Khách hàng biết đến thông tin nhãn hàng và tiêu thụ sản phẩm thương hiệu của doanh nghiệp được hiệu quả hay không là do hệ thống kênh phân phối, phân phối hàng hóa phù hợp từng vùng của
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
BÁO CÁO ĐỀ TÀI MÔN QUẢN TRỊ MARKETING
HOẠCH ĐỊNH VÀ QUẢN TRỊ KÊNH PHÂN PHỐI CHO CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN KỸ NGHỆ SÚC SẢN VISSAN
TP HỒ CHÍ MINH- NĂM 2012
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH- MARKETING
BÁO CÁO ĐỀ TÀI MÔN QUẢN TRỊ MARKETING
HOẠCH ĐỊNH VÀ QUẢN TRỊ KÊNH PHÂN PHỐI CHO CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN KỸ
LÊ MINH TRANG
VÕ THỊ TRÀ MY ĐẶNG THỊ THU HỒNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tổ chức và quản lý hoạt động tiêu thụ sản phẩm là một chức năng quản trị quan trọng của các doanh nghiệp Nội dung cốt lõi của hoạt động tiêu thụ sản phẩm là tổ chức và quản lý mạng lưới kênh phân phối của các doanh nghiệp trên thị trường Kênh phân phối là một hệ thống các mối quan hệ giữa các tổ chức liên quan với nhau trong quá trình mua và bán hàng hoá
Các doanh nghiệp cần phải biết sử dụng các kênh phân phối như là một công
cụ quan trọng giúp họ thành công trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, việc tạo dựng được lợi thế cạnh tranh ngày càng khó, duy trì lợi thế cạnh tranh lâu dài càng khó khăn nhiều hơn Các biện pháp về sản phẩm, khuyến mại, quảng cáo, cắt giảm giá bán…chỉ có lợi thế ngắn hạn bởi các doanh nghiệp khác dễ dàng và nhanh chóng làm theo Việc tập trung phát triển mạng lưới kênh tiêu thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh dài hạn Bởi vì, kênh phân phối là một tập hợp các quan hệ bên ngoài giữa các doanh nghiệp độc lập trong kinh doanh Tạo lập và phát triển hệ thống kênh phân phối đòi hỏi thời gian, trí tuệ, tiền của, sức lực….nên các doanh nghiệp
khác không dễ dàng gì làm theo
Vì vậy, chìa khóa cho các doanh nghiệp có thể đứng vững trong môi trường kinh doanh hiện nay chính là việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kênh phân phối Khách hàng biết đến thông tin nhãn hàng và tiêu thụ sản phẩm thương hiệu của doanh nghiệp được hiệu quả hay không là do hệ thống kênh phân phối, phân phối hàng hóa phù hợp từng vùng của thị trường, độ bao phủ sản phẩm một cách tốt nhất và thực hiện đúng chiến lược phân phối sản phẩm của doanh nghiệp.Nhận thấy tầm quan trọng của hoạch định và quản trị kênh phân phối của doanh nghiệp nên nhóm thực hiện đề tài: “ Hoạch định và quản trị kênh phân phối cho công ty TNHH VISSAN”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 5- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng hệ thống kênh phân phối hiện nay của công ty đang áp dụng.
- Dựa trên kiến thức đã học kết hợp với tìm hiểu trong thực tế, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra một số giải pháp, kiến nghị giúp công ty phát huy các thành công đã đạt được, khắc phục những mặt còn tồn tại, tận dụng thời cơ đẩy mạnh phát triển hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm, tạo sự phát triển bền vững trong tương lai
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống tiêu thụ tại Công Ty TNHH Một Thành Viên Kỹ Nghệ Súc Sản VISSAN
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đề tài kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh
5 KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Phần mở đầu
Chương 1: cơ sở lý luận về hệ thống kênh phân phối
Chương 2: phân tích thực trạng kênh phân phối và vài nét về công ty vissanChương 3: giải pháp
Phần kết luận
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan về kênh phân phối
1.1.1 Khái niệm về kênh phân phối
Kênh phân phối là một tập hợp các tổ chức mà qua đó người bán thực hiện bán sản phẩm cho người sử dụng hoặc người tiêu dùng cuối cùng Nói cách khác, kênh phân phối là một tập hợp các mối quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia và quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Các kênh phân phối tạo nên dòng chảy hàng hoá
và dịch vụ từ người sản xuất hoặc nhập khẩu qua hoặc không qua các trung gian thương mại để tới người tiêu dùng cuối cùng (cá nhân và tổ chức)
Tham gia vào kênh phân phối có hai nhóm tổ chức và cá nhân
• Nhóm thứ nhất là các thành viên chính thức của kênh, những người trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán và chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động của hệ thống Họ bao gồm: nhà sản xuất hay nhà nhập khẩu; các trung gian thương mại bao gồm những nhà bán buôn, nhà bán lẻ; những người tiêu dùng cuối cùng
• Nhóm thứ hai bao gồm các tổ chức bổ trợ, những người này cung cấp các dịch vụ marketing chuyên môn hoá cho các thành viên trong kênh diễn ra
dễ dàng hơn Họ không chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động cuối cùng của hệ thống kênh Đó là những ngân hàng, công ty tài chính, công ty vận tải, công ty kho, công ty bảo hiểm, công ty nghiên cứu thị trường…
1.1.2 Các loại trung gian thương mại chính trong kênh
- Người trung gian: là một công ty kinh doanh độc lập hoạt động nối giữa người sản xuất và các khách hàng cuối cùng hoặc những người mua công nghiệp
- Người bán buôn hàng hoá thực sự: là loại trung gian mua hàng trả tiền ngay và sở hữu hàng hoá
- Đại lý: là người kênh doanh đàm phán việc mua, bán nhưng không sở hữu hàng hoá kinh doanh
- Người bán buôn: là tổ chức kinh doanh chủ yếu thực hiện việc mua, sở hữu lưu kho và vận chuyển hàng hoá với số lượng lớn, và bán lại hàng hoá
Trang 7cho bán lẻ hoặc các khách hàng công nghiệp hay những người sử dụng để kinh doanh.
