Mô hình dữ liệu không gian: Trong máy tính số, dữ liệu không gian của các thực thể có thể được biểu diễn theo hai mô hình Raster và Vector.. Ba đối tượng không gian dù ở mô hình cấu trú
Trang 1CHƯƠNG 3: QUẢN LÝ DỮ LIỆU TRONG GIS
Trong các hệ thống thông tin địa lý, mỗi thực thể trong thế giới thực được biểu diễn trong máy tính số bằng những mô hình dữ liệu khác nhau để mô tả thuộc tính, vị trí, thời gian và sự quan hệ giữa chúng với nhau Có hai dạng cấu trúc dữ liệu
cơ bản trong GIS Đó là dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính Đặc điểm quan trọng
trong tổ chức dữ liệu của GIS là: dữ liệu không gian (bản đồ) và dữ liệu thuộc tính được lưu trữ trong cùng một cơ sở dữ liệu (CSDL) và có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó,
mô hình Raster hoặc mô hình Vector được sử dụng để biểu diễn vị trí; mô hình phân cấp, mô hình mạng hoặc mô hình quan hệ được sử dụng để biểu diễn thuộc tính của các đối tượng, các hoạt động, các sự kiện trong thế giới thực
Hình III.1: Minh họa cấu trúc dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
I Mô hình dữ liệu không gian:
Trong máy tính số, dữ liệu không gian của các thực thể có thể được biểu diễn theo hai mô hình Raster và Vector Các đối tượng không gian trong GIS được nhóm theo ba loại đối tượng: điểm, đường và vùng Trong mỗi kiểu cấu trúc dữ liệu, cách tổ chức dữ liệu cho ba đối tượng không gian trên khác nhau Tuỳ tỷ lệ hoặc mức độ chi tiết mà các đối tượng không gian được thiết kế trong GIS khác nhau Ba đối tượng không gian dù ở mô hình cấu trúc dữ liệu GIS nào đều có một điểm chung là vị trí của chúng đều được ghi nhận bằng giá trị toạ độ trong một hệ toạ độ nào đó tham chiếu với hệ toạ độ dùng cho Trái đất
Dữ liệu không gian
Dữ liệu thuộc tính
Trang 2(a) (b)
Hình III.2: Thế giới thực trên hai mô hình raster (a) và vector (b) (Theo Aronnof, 1989)
I.1/ Mô hình dữ liệu Raster:
Khái niệm ảnh Raster: Một file ảnh chụp về một đối tượng không gian qua máy ảnh photo hoặc một ảnh số chụp từ máy chụp số (digital camera) hoặc ảnh số thu nhận từ các đầu ghi phổ trên các vệ tinh là các ảnh có cấu trúc raster
Raster được định nghĩa như là ma trận không gian của các đơn vị ảnh (picture element) còn gọi là các pixel Các pixel có kích thước đồng nhất về mặt hình học, chúng
là các ô vuông nhỏ và được xếp theo các dòng và các cột giống như một lưới ô vuông (Hình III.16)
Hình III.3: Ma trận không gian của một file ảnh raster có cấu trúc pixel
Cấu trúc raster là một trong những cấu trúc dữ liệu đơn giản nhất trong GIS Nó còn được gọi là “tổ chức theo ô vuông của dữ liệu không gian” (cellular organization of spatial data) Pixel là phần tử cơ sở của cấu trúc dữ liệu Raster để biểu diễn một đặc trưng địa lý f(x,y) nào đó, giá trị của pixel chỉ tính chất của đối tượng không gian Giá trị số của pixel chính là mã được gắn cho đối tượng không gian (tức là mỗi đối tượng không gian
