Trình bày được nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của một số nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật thường gặp.. Mô tả được các dấu hiệu bệnh lý cơ bản của nhiễm độc một số hóa chất bảo vệ thực
Trang 1NHIỄM ĐỘC HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG LAO ĐỘNG
MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1 Nêu được đặc điểm dịch tễ học của nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam hiện nay
2 Trình bày được nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của một số nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật thường gặp
3 Mô tả được các dấu hiệu bệnh lý cơ bản của nhiễm độc một số hóa chất bảo vệ thực vật thường gặp
4 Liệt kê được các nguyên tắc phòng chống nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật
5 Nhận thức được tính nguy hiểm của việc sản xuất, vận chuyển, bảo quản và sử dụng HCBVTV không an toàn trong cộng đồng
Hóa chất bảo vệ thực vật đã được biết đến từ thời thượng cổ song chúng được phát minh và tổng hợp, đưa vào sử dụng rộng rãi từ năm 1939 Trong vòng hơn 60 năm qua số lượng và chủng loại các hóa chất này tăng lên đáng kể Tốc độ phát triển của ngành công nghiệp sản xuất hóa chất bảo
vệ thực vật tăng lên một cách mạnh mẽ đến mức không thể kiểm soát được
do nhu cầu rất lớn của các lĩnh vực nông nghiệp và y học Ngày nay trên thế giới người ta đã đưa vào sản xuất hàng triệu tấn hóa chất trừ sâu một năm, song tốc độ này đang ngày một tăng hơn nữa do nhu cầu sử dụng ngày càng lớn và đa dạng Song song với sản xuất và tiêu thụ hóa chất bảo vệ thực vật tăng lên là sự gia tăng số người tiếp xúc, tình trạng thâm nhiễm và nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật ngày càng nhiều Mỗi năm trên thế giới
có hơn một triệu người tiếp xúc với hóa chất bảo vệ thực vật bị nhiễm độc
Trang 21 Dịch tễ học nhiễm độc HCBVTV ở Việt Nam
1.1 Thực trạng sử dụng HCBVTV ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam các hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng từ năm 1957 nhằm phục vụ cho các ngành nông nghiệp và y học Cùng với sản lượng lương thực tăng lên là lượng hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng cũng tăng lên hàng năm Những năm 70 của thế kỷ 20 mỗi năm nước ta nhập khoảng 20 nghìn tấn hóa chất bảo vệ thực vật ( một nửa là các chất chỉ hữu
cơ, còn lại là lân hữu cơ, carbamat ) Đến cuối những năm 80 số lượng này tăng lên gấp rưỡi, song thời gian sau các loại hóa chất bảo vệ thực vật dòng lân hữu cơ tăng dần chiếm quá nửa thị phần, dòng clo hữu cơ ngày càng giảm, các loại khác như carbamat, thuỷ ngân, asen cũng giảm dần
Lượng hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng trung bình tính chung cho cả nước mới chỉ khoảng 0,5 kg cho 1ha cây trồng Lượng này chỉ thấp bằng 1/4