- Người bán lẻ: những người kinh doanh chủ yếu hàng hoá cho ngươì tiêu dung cuối cùng
- Người môi giới: là một trung gian phục vụ như là một người dẫn mối cho người mua hoặc người bán, được xem như không có rủi ro về sở hữu hàng hoá thường không quan tâm tới sản phẩm về vật chất và không được xem như là một đại diện lâu dài của cả người mua lẫn người bán
- Đại lý bán: là một thành viên kênh độc lập, có thể là cá nhân hay tổ chức, người có nhiệm vụ trong việc bán sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty sản xuất nhưng không sở hữu sản phẩm được bán
- Nhà phân phối: là một trung gian bán buôn, đặc biệt là trong kênh phân phối lựa chọn hoặc phân phối độc quyền cho hàng hoá công nghiệp trong
đó nhà sản xuất mong đợi các trợ giúp xúc tiến; thường được đồng nghĩa với nhà bán buôn
- Đại lý bổ trợ: là một công ty kinh doanh cung cấp các dịch vụ phân phối chuyên môn hoá ngoài các nhiệm vụ mua, bán, chuyển quyền sở hữu (ví
dụ như các công ty vận tải, các nhà kho…)
1.1.3 Những chức năng marketing được thực hiện trong kênh
phân phối
- Mua: việc mua hàng hoá của người bán để sử dụng hoặc bán lại
- Bán: thực hiện bán sản phẩm tới người tiêu dung cuối cùng hay những người mua công nghiệp
- Phân loại: là chức năng được các trung gian thực hiện để làm giảm đi sự khác biệt giữa các loại hàng hoá hoặc dịch vụ do người sản xuất tạo ra và những loại mà khách hàng có nhu cầu chức năng này bao gồm 4 quá trình khác nhau: phân loại, taaph hợp, phân bổ và sắp xếp
- Phân loại: là quá trình chia loại hàng cung cấp không đồng nhất thành các nhóm hàng tương đối đồng nhất
- Tâp hợp: là quá trình đưa những mặt hàng tương tự từ một số nguồn tập trung lại thành nguồn cung cấp đồng nhất lớn hơn
- Phân bổ: là quá trình phân chia bao gồm việc chia nguồn cung cấp đồng nhất thành bộ phận nhỏ và nhỏ hơn nữa
- Sắp xếp: là quá trình phân loại bao gồm việc tạo nên một tập hợp một sản phẩm có liên quan với nhau trong sử dụng
Trang 8- Tập trung: là quá trình tập hợp hàng hoá từ nhiều nơi khác nhau về một nơi.
- Tài chính: là việc cung cấp tín dụng hoặc cấp tiền để thúc đẩy việc giao dịch
- Dự trữ: là việc duy trì hàng tồn kho và bảo vệ sản phẩm để cung cấp dịch
1.1.4 CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI
Đối với một nhà sản xuất, chính sách phân phối bao gồm đầu tiên là việc lựa chọn loại hình, số lượng các cơ sở trung gian được sử dụng để làm chức năng phân phối sản phẩm Tiếp đến là xác định các thể thức quan hệ thương mại cho phép nhà sản xuất kiểm soát được hoạt động của mạng lưới thương mại được thiết lập
Đối với nhà sản xuất chính sách phân phối đóng vai trò rất quan trọng vì các lý do sau:
hoạch hoá tập trung, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường bản thân nhà sản xuất phải tự mình lo lấy “đầu vào” “đầu ra” Tức là phải tự mình tìm kiếm thị trường, khách hàng để tiêu thụ những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
do mình sản xuất ra Tốc độ tiêu thụ sẽ quyết định nhịp độ sản xuất
được và rất khó thay đổi
Do việc phải xây dựng hệ thống phân phối thông qua các nhà phân phối trung gian mà bản than họ lại bị lôi kéo, mời chào bởi các nhà sản xuất cạnh tranh
Trang 9Trong bối cảnh đó người ta khó mà kiểm soát được tập tính và thái độ của các nhà phân phối.
1.1.5 Chức năng của hệ thống phân phối
Nhịp độ phát triển của khâu sản xuất phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình vận hành của hệ thống phân phối Nguyên tắc chung là mỗi khi sản phẩm đã được sản xuất phải luôn được cung ứng đến người tiêu dùng Tổ chức của hệ thống phân phối phải đảm bảo:
- Cung ứng đầy đủ về số lượng và chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của người mua Không được để xảy ra trường hợp thiếu hàng
- Phải cung cấp hàng đúng thời điểm mà khách hàng yêu cầu
- Phải lựa chọn hợp lý các điểm bán hàng về số lượng và chất lượng
Đối với các cá nhân và tổ chức làm công tác phân phối phảo đảm bảo các chức năng sau:
- Lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu của khách hàng (phù hợp về giá cả, chủng loại, chất lượng, …)
- Vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi bán thậm chí đến tận địa điểm mà khách hàng yêu cầu
- Dự báo biến động của thị trường
- Dự trữ hàng để thoả mãn nhu cầu trong tương lai
- Giới thiệu sản phẩm để lôi kéo sự chú ý của khách hàng
- Bán hàng và tổ chức các dịch vụ sau bán hàng
- Hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với nhà sản xuất
1.1.6 Cấu trúc của hệ thống phân phối
Hầu hết các nhà sản xuất đều làm việc với những trung gian tiếp thị để đưa sản phẩm vào thị trường Họ cố tạo được một kênh phân phối Chúng ta định
nghĩa kênh phân phối (distribution channel) như là tập hợp những cá nhân hay
những cơ sở chấp hữu (take title), hoặc hỗ trợ việc chuyển nhượng quyền sở hữu một hàng hoá hay dịch vụ nào đó, khi chuyển nó từ người sản xuất đến người tiêu dùng Tuỳ theo tính chất của sản phẩm, tiền lực của doanh nghiệp mà có thể chọn một trong những kiểu cấu trúc hệ thống phân phối sau:
Trang 10a) Kênh phân phối trực tiếp (kênh zero cấp)
Nhà phân phối trực tiếp bán sản phẩm của mình đến tận tay khách hàng
mà không qua các tổ chức trung gian Ba cách bán trực tiếp chủ yếu là:
+ Bán đến từng nhà
+ Bán theo thư đặt hàng
+ Bán trực tiếp tại cửa tiệm của nhà sản xuất
Loại cấu trúc này thường áp dụng cho những loại hình sản phẩm công nghiệp đặc biệt như máy phát điện, máy biến thế, đầu tầu xe lửa…
b) Kênh phân phối ngắn (kênh một cấp)
Chỉ có một trung gian bán hàng Trong thị trường hàng tiêu dùng, trung gian này thường là những nhà bán lẻ, trong thị trường hàng kỹ nghệ, đó thường là nhà môi giới hay đại lý bán hàng
Nói chung loại hình này cũng thường áp dụng cho các sản phẩm công nghiệp Số lượng khách hàng ít, không cần phải tổ chức qua nhiều cấp trung gian
c) Kênh phân phối dài
- Kênh hai cấp: Có hai cấp trung gian Trong thị trường hàng tiêu dùng, đó
thường là nhà bán sỉ và bán lẻ Trong thị trường hàng kỹ nghệ thì đó có thể là bộ phận phân phối của công ty và các nhà buôn
- Kênh ba cấp: có ba cấp trung gian Trong một số nghành, chen giữa người
bán sỉ và bán lẻ là một người bán buôn (a jobber) Người bán buôn mua từ người bán sỉ bán lại cho những người bán lẻ nhỏ hơn, vì thường người bán sỉ không giao dịch với những người bán lẻ quá nhỏ
Cũng có những đường dây phân phối cấp cao hơn những không thông dụng lắm
1.2 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA KÊNH
1.2.1 Hoạt động của kênh
Một kênh phân phối là sự liên kết các cơ sở khác nhau lại vì lợi ích chung Mỗi thành viên trong đường dây đều dùa vào những thành viên khác Mỗi thành viên giữ một vai trò riêng và chuyên thực hiện một hay nhiều chức năng