có một mã nhất định) Giá trị bằng không thường là những pixel chỉ vùng ngoài khu vực nghiên cứu Ví dụ các đối tượng đất trồng bắp có mã bằng 1, đất trồng cam có mã bằng 2, đất trồng điều có mã bằng 3, đất trồng mía có mã bằng 4…(Hình III.4)
Trang 3Hình III.4: Các đối tượng không gian được mã hoá trong mô hình Raster
Như vậy, mô hình Raster biểu diễn không gian như là một ma trận số nguyên, mỗi một giá trị số nguyên đại diện cho một thuộc tính, vị trí của số nguyên chính là vị trí của đối tượng Ma trận không gian từ các ô ảnh này được mã hoá và lưu trữ trong máy tính theo quy luật nhất định thông qua vị trí của từng ô ảnh và được tham chiếu tới hệ toạ độ dùng cho Trái đất gọi là hệ toạ độ Cartsian theo hai trục x và y
Với cấu trúc dữ liệu dạng raster, giá trị của thông số nghiên cứu như độ cao địa hình (m), loại đất, sinh khối thực vật (gr/m2)…phải được xác định cho từng ô lưới (cell) Trong cấu trúc dữ liệu dạng raster (Hình III.5), các vật thể trên bản đồ có thể được mô tả bằng các yếu tố (map feature) sau:
- Điểm (point): Độ lớn của pixel theo chiều x, y sẽ là độ phân giải không gian của
ma trận raster (trong viễn thám gọi là độ phân giải của ảnh), có thể được biểu diễn bằng một fixel hay nhiều fixel tuỳ thuộc vào tỷ lệ (độ phân giải của ảnh)
- Đường (line): là tập hợp các ô lưới vuông có cùng giá trị f (x,y) nối tiếp nhau và sắp xếp theo một hướng nhất định Vì trong cấu trúc Raster, các pixel được xếp theo hàng, cột, như một ma trận điểm nên đường nét không trơn, có dạng zic-zac
- Vùng (area): Vùng được xác định bằng một mảng gồm nhiều pixel có cùng giá trị thuộc tính f (x,y) trải rộng ra theo nhiều phương
Hình III.5: Cấu trúc dữ liệu Raster Trên thực tế mỗi pixel có một cặp toạ độ (x, y) duy nhất Một đối tượng không gian
có kích thước nhỏ hơn một pixel, ví dụ lớn hơn một nửa pixel, sẽ được coi như là một
Trang 4pixel trọn vẹn và cĩ giá trị về diện tích và toạ độ của chính pixel mà nĩ nằm trong Vì vậy
độ phân giải của pixel đĩng vai trị hết sức quan trọng về độ chính xác của dữ liệu Raster Kích thước được chọn cho một ơ lưới (pixel) của một vùng nghiên cứu phụ thuộc vào độ phân giải dữ liệu yêu cầu cho phân tích chi tiết Ơ phải đủ nhỏ để nắm bắt chi tiết được yêu cầu, nhưng đủ lớn để bộ nhớ máy tính và phép tốn phân tích cĩ thể thực hiện hiệu quả
Ưu điểm của cấu trúc dữ liệu dạng raster là dễ thực hiện các chức năng xử lý và phân tích Tốc độ tính tốn nhanh, thực hiện các phép tốn bản đồ dễ dàng Dễ dàng liên kết với dữ liệu viễn thám Cấu trúc raster cĩ nhược điểm là kém chính xác về vị trí khơng gian của đối tượng Khi độ phân giải càng thấp (kích thước pixel lớn) thì sự sai lệch này càng tăng
Mơ hình dữ liệu này thích hợp trong mơ tả các đối tượng, hiện tượng phân bố liên tục trong khơng gian (độ cao, nhiệt độ, loại hình sử dụng đất…), dùng để lưu giữ thơng tin dạng ảnh (ảnh mặt đất, hàng khơng, vũ trụ ) Một số dạng mơ hình biểu diễn bề mặt
như DEM (Digital Elevation Model), DTM (Digital Terrain Model), TIN (Triangulated Irregular Network) trong CSDL cũng thuộc dạng raster.