so với Thái Lan Tuy nhiên ở các khu vực trồng rau, trồng chè lại cao hơn nhiều, gấp 7 - 8 lần khu vực trồng lúa Trong 20 năm (1961 - 1980) đồng ruộng Việt Nam đã phải tiếp nhận 53.000 tấn HCBVTV khó phân huỷ loại chỉ hữu cơ (46.910 tấn) và thuỷ ngân hữu cơ (600 tấn) chưa tính lượng DDT được sử dụng để chống muỗi sốt rét (1200 tấn thời kỳ 1962 - 1964, 20.000 tấn thời kỳ 1976 - 1983, khoảng 2000 tấn/năm vào những năm sau)
Trên thực tế, lượng HCBVTV sử dụng ở nước ta những năm gần đây còn cao hơn nhiều do lượng HCBVTV nhập khẩu theo đường tiểu ngạch và con đường buôn lậu không thống kê, kiểm soát được
Theo số liệu từ cục Bảo vệ thực vật, hiện nay cả nước có 19.378 cửa hàng, đại lý kinh doanh HCBVTV Chỉ riêng một đợt kiểm tra cuối năm
2002 ở 9201 cửa hàng trên cả nước, đã phát hiện 2460 cửa hàng (26,5%) có
vi phạm quy định an toàn HCBVTV Điều tra 6840 hộ nông dân có 60,8%
số hộ sử dụng HCBVTV không đúng quy trình kỹ thuật, 2,2% số hộ sử dụng thuốc cấm, 1,8% số hộ sử dụng thuốc ngoài danh mục Lượng thuốc độc cấm sử dụng nhập lậu bị thu giữ khá lớn: 1600 chai Mêthamidophos bị thu giữ ở huyện Đông Anh - Hà Nội, 1,1 tấn thuốc chuột Trung Quốc bị thu giữ ở Thừa Thiên - Huế, 2 tấn Mêthamodophos bị thu giữ ở Hưng Yên và nhiều trường hợp khác
Dưới đây là lượng HCBVTV nhập khẩu hàng năm theo con đường chính ngạch của bộ NN - PTNT
Trang 3HCBVTV NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 1991 - 1998
Năm Số lượng, tấn Trị giá, triệu USD
1991 21.400 22,5
1992 22.600 24,1
1993 25.600 33,4
1994 27.000 58,9
1995 32.400 100,4
1996 35.000 124,3
1997 37.000 131,4
1998 40.000 196,0
1.2 Tình hình nhiễm độc HCBVTV ở Việt Nam trong những năm gần đây
- Mặc dù HCBVTV được sử dụng ở Việt Nam từ năm 1957 trong nông nghiệp và y học song thời gian khoảng 20 năm đầu, người ta không chú ý nhiều về tác hại của các HCBVTV đối với môi trường và con người Theo Bộ Y tế, trong 5 năm (1980 - 1985) chỉ riêng 16 tỉnh phía Bắc đã
có 2211 người bị nhiễm độc nặng do HCBVTV, 811 người chết Năm 1997 tại 10 tỉnh/61 tỉnh, thành phố cả nước với lượng HCBVTV sử dụng mới chỉ
là 4200 tấn nhưng đã có 6103 người bị nhiễm độc, 240 người chết do nhiễm độc cấp và mạn tính Năm 2004 cả nước có 4009 vụ nhiễm độc HCBVTV Các mẫu rau ở nhiều địa phương có dư lượng cao HCBVTV ( kiểm tra cuối năm 2005) Bình quân cứ 1 tấn HCBVTV sử dụng thì có 14,53 người bị nhiễm độc và cứ 1,75 tấn HCBVTV sử dụng thì có 1 người chết Kiểm tra
195 kho HCBVTV có 124 kho (64%) không đạt tiêu chuẩn vệ sinh Cũng trong năm 1997 riêng huyện Thái Thuỵ - tỉnh Thái Bình với diện tích 15.000 ha đã sử dụng 55 tấn HCBVTV, bình quân cho mỗi ha canh tác là 3,66kg Bình quân nếu cứ sử dụng 1 tấn HCBVTV thì có hai người bị nhiễm độc nặng phải đi cấp cứu và cứ 4 tấn HCBVTV sử dụng thì có một người chết do bị nhiễm độc Nhiễm độc HCBVTV đã trở thành một vấn đề sức khỏe lớn đáng quan tâm ở các vùng nông thôn của nước ta hiện nay ở khắp các miền từ Nam đến Bắc Theo kết quả nghiên cứu của Vụ Y Tế dự phòng (chương trình VTN/OCH/010 - 96.97) tại 4 tỉnh Thừa Thiên Huế, Khánh Hoà, Tiền Giang, Cần Thơ trong 4 năm (1994 - 1997) đã có 4899
Trang 4- Xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình có 9038 dân và