Trang 11Một cách lý tưởng, vì sự thành công của cá nhân các thành viên tuỳ thuộc vào thành công của cả đường dây, nên mọi cơ sở trong đường dây đều phải hiểu
và chấp nhận phần việc riêng của mình phối hợp mục tiêu và hoạt động của mình với mục tiêu và hoạt động của các thành viên khác, và phối hợp để hoàn thành mục tiêu của cả đường dây
Mỗi cơ sở phải xem xét hoạt động của mình tác động thế nào đến sự hoạt động của cả đường dây Các nhà sản xuất, nhà bán sỉ và bán lẻ phải bổ xung nhu cầu của nhau và phối hợp để tạo được nhiều lợi nhuận hơn so với khi hoạt động một mình Bằng sự hợp tác, họ có thể nắm bắt, cung ứng và thoả mãn thị trường chủ đích tốt hơn
Nhưng cá nhân các thành viên thường không có cái nhìn toàn cục như thế Họ thường quan tâm nhiều hơn tới những mục tiêu ngắn hạn của mình và những giao dịch đến những cơ sở kế cận trong đường dây Trong khi việc hợp tác để đạt những mục tiêu chung đôi khi lại có nghĩa là phải từ bỏ những mục tiêu cá nhân, điều này là không thể có được Tuy rằng các thành viên phụ thuộc lẫn nhau, nhưng họ vẫn thường hoạt động độc lập vì những lợi Ých ngắn hạn tốt nhất của
họ Họ thường không đồng ý về vai trò mỗi thành viên phải làm, về vấn đề ai phải làm gì và nhận được lợi Ých gì Những bất đồng về vai trò và mục tiêu nh thế dẫn đến xung đột trong kênh
Xung đột chiều ngang là những xung đột giữa các cơ sở cùng cấp của kênh
Việc định giá khác nhau giữa các cơ sở cùng cấp, sự khác nhau về mức độ quảng cáo còng nh việc lấn chiếm lãnh thổ đã được phân sẽ gây ra những xung đột giữa chính các cơ sở cùng cấp của một kênh
Xung đột chiều dọc thường thấy hơn và xẩy ra giữa các cấp khác nhau trong
cùng đường dây (kênh) Những xung đột có thể xẩy ra khi công ty muốn cưỡng chế các nhà buôn về việc định giá, các dịch vụ và quảng cáo Xung đột cũng có thể do công ty qua mặt nhà bán sỉ để giao hàng tận nơi cho những nhà bán lẻ lớn
Để toàn đường dây hoạt động tốt, cần chuyên biệt hoá vai trò của từng thành viên, và các xung đột phải được điều giải hữu hiệu Sự hợp tác, chuyên biệt hoá vai trò và điều giải xung đột trong đường dây chỉ thực hiện được với một cấp lãnh đạo vững mạnh Đường dây sẽ hoạt động tốt hơn nếu có một cơ sở hay một guồng
Trang 12máy điều hành có quyền lực phân chia lực lượng hợp lý trong đường dây, có quyền phân nhiệm vụ và điều giải xung đột.
1.3 NHỮNG QUYẾT ĐỊNH VỀ LỰA CHỌN VÀ QUẢN TRỊ KÊNH
1.3.1 Các tình huống và các bước của quá trình lựa chọn kênh
Các quyết định về việc lùa chọn kênh phân phối và các tổ chức trung gian được đặt ra cho các nhà sản xuất trong các trường hợp sau:
thiện, thời gian làm việc tăng, cấu trúc dân cư thay đổi )
đổi hoặc khi xuất hiện những kênh phân phối mới
chọn hệ thống phân phối
những kênh phân phối khác so với hệ thống thông thường
Việc nghiên cứu lùa chọn các kênh phân phối được tiến hành chia làm 4 giai đoạn:
b) Tiếp theo, đối với mỗi một loại kênh phải tiến hành tính toán lùa chọn số lượng các cơ sở tham gia vào việc phân phối sản phẩm Việc tính toán này phải được thực hiện theo từng vùng địa lý trên nguyên tắc đảm bảo phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng nhưng phải tránh sự cạnh tranh đối đầu trực tiếp giữa các nhà phân phối của chính doanh nghiệp sản xuất
nhà phân phối sản phẩm của doanh nghiệp
d) Xác định phương thức, quy trình và kế hoạch phân phối sản phẩm
Trang 131.3.2 Lựa chọn danh sách các nhà phân phối:
Để có được một hệ thống phân phối có hiệu quả, doanh nghiệp cần thiết phải tiến hành lựa chọn danh sách các nhà phân phối mà họ muốn hợp tác Sau đó đối với mỗi một kênh phân phối cần phải tiến hành theo các bước sau:
b) Xác định số lượng các nhà phân phối cần có cho từng khu vực
thương mại của nhà sản xuất
Bảng 1: tiêu chuẩn đánh giá, lựa chọn 1 kênh phân phối:
Các tiêu chuẩn đánh giá, lựa chọn
Hình ảnh Hình ảnh của kênh phân phối liệu có tác động tích cực
đến hình ảnh của sản phẩm?
Mục tiêu Kênh phân phối có phù hợp với thãi quen mua bán
của khách hàng
Thời hạn Thời gian cần thiết để phát triển kênh phân phối liệu
có phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp?
Khả năng sinh lãi Việc sử dụng kênh phân phối liệu có cho phép doanh
nghiệp đạt mục tiêu lợi nhuận đề ra?
Khả năng kiểm soát Liệu doanh nghiệp có khả năng kiểm soát được sự
hoạt động của kênh phân phối?
Tính năng động Kênh phân phối có được tính năng động cần thiết?
Tính tương thích Kênh phân phối mới liệu có tác động thế nào đến hệ
thống phân phối hiện hành của doanh nghiệp?
Sự khác biệt Kênh phân phối mới liệu có điểm nào khác biệt với
các ý tưởng đang được các đổi thủ cạnh tranh tìm
Trang 141.3.3 Kích thích các thành viên của kênh
Giới trung gian phải được thường xuyên kích thích để làm đến mức tốt nhất Các điều khoản khiến họ đồng ý tham gia kênh cũng là một vài kích thích, nhưng cũng cần bổ xung bằng việc thường xuyên giám sát và khích lệ của nhà sản xuất Nhà sản xuất không phải chỉ bán hàng qua các trung gian mà còn bán hàng cho các trung gian nữa
Việc kích thích các thành viên của kênh làm việc thật tốt phải bắt đầu bằng nỗ lực của nhà sản xuất để hiểu được nhu cầu và ước muốn của các trung gian
Những đề nghị được liệt kê dưới đây nhằm giúp ta hiểu hơn về giới trung gian:Giới trung gian không phải là một khâu được thuê mướn nằm trong dây truyền
do nhà sản xuất tạo ra, mà có thể là một thị trường độc lập Sau một số thử nghiệm, họ đã ổn định với một kiểu hoạt động nào đó, họ thực hiện các chức năng
mà họ cho là tất yếu theo chiều hướng các mục tiêu riêng của họ, họ định ra những chính sách cho mình ở bất cứ chỗ nào họ cảm thấy được tự do làm điều đó
Các trung gian cố gắng ghép mọi món hàng họ bán vào một chùm, một nhóm mà
họ có thể bán chung cho các khách hàng Nỗ lực bán hàng của họ trước hết là bán
cả một nhóm hàng hơn là từng món hàng riêng lẻ
Trừ khi có khuyến khích, còn không thường thì trung gian không ghi chép việc bán từng nhãn hàng một Những thông tin hữu dụng trong phát triển sản phẩm, định giá, làm bao bì hay hoạch định quảng bá sẽ bị chìm mất trong hệ thống sổ sách thiếu tiêu chuẩn của giới trung gian, và đôi khi còn giấu giếm không cho các nhà sản xuất biết tới
1.3.4 Đánh giá các thành viên của kênh
Nhà sản xuất phải định kỳ đánh giá hoạt động của người trung gian theo những tiêu chuẩn như định mức doanh số đạt được, mức độ lưu kho trung bình, thời gian giao hàng cho khách, cách sử lý hàng hoá thất thoát hoặc hư háng, mức hợp tác
Trang 15trong các trương trình quảng cáo và huấn luyện của công ty, và những dịch vụ họ phải làm cho khách.