Hình III.6: Mơ hình cấu trúc Raster I.1.1/ Thuộc tính của ơ ảnh:
Thuộc tính gán cho ơ sẽ định nghĩa phân lớp, nhĩm, chủ đề hoặc giá trị đo được ở tại vị trí của ơ Ơ cĩ thể cĩ giá trị là số nguyên hoặc số thập phân Khi một giá trị số nguyên được sử dụng cho ơ ảnh, nĩ cĩ thể được dùng làm mã nhận dạng
Điểm
Đường Vùn
g
Trang 5Hình III.7: Minh họa thuộc tính của ô ảnh
I.1.2/ Các dạng dữ liệu raster:
- Ảnh vệ tinh: Thu nhận ảnh vệ tinh là một cách vẽ bản đồ ở mọi tỷ lệ với chi phí thấp nhất ảnh vệ tinh có loại có màu hoặc đen trắng
- Ảnh hàng không: Được dùng để tạo ra những bản đồ chi tiết
- Bản đồ quét
- Các loại hình ảnh khác
- Chuyển đổi từ những dữ liệu khác: Phát sinh từ những nguồn dữ liệu khác, như từ những tập dữ liệu đặc trưng hoặc từ TIN Những kết quả phân tích
từ raster bề mặt trái đất có thể sử dụng để làm bản đồ độ dốc
I.1.3/ Vai trò của Raster trong hiển thị và phân tích:
Dùng làm bản đồ nền: Thông thường, raster được sử dụng làm nền bản đồ Chúng
nằm ở dưới các layer vectơ Sử dụng ảnh raster giúp nhìn thấy độ sâu và tăng sự tin tưởng của người dùng bản đồ
Dùng trong quản lý sử dụng đất: Dữ liệu Raster rất lý tưởng để lập mô hình và vẽ
bản đồ sử dụng đất Đa số các nghiên cứu sử dụng đất đều bắt đầu bằng ảnh vệ tinh hoặc ảnh hàng không, sau đó các lớp đặc trưng sẽ được đưa vào Công việc này được tiến hành hàng năm và từ so sánh các kết quả thu nhận người ta sẽ đưa
ra các quyết định về sử dụng đất
Dùng trong phân tích thủy văn: Thông tin địa thế thông thường nằm ở dạng raster
với những giá trị độ cao cho từng ô ảnh Đây là mô hình số độ cao (DEM) Các công cụ GIS dành cho Raster cho phép xác định được hướng nước chảy, lưu lượng tích trữ của dòng nước ở hạ lưu và dự đoán được lũ lụt
Dùng trong phân tích môi trường:Bởi vì dữ liệu về phân bố sử dụng đất, về thực
phủ và địa thế thông thường được cất giữ dưới dạng ảnh raster, do vậy đa số các phép tính toán phân tích môi trường đều liên quan đến dữ liệu raster Công cụ phân tích GIS dành cho Raster đã phát triển đến mức cho phép sử dụng dữ liệu raster để giải quyết những vấn đề ở nhiều mức độ Từ công tác bảo tồn rừng cho tới nghiên cứu những thay đổi của động vật hoang dã do đô thị hóa
Trang 6 Dùng trong phân tích địa thế: Mô hình số độ cao chứa những giá trị độ cao cho
từng ô ảnh ArcInfo có nhiều công cụ phân tích raster để tính độ dốc, khả năng nhận ánh sáng và tính toán độ cong của mặt đất mà thường được sử dụng trong lập kế hoạch sử dụng đất hoặc chọn vị trí để xây dựng công trình
I.2/ Mô hình dữ liệu Vector:
Cấu trúc vector mô tả vị trí và phạm vi của các đối tượng không gian bằng tọa độ cùng các kết hợp hình học gồm nút, cạnh, mặt và quan hệ giữa chúng Về mặt hình học,
các đối tượng được phân biệt thành 3 dạng: đối tượng dạng điểm (point), đối tượng dạng đường (line) và đối tượng dạng vùng (region hay polygon) Điểm được xác định bằng
một cặp tọa độ X,Y Đường là một chuỗi các cặp tọa độ X,Y liên tục Vùng là khoảng không gian được giới hạn bởi một tập hợp các cặp tọa độ X,Y trong đó điểm đầu và điểm cuối trùng nhau Với đối tượng vùng, cấu trúc vector phản ảnh đường bao
Trong mô hình dữ liệu vector vị trí của đối tượng không gian được ghi nhận chích xác bằng các toạ độ x, y trong một hệ toạ độ tham chiếu với hệ toạ độ dùng cho Trái đất
Ví dụ để lưu trữ dữ liệu biểu thị một vật thể hình tròn thì trong cấu trúc raster ta tạo