363 ha đất canh tác Trong năm 1995 đã sử dụng khoảng 463 kg HCBVTV (300 kg Bassa, 105 kg Mônitơ, 45 kg Padan), bình quân 1,3 kg/ha Tuy nhiên riêng trong năm 1995 đã có 7 người bị ngộ độc nặng, trong đó có 1 người chết Tính ra cứ dùng 1 tấn HCBVTV thì có 15 người bị nhiễm độc
và 2,16 người chết Trong 3 năm liền (1994 - 1996) xã này có 20 người bị nhiễm độc HCBVTV, trong đó có 4 người bị tử vong (Nguyễn Thị Phương)
Theo báo cáo của Vụ Y Tế dự phòng - Bộ Y tế, năm 2005 tình hình nhiễm độc HCBVTV ở nước ta vẫn còn nghiêm trọng: hơn 5000 vụ nhiễm độc, 5394 nạn nhân và 393 người chết Đây mới chỉ là số liệu tập hợp từ một số tỉnh, thành phố Tính bình quân cứ 1 tấn HCBVTV sử dụng có 1,3 người bị nhiễm độc nặng và cứ 21,42 tấn HCBVTV sử dụng thì có 1 người
tử vong
1.3 Khái niệm và phân loại HCBVTV
1.3.1 Khái niệm: hóa chất bảo vệ thực vật là những nhóm lớn các chất hóa
học tổng hợp được dùng để kiểm soát các loại côn trùng, sâu bệnh và động vật có hại, bảo vệ cây trồng trong nông lâm nghiệp và y tế
1.3.2 Phân loại hóa chất bảo vệ thực vật: căn cứ vào thành phần và tác
dụng chính, hoá chất bảo vệ thực vật được chia làm các nhóm sau:
- Hóa chất trừ sâu hại (insecticides)
- Hóa chất diệt nấm bệnh (fungicides)
- Hóa chất trừ cỏ dại (herbicides hoặc weedicides)
- Thuốc diệt chuột (Rodenticides)
- Thuốc diệt ốc hại (Molluscides)
Trong đó các hóa chất trừ sâu gồm các nhóm:
+ Nhóm lân hữu cơ (phospho hữu cơ)
+ Nhóm clo hữu cơ
+ Nhóm thuỷ ngân hữu cơ
+ Nhóm cacbamat
Trang 52 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của một số nhiễm độc HCBVTV thường gặp
2.1 Các nguyên nhân gây nhiễm độc HCBVTV
Nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật thường xảy ra trong công nhân thường xuyên tiếp xúc với HCBVTV ở các bộ phận sản xuất dưới đây:
- Nơi sản xuất HCBVTV các loại ở nhà máy
- Vận chuyển trên đường đến các nơi sử dụng hoặc trạm trung chuyển
- Bảo quản, phân phối HCBVTV tại các kho
- Gia công, pha chế HCBVTV
- Sử dụng (nông nghiệp và y học)
Ngoài ra do ăn phải hoa quả, uống nước bị nhiễm HCBVTV cũng dễ
bị nhiễm độc Theo các tài liệu nước ngoài thì có những nguyên nhân gây nhiễm độc với tỷ lệ như sau:
Nguyên nhân Tỷ lệ
- Phòng hộ kém, không đủ hoặc không biết 45,7%
- Phun thuốc quá lâu (nông dân và kỹ thuật viên) 21,8%
- Không tuân theo nội quy thao tác 15,7%
- Dụng cụ hư hỏng 11,2%
- Cơ thể yếu, tổn thương da 1,9%
- Uống nhầm, tự tử, ăn thức ăn còn tồn dư HCBVTV 1,9%
2.2 Cơ chế bệnh sinh nhiễm độc một số nhóm HCBVTV
2.2.1 Nhóm lân hữu cơ
- Đường xâm nhập: hóa chất lân hữu cơ có thể xâm nhập vào đường
hô hấp, đường da niêm mạc và đường tiêu hóa Xâm nhập vào đường hô hấp thường ở dạng bụi, mù, hơi khí Đường qua da và niêm mạc: thường do tiếp xúc trực tiếp: tay, chân, lưng, mặt, cổ Đường tiêu hóa: Thường do ăn uống nhầm, ăn uống ở hiện trường, thức ăn, nước uống ô nhiễm lân hữu cơ Nhưng dù xâm nhập vào trường nào thì nó cũng gây nhiễm độc nhanh chóng và nhiễm độc toàn thân