Nhà sản xuất thường đặt định mức doanh sè cho trung gian Sau mỗi thời kỳ, nhà sản xuất có thể cho lưu hành một danh sách mức doanh số đạt được của từng nhà trung gian Danh sách này có thể kích thích người trung gian ở hạng thấp hơn cố gắng vươn lên, còn người trung gian có thứ hạng cao thì cố gằng duy trì và tăng hơn nữa Mức doanh số đạt được của các trung gian có thể được so sánh với mức
họ đã đạt trong kỳ trước đó Tỷ lệ tăng tiến bình của cả nhóm có thể được dùng như một tiêu chuẩn
Trang 16
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN KỸ NGHỆ SÚC SẢN VISSAN
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Từ năm 1970, VISSAN được khởi công xây dựng bằng nguồn vốn của Chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Đức, khánh thành ngày 18/5/1974, là một đơn vị kinh tế của chính quyền Sài Gòn cũ Vào thời điểm đó, VISSAN có 3 dây chuyền giết mổ heo với công suất 2.400 con/6 giờ; 2 dây chuyền giết mổ trâu, bò; hệ thống khu tồn trữ thú sống rộng lớn và hệ thống trữ lạnh; v.v… Toàn bộ máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình giết mổ gia súc của VISSAN đều do Tây Đức và Đan Mạch cung cấp, lắp ráp và được đánh giá là quy mô và hiện đại
Sau 30/4/1975, VISSAN được chuyển thành công ty quốc doanh với tên công
ty Thực Phẩm I chịu sự quản lý hoàn toàn của Nhà nước, trực tiếp là Sở Thương Nghiệp thành phố (nay là Sở Thương Mại) Các đường dây giết mổ của VISSAN được tiếp tục hoạt động, đảm bảo cung cấp trên 90% nhu cầu thịt heo của thành phố Hồ Chí Minh (1975 – 1985) và xuất khẩu qua các nước thuộc Liên Xô cũ.Năm 1989, công ty được đổi lại tên cũ là công ty Việt Nam Kỹ Nghệ Súc Sản.Năm 1992, việc xuất khẩu qua các nước bị ùn tắc do Liên Xô tan rã, VISSAN quay sang thị trường nội địa Ngoài việc cung cấp thịt tươi sống, VISSAN còn cung cấp các mặt hàng chế biến truyền thống, sau đó công ty tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất Trong quá trình phát triển, công ty đã nhập các dây chuyền chế biến của Pháp, Nhật, Tây Ban Nha, Đức và một số nước thuộc khu vực châu Á
Tháng 9/2005, công ty Rau Quả thành phố được sáp nhập vào công ty VISSAN, VISSAN có thêm chức năng kinh doanh rau, củ, quả tươi và rau, củ, quả chế biến
Trang 17Ngày 21/9/2006, công ty được chuyển đổi tên thành công ty TNHH Một Thành Viên Việt Nam Kỹ Nghệ Súc Sản (VISSAN), Tổng công ty Thương Mại Sài Gòn(Satra) là đại diện chủ sở hữu công ty theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty VISSAN.
Như vậy, Công ty VISSAN là một doanh nghiệp Nhà nước do Tổng công ty Thương Mại Sài Gòn là đại diện chủ sở hữu, sản xuất – kinh doanh tại thị trường nội địa và xuất khẩu các sản phẩm thịt tươi sống và chế biến từ thịt gia súc, gia cầm, các mặt hàng hải sản và mặt hàng rau, củ, quả
Công ty được thành lập theo Quyết định số 4265/QĐ-UBND ngày 21/9/2006 của Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh về việc chuyển đổi công ty Nhà nước công ty Việt Nam Kỹ Nghệ Súc Sản (VISSAN) – Quyết định số 213/QĐ-UB ngày 09/12/1992 thành công ty TNHH Một Thành Viên Việt Nam Kỹ Nghệ Súc Sản (VISSAN) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4104000199 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/10/2006 (được chuyển đổi
từ doanh nghiệp Nhà nước – công ty VISSAN, số đăng ký kinh doanh: 103261,
do Trọng Tài Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/12/1992)
2.1.2 Thông tin cơ bản
Công ty tên đầy đủ là: Công ty TNHH Một Thành Viên Việt Nam Kỹ Nghệ Súc
Sản
Tên giao dịch ngoài nước: VISSAN LIMITED COMPANY
Tên viết tắt: VISSAN
Tổng giám đốc: Văn Đức Mười
Số Tài khoản: 102010000150518 tại Ngân Hàng Công Thương, Công ty 7 - Tp HCM - Việt Nam
Địa chỉ: 420 Nơ Trang Long, Phường 13, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 182.1.3 Ngành nghề kinh doanh
- Kinh doanh, sản xuất chế biến: thịt heo, thịt trâu bò, thịt gia cầm, hải sản, thịt chế biến, thịt hộp, trứng gà, vịt
-Sản phẩm Xúc xích thanh trùng theo công nghệ của Nhật Bản
- Kinh doanh các mặt hàng công nghệ phẩm và tiêu dùng khác
- Sản xuất kinh doanh heo giống, heo thịt, bò giống, bò thịt
- Sản xuất, kinh doanh thức ăn gia súc; dịch vụ kỹ thuật về chăn nuôi heo, bò
- Kinh doanh ăn uống
- Kinh doanh nước trái cây, rau củ quả, lương thực (các loại bột ngũ cốc), lương thực chế biến (mì ăn liền)
- Sản xuất, kinh doanh rau quả các loại, rau quả chế biến, các loại gia vị và hàng nông sản, trồng trọt, mua bán vải, sợi các loại và nguyên phụ liệu ngành vải sợi may mặc, hàng kim khí điện máy, máy gia dụng và công nghiệp, vật tư, phânbón
Trang 19Không chỉ cung cấp cho thị trường nội địa mà còn xuất khẩu sang các nước trong khu vực Hoàn chỉnh hệ thống từ vùng chăn nuôi đến cơ sở giết mổ, chế biến, phân phối; giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực thực phẩm
Khai thác nguồn lực vốn, công nghệ, kinh nghiệm từ mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước dưới hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết nhằm phát triển đồng bộ, xây dựng chuỗi thực phẩm khép kín, từ vùng nguyên liệu đến chế biến, cung cấp thực phẩm an toàn chất lượng cao, có thể giám sát và truy nguyên nguồn gốc Thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường thực phẩm, nâng cao năng lực sản xuất, chế biến sản phẩm xuất khẩu và phát triển kênh phân phối Liên kết đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển của Vissan giai đoạn 2010-2020