mã (code) cho tập hợp những ô vuông sơ cấp nằm trong phạm vi hình tròn trong khi đối với cấu trúc dạng vector thì ta chỉ cần lưu trữ tọa độ điểm tâm vòng tròn và giá trị bán kính của hình tròn
Thực thể điểm (point entity): Trong mô hình vector, điểm (thực thể địa lý) được thể
hiện như một vector có độ dài bằng không (không có kích thước), và vị trí của nó được xác định bởi một cặp tọa độ (x,y) duy nhất Ngoài ra thì các dữ liệu mô tả điểm đó như ký hiệu, tên gọi…cũng được lưu trữ cùng với cặp tọa độ
Thực thể đường (line entity, Hình III.8): được định nghĩa như là tập hợp các thực thể địa lý được xác định bằng những đoạn thẳng có ít nhất hai hay nhiều cặp tọa độ Đường đơn giản nhất là đường nối giữa hai điểm bất kỳ có toạ độ (Xi, Yi) và (Xj Yj) và
có thể kèm theo dữ liệu ký hiệu thể hiện nó trên bản đồ Điểm xuất phát và điểm kết thúc của đường gọi là nút (node) Một cung (arc), một kênh (chain) hay một chuỗi (string) là tập hợp của n cặp tọa độ biểu thị một đường cong phức tạp và liên tục
Đường cong hay đường gấp khúc tạo nên bằng các đoạn thẳng nhỏ Các đoạn thẳng nhỏ này được nối với nhau tại các điểm trung gian gọi là vertex và toạ độ của chúng cũng được ghi nhận trong GIS Đường trong mô hình dữ liệu vector có hướng và có độ dài Mô hình vector ghi nhận hướng của đường theo một trật tự nhất định, có thể là bắt đầu từ núti
và kết thúc là nútj
Các dữ liệu điểm dù là nút của đường hoặc là vertex (điểm trung gian) đều có mã của chúng Mã này có thể là số thứ tự được tạo nên khi ta nhập dữ liệu vector vào máy tính (bằng số hoá hoặc một phương pháp nào đó)
Khái niệm mạng lưới đường (line network): Tổ hợp các đoạn thẳng đơn giản không
chứa các thông tin liên quan đến mạng lưới và sẽ gây khó khăn trong các phân tích đường tiêu nước, hệ thống giao thông…Để có thể tạo được một cấu trúc mạng, trong đó máy tính dễ dàng xác định thứ tự liên quan giữa các đường, người ta phải tạo các quan hệ ràng buộc, chỉ ra sự liên kết giữa các đoạn thẳng Line Network là sự tổ hợp của các đoạn thẳng gắn với sự thể hiện liên tục quan hệ giữa chúng qua các điểm nút (node) Các node
Trang 7cho biết hướng và xác định góc mà mỗi đoạn cong gắn vào nút, tạo thành mối quan hệ không gian cho toàn bộ mạng lưới (topology) Hình III.8 là minh họa cho các loại đường khác nhau được thể hiện dạng vector trong GIS
Thực thể vùng (polygon entity, region or area): Vùng là một đối tượng hình học 2
chiều Đối tượng không gian dạng vùng trong mô hình vector được thể hiện là một đa giác (polygon) khép kín bởi các đường Vậy vùng là tổ hợp của đường khép kín nên toạ
độ của vùng tại ranh giới vùng chính là toạ độ của các điểm (nút hoặc vertex) nằm trong các đường hình thành nên vùng Khi có bất kỳ toạ độ nào nằm trong vùng mà không được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu vùng, GIS có thể cho phép đưa ra toạ độ của chúng bằng các modul nội suy một cách nhanh chóng và chính xác
Vùng có thể là một đa giác đơn giản hay hợp của nhiều đa giác đơn giản Do một vùng được cấu tạo từ các đa giác nên cấu trúc dữ liệu của đa giác phải ghi lại được sự hiện diện của các thành phần này và các phần tử cấu tạo nên đa giác
Mô hình dữ liệu này thích hợp trong biểu diễn dữ liệu có ranh giới rõ ràng như ranh nhà, ranh đường…
Hình III.8: Quan hệ hình học và hình học topo của dữ liệu vector
Ví dụ dưới đây minh họa cách thể hiện các dạng đối tượng dưới dạng dữ liệu vector Với các cặp tọa độ (x,y) ta có thể biểu diễn điểm, đường và polygons dưới dạng