Trang 6- Khi nhiễm độc HCBVTV nhóm lân hữu cơ, các este của acid phosphoric (dietylphosphat) gắn vào men cholinesterase tạo thành phức hợp cholinesterase phosphoryl hóa, ức chế men ở huyết tương, hồng cầu và
ở não Bình thường men cholinesterase phân huỷ acetylcholin thành cholin
và acid acetic, khi men cholinesterase bị ức chế, acetylcholin bị ứ đọng lại, tăng trong các synap (nút dẫn truyền) thần kinh, ở các tuyến, cơ, ở các hạch
sẽ kích thích thần kinh phó giao cảm và thần kinh trung ương
- Tác dụng của lân hữu cơ là tác dụng ức chế men chứ không phá huỷ men Nó chỉ gắn vào men làm men mất hoạt tính Rồi phức hợp men cholinesterase phosphoryl hóa sẽ tan rã dần, giải phóng men dần dần, men lại hoạt động bình thường, nhưng sự phục hồi của men chậm, mỗi ngày chỉ phục hồi được chừng 1%
Ngoài ra theo một số tác giả lân hữu cơ còn ức chế men trypsine, lipase và các men khác của gan
2.2.2 Nhóm clo hữu cơ
- Đại diện của nhóm chlore hữu cơ là 666 có công thức hóa học là
C6H6CL6 còn được gọi bằng nhiều tên: Hexachloran, Benzenhexachlorid (BHC) Thường ở dạng chất kết tinh màu trắng có khi ngả màu xám hay vàng nhạt, sờ tay thấy nhờn, có mùi hơi kích thích, không tan trong nước,
dễ tan trong rượu, trong các loại dầu hữu cơ
Thuốc trừ sâu 666 xâm nhập vào cơ thể bằng các đường hô hấp, tiêu hóa và đường da Sau khi vào cơ thể, 666 tích luỹ trong các phủ tạng, phần lớn được tiêu huỷ ở các tổ chức mỡ, gan, thận 666 làm cho khu huyết và acetylcholine tăng cao gây ra cường kích thần kinh, gây co giật các cơ, ngũ quan và tác hại lên gan, thận 666 được bài tiết ra ngoài bằng đường nước tiểu, phân, nước bọt, sữa, do đó có thể gây nhiễm độc cho trẻ còn bú
2.2.3 Nhóm cacbamat
Cơ chế gây nhiễm độc của HCBVTV nhóm cacbamat về cơ bản giống như nhóm lân hữu cơ Các HCBVTV nhóm cacbamat gây ức chế men cholinesterase trong các tổ chức thần kinh
2.2.4 Một số nhóm HCBVTV khác
- Hóa chất thuỷ ngân hữu cơ thường qua đường hô hấp, da niêm mạc
và đường tiêu hóa vào cơ thể Loại này thường tích luỹ trong cơ thể nhất là
Trang 7ở tổ chức não khó tự thải ra ngoài cho nên trong máu và trong nước tiểu nồng độ không cao Do tác dụng của thuỷ ngân vào vỏ não nên các tế bào
vỏ não bị ức chế, không điều khiển được các trung tâm thần kinh bên dưới dẫn đến một trạng thái bệnh lý của thần kinh sọ não Ngoài ra còn gây tổn thương ở gan, ruột và thận
- Các loại thuốc trừ cỏ (TTC) xâm nhập vào cơ thể con người qua tất
cả các đường da, niêm mạc, hô hấp và tiêu hóa tuỳ theo hoàn cảnh tiếp xúc
Cơ chế bệnh sinh trong nhiễm độc TTC còn nhiều điều chưa lý giải được song người ta thấy một số khả năng gây kích thích tế bào, kích thích thần kinh gây nên các rối loạn thần kinh giống thuốc trừ sâu là thường gặp (Alachlor, atrazin, simazine, 2, 4D, 5T ) Một số loại tác động trực tiếp lên tế bào gây kích thích và huỷ hoại tế bào tiếp xúc ở da, niêm mạc đường hô hấp, tiêu hóa như 2,4 D, paraquat, diquat Tác dụng gây hại trực tiếp này có thể xảy ra ở các tế bào mà thuốc này đi qua như tế bào gan và ống thận Do tác dụng của các TTC gần giống như thuốc trừ sâu dòng chlore hữu cơ nên bệnh cảnh lâm sàng cũng thể hiện tình trạng bệnh lý đa dạng ở nhiều cơ quan của