- Đa dạng hóa các dòng sản phẩm phục vụ bữa ăn hằng ngày của mọi gia đình
- Tổ chức kênh phân phối thuận lợi, vệ sinh bảo đảm phân phối thực phẩm đến tận tay người tiêu dùng với giá ổn định
- Luôn cải tiến, đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm
- Phát triển sản phẩm xuất khẩu
2.1.5.4 Phương hướng tương lai:
Với chiến lược mở rộng và phát triển không ngừng, trong thời gian tới công ty
sẽ tiếp tục phát triển thị trường nội địa, đưa sản phẩm tiếp cận thị trường thế giới
và sẵn sàng hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước trong các lãnh vực:
- Thương mại và phát triển xuất nhập khẩu
- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm chế biến từ thịt, rau củ quả; thực phẩm đóng hộp; thủy hải sản …
- Nhập khẩu và kinh doanh hương liệu, phụ gia, phụ liệu cho ngành thực phẩm chế biến
- Sản xuất và kinh doanh heo giống, heo hậu bị, heo thịt
Trang 20- Sản xuất, chế biến và kinh doanh thức ăn gia súc, các chế phẩm phục vụ chăn nuôi, dịch vụ, kỹ thuật về chăn nuôi heo
2.1.6 Các sản phẩm công ty đạt chứng nhận chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
Công ty đặt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm lên hàng đầu nên đã trang bị máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ mới cho phòng thí nghiệm đạt chứng chỉ ISO/IEC 17025 phiên bản 1999 Bên cạnh đó, Vissan cũng đạt những chứng chỉ:
• Chứng chỉ quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000
• Chứng nhận tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm HACCP
• Liên tục nhiều năm liền được Người Tiêu Dùng bình chọn là “ Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” (từ năm 1997 đến nay) do Báo Đại Đoàn Kết tổ chức
• Xếp thứ nhất trong ngành thực phẩm chế biến và xếp thứ 15 trong 100 thương hiệu mạnh của cả nước do Tạp chí Sàigòn Tiếp Thị điều tra công
bố
• Hầu hết hơn 100 sản phẩm VISSAN đều đạt các cúp Vàng, Bạc, Huy Chương Hội chợ, Hội thi Thực phẩm
2.1.7 Các danh hiệu
- Huân chương Lao động hạng III, hạng II, hạng I
- 14 năm liền đạt “Hàng Việt Nam chất lượng cao” (từ năm 1997 đến 2010)
- Được xếp trong danh sách 500 doanh nghiệp có quy mô lớn tại Việt Nam (VNR 500)
- Cúp vàng Thương hiệu Việt
- Danh hiệu Thương hiệu mạnh
- Được trao tặng giải thưởng Sao Vàng đất Việt
- Doanh nghiệp tiêu biểu
- Doanh nghiệp có hệ thống bán lẻ và phân phối tốt nhất năm 2008
- 5 năm liền được UBND TPHCM tặng bằng khen về hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh
- Được UBND TPHCM tặng bằng khen hằng năm về thành tích phục vụ Tết Nguyên đán
2.1.8 Doanh thu của vissan
Trong năm 2011, tổng sản lượng bán ra của Vissan đạt hơn 56.000 tấn, trong đó, thực phẩm chế biến đạt hơn 19.000 tấn, thịt tươi sống đạt 22.200 tấn, rau củ quả
Trang 21đạt 14.100 tấn, đưa doanh thu bán hàng năm 2011 của Vissan đạt 4,4 tỷ đồng, tăng 32% so với cùng kỳ 2010 Thu nhập bình quân của công nhân tăng đều theo các năm, hiện ở mức 8,5 triệu đồng/người/tháng
2.1.9 Phân khúc thị trường
Vissan phân khúc thị trường dựa theo địa lý:
Thị trường mục tiêu của công ty lâu nay là thị trường miền Nam, tiêu biểu là tp
Hồ Chí Minh; trong đó lại chia ra khu vực thành thành thị và nông thôn
Với sự phát triển lớn mạnh, cùng với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường: Năm 1997, Công ty Hà Nội của công ty Việt Nam kỹ nghệ súc sản Vissan chính thức hoạt động đánh dấu một mốc quan trọng cho việc phát triển các sản phẩm của công ty tại các thị trường miền Bắc
Tiếp đó, từ năm 2009, Vissan tập trung đầu tư cho phân khúc thị trường nông thôn vốn lâu nay bị “ bỏ quên” với chương trình lớn, xúc tiến thương mại về nông thônMục tiêu trong những năm tiếp theo, Vissan sẽ đưa ra nhiều sản phẩm mới, đặc biệt là phân khúc thị trường vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, nơi mà 72% người tiêu dùng đang chờ đợi sản phẩm của Vissan
Thị phần của Vissan tăng mạnh, chiếm 35% thực phẩm chế biến của cả nước, 30% thị phần thực phẩm tươi sống tại TP.HCM (số liệu tháng 2/2011)
2.2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐỒ HỘP VIỆT NAM
2.2.1 Cung thị trường đồ hộp:
2.2.1.1 Thị trường đồ hộp quá khứ:
Dù thực phẩm đóng hộp đã đi vào đời sống nhiều nước trên thế giới từ rất lâu nhưng ở Việt Nam, mãi đến năm 1954 ta được Liên Xô và các nước giúp đỡ xây dựng một số cơ sở chế biến đồ hộp tại miền Bắc Năm 1957, nhà máy cá hộp Hạ Long, Hải Phòng được xây dựng xong Còn ở miền Nam, mãi đến những năm đầu giải phóng mới bắt đầu hình thành một số cơ sở sản xuất đồ hộp tại TPHCM, tiêu biểu là công ty kỹ nghệ súc sản – Vissan
Trang 22Dù ra đời khá muộn màng nhưng ngành công nghiệp thực phẩm đóng hộp ở Việt Nam vẫn không ngừng phát triển Ngày càng nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư các nhà máy sản xuất đồ hợp ở thị trường giàu tiềm năng này.