Trang 8danh sách các tọa độ thay cho sơ đồ vẽ Trong hình ví dụ dưới đây, cặp tọa độ (3,2) biểu diễn cho một điểm vị trí (nhà); Các cặp (1,5) (3,5) (5,7) (8,8) và (11,7) biểu diễn cho đối tượng đường (đường giao thông); và các cặp (6,5) (7,4) (9,5) (11,3) (8,2) (5,3)
và (6,5) biểu diễn cho polygon (hồ) Tọa độ đầu và cuối của polygon là giống nhau; polygon luôn luôn khép kín Danh sách của các tọa độ này cho ta thấy các đối tượng địa
lý được lưu trữ trong máy tính dưới dạng các tập hợp tọa độ (x,y)
Hình III.9: Mô hình dữ liệu Vector Cấu trúc vector có ưu điểm là vị trí của các đối tượng được định vị chính xác (nhất là các đối tượng điểm, đường và đường bao) Cấu trúc này giúp cho người sử dụng
dễ dàng biên tập bản đồ, chỉnh sửa, in ấn Tuy nhiên cấu trúc này có nhược điểm là phức tạp khi thực hiện các phép chồng xếp bản đồ
I.3/ So sánh mô hình Raster và Vector:
Cấu trúc lưu trữ dữ liệu không gian trong một phần mềm GIS có thể bao gồm thông tin topo khi cần thiết Thông tin về topo không những chỉ diễn tả vị trí của vật thể trong không gian mà còn chỉ ra những quan hệ không gian của vật thể với các vật thể cận
kề nó Những thông tin topo đặc biệt quan trọng đối với rất nhiều loại phân tích dữ liệu không gian như tự động nhận biết lỗi nhập dữ liệu, tạo cửa sổ biểu thị vật thể và giao diện trên màn hình, ứng dụng tính toán mạng lưới, xác định nếu một điểm có nằm trong một vùng, tạo vùng đệm, chồng xếp bản đồ, và các xử lý cắt bản đồ khác Tuy vậy, nếu ứng dụng phần mềm không đòi hỏi các thông tin chi tiết về quan hệ không gian thì có thể lưu trữ các thông tin topo chỉ làm phức tạp hóa không cần thiết cấu trúc của cơ sở dữ liệu Điều này chỉ làm cho các động tác quản lý như cập nhật, mở rộng CSDL trở nên kém hiệu quả Ví dụ chỉ cần cấu trúc dữ liệu vector không bao gồm thông tin topo, cho công việc thể hiện bản đồ lên màn hình và in ấn bản đồ
Mô hình raster có ưu điểm là có cấu trúc dữ liệu đơn giản, dễ dàng chồng xếp các
dữ liệu, cho nhiều khả năng biến động không gian ở mức cao, hiệu quả trong việc tăng dầy và thể hiện các dạng ảnh số Nhược điểm của mô hình là lưu trữ và nén dữ liệu gặp khó khăn, khó thể hiện các mối quan hệ vị trí không gian, chất lượng ảnh không cao Muốn khắc phục điều này thường phải tăng độ phân giải, giảm kích thước của ô vuông cơ
sở, pixel (tăng số lượng pixel) nhưng điều đó lại tăng khối lượng dữ liệu lưu trữ và tất nhiên ảnh hưởng lớn đến hiệu suất việc quản lý dữ liệu lưu trữ và công tác phân tích sau này
Mô hình vector có ưu điểm hơn hẳn raster trong việc lưu trữ dữ liệu Có hiệu quả cao khi phân tích dữ liệu với mô hình topo ví dụ như trong phân tích mô hình mạng
Trang 9(network analysis) Hình ảnh bản đồ có chất lượng cao khi in ấn và thể hiện trên màn hình Tuy vậy mô hình vector có cấu trúc dữ liệu phức tạp gây trở ngại trong các phân tích dữ liệu như chồng xếp và xử lý cắt bản đồ
Bảng III.1: Ưu điểm và nhược điểm của hai mô hình dữ liệu không gian Raster và Vector
Raster - Cấu trúc dữ liệu đơn giản
- Thích hợp để biểu diễn dữ liệu viễn thám hoặc dữ liệu quét
- Chồng lớp được dễ dàng và hiệu quả
- Phương pháp phân tích không gian đơn giản và hiệu quả
- Chiếm nhiều bộ nhớ
- Tuỳ thuộc và kích thước ô, hình ảnh xuất có thể không đẹp
- Khó khăn trong việc thể hiện mối quan hệ topology
Vector - Cấu trúc dữ liệu nén, chiếm ít bộ
nhớ
- Topology được duy trì, nên rất tiện lợi trong các bài toán phân tích không gian
- Hình ảnh xuất giống với bản đồ
vẽ tay
- Cấu trúc dữ liệu phức tạp
- Không phù hợp đối với dữ liệu viễn thám