cơ thể (chủ yếu là da và niêm mạc) Người ta coi (TTC) là loại thuốc
có khả năng gây độc toàn thân nên sẽ có rất nhiều hội chứng bệnh lý
có thể xẩy ra như các hội chứng viêm, kích thích da và niêm mạc, hội chứng tiêu hóa, hội chứng suy nhược thần kinh, viêm các dây thần kinh Ngoài ra có thể có một số hội chứng bệnh lý do tổn thương gan thận hoặc ung thư, sảy thai
- Thuốc diệt chuột thường được sử dụng hiện nay đa số có cơ chế tác dụng chống đông máu, được hấp thụ tốt qua trường tiêu hóa và một phần nhỏ qua da Các thuốc này thường gồm 2 loại hợp chất liên quan chặt chẽ với nhau là coumarin và indedion Cơ chế tác dụng chủ yếu của các loại thuốc diệt chuột này là tác động vào hệ thống tạo huyết Mọi tác động gây chống đông máu thông qua ức chế tổng hợp prothoprombin ở gan (yếu tố II, VII, IX và XI và gây bất hoạt vitamin K
2.3 Danh mục các HCBVTV cấm sử dụng hiện nay
Trang 8DANH MỤC HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT
CẤM SỬ DỤNG TRONG NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
No Tên chung (common names) – tên thương mại (trade names)
Thuốc trừ sâu – insecTicide
1 Aldrin (Aldrex, Aldrite…)
2 BHC, Lidane (Gamma – BHC, Gamma – HCH, Gamatox 15EC, 20EC, Lindafor, Carbadan 4/4 G (Sevidol 4/4 G…)
3 Cadmium compound (Cd)
4 Chlordane (Chlorotox, Octachlor, Pentichlor )
5 DDT (Neocid, Pentachlorin, Chlorophenothane )
6 Dieldrin (Dieldrex, Dieldrite, Octalox )
7 Eldrin (Hexadrin )
8 Heptachlor (Drimex, Heptamul, Heptox )
9 Isobenzen
10 Isodrin
11 Lead compound (Ld)
12 Methamidophos (Dynamite 50 SC, Filitox 70 SC, Master 50 EC, 70
SC, Monitor 50 EC, 60 SC, Isometha 50 DD, 60 DD, Isosuper 70 DD, Tamaron 50 EC)
13 Methyl Parathion (Danacap M25, M40: Folidol M 50 EC); Isomethyl
50 ND; Methaphos 40 EC, 50 EC; (Methyl Parathion) 20 EC, 40 EC,
50 EC;Milion 50 EC; Proteon 50 EC; Romethyl 50 ND; Wofatox 50
EC
14 Monocrotophos (Apadrin 50 SL, Magic 50 SL, Nuvacron 40
SCW/DD, 50 SCW/DD, Thunder 515 DD)
15 Parathion Ethyl (Alkexon, Orthophos, Thiophos )
16 Phosphamodon (Dimecron 50 SCW/DD)
17 Polychlorocamphene (Toxaphene, Camphechlor )
18 Strobane (Polychlorinate of camphene)
Thuốc trừ bệnh hại cây trồng
1 Arsenic compound (As) except Neo - Asozin, Dinasin
2 Captan (Captane 75 WP, Merpan 75 WP )
3 Captafol (Difolatal 80 WP, Folcid 80 WP )
Trang 94 Hexachlorobenzene (Anticaric, HCB )
5 Mercury compound (Hg)
6 Selenium compound (Se)
Thuốc trừ chuột – Rodenticide
1 Talium compound (TI)
Thuốc trừ cỏ - Herbicide
1 2,4,5 T (Brochtox, Decamine, Veon )
3 Biểu hiện bệnh lý của một số nhiễm độc HCBVTV
3.1 Nhóm lân hữu cơ
Những trường hợp nhiễm độc LHC điển hình thường có 3 loại hội chứng bệnh lý như sau:
* Dấu hiệu giống ngộ độc nấm: (cường phó giao cảm, giãn cơ vòng,
co cơ trơn và tăng tiết dịch) Nếu nhẹ thì buồn nôn, nôn, đau bụng, toát mồ hôi, chảy nước dãi, co đồng tử
Nếu nặng thì ngoài các dấu hiệu trên còn kèm theo ỉa lỏng, ỉa đái dầm