2.2.1.2 Thị trường hiện tại:
Thị trường đồ hộp Việt Nam trong những năm gần đây rất sôi động Với những
ưu điểm như: phong phú, dễ sử dụng và ngon miệng, tiện lợi thực phẩm đóng hộp đang trở thành lựa chọn phổ biến trong thực đơn của nhiều gia đình hiện đại, giúp người nội trợ giảm thời gian chế biến, đảm bảo an toàn thực phẩm và dinh dưỡng cho các thành viên
Hiện nay thị trường đồ hộp rất đa dạng về chủng loại, nhãn hiệu, xuất xứ; trong
đó hàng hóa trong nước ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng Thị trường
đồ hộp Việt Nam có những đặc điểm chính nổi bật:
- Những công ty có tiềm lực lớn (thương hiệu mạnh) thường chiếm lĩnh thị trường
- Doanh thu của các công ty đồ hộp đều tăng
- Số lượng các nhà sản xuất trong nước chiếm đa số nhưng năng lực sản xuất còn thấp hơn so với các nhà sản nước ngoài
Không chỉ có sản phẩm của các đại gia là Hạ Long, Vissan và Tuyền Ký Hiện
nay còn có rất nhiều lựa chọn với các nhãn hiệu như: Bảo Long, Nhật Vị, Vis, Nguyên Nguyên, APT, Bảo Long, Wonderfarm (sản xuất tại Việt Nam), một số thương hiệu nước ngoài như Saupiquet Grand jury, Libby’s, Hénaf…
Nhìn chung, đồ hộp nội có giá chỉ bằng 2/3 đến 1/2 so với hàng nhập ngoại cùng trọng lượng, chất lượng không thua kém và chủng loại khá phong phú Hơn 60%
đồ hộp bán tại các cửa hàng là hàng sản xuất trong nước,
Trong tương lai: Royal Foods xây thêm nhà máy đồ hộp ở Việt Nam
• Royal Foods, một doanh nghiệp hàng đầu về sản xuất rau quả và hải sản đóng hộp của Thái Lan, đang có kế hoạch sẽ đầu tư khoảng 600 triệu baht (1 USD = gần 31 baht) vào xây dựng thêm một nhà máy tại Việt Nam Royal Foods đã lập nhà máy sản xuất cá hộp đầu tiên ở tỉnh Tiền Giang của Việt Nam từ năm 2007, cung cấp cho thị trường tiêu dùng ở phía Nam Nhà máy này sản xuất trên 200 tấn cá hộp/ngày và thu hút 700 công nhân
Trang 23Nhà máy sản xuất đồ hộp thứ hai của Royal Foods sẽ đặt tại thành phố Vinh, Nghệ An Dự kiến sẽ được khởi công vào tháng 8 tới và bắt đầu đưa vào hoạt động cuối năm 2013 Các sản phẩm của nhà máy sẽ phục vụ người tiêu dùng ở miền Trung và miền Bắc Việt Nam
Động thái này diễn ra khi cơ hội kinh doanh đang hứa hẹn tăng trưởng mạnh trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ hình thành vào năm 2015
2.2.1.3 Thị phần của các công ty tham gia vào ngành
Hình 2: thị phần ngành đồ hộp
2.2.2 Cầu thị trường đồ hộp:
2.2.2.1 Nhu cầu hiện tại:
Theo ước tính của công ty Vissan, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm chế biến trong nước hiện đạt gần 200 tỉ đồng/tháng Tiêu thụ mạnh nhất chiếm hơn 40% là địa bàn TP.HCM và Hà Nội Sức mua của người tiêu dùng tăng liên tục qua mỗi năm, đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 20 - 25%/năm
Ông Nguyễn Hoài Đức, phó giám đốc công ty Vissan nhận xét: nhu cầu thị trường
về thực phẩm chế biến đang tăng trưởng nóng do áp lực từ nhịp sống đô thị Người tiêu dùng bận rộn công việc và do áp lực cạnh tranh tăng thu nhập nên tăng cường sử dụng thực phẩm chế biến để tiết kiệm thời gian Ở hệ thống Co-opmart, chỉ tính riêng thực phẩm chế biến do siêu thị tự sản xuất với 50 món mỗi ngày đã tạo cho các siêu thị nguồn thu chiếm từ 8 - 12% trên tổng doanh thu trên dưới 1 tỉ đồng mỗi ngày
Trong cuộc sống hiện đại, thực phẩm chế biến, thực phẩm đông lạnh là những sản phẩm đi liền với đời sống hàng ngày của mỗi gia đình Tiết kiệm thơi gian và tiền bạc chính là những yếu tố đầu tiên để người tiêu dùng lựa chọn thực phẩm chế biến sẵn cho thực đơn bữa ăn gia đình Thị trường thực phẩm chế biến, sơ chế của Việt Nam vài năm gần đây đang có tốc độ phát triển từ 20- 40% mỗi năm
2.2.2.2 Dự báo nhu cầu tương lai:
Trong những năm tới, cùng với sự phát triển của đời sống và xu hướng tiêu dùng mới trong xã hội, chắc chắn thị trường thực phẩm đông lạnh và chế biến sẵn
Trang 24còn có nhiều cơ hội phát triển Chính việc đưa ra nhiều mặt hàng tiện dùng có giá trị gia tăng cao, người nội trợ chỉ cần mua về hâm nóng hay thả vào nồi nấu luôn
mà không phải mất thời gian cho các công đoạn sơ chế giúp cho người phụ nữ ngày nay bớt dần áp lực, vất vả trong việc bếp núc, đang và sẽ tạo nên nhu cầu tiêu thụ rất lớn
Hình 2 : Tiêu thụ thực phẩm tai Việt Nam 2004-2013Theo dự báo của Tổ chức giám sát doanh nghiệp quốc
tế (BMI), đến năm 2013 mức tăng trưởng chung về tiêu thụ thực phẩm của Việt Nam là 12,76 tỷ USD Cùng với đó thì BMI cũng dự bóa ngành công nghiệp thực phẩm đóng hộp của Việt Nam sẽ tăng 24,2% về lượng và 48,7% về doanh số bán hàng
từ năm 2005 – 2014 Người dân ở thành phố giảm dần việc ăn ở nhà hàng và tăng mua các loại thực phẩm chế biến và đóng hộp nhằm tiết kiệm chi phí Thực phẩm chế biến và đóng hộp rẻ hơn 20% đến 30% so với thực phẩm tươi sống
Trước xu thế đô thị hóa phát triển “chóng mặt” tại Việt Nam cũng như sự gia tăng
về mức thu nhập của người dân, BMI dự báo trong giai đoạn 2011 – 2016, ngành công nghiệp thực phẩm đóng hộp của Việt Nam sẽ tăng 4,3% về lượng và 10,4%
về giá trị doanh số bán hàng
Trang 25hàng thực phẩm
đóng hộp (triệu
đồng) 408.055 496.167 574.269 641.927 719.525 806.262 900.498Doanh thu bán
hàng thực phẩm
đóng hộp (triệu Đô
la Mỹ) 21,33 24,09 28,18 32,42 37,38 43,00 49,34
*: số liệu dự báo Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, BMI
• Những nguyên nhân làm cho thực phẩm đóng hộp có xu hướng tăng:
Trang 26- Do quá trình đô thị hóa.
- Do thu nhập của người dân ngày càng cao
- Do ý thức về vấn đề chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm của người dân ngày càng cao
- Sản phẩm đồ hộp ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Hình 2: Qui mô thị trường thực phẩm đóng hộp Số liệu ước tính/ dự đoán của BMI Nguồn: Tổng cục Thống kê, IIntracen, OECD,
Báo chí thương mại, BMI
2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới ngành chế biến thực phẩm- đồ hộp
a) Yếu tố kinh tế
Nền kinh tế việt nam năm 2011 là nền kinh tế đình đốn, trì trệ, không phát triển được Theo báo cáo, tăng trưởng tín dụng của năm 2011 đạt 12-13% nhưng thực chất có tới 50% doanh nghiệp gặp khó khăn, và khoảng 30% doanh nghiệp phá sản Có nhiều lý do dẫn tới tình hình trên nhưng ảnh hưởng lớn nhất đó là việc thắt chặt tiền tệ khiến doanh nghiệp không thể tiếp cận được nguồn tín dụng.Năm 2012, nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng còn rất nhiều khó khăn và thách thức; tăng trưởng GDP có xu hướng chậm lại; giá cả, lạm
Trang 27phát, mặt bằng lãi suất tăng cao tác động tiêu cực đến việc phát triển kinh tế của
cả nước
Bên cạnh đó, năm 2012 cũng là năm thực sự tái cấu trúc nền kinh tế với các hành động chiến lược để thay đổi mô hình tăng trưởng Chính vì thế, nhiều mục tiêu phải hạn chế lại để dồn sức thực hiện mục tiêu lớn hơn
Bảng 2: các chỉ tiêu về GDP, CPI, xuất khẩu qua các năm
Tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam và việc tăng đầu tư vào các ngành thực phẩm, đồ uống và ngành công nghiệp bán lẻ cũng góp phần khuyến khích tăng tiêu thụ thực phẩm Tuy nhiên, trong ngắn hạn, giá cả thực phẩm sẽ vẫn ở mức thấp, và người tiêu dùng bậc trung ở Việt Nam sống ở vùng nông thôn chỉ đủ điều kiện tiêu thụ các loại thực phẩm và đồ uống thiết yếu.
