh trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh.
Chuẩn mực chủ quan
Trang 39Chuẩn mực chủ quan được định nghĩa là nhận thức của cá nhân về các áplực của xã hội đối với việc thực hiện hay không thực hiện một hành vi (Ajzen,1991) Chuẩn mực chủ quan có thể được đo lường thông qua những ngườiliên quan với người tiêu dùng, được xác định bằng niềm tin chuẩn mực cho việcmong đợi thực hiện hành vi và động lực cá nhân thực hiện phù hợp với sự mongđợi đó (Fishbein & Ajzen, 1975).
Chuẩn mực chủ quan đã được minh chứng là có ảnh hưởng đến ý địnhhành vi qua đó ảnh hưởng đến hành vi trong nghiên cứu của Ajzen (1991) Cácnghiên cứu trước đây kết luận rằng giữa chuẩn chủ quan và ý định có mối quan
hệ cùng chiều với ý định mua sắm trực tuyến (Lin, 2007, Barkhi và cộng sự,2008), đến ý định tiêu dùng thực phẩm an toàn (Chen, 2007) mặc dù trong cácnghiên cứu trước, không có nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến nhân tố này Tácgiả cho rằng, quyết định lựa chọn trường Đại học chịu ảnh hưởng của nhữngngười xung quanh, nhưng việc “thẩm thấu” các ý kiến/ lời khuyên và hình thànhnên niềm tin của chủ thể về những người ảnh hưởng (thân thiết, quan trọng) ủng
hộ hay không ủng hộ, nên hay không nên khi họ lựa chọn/ hành động là hai vấn
đề dường như khác nhau Ít nhiều khi ra quyết định lựa chọn trường Đại học,học sinh THPT cũng sẽ quan tâm đến cảm nhận của người khác sẽ phản ứngvới quyết định của họ Do đó, tác giả phát biểu giả thuyết H5 như sau:
Giả thuyết H5: Chuẩn mực chủ quan có tác động tích cực đến ý định chọn trường đại học của học sinh THPT trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh
Cơ hội làm việc trong tương lai
Cơ hội làm việc tỏng tương lai là khả năng tìm được việc làm sau khi học Đạihọc (Trần Văn Quí và Cao Hào Thi, 2009) S.G.Washburn và các cộng sự (2000)còn cho rằng sự sẵn sàng của bản thân cho công việc và cơ hội kiếm được việc làmsau khi tốt nghiệp cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường củahọc sinh Do đó, tác giả phát biểu giả thuyết H7 như sau:
Giả thuyết H6: Cơ hội làm việc trong tương lai có tác động tích cực đến ý định chọn trường đại học của học sinh trên địa bàn Thành Phố Tây Ninh.
Trang 40Tóm tắt chương 2
Trong chương 2, tác giả đã tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quanđến đề tài trong nước và nước ngoài để tìm ra hướng nghiên cứu trong luận văn.Đồng thời, tác giả tổng quan những đặc điểm của học sinh THPT trên địa bànThành Phố Tây Ninh Xu hướng lựa chọn trường Đại học của học sinh THPT trênđịa bàn Thành Phố Tây Ninh cũng được đề cập đến để làm rõ hơn về bối cảnhnghiên cứu của luận văn