dề, tím tái (trở ngại hô hấp do tiết dịch và co thắt khí đạo), có thể bị phù phổi cấp rồi chết Trước khi chết tim đập chậm rồi nhỏ dần
* Dấu hiệu nhiễm độc nicotin (vận động): sụp mi mắt, lưỡi rụt, co các dải cơ mặt, cổ, lưng dẫn đến lệch vẹo cổ, lưng, hàm mặt Thậm chí toàn thân co cứng, có trường hợp co cơ ngực gây tắc thở và tử vong
* Dấu hiệu thần kinh trung ương (ức chế): hoa mắt, chóng mặt, bồn chồn, rối loạn hợp đồng động tác (do rối loạn tiền đình, tiểu não) Run, co giật, mất khả năng tập trung thị lực và khả năng phân biệt màu sắc Có trường hợp bị giật nhãn cầu (nystagmus), nói khó khăn Những dấu hiệu trên có thể kéo dài từ 1 đến 9 giờ, rồi bệnh nhân đi vào hôn mê, phản xạ giảm, co giật toàn thân, hết co giật có thể chết Xét nghiệm huyết học thấy bình thường, có trường hợp bạch cầu tăng (12.000 - 20.000) men cholinesterase hạ thấp hoặc giảm hoạt tính, paranitrophenol niệu tăng cao đối với tiophot và wofatox
Bệnh thường tiến triển tuỳ theo lượng thuốc trừ sâu LHC vào cơ thể nhiều hay ít Quá trình tiến triển như sau:
Trang 10Thời gian xuất hiện triệu chứng: thông thường các triệu chứng nhiễm độc đầu tiên xuất hiện từ 1,5 tới 2 tiếng Các triệu chứng nguy kịch có thể xuất hiện sau 9 tiếng Những trường hợp tối cấp, các triệu chứng này có thể xảy ra ngay sau khi bị nhiễm độc như mệt mỏi, chết rất nhanh có khi chỉ từ
30 phút đến 1 giờ
Trường hợp cấp, các triệu chứng xuất hiện sau 1 - 9 giờ và chết sau thời gian này Có trường hợp nhiễm độc, sau khi đã được điều trị bệnh thuyên giảm nhưng nếu không tiếp tục điều trị và theo dõi sát thì lại nặng dần lên và dẫn đến tử vong
Trường hợp nhẹ, các triệu chứng kéo dài từ 6 - 30 giờ, rồi giảm hoặc nặng lên, có khi 2 - 3 tuần Đồng tử co, có khi kéo dài đến 6 tuần Cá biệt
có những trường hợp đồng tử giãn hoặc sau khi khỏi để lại di chứng như liệt chân, tay
Người ta có thể quan sát thấy các dấu hiệu ở phổi như hội chứng phù phổi cấp, phổi có thể có nhiều ran ẩm, ho có bọt màu hồng, khi làm sinh thiết hoặc mổ tử thi sẽ thấy rõ Ở gan, lách, thận có hiện tượng xung huyết,
nhiều khi gan to ra, ứ huyết hầu hết các bộ phận có tác động của thuốc trừ
sâu đều có thể bị xung huyết (tiêu hóa, não, tuỷ )
3.2 Nhóm clo hữu cơ
Nhiễm độc thuốc trừ sâu đo hữu cơ gây nên bệnh cảnh của lâm sàng với nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào đường xâm nhập của chúng vào cơ thể, các thể bệnh thường gặp là:
- Thể cấp tính:
+ Chỉ hữu cơ có thể gây nên các triệu chứng của hệ thống tiêu hóa và thần kinh như lợm giọng, buồn nôn, khó chịu ở bụng trên, cảm giác
nóng bỏng, đau bụng Nhiệt độ tăng cao, toàn thân mệt mỏi, đau
đầu chóng mặt, tim đập nhanh, huyết áp tăng Nặng có thể gây co giật và hôn mê, hậu quả là gây nên các rối loạn gan mật và da Thể này thường do ăn uống phải
+ Nếu hít vào đường hô hấp bệnh nhẹ có thể biểu hiện ở họng có cảm
giác nóng bỏng, đau ngực, ho, đau đầu, chảy nước mắt, run, nhiệt
độ tăng cao, mệt mỏi, nôn mửa Không điều trị, chỉ ra khỏi nơi có
666 sau 1 - 2 giờ các biểu hiện trên sẽ mất Nặng thì người nhợt