b) Yếu tố chính phủ - luật pháp
Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với ngành thực phẩm nước ta Đối với một đất nước mà ý thức tự giác của doanh nghiêp cũng như của người dân chưa cao, đời sỗng xã hội còn thấp,còn chưa có ý thức gì về vệ sinh an toàn thực phẩm như nước ta thì vai trò của Nhà nước là rất quan trọng Nhà nước ra những pháp lệnh về thực phẩm, để từ đó các ngành, các bộ có liên quan ra những qui định, những tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại thực phẩm Đó là những căn cứ, những chuẩn mà những nhà sản xuất, lưu thông thực phẩm phai tuân theo để đạt được những sản phẩm có chất lượng và phù hợp với người tiêu dùng
Trang 28Nhà nước còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện những qui định đã ban hành cũng như việc xem xét và cấp giấy phép hoạt động cho các cơ sở kinh doanh thực phẩm.
c) Nguồn nguyên liệu chế biến
Bất cứ một sản phẩm nào khi sản xuất thì yếu tố quan trọng cần thiết đầu tiên chính là nguồn nguyên liệu đầu vào Phải có nguyên liệu thì mới sản xuất được sản phẩm Thực phẩm cũng vậy, nguồn nguyên liệu chế biến đóng vai trò trò tối quan trọng trong chế biến thực phẩm Vì vậy chất lượng thực phẩm như thế nào phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu đầu vào Nguồn nguyên liệu đầu vào
có đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng, có an toàn thì sản phẩm mới đạt chất lượng tốt Còn nếu ngay từ đầu mà nguồn nguyên liệu kém chất lượng, không đạt tiêu chuẩn thì sản phẩm sản xuất ra chất lượng sẽ kém, không an toàn, dễ gây thiệt hại cho người tiêu dùng
d) Công nghệ chế biến
Ngày nay với tiến bộ của khoa học công nghệ, chúng ta không còn phải chế biến thực phẩm với phương pháp thủ công và thực phẩm được chế biến sẵn ngày càng có nhiều chủng loại đa dạng và phong phú Công nghệ chế biến càng cao thì sản phẩm sản xuất ra càng đúng tiêu chuẩn chất lượng, càng đảm bảo vệ sinh, càng bảo quản được lâu Ngược lại nếu công nghệ chế biến cũ kỹ, lạc hậu thì sản phẩm sản xuât ra kém chất lượng, không đáp ứng được yêu cầu đề ra Và nếu sản xuất trong tình trạng mất vệ sinh, không tuân thủ theo các qui định đã đề ra thì sản phẩm sản xuất ra có thể làm nguy hại đến sức khoẻ và tính mạng của người tiêu dùng (ví dụ nếu dùng chất phụ gia không đúng liều lượng, không đúng chủng loại nhất là chất phị gia không cho phép sử dụng thì sẽ gây nguy hại cho sức khoẻ con người: gây ngộ độc cấp tính nếu dùng quá liều lượng, gây ngộ độc mãn tính, gây ung thư, đột biến gen…)
e) Quá trình bảo quản
Quá trình bảo quản có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng thực phẩm Mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu về đIều kiện bảo quản trong quá trình lưu thông, phân phối Nếu đảm bảo tốt các đIều kiện này thì sản phẩm có thể bảo quản được lâu mà vẫn đảm bảo chất lượng Nhưng nếu bảo quản không đúng theo những đIều kiện cần
Trang 29thiết thì sản phẩm có thể bị thay đổi những thuộc tính chất lượng, không đảm bảo
an toàn cho người sử dụng
f) Môi trường
Khí hậu có thể gây ra những tác động tích cực hoặc tiêu cực tới chất lượng thực phẩm Nếu khí hậu tốt lành thì nông thực phẩm được mùa, hàm lượng các chất như gluxit, protein thô, lipit thô, vitamin… được đảm bảo, gia súc, gia cầm phát triển tốt Như vậy nguồn nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất thực phẩm sẽ có chất lương tốt, dồi dào Ngược lại thì sẽ làm cho nguồn nguyên liệu bị khan hiếm, không đảm bảo tiêu chuẩn đã định Từ đó sẽ gây ảnh hưởng tới chất lượng thực phẩm
Hiện nay ô nhiễm cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với an toàn thực phẩm Ô nhiễm đất, không khí, nguồn nước… đều ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất thực phẩm Ô nhiễm càng cao thì càng làm cho quá trình sản xuất thực phẩm càng dễ bị nhiếm khuẩn, mất vệ sinh… gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng thực phẩm
2.4 Thực trạng và xu hướng phát triển của hệ thống kênh phân phối tại Việt Nam:
2.4.1 Kênh phân phối truyền thống và hiện đại:
Xu hướng của các doanh nghiệp hiện nay là đổi mới trong phân phối Hệ thống kênh phân phối tại Việt Nam hiện nay chủ đạo bởi hệ thống phân phối truyền thống với kênh phân phối chính là chợ và các tiệm bán lẻ rải rác khắp các địa phương Điều này đối chọi với hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện đại và chủ yếu
là siêu thị như Co.opMart, MaxiMark… và các trung tâm bán sỉ lẻ lớn như Metro, BigC Tại các đô thị lớn – nơi có sức mua lớn nhất, nhịp sống dần dần được thay đổi trong các gia đình trẻ bởi thói quen cuối tuần đi siêu thị mua đồ dùng cho cả gia đình trong một tuần Thêm nữa, sự chênh lệch về phương thức kinh doanh, sự
đa dạng hàng hoá, giá cả, nhãn hiệu, an toàn thực phẩm… đã nghiêng cán cân lợi
thế về phía hệ thông phân phối hiện đại Hiện tại, kênh bán lẻ hiện đại chỉ chiếm
khoảng 20% tổng thị trường bán lẻ trong nước nhưng có tiềm năng phát triển rất lớn và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển lâu dài của
Trang 30những nhà sản xuất hàng Việt Tới đây Bộ Công Thương tiếp tục phát triển đa
dạng kết cấu hạ tầng thương mại tại các địa phương, nhất là các loại hình bán lẻ hiện đại để đạt mục tiêu Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng 2030, phấn đấu đưa tỷ trọng bán lẻ của các loại hình bán lẻ hiện đại trongtổng mức bán lẻ lên 40% vào năm 2020 Tính đến nay,