- Phương pháp phân tích không gian phức tạp
- Chồng lớp tốn nhiều thời gian Bảng III.2: So sánh mô hình dữ liệu dạng vetor và raster
Trong phân tích không gian, tuỳ theo kinh nghiệm và thói quen của các chuyên gia GIS mà lựa chọn mô hình vector hoặc raster Đa số các hệ GIS được dùng luôn kết hợp
cả hai mô hình raster và vector trong nghiên cứu tổ hợp các nguồn dữ liệu từ số hoá bản
đồ và nguồn ảnh raster từ viễn thám cũng như quét ảnh
Trong ứng dụng, hai mô hình trên thường sử dụng đồng thời Các phép chuyển đổi
tự động từ vector sang raster và ngược lại được thiết kế trong các hệ phần mềm GIS Sự chuyển đổi này giúp cho quá trình nhập dữ liệu hết sức nhanh chóng Ví dụ, một bản đồ địa hình có thể được quét trên máy quét và dữ liệu thu được ở dạng raster Dữ liệu này sẽ được chuyển sang dạng vector cho các đối tượng không gian là đường đồng mức Quá
Trang 10trình này gọi là quá trình số hoá tự động Trong quá trình số hoá, hai bước quét và chuyển đổi này yêu cầu phải thực hành những trình tự thủ thuật nghiêm ngặt sao cho các dữ liệu đường đồng mức được chuyển đổi riêng, loại bỏ được các số ghi, các tên địa danh và các đối tượng không gian không phải là đường
II Dữ liệu thuộc tính:
Dữ liệu thuộc tính là các thông tin đi kèm với các dữ liệu không gian chỉ ra các tính chất đặc trưng cho mỗi đối tượng điểm, đường và vùng trên bản đồ Dữ liệu thuộc
tính dùng để mô tả đặc điểm của đối tượng Dữ liệu thuộc tính có thể là định tính - mô tả chất lượng (qualitative) hay là định lượng (quantative)
Trong ngành môi trường và tài nguyên, người ta phân các thông tin thuộc tính thành các nhóm sau:
- Thông tin cơ sở hạ tầng: gồm các thông tin bổ trợ cho các lớp dữ liệu không gian
như thông tin về các loại đường giao thông, hệ thống thủy lợi, thủy văn, về mạng lưới điện, mạng lưới cấp thoát nước, về các công trình cơ sở hạ tầng…
- Thông tin kinh tế văn hóa xã hội: các thông tin về mạng lưới hành chính, dân cư,
phát triển kinh tế, đầu tư giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng…
- Thông tin môi trường: các thông tin về ô nhiễm môi trường, về hạn hán ngập lụt,
sâu bệnh, về các thảm họa, rủi ro do thiên nhiên gây ra
- Thông tin đất đai, địa chính: các thông tin về tài nguyên đất, hệ thống thửa đất,
đăng ký đất đai, hệ thống thuế đất, định giá đất và tài sản, hệ thống pháp luật đất đai…
Các thông tin thuộc tính thường được lưu trữ dưới dạng các tệp tin dữ liệu của các
hệ quản trị dữ liệu như DBASE, FOXPRO, EXCELS, ACCES, ORACLE Thông thường các phần mềm GIS như MAPINFO, ARCINFO, ARCVIEW, MGE, ILLIWIS thường có thêm phần chức năng quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính dưới dạng các tệp *.DAT, *.DBF
II.1/ Cấu trúc quan hệ giữa dữ liệu không gian và thuộc tính:
Để quản lý dữ liệu thuộc tính của các đối tượng địa lý trong CSDL, GIS đã sử dụng phương pháp gán các giá trị thuộc tính cho các đối tượng thông qua các bảng số liệu Mỗi bản ghi (record) đặc trưng cho một đối tượng địa lý (đối tượng không gian), mỗi cột của bảng tương ứng với một kiểu thuộc tính của đối tượng đó
Một bảng dữ liệu thuộc tính của các đối tượng không gian bao gồm: các hàng (mẩu tin – Record) và các cột (Field) Các cột được gọi là các trường dữ liệu, mỗi trường là một thuộc tính của một đối tượng không gian Các trường có kích thước khác nhau về độ lớn của dữ liệu và về bản chất của trường Một mẩu tin (row/record) trong bảng dữ liệu sẽ
mô tả thuộc tính của một đối tượng không gian