tổng số siêu thị trên cả nước vào khoảng hơn 450 siêu thị Hiện siêu thị là một kênh phân phối quan trọng khi mặt hàng chăm sóc cá nhân và mặt hàng tiêu dùng giành cho gia đình chiếm 40 – 45% tổng số hàng được phân phối Và cùng với việc nhiều siêu thị ra đời thì lượng khách hàng đến mua sắm tại các siêu thị cũng tăng lên trong thời gian qua, góp phần tăng trưởng đáng kể cho kênh phân phối hiện đại này
2.4.2 Điểm yếu của ngành phân phối tại Việt Nam:
- Thứ nhất là hiện tượng mà một doanh nghiệp vừa là trung gian phân phối cho các nhà cung cấp, đồng thời cũng vừa là nhà bán lẻ với cùng sản phẩm đó Đây thực sự là một điều không mấy thuận lợi cho các nhà bán lẻ khác
- Thứ hai, Doanh nghiệp nào cũng mong có thể tìm được nhà phân phối riêng cho sản phẩm của họ, nhưng do thiếu các nhà phân phối đủ năng lực nên hiện nay một trung gian phân phối có thể phân phối nhiều sản phẩm cạnh tranh với nhau
- Thứ ba, cũng như trong bán lẻ, ngành phân phối cũng phải có cạnh tranh Cạnh tranh sẽ đảm bảo phân phối có hiệu quả với chi phí thấp nhất, từ đó cả nhà sản xuất và người tiêu dùng cùng được lợi Nhưng hiện ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp đủ mạnh về vốn cũng như về uy tín, để có thể tạo ra môi trường cạnh tranh ngay trong ngành phân phối
2.4.3 Sự thay đổi các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tiêu dùng của
khách hàng:
- Mức chi của người tiêu dùng tăng: Ngoài yếu tố lạm phát, vật giá tăng, thì theo
số liệu điều tra các năm vừa qua cho thấy mức chi tiêu bình quân đầu người tăng mạnh qua các năm Số liệu này cho ta thấy mức sống của người tiêu dùng đã được cải thiện đáng kể trong các năm vừa qua.Mức chi tiêu hàng năm của người dân thành thị tăng đáng kể
Trang 32Bảng 2 : dự báo Thu nhập và Chi tiêu hàng tháng của người dân, giai đoạn
Theo kết quả trên thì mức Chi tiêu của người dân có tốc độ tăng chậm hơn so
với mức tăng Thu nhập, do đó, tỷ lệ tiết kiệm có xu hướng tăng trở lại, từ 15% năm 2011 lên mức 20% năm 2015 Xem xét kết quả điều tra về thu nhập và mức sống dân cư của GSO cho thấy, giữa chi tiêu và thu nhập của người dân có mối tương quan khá chặt chẽ Người dân luôn dành một tỷ lệ cố định, khoảng 80-84% thu nhập để chi tiêu cho cuộc sống Phần còn lại (20%) được xem là tỷ lệ tiết kiệm trong thu nhập của họ
- Sự thay đổi yếu tố quyết định chọn mua của khách hàng: Hiện tại trong các yếu
tố thương hiệu, giá cả, phân phối, mẫu mã, tiếp thị thì người tiêu dùng quan tâm đến yếu tố nào nhất trong việc chọn mua sản phẩm? Câu trả lời là ngoài yếu tố chất lượng - yếu tố hàng đầu khi người tiêu dùng chọn mua sản phẩm thì thương hiệu đã được lựa chọn là yếu tố nổi trội, là yếu tố niềm tin nơi người tiêu dùng,
Trang 33khi ngày càng có nhiều nhãn hiệu khiến người tiêu dùng khó khăn trong việc lựa chọn sản phẩm Người tiêu dùng chọn mua sản phẩm của những thương hiệu nổi tiếng đã được thị trường kiểm nghiệm, họ yên tâm sẽ tránh được rủi ro chọn nhầm sản phẩm kém chất lượng Hơn nữa, việc phải đối mặt với hàng loạt vấn đề như: hàng giả, hàng nhái… càng làm cho người tiêu dùng đánh giá cao yếu tố thương hiệu Tiếp theo là yếu tố giá cả Trong thời kì khủng hoảng kinh tế, người tiêu dùng bắt đầu chú ý đến giá cả hàng hoá mà họ mua hơn Họ cân nhắc trong việc tiêu dùng các mặt hàng xa xỉ, chuyển sang tiêu dùng các mặt hàng có mức giá thấp và phù hợp với túi tiền hơn Có đến 40% người Việt Nam cho biết rằng hiện tại họ quan tâm đến giá cả hơn trước.
Hình 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn mua hàng hóa của NTD.
(Nguồn: Nguyễn Hữu Điển, Giá cả vượt qua kênh phân phối, Báo Sài Gòn
Tiếp Thị, 09/02/2009)
Thay đổi nơi mua hàng:
Theo kết quả điều tra Hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2010 thì thứ tự lựa chọn nơi mua hàng của khách hàng là cửa hàng chuyên doanh, đại lý, siêu thị, tiệm tạp hóa, chợ
Hình 2: Biểu đồ thứ tự lựa chọn nơi mua hàng tại các kênh khác nhau
Trang 34Trong các trung gian phân phối chính nêu trên, ngoài cửa hàng chuyên và đại lý mang tính chuyên biệt như cửa hàng vật liệu xây dựng, cửa hàng thời trang, đại lý
xe máy… thì chợ, tiệm tạp hóa phải cạnh tranh trực diện với siêu thị Thực phẩm chế biến là loại hàng chủ lực của hệ thống siêu thị hiện nay
Cũng theo đánh giá từ một cuộc nghiên cứu về xu hướng mua sắm của người tiêu dùng Việt Nam thì việc lựa chọn kênh phân phối mới là do giá cả hàng hóa tại siêu thị, cửa hàng hiện đại được bán bằng giá tại các cửa hiệu tư nhân, chợ trong khi chất lượng nói chung đáng tin cậy hơn Ngoài ra, tại những hệ thống này, người tiêu dùng còn được hưởng nhiều tiện ích rất hiện đại, như thanh toán bằng thẻ, được tham gia chương trình khuyến mãi, trúng thưởng, thẻ khách hàng thân thiết, giao hàng tận nơi… Đồng thời người tiêu dùng cũng cảm thấy yên tâm hơn
về chất lượng hàng hóa, nhất là đối với các mặt hàng thực phẩm nếu mua tại các địa điểm trên
- Ảnh hưởng của nhóm tham khảo: Trong quyết định chọn mua của người tiêu dùng, có một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến họ là ảnh hưởng của nhóm tham khảo
Và theo sơ đồ dưới đây thì ảnh hưởng của kinh nghiệm bản thân là quan trọng nhất Nếu kinh nghiệm là tích cực thì quyết định mua lại sản phẩm trong tương lai
sẽ nhanh chóng và đơn giản hơn, đồng thời sự hài lòng về sản phẩm sẽ được truyền đạt cho người thân và bạn bè Yếu tố thông tin thứ hai ảnh hưởng đến quyết định chọn mua của người tiêu dùng là người thân, bạn bè, chiếm 22,1% Yếu tố quyết định kế tiếp là thái độ của người bán, với 16,7% Và hai yếu tố quan trọng như nhau là tivi và báo chí, cùng chiếm 10,8% Còn lại ảnh hưởng từ các nguồn khác